Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về tranh chấp lao động. Giải quyết tình huống về tranh chấp kỉ luật sa thải, hậu quả pháp lý và các vấn đề liên quan. bài viết xin được chỉ ra các điểm mới nổi bật về khái niệm và nhận diện tranh chấp lao động, về nguyên tắc giải quyết tranh chấp, về thẩm quyền và về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp. Nội dung tình huống: Anh T vào làm việc tại Công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ năm 2012. Ngày 16112020, anh T xin phép nghỉ 6 ngày (một tuần làm việc) để về quê chăm sóc mẹ đang bị ốm, nhưng giám đốc công ty X không đồng ý vì lý do doanh nghiệp đang gấp rút hoàn thành hợp đồng để giao nộp sản phẩm cho đối tác. Tuy nhiên, do mẹ ốm nặng nên anh T đã tự ý nghỉ việc 6 ngày. Ngày 20122020, công ty X đã họp xử lý kỷ luật vắng mặt anh T và ra quyết định sa thải anh.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG
ĐỀ BÀI: 05
Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về tranh chấp lao động Giải quyết tình huống về tranh chấp kỉ luật sa
thải, hậu quả pháp lý và các vấn đề liên quan.
HỌ TÊN :
LỚP : N09 –TL2
Hà Nội - 2020
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 2
I Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về tranh chấp lao động 2 1.1 Về khái niệm và nhận diện tranh chấp lao động cá nhân 2
1.2 Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động 4
1.3 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động 4
1.4 Về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động 5
1.5 Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động 7
II Giải quyết tình huống 8
2.1 Công ty X ra quyết định sa thải anh T có đúng quy định của pháp luật không? Tại sao? 8
2.2 Nếu không đồng ý với quyết định sa thải của công ty, anh T có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để bảo vệ quyền và lợi ích của mình? 9
2.3 Giả sử việc sa thải anh T của công ty X là trái pháp luật thì anh T được hưởng những quyền lợi gì? 12
2.4 Giả sử tháng 6/2019, công ty X cử anh đi học nghề 6 tháng ở Nhật Bản, với cam kết làm việc ít nhất cho doanh nghiệp 3 năm sau khi học xong Khi bị công ty sa thải, anh T có phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty X không Tại sao? 13
C KẾT LUẬN 15
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
1
Trang 3A MỞ ĐẦU
Quan hệ lao động là một quan hệ pháp luật phổ biến trong xã hội và có tính chất đặc thù về trả tiền lương cho phần sức lao động bỏ ra của người lao động dưới sự quản lý, giám sát của người sử dụng lao động Tuy nhiên, vì nhiều
lý do mà trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ này, giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột về các quyền và lợi ích được hưởng, dẫn tới tranh chấp trong lao động Đặc biệt đối với hình thức kỷ luật sa thải – hình thức kỷ luật cao nhất dẫn tới chấm dứt hợp đồng - thường xảy ra tranh chấp Với những điểm mới tại Bộ luật lao động 2019, bài viết xin được phân tích
và giải quyết đề số 05: Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về
tranh chấp lao động và giải quyết tình huống liên quan đến tranh chấp lao động về xử lý kỷ luật sa thải.
B NỘI DUNG
I Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về tranh chấp lao động
Chế định về tranh chấp lao động đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều điểm mới tại Bộ luật lao động 2019 (BLLĐ 2019) so với BLLĐ 2012 theo hướng bao quát hơn về nhận diện tranh chấp lao động, hợp lý và thống nhất hơn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết Sau đây bài viết xin được chỉ ra các điểm mới nổi bật về khái niệm và nhận diện tranh chấp lao động, về nguyên tắc giải quyết tranh chấp, về thẩm quyền và về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp
I.1 Về khái niệm và nhận diện tranh chấp lao động cá nhân
Thứ nhất Thứ Thứ nhấtnhất, theo quy định tại Điều 179 BLLĐ 2019, khái niệm tranh
chấp lao động được bổ sung trước hết là tranh chấp phát sinh trong quá trình
“xác lập” quan hệ lao động Theo Bộ luật trước đây chỉ công nhận là tranh chấp phát sinh trong quan hệ lao động, tức không bao gồm trường hợp phát sinh khi hai bên chưa xác lập được một quan hệ lao động Sự bổ sung này là hợp lý, bởi
lẽ trên thực tế tồn tại rất nhiều trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc
2
Trang 4không có cách hiểu giống nhau về các điều khoản đã giao kết trong hợp đồng lao động Trường hợp này tuy chưa tồn tại quan hệ lao động giữa hai bên nhưng vẫn cần phải giải quyết để bảo vệ quyền lợi một cách nhất và từ đó giúp hai bên tiến tới xác lập được một quan hệ lao động trong tương lai
Thứ nhấtThứ Thứ nhấthai, về chủ thể trong tranh chấp lao động cá nhân, “với việc ghi
nhận tổ chức đại diện của người lao động không thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, BLLĐ 2019 cũng tính đến trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động.”1 Ngoài ra, BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm tranh chấp giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại So với khái niệm tại BLLĐ 2012,
có thể thấy điểm mới này giúp việc nhận diện tranh chấp lao động được bao quát hơn và phù hợp hơn với các quy định khác trong BLLĐ
Thứ nhất Thứ Thứ nhấtba, về nội dung tranh chấp lao động tập thể cũng được bổ sung
nhiều điểm mới mà BLLĐ 2012 không đề cập đến Cụ thể, Khoản 2 Điều 179 BLLĐ 2019 quy định trường hợp tranh chấp lao động tập thể về quyền phát sinh
khi: Thứ nhất“Người Thứ nhấtsử Thứ nhấtdụng Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtcó Thứ nhấthành Thứ nhấtvi Thứ nhấtphân Thứ nhấtbiệt Thứ nhấtđối Thứ nhấtxử Thứ nhấtđối Thứ nhấtvới Thứ nhấtngười Thứ nhấtlao
động, Thứ nhất[…] Thứ nhấtcan Thứ nhấtthiệp, Thứ nhấtthao Thứ nhấttúng Thứ nhấttổ Thứ nhấtchức Thứ nhấtđại Thứ nhấtdiện Thứ nhấtngười Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng; Thứ nhấtvi Thứ nhấtphạm Thứ nhấtnghĩa
vụ Thứ nhấtvề Thứ nhấtthương Thứ nhấtlượng Thứ nhấtthiện Thứ nhấtchí.” Thứ nhấtViệc bổ sung này nhằm đáp ứng yêu cầu nâng
cao chất lượng nơi làm việc trong thực tiễn, đảm bảo phải lành mạnh và văn minh
Khoản 3 Điều 179 bổ sung trường hợp tranh chấp lao động tập thể về lợi
ích phát sinh khi: “Một Thứ nhấtbên Thứ nhấttừ Thứ nhấtchối Thứ nhấtthương Thứ nhấtlượng Thứ nhấthoặc Thứ nhấtkhông Thứ nhấttiến Thứ nhấthành Thứ nhấtthương
lượng Thứ nhấttrong Thứ nhấtthời Thứ nhấthạn Thứ nhấttheo Thứ nhấtquy Thứ nhấtđịnh Thứ nhấtcủa Thứ nhấtpháp Thứ nhấtluật.” Thứ nhấtNhư vậy, BLLĐ 2019 đã
xác định không chỉ trong quá trình thương lượng mà ngay cả khi quá trình thương lượng không được thực hiện, trong khi pháp luật quy định bắt buộc phải thực hiện, cũng sẽ xảy ra tranh chấp do ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, khiến họ không có cơ hội được đàm phán về các điều kiện lao
1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo Thứ nhấttrình Thứ nhấtLuật Thứ nhấtLao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtViệt Thứ nhấtNam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
369-370.
3
Trang 5động phù hợp Điều này đã giúp mở rộng hơn về nội dung của tranh chấp lao động tập thể, có ý nghĩa giúp ngăn ngừa các trường hợp tranh chấp trong quan
hệ lao động một cách triệt để, tránh để xảy ra thiệt hại
I.2 Về nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động
Cơ sở pháp lý: Điều 180 BLLĐ 2019, Điều 194 BLLĐ 2012
Thứ nhất Thứ nhấtThứ Thứ nhấtnhất, Thứ nhấttại BLLĐ 2019, số lượng nguyên tắc đã giảm xuống (5
nguyên tắc so với BLLĐ 2012 là 6 nguyên tắc), do Bộ luật 2019 đã bỏ đi
nguyên tắc: “Việc Thứ nhấtgiải Thứ nhấtquyết Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấttrước Thứ nhấthết Thứ nhấtphải Thứ nhấtđược Thứ nhấthai Thứ nhấtbên
trực Thứ nhấttiếp Thứ nhấtthương Thứ nhấtlượng Thứ nhất[…]” Thứ nhấtViệc thay đổi này là hợp lý khi thương lượng
không nên là một phương thức bắt buộc “phải” được thực hiện đầu tiên do tính hiệu quả kém, thường chịu sự đơn phương áp đặt ý chí từ phía mạnh hơn – phía người sử dụng lao động và không có cơ chế bảo đảm thi hành Thương lượng chỉ nên là một phương thức khuyến khích thực hiện để đảm bảo môi trường làm việc lành mạnh, nâng cao tính tự giác chịu trách nhiệm của các bên, mà điều này
đã được khẳng định ở nguyên tắc thứ nhất và được kế thừa lại ở BLLĐ 2019:
“Tôn Thứ nhấttrọng Thứ nhấtquyền Thứ nhấttự Thứ nhấtđịnh Thứ nhấtđoạt Thứ nhấtthông Thứ nhấtqua Thứ nhấtthương Thứ nhấtlượng Thứ nhấtcủa Thứ nhấtcác Thứ nhấtbên Thứ nhấttrong Thứ nhấtsuốt quá Thứ nhấttrình Thứ nhấtgiải Thứ nhấtquyết Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng.”
Thứ nhấtThứ Thứ nhấthai, Thứ nhấtBLLĐ 2019 đã bổ sung nguyên tắc cuối cùng: Việc giải quyết
tranh chấp lao động còn có thể được tiến hành theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý Cơ quan tiêu biểu có thể kể đến chính là Phòng, Sở Lao động Thương binh – Xã hội Cơ quan này theo Khoản 3 Điều 181 là đầu mối tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp của các bên và sẽ chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết phù hợp tùy trường hợp
I.3 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
Thứ nhấtThứ Thứ nhấtnhất, có sự thay đổi về thẩm quyền giải quyết của cả 2 loại tranh
chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể Theo quy định tại Điều
187, 191 và 195 BLLĐ 2019, Hội đồng trọng tài có thẩm quyền giải quyết cả tranh chấp lao động cá nhân, tập thể về quyền và tập thể về lợi ích, thay vì chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tập thể về lợi ích như trước đây Bên cạnh đó,
4
Trang 6đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, BLLĐ 2019 cũng đã loại bỏ thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Việc quy định như luật cũ một mặt vừa khiến quá trình giải quyết trở nên phức tạp, khó tiếp cận cho các bên, mặt khác cũng không đảm bảo được tính chuyên trách và chức năng chuyên môn của các cơ quan, tổ chức khi giải quyết tranh chấp lao động Bởi lẽ “Hội đồng trọng tài lao động là chủ thể có chức năng tài phán các tranh chấp lao động nhưng chỉ có thẩm quyền hòa giải tranh chấp lao động Trong khi đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện – người đứng đầu
cơ quan quản lý hành chính nhà nước cấp huyện lại được ban hành quyết định
để giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền.”2 BLLĐ 2019 đã khắc phục được những hạn chế này, đảm bảo tính hiệu quả và kịp thời trong quá trình giải quyết tranh chấp Đồng thời, BLLĐ 2019 cũng nhấn mạnh được tầm quan trọng của phương pháp giải quyết bằng trọng tài – vừa linh hoạt và nhanh chóng hơn Tòa án, vừa có tính bắt buộc cao hơn hòa giải
Thứ nhấtThứ Thứ nhấthai, có sự đổi mới về cơ cấu và tổ chức của Hội đồng trọng tài lao
động ghi nhận tại Điều 185 BLLĐ 2019 Điều này là hợp lý bởi Hội đồng trọng tài lao động cần có một cơ chế tổ chức mới, cụ thể và chi tiết hơn để phù hợp với vai trò và tầm quan trọng tại BLLĐ 2019 Theo đó, số lượng trọng tài viên được tăng lên ít nhất 15 người Bên cạnh đó, việc giải quyết một vụ tranh chấp lao động do Ban trọng tài lao động thực hiện gồm từ 1-3 thành viên và được thành lập trên cơ sở sự lựa chọn của hai bên tranh chấp, thay vì toàn bộ Hội đồng trọng tài lao động như BLLĐ 2012 Điều này vừa tăng quyền tự định đoạt của các bên, vừa tăng tính vô tư, khách quan của Ban trọng tài Trường hợp một bên muốn thay đổi thành viên trong Ban trọng tài cũng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn do còn các thành viên khác trong Hội đồng trọng tài có thể thay thế
I.4 Về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động
Thứ nhấtĐối Thứ nhấtvới Thứ nhấttrình Thứ nhấttự Thứ nhấtthủ Thứ nhấttục Thứ nhấtgiải Thứ nhấtquyết Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtcá Thứ nhấtnhân: Thứ nhất
Một là, Khoản 1 Điều 188 BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm một trường hợp
2 Vũ Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hằng Nga (2020), “Những điểm mới về thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh
chấp lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019”, Nghề Thứ nhấtLuật, (3), tr 67-68.
5
Trang 7tranh chấp không bắt buộc phải thông qua hòa giải là “tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.”
Hai là, cho phép các bên được lựa chọn phương thức giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động Như đã phân tích ở phần thẩm quyền, điều này giúp Hội đồng trọng tài được hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, BLLĐ hiện hành vẫn chưa có quy định cụ thể về cơ chế bảo đảm thi hành quyết định giải quyết tranh chấp tại Hội đồng trọng tài, khiến cho trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp các bên không đồng ý với quyết định này và không thực hiện Như vậy, toàn bộ quá trình giải quyết tại Trọng tài không được coi trọng, tính hiệu quả giảm, và khi đó các bên sẽ phải tìm đến phương thức giải quyết còn lại là Tòa án gây mất thời gian, lãng phí tiền bạc
Thứ nhất Đối Thứ nhấtvới Thứ nhấttrình Thứ nhấttự, Thứ nhấtthủ Thứ nhấttục Thứ nhấtgiải Thứ nhấtquyết Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấttập Thứ nhấtthể Thứ nhấtvề
quyền: BLLĐ 2019 đã bỏ trình tự giải quyết bởi Chủ tịch UBND cấp huyện,
thay vào đó là hình thức giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động do các bên lựa chọn
Thứ nhấtĐối Thứ nhấtvới Thứ nhấttrình Thứ nhấttự, Thứ nhấtthủ Thứ nhấttục Thứ nhấtgiải Thứ nhấtquyết Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấttập Thứ nhấtthể Thứ nhấtvề Thứ nhấtlợi
ích:
Một là, công nhận kết quả hòa giải thành tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có giá trị pháp lý như thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp (Khoản
2 Điều 196) Quy định mới này là phù hợp bởi “về bản chất, các cuộc đàm phán trong giai đoạn hòa giải là bước mở rộng của quá trình đàm phán trực tiếp giữa các bên với sự hỗ trợ của hòa giải viên lao động nhằm đạt được sự nhất trí chung Do dó, kết quả hòa giải thành các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thực chất là sản phẩm của quá trình thương lượng tập thể giữa hai bên.”3
Hai là, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công sau khi tranh chấp đã qua thủ tục hòa giải mà không bắt buộc phải qua thủ tục giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động (Điểm b Khoản 3 Điều 196 BLLĐ 2019) Trước đây, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bắt buộc phải thông qua thủ tục
3 Vũ Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hằng Nga (2020), “Những điểm mới về thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019”, Sđd., tr 71.
6
Trang 8giải quyết tại Hội đồng trọng tài lao động Tuy nhiên hiện nay, việc yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp là nguyện trên cơ sở thỏa thuận của các bên, và thay vào đó pháp luật hiện hành bổ sung thêm một cách giải quyết khác là thông qua thủ tục đình công Do mục đích của đình công theo pháp luật Việt Nam chỉ giới hạn trong việc nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, và chủ thể tổ chức lãnh đạo đình công cũng là một bên tranh chấp trong tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, nên khi hai bên không thể thương lượng, hòa giải được thì lập tức có thể tiến hành đình công
Ba là, quy định rõ căn cứ mà Ban trọng tài lao động phải dựa vào để ban hành quyết định giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích (Khoản 3 Điều
197 BLLĐ 2019) Tuy nhiên, căn cứ này lại giống với căn cứ giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, trong khi nguyên nhân phát sinh tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là khác nhau Không thể dựa vào quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động… để ban hành quyết định giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích vì tranh chấp này phát sinh khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn quy định Mặt khác, thực tế trong tranh chấp này người lao động thường yêu cầu những điều kiện lao động cao hơn những gì đã thỏa ước, không chỉ tác động đến lợi ích của người lao động trong nội bộ doanh nghiệp đó mà còn “ảnh hưởng đến cả các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề, cùng khu vực, thậm chí ảnh hưởng đến cả chính sách quản lý kinh tế vĩ mô Do vậy, Ban trọng tài cần căn cứ vào nhiều yếu tố như “lẽ công bằng” và “lợi ích công” để đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích các bên và lợi ích của đất nước”.4
I.5 Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
Thứ nhấtĐối Thứ nhấtvới Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtcá Thứ nhấtnhân: Thứ nhấtBổ sung thời hiệu yêu cầu Hội
đồng trọng tài lao động giải quyết là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm (Khoản
4 Vũ Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hằng Nga (2020), “Những điểm mới về thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019”, Sđd., tr.74.
7
Trang 92 Điều 190 BLLĐ 2019) Đây tiếp tục là một điểm mới sau khi luật trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân cho Hội đồng trọng tài lao động
Bên cạnh đó, lần đầu tiên BLLĐ quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đó là thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật trong trường hợp người yêu cầu chứng minh được (Khoản 4 Điều 190 BLLĐ 2019) Đây là sự kế thừa từ Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, tuy nhiên quy định tại Bộ luật dân sự chỉ được áp dụng khi hai bên lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án Với quy định trong BLLĐ 2019, thời gian không được tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp cá nhân có thể được áp dụng trong bất cứ trường hợp giải quyết tranh chấp lao động nào
Thứ nhấtĐối Thứ nhấtvới Thứ nhấttranh Thứ nhấtchấp Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấttập Thứ nhấtthể Thứ nhấtvề Thứ nhấtquyền: Thứ nhấtTheo Điều 194 BLLĐ
2019, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền được quy định theo hướng giống với tranh chấp cá nhân ( 06 tháng đối với hòa giải,
09 tháng đối với Hội đồng trọng tài lao động và 1 năm đối với Tòa án), thay vì chỉ quy định chung là 1 năm như Bộ luật 2012 Điều này tạo sự thống nhất giữa các điều luật và phù hợp hơn do thẩm quyền giải quyết 2 loại tranh chấp này là giống nhau
II Giải quyết tình huống
Nội dung tình huống:
Anh T vào làm việc tại Công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ năm 2012 Ngày 16/11/2020, anh T xin phép nghỉ 6 ngày (một tuần làm việc) để về quê chăm sóc mẹ đang bị ốm, nhưng giám đốc công ty X không đồng ý vì lý do doanh nghiệp đang gấp rút hoàn thành hợp đồng để giao nộp sản phẩm cho đối tác Tuy nhiên, do mẹ ốm nặng nên anh T đã tự ý nghỉ việc 6 ngày Ngày 20/12/2020, công ty X đã họp xử lý kỷ luật vắng mặt anh T và ra quyết định sa thải anh
II.1 Công ty X ra quyết định sa thải anh T có đúng quy định của pháp luật không? Tại sao?
8
Trang 10Công ty X ra quyết định sa thải anh T là không đúng quy định của pháp luật vì những lý do sau:
Thứ nhất, về căn cứ sa thải: Thứ nhấtTuy anh T tự ý nghỉ việc 6 ngày liên tục nhưng có lý do chính đáng do mẹ anh đang bị ốm nặng, dù đề bài không đề cập nhưng có thể hiểu trường hợp này có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh Như vậy, anh T không có hành vi vi phạm kỷ luật lao động và lỗi của anh T cũng đã được loại trừ theo quy định tại Khoản 4 Điều 125 BLLĐ 2019:
“Điều 125 Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải
4 Thứ nhấtNgười Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấttự Thứ nhấtý Thứ nhấtbỏ Thứ nhấtviệc Thứ nhất05 Thứ nhấtngày Thứ nhấtcộng Thứ nhấtdồn Thứ nhấttrong Thứ nhấtthời Thứ nhấthạn Thứ nhất30 Thứ nhấtngày Thứ nhất[…] Thứ nhấtmà không Thứ nhấtcó Thứ nhấtlý Thứ nhấtdo Thứ nhấtchính Thứ nhấtđáng Thứ nhấtTrường Thứ nhấthợp Thứ nhấtđược Thứ nhấtcoi Thứ nhấtlà Thứ nhấtcó Thứ nhấtlý Thứ nhấtdo Thứ nhấtchính Thứ nhấtđáng Thứ nhấtbao Thứ nhấtgồm Thứ nhất[…], thân Thứ nhấtnhân Thứ nhấtbị Thứ nhấtốm Thứ nhấtcó Thứ nhấtxác Thứ nhấtnhận Thứ nhấtcủa Thứ nhấtcơ Thứ nhấtsở Thứ nhấtkhám Thứ nhấtbệnh, Thứ nhấtchữa Thứ nhấtbệnh Thứ nhấtcó Thứ nhấtthẩm Thứ nhấtquyền Thứ nhấtvà trường Thứ nhấthợp Thứ nhấtkhác Thứ nhấtđược Thứ nhấtquy Thứ nhấtđịnh Thứ nhấttrong Thứ nhấtnội Thứ nhấtquy Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng.”
Thứ hai, về trình tự xử lý kỷ luật sa thải: Thứ nhấtTrong tình huống đề bài đưa
ra, công ty X đã họp xử lý kỷ luật vắng mặt anh T Điều này có thể trái với quy định của pháp luật nếu anh T không được thông báo trước về phiên họp và không xác nhận lý do vắng mặt Bởi theo Điểm c Khoản 1 Điều 122 BLLĐ
2019, anh T phải có mặt tại phiên họp xử lý kỷ luật và có quyền tự bào chữa cho mình:
“Điều 122 Nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động
Việc Thứ nhấtxử Thứ nhấtlý Thứ nhấtkỷ Thứ nhấtluật Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtđược Thứ nhấtquy Thứ nhấtđịnh Thứ nhấtnhư Thứ nhấtsau:
c) Thứ nhấtNgười Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtphải Thứ nhấtcó Thứ nhấtmặt Thứ nhấtvà Thứ nhấtcó Thứ nhấtquyền Thứ nhấttự Thứ nhấtbào Thứ nhấtchữa, Thứ nhấtnhờ Thứ nhấtluật Thứ nhấtsư Thứ nhấthoặc Thứ nhấttổ Thứ nhấtchức Thứ nhấtđại diện Thứ nhấtngười Thứ nhấtlao Thứ nhấtđộng Thứ nhấtbào Thứ nhấtchữa Thứ nhất[…]”
Kết luận: Công ty X ra quyết định sa thải anh T là trái quy định của pháp
luật do không có căn cứ sa thải và không đúng trình tự xử lý kỷ luật sa thải
II.2 Nếu không đồng ý với quyết định sa thải của công ty, anh T có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để bảo vệ quyền và lợi ích của mình?
Trước hết, trong trường hợp anh T không đồng ý với quyết định sa thải của công ty thì giữa T và công ty X phát sinh tranh chấp lao động, và đây là tranh chấp lao động cá nhân theo Điểm a Khoản 1 Điều 179 BLLĐ 2019
Chủ thể trong quan hệ tranh chấp lao động là T - người lao động (cá nhân, đơn lẻ) và công ty X - người sử dụng lao động Nội dung tranh chấp thể hiện ở
9