Câu hỏi ôn tập môn luật dân sự 1 UEL Câu 1: Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) so với Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) về quy định mất năng lực hành vi dân sự.Khoản 1 Điều 22 BLDS 2005: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.”
Trang 1*Bài tập 1: Năng lực hành vi dân sự cá nhân
Câu 1: Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) so với Bộ luật Dân
sự 2005 (BLDS 2005) về quy định mất năng lực hành vi dân sự.
Khoản 1 Điều 22 BLDS 2005: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của
tổ chức giám định Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.”
Khoản 1 Điều 22 BLDS 2015: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
Như vậy, so với BLDS 2005, BLDS 2015 về quy định mất năng lực hành vi dân sự có những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể yêu cầu Tòa án tuyên hay hủy bỏ quyết định, BLDS 2015 đã bổ sung “cơ quan, tổ chức hữu quan”
Thứ hai, BLDS 2015 đã thay “kết luận của tổ chức giám định” bằng “kết luận giám định pháp y tâm thần”
Câu 2: Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự.
Về điểm giống nhau:
Thứ nhất, họ là những người từng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Thứ hai, việc họ bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quyết định của Tòa án trên cở sở yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Thứ ba, giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của người đó; giao dịch dân
sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho họ với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ thì không bị vô hiệu
Thứ tư, khi không còn căn cứ cho rằng họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành vi dân sự của mình
Về điểm khác nhau:
Hạn chế năng lực hành vi dân sự Mất năng lực hành vi dân sự Chủ thể Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích
thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình Người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể
nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Hệ quả pháp
lí
Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của họ phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật
Giao dịch dân sự của họ phải
do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Câu 3: Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Có hai điểm khác nhau cơ bản sau:
Trang 2Chủ thể: người có hạn chế năng lực hành vi dân sự là người không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi tuy nhiên chưa hoàn toàn mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Còn người hạn chế năng lực hành vi dân sự là Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Người yêu cầu: đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là bản thân người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan Đối với người hạn chế năng lực hành vi dân sự là người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
Câu 4: Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P là có thuyết phục
Vì ông P yêu cầu Tòa chỉ định bà T là người giám hộ cho mình (phù hợp với quy định tại khoản
2 Điều 46 BLDS 2015) và bà T đồng ý (phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015) Đồng thời, bà T đáp ứng đủ các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo điều 49 BLDS
2015
Câu 5: Với vai trò của người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch nào?
Vì sao?
Với vai trò của người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 125 của BLDS 2015
*Bài tập 2: Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lý
Câu 1: Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu rõ từng điều kiện).
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 74 của BLDS 2015:
“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”
Thứ nhất, pháp nhân được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và các luật khác có liên quan như Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư 2014, tức là phải đuợc thành lập theo đúng trình tự, thủ tục tương ứng do pháp luật quy định cho loại pháp nhân đó Trình tự thủ tục thành lập pháp nhân phụ thuộc vào loại hình và mục đích hoạt động của nó Trên cơ sở sở đó Nhà nuớc ban hành các văn bản pháp luật khác nhau quy định về cơ cấu tổ chức và cách thức, thủ tục thành lập đối với các tổ chức khác nhau Quy định trên nhằm mục đích thừa nhân sự ra đời và khai sinh pháp nhân, từ đó pháp nhân có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Thứ hai, phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo quy định: Theo đó, pháp nhân phải có cơ quan điều hành, tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
Thứ ba, Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Để một tổ chức tham gia vào quan hệ tài sản với tư cách là chủ thể độc lập thì phải có tài sản riêng, tài sản của pháp nhân là tài sản thuộc quyền sở hữu của pháp nhân hoặc do nhà nước giao cho quản lý
Tính độc lập trong tài sản của pháp nhân được thể hiện ở sự độc lập với tài sản của cá nhân là thành viên của pháp nhân, với cơ quan cấp trên và các tổ chức khác
Trên cơ sở tài sản độc lập của pháp nhân, pháp nhân mới có thể chịu trác nhiệm bằng tài sản của mình
Trang 3Thứ tư, pháp nhân nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập: Pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và điều lệ Pháp nhân có thể đóng vai trò nguyên đơn hoặc bị đơn trước Tòa khi mà quyền lợi bị xâm phạm
Câu 2: Trong Bản án số 1117, vì sao Tòa án xác định Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên
và Môi trường không có tư cách pháp nhân?
Như quy định tại Điều 92 Bộ luật Dân sự năm 2005:
“…2 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và được thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích đó…
4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu Văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền;
5 Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do Văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập thực hiện”
Như vậy, Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh không có
tư cách pháp nhân
Xét theo quyết định số 1364/QĐ-BTNMT ngày 8/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của Bộ, phụ thuộc theo sự phân bổ ngân sách của Nhà nước và phân cấp của Bộ Tài nguyên và Môi trường chứ không phải là một cơ quan hạch toán độc lập
Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường không có tư cách pháp nhân vì không có tài sản độc lập, không nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập mà có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện bảo vệ các lợi ích đó
Câu 3: Pháp nhân và cá nhân có gì khác nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sở khi trả lời (nhất là trên cơ sở BLDS năm 2015).
BLDS 2015:
Định nghĩa Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có
các quyền, nghĩa vụ dân sự
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Căn cứ pháp lý Điều 86, BLDS năm 2015 Điều 16, BLDS năm 2015
Thời gian phát
sinh và chấm
dứt
Phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký
Chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân
Có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết
Trang 4Phạm vi
Không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
Không giới hạn
Mức độ bình
đẳng
Mỗi pháp nhân sẽ được xác lập những năng lực pháp luật dân sự không giống nhau
Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau
Câu 4: Giao dịch dân sự do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân có ràng buộc pháp nhân không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Giao dịch dân sự do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân có ràng buộc pháp nhân
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 87 BLDS 2015: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.”
Câu 5: Trong tình huống trên, hợp đồng ký kết với Công ty Nam Hà trong tình huống trên
có ràng buộc Công ty Bắc Sơn không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Cơ sở pháp lý:
Khoản 1 Điều 84 BLDS 2015: “Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.”
Khoản 1 Điều 87 BLDS 2015: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.”
Vậy nên, việc trong quy chế Công ty Bắc Sơn có quy định chi nhánh Công ty Bắc Sơn tại thành phố Hồ Chí Minh là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân là trái với khoản 1 Điều 84 BLDS
2015 Theo đó, Chi nhánh Công ty Bắc Sơn tại thành phố Hồ Chí Minh không có tư cách pháp nhân mà chỉ đuợc nhân danh pháp nhân (tức Công ty Bắc Sơn) xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền Các giao dịch do chi nhánh của Công ty Bắc Sơn tại thành phố Hồ Chí Minh xác lập nhân danh Công ty Bắc Sơn, trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền thì đều làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với công ty
Xét trong truờng hợp trên, Chi nhánh công ty Bắc Sơn đã kí kết hợp đồng với công ty Nam Hà, vậy hợp đồng này sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của Công ty Bắc Sơn chứ không phải chi nhánh của công ty đó
*Bài tập 3: Trách nhiệm dân sự của pháp nhân
Câu 1: Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên và trách nhiệm của các thành viên với nghĩa vụ của pháp nhân.
Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên:
Cơ sở pháp lý: Khoản 1, 2 Điều 87 của BLDS 2015:
“1 Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân
Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác
2 Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
Trang 5Việc xác lập, thực hiện các giao dịch với tư cách của pháp nhân phải được tiến hành thông qua hànơh vi của người đại diện hợp pháp của pháp nhân, phù hợp với ý chí của pháp nhân và chức năng, nhiệm vụ, mục đích hoạt động của pháp nhân.
Trách nhiệm của các thành viên với nghĩa vụ của pháp nhân:
Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 87 của BLDS 2015:
“3 Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
Thành viên pháp nhân cũng không được quyền tự ý nhân danh pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật, nếu không có ủy quyền của người đại diện hợp pháp của pháp nhân Các thành viên góp vốn hay người đại diện của pháp nhân cũng không được sử dụng danh nghĩa của pháp nhân
để xác lập, thực hiện các giao dịch vì mục đích tư lợi cho bản thân mình.
Câu 2: Trong Bản án được bình luận, bà Hiền có là thành viên của Công ty Xuyên Á không? Vì sao?
Bà Hiền là thành viên của Công ty Xuyên Á Vì bà Hiền có góp vốn 26,05% vào Công ty
Câu 3: Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á hay của bà Hiền? Vì sao?
Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á Vì Công ty Ngọc Bích
ký hợp đồng mua bán với Công ty Xuyên Á mà Công ty Xuyên Á có tư cách pháp nhân nên Công ty Xuyên Á phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân theo khoản 1 Điều 87 của BLDS 2015 Đồng thời, bà Hiền là người của pháp nhân chứ không có tư cách pháp nhân nên không phải chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện theo khoản 3 Điều 87 của BLDS 2015
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa cấp sơ thẩm và Tòa cấp phúc thẩm liên quan đến nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích.
Theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 27/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn buộc ông Phong và bà Hiền trả cho Công ty Ngọc Bích số tiền vốn 77.000.752đ và tiền lãi 30.030.000đ là không hợp lý Vì ông Phong và bà Hiền chỉ là thành viên của Công ty Xuyên Á nên không có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của Công ty bằng tài sản của mình
Do đó, bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 10/2016/KDTM-PT ngày 17/03/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm là hợp lý
Câu 5: Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của Công ty Ngọc Bích khi Công ty Xuyên Á đã bị giải thể?
Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ làm rõ để xác định lý do giải thể, thẩm định tài sản của Công
ty Xuyên Á trước khi giải thể và nghĩa vụ về tài sản của Công ty để giải quyết theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp sau khi giải thể, nếu phần tài sản của Công ty Xuyên Á còn và đã được chia cho ông Phong và bà Hiền thì đề nghị ông Phong và bà Hiền hoàn lại số tiền đó để trả nợ cho Công ty Ngọc Bích
Trường hợp sau khi giải thể, nếu Công ty Xuyên Á không còn tài sản thì Công ty Ngọc Bích chịu thiệt số tiền trên
*Bài tập 4: Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức
Câu 1: Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015)
Điều 117 BLDS 2015 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Trang 61 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định
- Về điều kiện liên quan đến chủ thể (điều kiện chủ quan):
BLDS 2005: chủ thể tham gia phải có năng lực hành vi dân sự, nghĩa là chủ thể tham gia chỉ có thể là cá nhân (Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005);
BLDS 2015: chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch, nghĩa là chủ thể tham gia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân (Điểm
a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015);
Sự thay đổi đã mở rộng hơn về chủ thể tham gia các giao dịch dân sự không chỉ là cá nhân mà còn là pháp nhân, đã phù hợp với thực tiễn đời sống, vì trong thực tiễn đối với một số giao dịch dân sự có pháp nhân là chủ thể tham gia những BLDS 2005 không điều chỉnh được và BLDS
2015 đã khắc phục được điều này
- Về điều kiện liên quan đến giao dịch (điều kiện khách quan):
BLDS 2005: Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (Điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005) Quy định điều cấm là điều cấm của pháp luật, là những quy định của pháp luật, tức là những quy định đó có thể tồn tại trong văn bản luật hoặc văn bản dưới luật
BLDS 2015: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điềm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015) Quy định điều cấm là điều cấm của luật, là những quy định của luật, tức là những quy định đó chỉ tồn tại trong luật do Quốc hội ban hành
Sự thay đổi từ pháp luật sang luật đã thu hẹp lại phạm vi quy định, tránh sự tùy tiện về quy định của các văn bản dưới luật
Câu 2: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được Ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự từ ngày 07/05/2010
Câu 3: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội
bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự Vì ngày 07/05/2010 Tòa án tuyên ông Hội mất năng lực hành vi dân sự còn lúc bà Hương bán căn nhà là vào ngày 08/02/2010
Câu 4: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
Liên quan đến phần của ông Hội, Tòa án khẳng định “căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì thấy tại thời điểm ông Hội giao kết hợp đồng thì ông chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng các đương sự thống nhất trình bày là ông Hội bị bệnh tai biến mạch máu não và bị liệt nằm một chỗ từ cuối năm 2008” Từ đó, Tòa án theo hướng “hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực đối với phần ông Hội” và “trong trường hợp này phải xác định hợp đồng chuyển
Trang 7nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Hội bà Hương với vợ chồng ông Hùng bà Trinh bị vô hiệu một phần, đối với phần ông Hội”
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.
Theo nhóm em, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập) là hợp lí Vì tại thời điểm giao kết hợp đồng, tuy ông chưa bị Tòa
án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng thực chất ông đã bị tai biến mạch máu não và bị liệt nằm một chỗ từ cuối năm 2008, do đó ông khó nhận thức và thể hiện ý chí của mình nên không thể chắc chắn được việc ký kết hợp đồng do ông xác lập là tự nguyện Vì vậy, theo Điều
117 BLDS 2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự chỉ
có hiệu lực khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này mà giao dịch do ông Hội xác lập đã không đáp ứng được điều kiện: “Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện” nên hợp đồng bị vô hiệu một phần, đối với phần của ông Hội
Câu 6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị vô hiệu không? Vì sao?
Theo điểm b khoản 2 Điều 125 của BLDS 2015 quy định về giao dịch dân sự không bị vô hiệu
do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện: “Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ”
Nên nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó chỉ làm phát sinh quyền cho ông Hội nên không bị vô hiệu
*Bài tập 5: Giao dịch xác lập do có nhầm lẫn
Câu 1: So với BLDS 2005, BLDS 2015 có khác gì về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn?
Điều 126 BLDS 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được
- Điều 131, BLDS năm 2005 chia ra hai trường hợp là vô ý và cố ý còn ở Điều 126, BLDS 2015 thì không chia ra làm hai trường hợp như vậy
Sự thay đổi này là hợp lý vì trường hợp do cố ý đã được quy định rõ trong phần giao dịch vô hiệu do bị lừa dối, ngắn gọn và thuận tiện trong việc xử lý vi phạm
- Điều 131, BLDS năm 2005 quy định “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.” còn về BLDS 2015 thì chỉ cần nhận thấy giao dịch
bị nhầm lẫn sẽ có quyển yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu
Việc này giúp cho bên bị nhầm lẫn dễ dàng hơn trong việc giành lại quyền lợi, thuận tiện và nhanh chóng
- Điều 126, BLDS 2015 bổ sung cả khoản 2 điều này
Trang 8Làm tăng thêm phương án giải quyết cho các bên trong trường hợp bên bị nhầm lẫn không muốn
vô hiệu hợp đồng nhưng vẫn đảm bảo đủ quyền lợi hợp pháp
Câu 2: Giả sử có nhầm lẫn, việc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao?
Giả sử có nhầm lẫn, việc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là có thuyết phục
Vì theo khoản 1 Điều 126 BLDS 2015: “Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”
*Bài tập 5: Giao dịch xác lập do có lừa dối
Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015?
Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo Điều 132 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS 2015 là: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu Lừa dối trong giao dịch dân sự
là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”
Câu 2: Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?
Trong Quyết định số 210, theo Tòa án thì: Bà Nhất không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu Bởi lẽ theo quy định của BLDS 1995 và BLDS 2005 bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Tài nên bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối Trường hợp này chỉ
có ông Tài mới có quyền khởi kiện tuyên bố Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, nếu ông Tài không biết việc ông Dưỡng giả mạo chữ kí của bà Nhất khi tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Câu 3: Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao?
Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối đã không còn Vì “Về thời hiệu: Khoản 1 Điều 142 BLDS 1995 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là một năm; Khoản 1 Điều 136 BLDS 2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập Còn Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm
Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện Nên nếu xác định bà Nhất có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu do lừa dối, thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện”
Câu 4: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?
Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng Vì theo khoản 2 Điều 132 của BLDS 2015: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực”
Trang 9Câu 5: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?
Nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết trong QĐ số 210 thì hướng giải quyết cũng không khác so với áp dụng BLDS 1995 và BLDS 2005 Cụ thể:
Về việc ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu thì Điều 127 BLDS 2015 quy định: "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe doạ, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu"
Bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch dân sự với ông Tài nên bà Nhất không có quyền yêu cầu khởi kiện tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng bị lừa dối Người được yêu cầu khởi kiện Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối là ông Tài
Về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối thì Điều 132 BLDS 2015 có quy định: "Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều
125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm " Vì bà Nhất khai rằng năm 2007 hai vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện Do đó đã hết thời hiệu khởi kiện
Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối thì Toà vẫn công nhận hợp đồng vì theo khoản 2 Điều 132 luật này: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực"
*Bài tập 6: Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu
Câu 1: Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.”
Câu 2: Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?
Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện Vì tại khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”
Câu 3: Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội dung
xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào?
Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán:
“Nếu xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng Còn nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.”
Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán như vậy là hoàn toàn hợp lý Vì nếu Hợp đồng dịch vụ hợp pháp thì Công ty Phú Mỹ là bên có nghĩa vụ trả tiền nhưng lại chậm thanh toán do đó phải
Trang 10trả thêm tiền lãi suất theo khoản 1 Điều 357 BLDS 2015: “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”
Còn nếu Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì theo khoản 2 Điều 131 của BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả” Do đó, Công ty Phú Mỹ chỉ cần thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng mà không cần trả thêm tiền lãi suất
Câu 4: Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu?
Trong quyết định số 75 Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu vì xét thấy ngày 25/06/2006 anh Dư, chị Chúc đã chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất trên cho ông Sanh với giá là 195.000.000đ Hai bên có lập một giấy "chuyển nhượng đất" và một giấy
"chuyển nhượng đất thổ cư và nhận tiền" cùng ngày 25/06/2005 Cả hai tài liệu trên đều có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Trung Kiên Khi ông Sanh yêu cầu phải hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì vợ chồng anh Dư, chị Chúc không thực hiện
Hợp đồng vô hiệu là do lỗi của anh Dư, chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện thủ tục về hình thức của hợp đồng
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng
vô hiệu trong Quyết định trên.
Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định định hợp đồng vô hiệu là hợp lý Xét thấy xuyên suốt vụ án, hợp đồng chuyển nhượng được xác lập dưới sự tự nguyện của hai bên, hoàn toàn đúng pháp luật nhưng do lỗi của anh Dư, chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục
về hình thức của hợp đồng dẫn đến hợp đồng vô hiệu vì vi phạm về mặt hình thức
Câu 6: Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại với số tiền tương đương với phần giá trị hợp đồng đã thanh toán trước đó là 160.000.000 VNĐ vì hợp đồng giữa ông Sanh và vợ chồng anh Dư, chị Chúc vô hiệu là do lỗi của vợ chồng anh Dư và chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục về hình thức của hợp đồng chứ không phải do lỗi ông Sanh Theo khoản 4 Điều 131 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Câu 7: Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Dậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu không? Vì sao?
Việc này chính là hệ quả của giao dịch dân sự Vì quyết định này phù hợp với Điều 131 BLDS
2015 nói về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được thể hiện rõ nhất ở khoản 2 Điều này như sau: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” Do “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” bị vô hiệu nên dẫn đến hậu quả là anh Dậu phải hoàn trả lại toàn bộ phần đất được cho từ ông Văn, bà Tằm
*Bài tập 7: Đòi động sản từ người thứ ba
Câu 1: Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?