giáo trình này sẽ đáp ứng nhu cầu tham khảo môn vi mô của bạn, tài liệu có đầy đủ các chương và có đầy đủ các nội dung chính giúp bạn tham khảo một cách dễ dàng và có chọn lọc hơn, tài liệu này rất hữu ích cho bạn nào ôn luyện thi hết học phần
Trang 1TS Nguyễn Thị Hồng Loan (chủ biên) ThS Nguyễn Thanh Thảo – ThS Phí Mạnh Cường – ThS Nguyễn Thị Ngọc Anh
KINH TẾ HỌC VI MÔ
NHÀ XUẤT BẢN GIAO THÔNG VẬN TẢI
Hà Nội – 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ 7
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KINH TẾ VI MÔ 7
1.1.1 Khái quát về kinh tế học và kinh tế học vi mô 7
1.1.2 Đối tượng, nội dung của kinh tế học vi mô 9
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vi mô 10
1.2 DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP 10 1.2.1 Doanh nghiệp và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp 10
1.2.2 Những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp 12
1.3 LỰA CHỌN KINH TẾ TỐI ƯU CỦA DOANH NGHIỆP 13
1.3.1 Lý thuyết về sự lựa chọn 13
1.3.2 Phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu 16
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KINH TẾ TỐI ƯU CỦA DOANH NGHIỆP 16
1.4.1 Các quy luật kinh tế 16
1.4.2 Các mô hình nền kinh tế 17
CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ CUNG - CẦU 21
2.1 LÝ THUYẾT CẦU 21
2.1.1 Khái niệm cầu và lượng cầu 21
2.1.2 Luật cầu 24
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu 24
2.1.4 Sự vận động dọc theo đường cầu và sự dịch chuyển đường cầu 27
2.2 LÝ THUYẾT CUNG 28
2.2.1 Khái niệm cung và lượng cung 28
Tương tự như vậy, lượng cung thị trường về gas tại các mức giá được xác định và thống kê trong bảng 2.4 31
2.2.2 Luật cung 31
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung 31
2.2.4 Sự vận động dọc theo đường cung và sự dịch chuyển đường cung 32
2.3 CÂN BẰNG THỊ TRƯỜNG 33
2.3.1 Trạng thái cân bằng thị trường 33
2.3.2 Trạng thái thiếu hụt hoặc dư thừa trên thị trường 34
2.3.3 Sự thay đổi điểm cân bằng 35
Trang 42.4 HỆ SỐ CO GIÃN CỦA CẦU VÀ CUNG 38
2.4.1 Hệ số co giãn của cầu 38
2.4.2 Hệ số co giãn của cung 44
2.4.3 Vận dụng lý thuyết hệ số co giãn trong việc ra quyết định kinh tế 46
CHƯƠNG 3 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 51
3.1 LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH 51
3.1.1 Một số khái niệm 51
3.1.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần 55
3.2 LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU 56
3.2.1 Một số giả định 57
3.2.2 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi tiêu dùng một loại hàng hóa 57
3.2.3 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi tiêu dùng nhiều loại hàng hóa 58
3.2.4 Thay đổi điểm tiêu dùng tối ưu 61
CHƯƠNG 4 LÝ THUYẾT HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP 64
4.1 LÝ THUYẾT SẢN XUẤT 64
4.1.1 Một số khái niệm cơ bản 64
4.1.2 Hàm sản xuất 65
4.1.3 Hiệu quả kinh tế theo quy mô 66
4.1.4 Quyết định sản xuất trong ngắn hạn 67
4.1.5 Quyết định sản xuất trong dài hạn 70
4.2 LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT 74
4.2.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 74
4.2.2 Các loại chi phí ngắn hạn 75
4.2.3 Các loại chi phí dài hạn 76
4.3 LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN 78
4.3.1 Khái niệm lợi nhuận và ý nghĩa của lợi nhuận 78
4.3.2 Tổng doanh thu và doanh thu cận biên 79
4.3.3 Quyết định lợi nhuận tối đa trong ngắn hạn của doanh nghiệp 80
4.3.4 Tối đa hoá lợi nhuận trong dài hạn 82
CHƯƠNG 5 CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG 84
5.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG 84
5.1.1 Khái niệm thị trường 84
5.1.2 Phân loại thị trường 84
5.2 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO 85
Trang 55.2.1 Giả định của thị trường cạnh tranh hoàn hảo 85
5.2.2 Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo 86
5.2.3 Cân bằng thị trường cạnh tranh hoàn hảo 91
5.3 THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN BÁN 91
5.3.1 Nguyên nhân dẫn đến độc quyền bán 92
5.3.2 Doanh nghiệp độc quyền bán 92
5.4 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN HẢO 98
5.4.1 Thị trường cạnh tranh độc quyền 98
5.4.2 Thị trường độc quyền tập đoàn 100
CHƯƠNG 6 THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT 104
6.1 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 104
6.1.1 Cầu về lao động 104
6.1.2 Cung về lao động 110
6.1.3 Cân bằng thị trường lao động 114
6.2 THỊ TRƯỜNG VỐN 116
6.2.1 Cầu về vốn 116
6.2.2 Cung về vốn 120
6.2.3 Cân bằng thị trường vốn 121
CHƯƠNG 7 VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 124 7.1 NHỮNG TRỤC TRẶC (KHUYẾT TẬT) CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 124 7.1.1 Đặt vấn đề 124
7.1.2 Các ảnh hưởng ngoại ứng 125
7.1.3 Hàng hoá công cộng 126
7.1.4 Ảnh hưởng của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo 127
7.1.5 Công bằng xã hội 128
7.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI VIỆC KHẮC PHỤC CÁC TRỤC TRẶC PHÁT SINH 128
7.2.1 Các chức năng kinh tế chủ yếu của Chính phủ 128
7.2.2 Các phương pháp điều tiết của Chính phủ 129
Trang 6MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, môn học kinh tế học vi mô là một học phần bắt buộc đối với các ngành
kế toán, quản trị kinh doanh và ngành kinh tế khác của hầu hết các trường đại học với mục đích giúp cho người học hiểu được các vấn đề kinh tế cơ bản của nền kinh tế nói chung và các thành viên kinh tế nói riêng cũng như cách thức các thành viên kinh tế giải quyết các vấn đề kinh tế của mình để sử dụng nguồn lực có hạn một cách hiệu quả
Với các chủ đề bao gồm: Các vấn đề kinh tế cơ bản của các thành viên kinh tế, tính quy luật và xu hướng vận động tất yếu của các hành vi kinh tế vi mô, các khuyết tật của nền
kinh tế thị trường và vai trò điều tiết của chính phủ đối với nền kinh tế , giáo trình Kinh tế
học vi mô được nhóm tác giả biên soạn nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản
về các qui luật kinh tế, các nguyên lý kinh tế cơ bản Thông qua việc tiếp cận tư duy phân tích của một nhà kinh tế đối với các sự kiện kinh tế trên cơ sở các mô hình kinh tế, giáo trình sẽ giúp người học hiểu được bản chất của các vấn đề kinh tế của các thành viên trong nền kinh
tế, lý giải được các quyết định kinh tế tối ưu của các thành viên trong nền kinh tế và có được định hướng tư duy khi đưa ra các quyết định quản trị kinh doanh hiệu quả và phù hợp với các quy luật của nền kinh tế thị trường
Với sự tham gia của các tác giả và sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp, giáo trình Kinh tế học vi mô đã được hoàn thành với nội dung chính được chia thành 7 chương, trong đó:
- TS Nguyễn Thị Hồng Loan: Chủ biên và viết chương 1, chương 2, chương 4, chương 6 mục 6.1;
- ThS Nguyễn Thanh Thảo viết chương 3, chương 6 mục 6.2;
- ThS Phí Mạnh Cường viết chương 5;
- ThS Nguyễn Thị Ngọc Anh viết chương 7;
Giáo trình được sử dụng trong giảng dạy môn học “Kinh tế học vi mô” tại trường Đại học Mỏ - Địa chất Nhóm tác giả kỳ vọng rằng giáo trình này cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người quan tâm đến kinh tế học vi mô cũng như đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng và tham khảo các tài liệu liên quan của các tác giả trong và ngoài nước nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế nên giáo trình không tránh khỏi có những thiếu sót nhất định Nhóm tác giả luôn mong muốn những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp để giáo trình được hoàn thiện hơn
Mọi ý kiến đóng góp xin được gửi về địa chỉ: Loannth@humg.edu.vn
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm tác giả
Trang 7CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ
Nội dung cơ bản của chương 1 bao gồm những khái niệm cơ bản liên quan tới kinh tế học vi mô; giới thiệu về các thành viên kinh tế: Doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ; lý thuyết lựa chọn kinh tế tối ưu của các thành viên kinh tế; những ảnh hưởng của các quy luật kinh tế, những ảnh hưởng của các mô hình kinh tế tới cách thức lựa chọn kinh tế tối ưu của các thành viên
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KINH TẾ VI MÔ
1.1.1 Khái quát về kinh tế học và kinh tế học vi mô
a Khái niệm kinh tế học
Cùng sự phát triển của tri thức, khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực khả năng sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia có xu hướng không ngừng tăng lên cả về chất lượng và số lượng Tuy nhiên, các quốc gia này vẫn luôn phải đối mặt với một thực tế là hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra không thể đáp ứng tất cả các nhu cầu của xã hội Nguyên nhân cơ bản là mỗi quốc gia đều sở hữu một nguồn lực có hạn, vì vậy, khả năng sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cũng có hạn, trong khi đó, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của quốc gia đó lại là vô hạn Kinh tế học nghiên cứu và lý giải cách thức sử dụng nguồn lực hiệu quả với các
mô hình tổ chức nền kinh tế khác nhau của các quốc gia để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu vô hạn về hàng hóa và dịch vụ bằng nguồn lực có hạn của mình
Những lý thuyết về kinh tế học lần đầu tiên được Adam Smith hoàn chỉnh và hệ thống
hóa vào năm 1776 trong tác phẩm kinh điển của ông có tên “The wealth of nations” (Sự giàu
có của các quốc gia) Các lý thuyết đó, đặc biệt là lý thuyết về “bàn tay vô hình” của cơ chế
thị trường của ông đã đặt nền móng cho sự phát triển của kinh tế học hiện đại sau này Sau Adam Smith, đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và phát triển các lý thuyết về kinh tế học hiện đại như: David Ricardo, Samuelson, David Begg, với các cách diễn đạt khác nhau về khái niệm kinh tế học Mỗi cách diễn đạt khái niệm về kinh tế học xuất phát từ góc nhìn khác
nhau, tuy nhiên, chúng đều biểu thị cách thức mà các quốc gia phân bổ nguồn lực có hạn của
mình cho các mục đích sử dụng khác nhau để đạt hiệu quả nhất
Các khái niệm điển hình về Kinh tế học được các nhà nghiên cứu đề cập đến bao gồm:
- Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức phân bổ nguồn lực của nền kinh tế cho
các mục đích sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu vô hạn về hàng hóa và dịch vụ bằng nguồn lực có hạn của xã hội
- Kinh tế học nghiên cứu cách thức xã hội giải quyết ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như
thế nào và sản xuất cho ai
- Kinh tế học là việc nghiên cứu cách thức xã hội lựa chọn như thế nào để sử dụng nguồn lực
khan hiếm vào những mục đích sử dụng khác nhau nhằm sản xuất ra các loại hàng hoá và dịch vụ để phân phối cho các nhu cầu tiêu dùng ở hiện tại hoặc trong tương lai
Trên thực tế, nhu cầu của con người về hàng hoá và dịch vụ là vô hạn, trong khi đó nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ (yếu tố sản xuất) là hữu hạn, do
đó, luôn tồn tại sự mất cân đối giữa khả năng sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ có hạn và nhu cầu vô hạn của xã hội về hàng hóa và dịch vụ Mục tiêu của các quốc gia là bằng mọi cách, đáp ứng tối đa nhu cầu của xã hội về hàng hóa và dịch vụ bằng số lượng yếu tố sản xuất có hạn của nền kinh tế Để có thể đạt được mục tiêu, cần phải lựa chọn và ưu tiên sản xuất những
loại hàng hóa và dịch vụ mà xã hội mong muốn nhất Chính vì vậy, Kinh tế học còn được gọi
là môn khoa học của sự lựa chọn Với nền kinh tế/doanh nghiệp sẽ lựa chọn: Sản xuất cái gì?
Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? để với nguồn lực có hạn, số lượng và chủng loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của xã hội Với các hộ gia đình
sẽ lựa chọn: Tiêu dùng cái gì? Tiêu dùng như thế nào? Tiêu dùng cho ai? để với ngân sách có
Trang 8hạn, số lượng và chủng loại hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của gia đình
Từ góc độ cách tiếp cận nền kinh tế và đối tượng nghiên cứu, Kinh tế học là môn khoa
học nghiên cứu cách thức vận hành của một nền kinh tế nói chung và cách ứng xử của các thành viên kinh tế nói riêng
Theo khái niệm này, suy cho cùng, kinh tế học nghiên cứu về nền kinh tế, tuy nhiên,
nền kinh tế được nghiên cứu từ hai góc độ tiếp cận khác nhau: khái quát và cụ thể/chi tiết
Chính vì vậy, Kinh tế học được chia thành hai bộ phận: Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và Kinh tế học vi mô nghiên cứu cách ứng xử của các
thành viên kinh tế nói riêng
Theo vai trò trong hoạt động kinh tế, các thành viên kinh tế được chia thành 3 nhóm: (1) doanh nghiệp: Mua các yếu tố sản xuất của các hộ gia đình để sản xuất ra hàng hóa/dịch
vụ, sau đó bán các sản phẩm/dịch vụ cho các hộ gia đình để thu lợi nhuận; (2) hộ gia đình: bán các yếu tố sản xuất cho các doanh nghiệp để có thu nhập và mua hàng hóa/dịch vụ của doanh nghiệp; (3) chính phủ: Trực tiếp cung cấp và tiêu dùng một số loại hàng hóa, dịch vụ
và quản lý, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp và hộ gia đình trong nền kinh tế thông qua
hệ thống văn bản pháp luật, chính sách kinh tế, đặc biệt là hệ thống thuế Vai trò của các nhóm thành viên kinh tế được thể hiện thông qua thị trường hàng hóa/dịch vụ và thị trường yếu tố sản xuất và được mô tả trong hình 1.1, trong đó, các yếu tố sản xuất là các yếu tố được
sử dụng để sản xuất ra hàng hóa/dịch vụ, vì vậy còn được gọi là nguồn lực hay các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Theo vai trò đối với quá trình sản xuất, các yếu tố sản xuất được chia thành 3 nhóm: Vốn (K), lao động (L) và đất đai (Ld)
b Khái niệm Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô là bộ phận của kinh tế học, nghiên cứu hành vi kinh tế của các thành viên kinh tế Nội dung cụ thể của kinh tế học vi mô hướng tới các vấn đề sau: (1) mục tiêu của các
thành viên: Bao gồm mục tiêu kinh tế mà các thành viên kinh tế theo đuổi khi hoạt động trong
hệ thống kinh tế Với các nhóm thành viên khác nhau, mục tiêu kinh tế của họ cũng khác nhau Hộ gia đình luôn theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi ích, hay nói cách khác, với ngân sách, sức khỏe, địa vị xã hội cho trước, hộ gia đình luôn mong muốn đạt được lợi ích tối đa Với doanh nghiệp, với nguồn lực là vốn, lao động và đất đai có hạn, doanh nghiệp luôn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận đạt tối đa Với vai trò là một thành viên đặc biệt của hệ thống kinh tế, vừa thực hiện chức năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ, vừa quản lý, điều tiết nền kinh tế, mục tiêu của Chính phủ là tối đa hóa phúc lợi xã hội Hay nói cách khác, Chính phủ của các quốc gia luôn thực hiện các quyết định sao cho đảm bảo mục tiêu tổng lợi ích của cả xã hội đạt tốt đa; (2) hạn chế của các thành viên: Quy luật nguồn lực khan hiếm chi phối tất cả các nhóm thành viên trong nền kinh tế, vì vậy, mỗi nhóm thành viên sẽ phải đối mặt với những
Thị trường hàng hóa/dịch vụ
Chính Phủ
Thị trường yếu tố sản xuất
Mua Bán
Bán Mua
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các thành viên kinh tế
Mua Bán
Điều
Trang 9nguồn lực có hạn của mình Nếu như hộ gia đình phải đối mặt với ngân sách, thời gian có hạn thì các doanh nghiệp phải đối mặt với số lượng có hạn các yếu tố sản xuất như: vốn, lao động và đất đai thuộc quyền quản lý và sử dụng bởi doanh nghiệp Điều này làm hạn chế khả năng của doanh nghiệp trong việc sản xuất và đáp ứng nhu cầu của thi trường về hàng hóa và dịch vụ; (3) phương pháp đạt được mục tiêu của các thành viên: đối mặt với những hạn chế nêu trên, để đạt được mục tiêu, các thành viên kinh tế cần phải phân tích, lựa chọn và đưa ra các quyết định trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng sao cho có thể đạt được mục tiêu bằng nguồn lực có hạn đó
Trong mối liên hệ với kinh tế học vĩ mô cho thấy: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ
mô là hai môn học nghiên cứu nền kinh tế từ hai góc độ khác nhau Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế một cách tổng thể, bao gồm: mục tiêu kinh tế của các quốc gia, cách thức vận hành nền kinh tế để đạt được mục tiêu kinh tế đã xác định đó Kinh tế học vĩ mô được ví như việc xem một cách tổng thể một bức tranh lớn bao gồm nhiều bộ phận cấu thành Kinh tế học
vi mô đi sâu vào nghiên cứu những hành vi kinh tế của các thành viên mà chủ yếu là các doanh nghiệp, hộ gia đình gắn với từng ngành, từng thị trường cụ thể Nội dung nghiên cứu của kinh tế học vi mô tập trung vào cung cầu của thị trường của từng loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể, các quyết định về tiêu dùng của mỗi hộ gia đình và quyết định sản xuất, của mỗi doanh nghiệp … nó được ví như việc nghiên cứu tỉ mỉ từng chi tiết, từng bộ phận của một bức tranh lớn đó Như vậy, kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô vừa có một mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cho chúng ta có nhận thức/hiểu biết một cách đầy đủ và có
hệ thống về vận động của nền kinh tế Trên cơ sở đó, giúp các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc tác động vào nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách bền vững
Có thể đưa ra một ví dụ minh họa về sự khác biệt và mối quan hệ giữa kinh tế học vĩ
mô và kinh tế học vi mô như sau: Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được nhà nước sử dụng để cải thiện cán cân ngân sách và phân bổ nguồn lực giữa các ngành khác nhau Tuy nhiên, nếu xét từ khía cạnh kinh tế học vi mô, thuế lại là một khoản mà doanh nghiệp phải nộp, nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp về sản lượng và giá bán hàng hóa/dịch vụ trên thị trường, như vậy, lại ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu cầu nền kinh
tế
1.1.2 Đối tượng, nội dung của kinh tế học vi mô
a Đối tượng nghiên cứu
Từ khái niệm kinh tế học vi mô cho thấy, đối tượng của kinh tế học vi mô là các quyết định kinh tế của các thành viên kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định trong điều kiện từng ngành, từng thị trường và từng nền kinh tế cụ thể Tuy nhiên, hành vi kinh tế của các thành viên rất đa dạng và phong phú, vừa mang tính quy luật chung vừa mang tính cá biệt gắn với các đặc điểm cụ thể của mỗi thành viên Kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu các quyết định kinh tế mang tính quy luật của các thành viên kinh tế
b Nội dung nghiên cứu
Kinh tế học vi mô là môn khoa học kinh tế cơ bản, cung cấp kiến thức, lý luận và phương pháp luận kinh tế cho các môn khoa học kinh tế chuyên ngành như: Quản trị kinh doanh, Marketing, Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, … do đó, nội dung chính của môn học bao gồm:
- Khái quát các vấn đề kinh tế cơ bản của các thành viên kinh tế, lý thuyết lựa chọn kinh tế tối ưu và các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn kinh tế tối ưu của các thành viên kinh tế
đó
- Tính qui luật và xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô như: Quan
hệ cung - cầu trên thị trường hàng hóa/dịch vụ và yếu tố sản xuất; lý thuyết hành vi của người
Trang 10tiêu dùng; lý thuyết hành vi của doanh nghiệp; những khuyết tật của cơ chế thị trường và vai trò điều tiết của Chính phủ
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vi mô
Với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu hành vi kinh tế của các thành viên kinh
tế, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu chung được áp dụng khi nghiên cứu các môn khoa
học như: Nắm vững lý luận và phương pháp luận về lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô; kết hợp lý thuyết và thực hành trong quá trình nghiên cứu thông qua việc
vận dụng các các lý luận, phương pháp luận vào giải quyết các bài tập tình huống, nghiên cứu
tiểu luận, chuyên đề ; vận dụng lí luận, phương pháp luận vào thực tiễn nhằm nhận thức
được những mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn, từ đó có thể xây dựng các dự đoán, phương hướng, biện pháp phù hợp thúc đẩy hoạt động kinh tế vi mô đạt hiệu quả, tạo ra cơ sở để hoàn
thiện hơn cho những lí luận, phương pháp luận đã nghiên cứu; tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến
nhằm kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước đó để có thể hiểu và phát triển các lý thuyết kinh tế học vi mô hay vận dụng các lý thuyết vào thực tiễn sinh động phong phú, kinh tế học
vi mô còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu riêng, đặc trưng của môn học, bao gồm:
- Phương pháp mô hình hoá: Kinh tế học vi mô nghiên cứu các hành vi kinh tế của các thành viên, đặc biệt là các quyết định của họ trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ Để nghiên cứu các vấn đề này, kinh tế học vi mô thường xây dựng các mô hình kinh tế và xem xét hành vi kinh tế của các thành viên thông qua mô hình này Thực chất, các mô hình kinh tế
là sự đơn giản hóa của các thực thể kinh tế
- Phương pháp cân bằng cục bộ: Khi hàng hóa/dịch vụ được trao đổi trên thị trường, giữa các thị trường có mối quan hệ nhất định, kể cả trên lãnh thổ của một quốc gia hay trên toàn thế giới Tuy nhiên, khi nghiên cứu cân bằng diễn ra trên thị trường, kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu sự cân bằng trên từng thị trường cụ thể, với từng loại hàng hóa cụ thể
- Phương pháp cố định các yếu tố: Quyết định tối ưu của các thành viên được xác định
và thực hiện trong một hệ thống các yếu tố ảnh hưởng như: giá cả hàng hóa, thị hiếu, điều kiện văn hóa, thuế, …Tuy nhiên, kinh tế học vi mô chỉ xem xét ảnh hưởng của một yếu tố tới hiện tượng nghiên cứu và coi các yếu tố ảnh hưởng khác là không đổi
- Phương pháp toán tối ưu: Phương pháp này thường được sử dụng trong kinh tế học
vi mô, trong đó, các mối quan hệ kinh tế được lượng hóa thông qua các mô hình, công cụ toán học, từ đó lý giải các quyết định kinh tế tối ưu của các thành viên kinh tế
1.2 DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Doanh nghiệp và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
a Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi..
Từ góc độ kinh tế học vi mô, doanh nghiệp được hiểu là một thành viên kinh tế, thực
hiện hoạt động sản xuất và/hoặc tiêu thụ hàng hóa/dịch vụ theo nhu cầu của thị trường với
mục tiêu lợi nhuận tối đa
b Phân loại doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong hệ thống kinh tế hiện nay có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau Với mỗi loại doanh nghiệp, đặc điểm về tổ chức sản xuất, chu kì sản xuất và quá trình sản xuất … cũng khác nhau, do đó, các quyết định kinh tế tối ưu của doanh nghiệp cũng có sự khác biệt tương đối
- Theo ngành sản xuất: Bao gồm các doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp tài chính ngân hàng,
Trang 11- Theo hình thức sở hữu: Bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước, …
- Theo hình thức pháp lý: Bao gồm các công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, …
- Theo quy mô của doanh nghiệp: Bao gồm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa
và doanh nghiệp nhỏ
c Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là tất cả các bước, các công đoạn mà doanh nghiệp phải tiến hành để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian Với các doanh nghiệp sản xuất, quá trình sản xuất của doanh nghiệp thường bao gồm các bước sau:
- Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu thị trường về hàng hóa/dịch vụ: Trong bước này, doanh nghiệp sẽ thu thập tài liệu về nhu cầu thị trường, phân tích và trả lời câu hỏi: sản xuất cái gì?
- Chuẩn bị các yếu tố sản xuất: Sau khi quyết định sản xuất cái gì, doanh nghiệp tiến hành chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào về số lượng, chủng loại, chất lượng, để thực hiện quyết định sản xuất Các yếu tố sản xuất thường bao gồm: vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, công nghệ
- Tổ chức quá trình sản xuất: Trong bước này doanh nghiệp sẽ thực hiện việc tổ chức
và kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hóa/dịch vụ Hay nói cách khác, doanh nghiệp sẽ thực hiện các quyết định cơ bản “sản xuất như thế nào?”
- Tổ chức tiêu thụ tiêu thụ hàng hóa/dịch vụ và thu tiền về: Trong bước này, doanh nghiệp sẽ phải xác định được số lượng hàng hóa tiêu thụ trên các thị trường khác nhau, mức giá bán áp dụng cho các loại thị trường, phương thức tiêu thụ, phương thức thanh toán để thu được tiền về và kết thúc một chu kì kinh doanh
Với các doanh nghiệp thương mại hoặc cung cấp dịch vụ, quá trình kinh doanh cũng được xác định tương tự, tuy nhiên, các doanh nghiệp thương mại không chuẩn bị các yếu tố sản xuất và thực hiện hoạt động sản xuất ra sản phẩm mà chỉ đơn thuần là tổ chức mua và dự trữ hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường
d Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát, nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hóa/dịch vụ đến lúc bán xong hàng hóa và thu tiền về
Chu kỳ kinh doanh gồm có các giai đoạn (khoảng thời gian) tương ứng với các giai đoạn của quá trình kinh doanh Như vậy, với các doanh nghiệp sản xuất, chu kỳ kinh doanh được mô tả như sau:
- Khoảng thời gian nghiên cứu nhu cầu thị trường và đưa ra quyết định sản xuất loại hàng hóa nào? Số lượng bao nhiêu? Bao giờ thì sản xuất?
- Khoảng thời gian chuẩn bị các yếu tố sản xuất như: huy động vốn, tổ chức mua vật
tư, máy móc thiết bị, tuyển và đào tạo lao động,
- Khoảng thời gian tổ chức quá trình sản xuất để tạo ra hàng hóa/dịch vụ Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian nhất trong chu kỳ kinh doanh và các doanh nghiệp thường có xu hướng nghiên cứu, hoàn thiện quá trình tổ chức sản xuất để rút ngắn thời gian của giai đoạn này
- Khoảng thời gian tổ chức tiêu thụ hàng hóa/dịch vụ và thanh toán
Như vậy chu kỳ kinh doanh phụ thuộc vào quá trình kinh doanh Mục tiêu của các doanh nghiệp là rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh (đặc biệt là vốn lưu động) Thông thường, để rút ngắn chu kì kinh doanh, các doanh nghiệp có
xu hướng tác động vào hai giai đoạn cuối của quá trình kinh doanh, đó là đưa ra các biện pháp
Trang 12về kĩ thuật tổ chức sản xuất và quản lý nhằm tăng năng suất lao động và tăng cường tiêu thụ hàng hóa/dịch vụ, khuyến khích thanh toán nhằm nhanh chóng thu được tiền về
1.2.2 Những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
Nhu cầu trên thị trường về hàng hóa và dịch vụ là vô hạn trong khi đó, nguồn lực của doanh nghiệp có hạn Mặt khác, doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận tối đa,
vì vậy mỗi doanh nghiệp đều phải giải quyết tốt ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Quá trình giải quyết ba 3 vấn đề kinh tế cơ bản này được gọi là lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp
Tiền đề của các vấn đề kinh tế cơ bản này là sự khan hiếm về nguồn lực Nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ rất đa dạng, phong phú và không ngừng tăng lên Khi tham gia vào thị trường, các doanh nghiệp luôn mong muốn và cố gắng sản xuất thật nhiều để đáp ứng nhu cầu thị trường trên cơ sở đó thu được càng nhiều lợi nhuận càng tốt Tuy nhiên, cho
dù cố gắng đến đâu, dù khả năng sản xuất cũng có xu hướng ngày một tăng lên nhưng nó vẫn
bị chi phối bởi số lượng các yếu tố sản xuất là có hạn, vì vậy, các doanh nghiệp không thể sản xuất được mọi loại hàng hóa mà họ và thị trường mong muốn Doanh nghiệp phải lựa chọn để sản xuất ra các loại hàng hóa và dịch vụ mà thị trường mong muốn nhất, từ đó thu được lợi nhuận tối đa
Câu trả lời của các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, hay nói cách khác, kết
quả của quá trình lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp chính là các quyết định kinh tế tối
ưu mà mục tiêu của lựa chọn là sử dụng nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả nhất để
đáp ứng nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ
Các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp bao gồm:
+ Sản xuất cái gì? Để giải quyết được vấn đề này, doanh nghiệp phải xác định được
các nội dung sau: Sản xuất ra hàng hóa/dịch vụ gì? Số lượng bao nhiêu và bao giờ thì sản xuất
Vấn đề kinh tế cơ bản này được xác định chủ yếu thông qua việc nghiên cứu thị trường hay cụ thể hơn là nghiên cứu nhu cầu thị trường Trên cơ sở nhu cầu thị trường, doanh nghiệp sẽ tính toán khả năng sản xuất của mình và các chi phí sản xuất tương ứng để lựa chọn
và quyết định sản xuất nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận
+ Sản xuất như thế nào: Bao gồm các vấn đề như sản xuất bằng nguồn tài nguyên
nào? Theo hình thức công nghệ nào? Ai là người sản xuất
Các doanh nghiệp phải xem xét và lựa chọn việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ đã xác định như thế nào để có thể sản xuất nhanh và nhiều hàng hóa theo nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất, để có lợi nhuận cao nhất Việc lựa chọn này đề cập đến công nghệ sản xuất, nơi sản xuất, người sản xuất và tài nguyên được sử dụng để sản xuất Ví dụ như: Sản xuất điện theo phương thức thuỷ điện hay nhiệt điện, khai thác than bằng công nghệ hầm lò hay công nghệ lộ thiên, …
Động cơ lợi nhuận khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm lựa chọn các đầu vào tốt nhất với chi phí thấp nhất, lựa chọn phương pháp sản xuất có hiệu quả nhất Phương pháp đó kết hợp tất cả các yếu tố đầu vào để sản xuất ra đầu ra nhanh nhất, sản xuất được nhiều nhất với chi phí thấp nhất
+ Sản xuất cho ai? Cần phải xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng
hoá và dịch vụ của doanh nghiệp, của nền kinh tế
Vấn đề mấu chốt ở đây cần giải quyết là những hàng hóa và dịch vụ sản xuất phân phối cho ai để vừa có thể kích tích mạnh mẽ sự phát triển kinh tế có hiệu quả cao, vừa đảm bảo sự công bằng xã hội Đối tượng thị trường mà các nhà sản xuất hướng tới để bán hàng, đáp ứng nhu cầu và thu lợi nhuận
Trang 13Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần phải xác định rõ ràng lợi nhuận thu được từ việc sản xuất sẽ được phân phối như thế nào để vừa đảm bảo tích lũy, mở rộng sản xuất, vừa đảm bảo sự công bằng, tạo động lực cho sản xuất phát triển
Sự lựa chọn này hoàn toàn thực hiện được bởi lẽ có nhiều cách phân phối sản phẩm, cho những kết quả khác nhau từ khía cạnh hiệu quả và công bằng
1.3 LỰA CHỌN KINH TẾ TỐI ƯU CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Lý thuyết về sự lựa chọn
Sự lựa chọn kinh tế tối ưu đối với các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều phải dựa trên lý thuyết lựa chọn Lý thuyết lựa chọn tìm cách lý giải cách thức mà các thành viên kinh tế khác nhau sử dụng để đưa ra các quyết định của mình Nó cố gắng giải thích tại sao họ lại lựa chọn và cách thức lựa chọn của họ
a Lý do và ý nghĩa của lựa chọn
Do các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với một mâu thuẫn giữa nguồn lực khan hiếm làm cho khả năng sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ là có hạn và nhu cầu vô hạn về hàng hóa và dịch vụ của thị trường
Với nguồn lực có hạn thì ở bất kỳ thời điểm nào doanh nghiệp cũng không có đủ nguồn lực để sản xuất ra tất cả các loại hàng hóa/dịch vụ mà thị trường mong muốn Do đó, việc sử dụng nguồn lực khan hiếm này sẽ mang tính chất cạnh tranh, khi quyết định sử dụng nguồn lực vào việc sản xuất ra một loại hàng hóa/dịch vụ này thì phải quyết định cắt giảm việc sản xuất các loại hàng hóa/dịch vụ khác Như vậy, bản chất của sự khan hiếm về nguồn lực là sự mất cân đối giữa số lượng nguồn lực cần có để sàn xuất ra các loại hàng hoá và dịch
vụ mà con người mong muốn có được trong một khoảng thời gian và số lượng hàng hoá và dịch vụ có thể sản xuất ra trong khoảng thời gian đó
Để giải quyết mâu thuẫn này, các doanh nghiệp luôn lựa chọn sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? để với nguồn lực có hạn, có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường về hàng hóa và dịch vụ
b Khả năng thực hiện lựa chọn
Sự lựa chọn có thể thực hiện được, vì các nguồn lực khan hiếm khác nhau có thể thay thế cho nhau, hay nói cách khác nguồn lực có thể được sử dụng vào các mục đích khác nhau Với mỗi mục đích sử dụng, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra những chi phí khác nhau và các kết quả thu được cũng khác nhau Khi đó, doanh nghiệpsẽ lựa chọn một mục đích sử dụng nguồn lực hợp lí và hiệu quả nhất
Trên thực tế, để thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng rất nhiều loại nguồn lực khác nhau với mức độ khan hiếm khác nhau Chính sự khan hiếm nguồn lực này sẽ chi phối cách thức doanh nghiệp đánh giá các cơ hội và thứ tự ưu tiên của các lựa chọn của mình Ứng với mỗi doanh nghiệp khác nhau, quyết định tối ưu của doanh nghiệp sẽ khác nhau Thông thường, để đưa ra quyết định lựa chọn kinh tế tối ưu, doanh nghiệp sẽ dựa vào loại nguồn lực khan hiếm nhất và coi đó như một căn cứ và ràng buộc khi lựa chọn
c Cơ sở lựa chọn
Mọi quyết định trong đời sống kinh tế, xã hội cũng đều được đưa ra dựa trên những cơ
sở nhất định Một trong những cơ sở quan trọng của quyết định lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp là mục tiêu của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp đưa ra quyết định lựa chọn, đều phải căn cứ vào mục tiêu của mình trong từng thời kỳ Với mỗi mục tiêu khác nhau, quyết định lựa chọn của doanh nghiệp cũng khác nhau Nhìn chung, mục tiêu của các doanh nghiệp
có thể là mục tiêu kinh tế như tối đa hoá lợi nhuận với ràng buộc về nguồn lực, có thể là mục tiêu trung gian như mở rộng thị trường, củng cố hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp hay mục tiêu xã hội như tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
Trang 14Ngoài ra, chi phí cơ hội và quy luật chi phí cơ hội tăng dần cũng là một cơ sở quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định lựa chọn kinh tế tối ưu Do nguồn lực khan hiếm nên các doanh nghiệp nói riêng và các thành viên kinh tế nói chung phải thực hiện sự lựa chọn Bản chất của lựa chọn là việc đánh đổi, hay nói cách khác, để nhận được một lợi ích nào đó của cơ hội này, doanh nghiệp phải đánh đổi hoặc bỏ qua những lợi ích do các cơ hội khác mang lại Những lợi ích không thu được hoặc phải bỏ qua này được gọi là chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội và quy luật chi phí cơ hội tăng dần là khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn, không chỉ trong hoạt động lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp
mà nó được vận dụng thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế đối với tất cả các thành viên kinh tế
Chi phí cơ hội được hiểu là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi đưa ra một lựa chọn kinh tế
Như vậy, chi phí cơ hội được hiểu là những lợi ích lớn nhất ứng với một cơ hội hấp dẫn nhất mà doanh nghiệp đã không đạt được khi quyết định sử dụng các nguồn lực cho một mục đích/một công việc nào đó
Với hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp, do số lượng các yếu tố sản xuất có hạn, doanh nghiệp không thể sản xuất ra mọi mức số lượng hàng hóa và dịch vụ
mà doanh nghiệp mong muốn mà để tăng số lượng của loại hàng hóa hoặc dịch vụ này, doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng của các loại hàng hóa hoặc dịch vụ khác Trong trường hợp
này, chi phí cơ hội để sản xuất thêm một mức số lượng của một loại hàng hóa chính là số
lượng của các loại hàng hóa khác phải giảm đi
Ví dụ Doanh nghiệp Thương mại và sản xuất T & T sử dụng toàn bộ nguồn lực của mình để sản xuất quần áo và giày dép với mức các mức sản lượng khác nhau được cho trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Sản lượng theo khả năng sản xuất của Doanh nghiệp TM và sản xuất T & T
(bộ/tháng) Số lượng giày (đôi/tháng) thêm 50 đôi giày/tháng Chi phí cơ hội để SX
là những lợi ích của cơ hội có lợi nhất sau cơ hội đã chọn Mục tiêu của doanh nghiệp chính là cơ
sở đánh giá mức độ hấp dẫn của các cơ hội và chi phí cơ hội Khi chưa có quyết định lựa chọn và/hoặc không có các cơ hội khác nhau thì cũng không có khái niệm chi phí cơ hội
Khi nghiên cứu chi phí cơ hội sẽ giúp cho doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh sao cho chi phí cơ hội ứng với quyết định lựa chọn là thấp nhất Khi muốn thay đổi các quyết định, các doanh nghiệp cần xác định lại chi phí cơ hội với phương án lựa chọn mới vì
Trang 15khi chúng ta thay thế cơ hội này bằng cơ hội khác thì chi phí cơ hội cũng thay đổi Thực tế cho thấy, khi doanh nghiệp thay thế lựa chọn này bằng lựa chọn khác thì chi phí cơ hội có xu hướng tăng lên Hiện tượng này là, lựa chọn kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và các thành viên kinh tế nói chung tuân theo quy luật chi phí cơ hội tăng dần
Nội dung quy luật chi phí cơ hội tăng dần: Chi phí cơ hội có xu hướng tăng lên nếu
lựa chọn này được thay thế bằng lựa chọn khác Như vậy, quy luật chi phí cơ hội tăng dần cho biết: để sản xuất thêm cùng một mức số lượng của một loại hàng hóa này, số lượng các loại hàng hóa khác phải giảm đi có xu hướng ngày càng tăng lên
Từ số liệu trong bảng 1.1 mặc dù số lượng giày được sản xuất thêm tương ứng với mỗi phương án đều là 50 đôi nhưng số lượng quần áo phải giảm đi tương ứng với mỗi phương
án lại có xu hướng tăng lên Nguyên nhân là khi tăng cường sản xuất thêm giày, Doanh nghiệp phải chuyển một số yếu tố sản xuất đang được sử dụng để sản xuất quần áo sang sản xuất giày Ban đầu, Doanh nghiệp sẽ lựa chọn những yếu tố sản xuất linh hoạt, dễ chuyển đổi nên năng suất của các yếu tố này tương đối cao Càng tăng số lượng giày, các yếu tố sản xuất đang được sử dụng để sản xuất quần áo được chuyển sang sản xuất giày càng nhiều với mức
độ linh hoạt giảm dần, vì vậy, năng suất của các yếu tố sản xuất này cũng giảm dần Để sản xuất thêm cùng một lượng giày nhất định, số lượng các yếu tố sản xuất phải chuyển từ sản xuất quần áo sang sản xuất giày ngày càng tăng kéo theo số lượng quần áo phải giảm đi có xu hướng tăng lên
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần góp phần lí giải hành vi kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và các thành viên kinh tế nói chung trên cơ sở giả thiết rằng doanh nghiệp/các thành viên kinh tế sẽ lựa chọn và đưa ra quyết định kinh tế tối ưu thông qua việc cân nhắc, so sánh những lợi ích do sự lựa chọn đó đem lại và chi phí cơ hội tính theo những cơ hội đã bị bỏ qua
d Ràng buộc của lựa chọn
Do nguồn lực có thể được sử dụng vào các mục đích khác nhau nên doanh nghiệp có thể đưa ra các lựa chọn về số lượng và chủng loại hàng hóa và dịch vụ sẽ được sản xuất ra để
có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường và xã hội Tuy nhiên, quyết định lựa chọn của doanh nghiệp không phải là tuyệt đối mà là trong giới hạn về nguồn lực Giới hạn này được minh họa thông qua đường giới hạn khả năng sản xuất và được gọi là ràng buộc của lựa chọn kinh tế tối ưu
Đường giới hạn khả năng
sản xuất (PPF) là đường biểu thị
các cách kết hợp khác nhau về mức
sản lượng tối đa của các loại hàng
hóa và dịch vụ mà một doanh
nghiệp có thể sản xuất được trong
một khoảng thời gian với điều kiện
nguồn lực được sử dụng hiệu quả
nhất
Với số liệu trong bảng 1.1,
đường giới hạn khả năng sản xuất
được minh họa trong hình 1.2
- Các điểm phía trong đường
PPF (ví dụ điểm I) là những điểm
không hiệu quả vì ở đó xã hội bỏ phí
nguồn lực Tăng thêm sản lượng của
một mặt hàng không đòi hỏi phải cắt
Quần áo
65
0 60
Trang 16- Những điểm nằm ngoài đường PPF (ví dụ điểm K) là những điểm không thể đạt được bởi nguồn lực là có hạn
- Những điểm nằm trên đường PPF (ví dụ các điểm A, B, , H) được gọi là những điểm hiệu quả, bởi vì với mức nguồn lực cho trước, số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra là tối đa
1.3.2 Phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu
Qua khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy, số lượng tăng thêm của một loại hàng hóa này chỉ có thể đạt được bằng cách giảm mức số lượng của loại hàng hóa khác Và tất cả các điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất là những điểm hiệu quả, tuy nhiên, những điểm này chỉ là điểm hiệu quả về mặt kỹ thuật Mục tiêu của các doanh nghiệp lại là hiệu quả kinh tế, hay nói cách khác, với nguồn lực cho trước, số lượng hàng hóa
và dịch vụ được sản xuất ra là tối đa, đồng thời, hàng hóa và dịch vụ này có thể đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường và xã hội Vì vậy, doanh nghiệp xác định cách phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả kinh tế bằng cách chọn một điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất và đảm bảo tại đó, số lượng các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường/xã hội
Hình vẽ 1.2 cũng minh họa cho điểm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp khác nhau Điểm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp được xác định tùy thuộc vào nhu cầu thị trường, vì vậy, trong trường hợp thị trường cần nhiều giày dép hơn quần áo thì điểm hiệu quả kinh tế có thể là điểm G, điểm H, trong trường hợp thị trường cần nhiều quần áo hơn giày dép thì điểm hiệu quả kinh tế đối với doanh nghiệp có thể là điểm C hoặc điểm D
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KINH TẾ TỐI ƯU CỦA DOANH NGHIỆP
1.4.1 Các quy luật kinh tế
Khi tham gia thị trường, người sản xuất và người tiêu dùng đều mong muốn đạt mục tiêu: lợi ích lớn nhất Vì vậy, khi xem xét ảnh hưởng của các quy luật kinh tế đến việc lựa chọn kinh tế tối ưu, kinh tế học vi mô xét cả ở góc độ lợi ích của nhà sản xuất (lợi nhuận) và lợi ích của người tiêu dùng (sự thỏa mãn) và của quốc gia (phúc lợi xã hội) Các nội dung dưới đây sẽ phân tích ảnh hưởng của các quy luật kinh tế tới lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp Ảnh hưởng của các quy luật này tới lựa chọn kinh tế tối ưu của hộ gia đình và của nền kinh tế được tiếp cận và phân tích tương tự
a Quy luật khan hiếm
Sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sẽ chẳng thành vấn đề nếu tài nguyên được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ là không hạn chế về số lượng Nếu có thể sản xuất một
số lượng vô tận về mọi loại hàng hoá hoặc nếu thoả mãn được đầy đủ mọi nhu cầu của con người, thì nếu có sản xuất quá nhiều một loại hàng hoá nào đó hoặc có kết hợp lao động và vật liệu một cách không hiệu quả cũng không sao Bởi vì tất cả mọi người muốn bao nhiêu cũng có, nên phân phối hàng hoá và thu nhập như thế nào giữa các giai cấp và con người cũng không sao Hay nói cách khác, nếu nguồn lực không ở tình trạng khan hiếm, các doanh nghiệp/quốc gia sẽ không cần phải lựa chọn kinh tế tối ưu Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn lực luôn bị giới hạn và sự khan hiếm về nguồn lực dẫn tới sự giới hạn về khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ trong mối quan hệ với nhu cầu của thị trường hoặc của xã hội Thực tế này
được phát biểu trong quy luật khan hiếm với nội dung như sau: Các tổ chức, các quốc gia
luôn phải đối mặt với ngồn lực khan hiếm, do đó, khả năng sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ luôn bị giới hạn Để tăng số lượng của loại hàng hóa này, các tổ chức, các quốc gia phải giảm số lượng của các loại hàng hóa khác
Theo thời gian, nhu cầu của con người về hàng hóa và dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú về chất lượng và số lượng Tuy nhiên, nguồn lực (đất đai, lao động, khoáng sản,
Trang 17nước, không khí, …) để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ và thoả mãn những nhu cầu trên luôn
bị giới hạn và có xu hướng ngày một khan hiếm, cạn kiệt Do đó, vấn đề lựa chọn kinh tế tối
ưu đối với các doanh nghiệp/nền kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu, đòi hỏi phải được giải quyết một cách nghiêm túc và việc thực hiện lựa chọn cũng rất khó khăn Các doanh nghiệp/nền kinh tế sẽ phải đưa ra quyết định lựa chọn những vấn đề kinh tế cơ bản của mình trên cơ sở phân tích chi phí cơ hội và trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất hiện có
b Quy luật năng suất cận biên giảm dần
Trong một khoảng thời gian nhất định, nếu doanh nghiệp sử dụng càng nhiều các loại yếu tố đầu vào thì số lượng sản phẩm được tạo ra càng nhiều Tuy nhiên, trong ngắn hạn, doanh nghiệp không thể tăng đồng thời số lượng của các loại yếu tố sản xuất mà thương phải
cố định số lượng của một số loại yếu tố sản xuất, vì vậy, cho dù số lượng của một loại yếu tố đầu vào có tăng lên thì đến một lúc nào đó, số lượng sản phẩm được tạo ra cũng không thể tăng lên được, thậm chí, có thể giảm đi Trong trường hợp này, doanh nghiệp được cho là đang bị chi phối bởi quy luật năng suất cận biên giảm dần
Quy luật năng suất cận biên giảm dần được hiểu như sau: Số lượng đầu ra (sản phẩm)
có thêm ngày càng ít đi khi liên tiếp sử dụng thêm cùng một mức số lượng của một loại yếu tố sản xuất cho trước và cố định số lượng của các loại yếu tố sản xuất khác
Khi doanh nghiệp muốn tăng mức sản phẩm đầu ra, cần sử dụng thêm các yếu tố đầu vào như vốn, lao động hay đất đai Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần cân nhắc giữa lợi ích thu được từ việc tăng cường sử dụng thêm yếu tố đầu vào (doanh thu) và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sử dụng yếu tố đầu vào đó (tiền công cho lao động, tiền lãi do vay vốn hay tiền thuê đất, )
Hay nói cách khác, qui luật năng suất cận biên giảm dần sẽ giúp doanh nghiệp xác định
số lượng các yếu tố đầu vào một cách hợp lí nhất trên cơ sở cân nhắc lợi ích thu được từ việc sử dụng thêm yếu tố đầu vào và chi phí phải bỏ ra khi sử dụng thêm yếu tố đầu vào đó
c Quy luật chi phí cơ hội tăng dần
Cùng với sự khan hiếm về nguồn lực, năng suất cận biên giảm dần sẽ tạo ra chi phí cơ hội ngày càng tăng Do năng suất lao động cận biên giảm dần nên với cùng một mức số lượng yếu tố đầu vào tăng thêm, số lượng hàng hoá được sản xuất ra thêm có xu hướng ngày càng giảm Vì vậy, để có thêm cùng một mức số lượng hàng hoá này, số lượng hàng hóa khác phải giảm đi có xu hướng ngày càng nhiều Quy luật chi phí cơ hội tăng dần có quan hệ với quy luật năng suất cận biên giảm dần nhưng không phải là một
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần giúp doanh nghiệp tính toán và lựa chọn sản xuất cái
gì và sản xuất như thế nào sao cho với số lượng yếu tố sản xuất có hạn, doanh nghiệp thu được lợi nhuận là lớn nhất
1.4.2 Các mô hình nền kinh tế
Các mô hình nền kinh tế được nghiên cứu sâu trong môn học kinh tế học vĩ mô Trong phạm vi chương này, chỉ nêu ảnh hưởng của mỗi mô hình nền kinh tế tới quyết định kinh tế tối ưu của doanh nghiệp
a Mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Trong mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Chính phủ thống nhất quản lý và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế Người duy nhất thực hiện lựa chọn và đưa ra quyết định về
ba vấn đề kinh tế cơ bản: “sản xuất gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?” là chính phủ Trên cơ sở các quyết định kinh tế tối ưu của nền kinh tế, chính phủ giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh Chính phủ phân phối nguồn lực cho ngành, các địa phương, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh Các tổ chức này tiến hành sản xuất và giao nộp sản phẩm Việc phân phối sản phẩm
Trang 18cho các thành viên của xã hội sẽ được thực hiện thông qua các tổ chức thương mại do Chính phủ quản lý và điều hành
* Ưu điểm mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Xuất phát từ đặc điểm và tính chất của quản lý và giải quyết các mối quan hệ kinh tế, mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có những đặc điểm sau:
- Quản lý được tập trung thống nhất đối với nền kinh tế do toàn bộ nguồn lực được chính phủ quản lý và phân bổ trong phạm vi toàn xã hội Bên cạnh đó, các nhu cầu công cộng của xã hội, an ninh và các vấn đề xã hội cũng được chính phủ quan tâm giải quyết
- Hạn chế được sự phân hoá giàu – nghèo, bất công xã hội và tạo công bằng trong xã hội do thực hiện cơ chế phân phối chung cho toàn xã hội, hạn chế sự chênh lệch giữa các cá nhân trong việc sử dụng nguồn lực
- Tập trung được nguồn lực để giải quyết những mất cân đối của nền kinh tế do mối quan hệ cung – cầu được giải quyết không chỉ trong phạm vi từng ngành, từng khu vực mà mối quan hệ này được chính phủ giải quyết trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
* Nhược điểm mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Bên cạnh những ưu điểm,
mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định, bao gồm:
- Do cơ chế bao cấp, sẽ phát sinh tình trạng quan liêu, không thúc đẩy và không kích thích sản xuất phát triển Các quyết định sản xuất và phân phối đều do chính phủ xác định sẽ khó bao quát được toàn bộ nền kinh tế Mặt khác, cơ chế phân phối không căn cứ vào mức độ đóng góp của các cá nhân sẽ không phát huy được những sáng kiến, tính tích cực của người lao động từ đó không kích thích được sản xuất phát triển
- Phân phối hàng hóa không xuất phát từ nhu cầu thị trường do trong mô hình kinh tế này đang thực hiện việc phân phối/cung ứng những thứ nền kinh tế có thể sản xuất được
- Sự can thiệp của Chính phủ vào những hoạt động cụ thể của doanh nghiệp làm giảm tính linh hoạt của doanh nghiệp, từ đó giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực
b Mô hình nền kinh tế thị trường
Trong mô hình nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự mình giải quyết ba vấn đề kinh
tế cơ bản “sản xuất gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?” thông qua quan hệ cung cầu trên thị trường Cơ sở của các quyết định kinh tế tối ưu của doanh nghiệp là các phân tích cung, cầu trên thị trường, vì vậy, trong mô hình nền kinh tế này, giá cả thị trường có vai trò quyết định trong quá trình lựa chọn và ra quyết định của doanh nghiệp
* Ưu điểm của mô hình nền kinh tế thị trường: Với phương pháp quản lý nền kinh tế theo đó quyền giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản thuộc về các doanh nghiệp, mô hình nền kinh tế thị trường có những ưu điểm sau:
- Động cơ lợi nhuận đã thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất và sử dụng nguồn lực hiệu quả nhất do vấn đề sản xuất cho ai đã được doanh nghiệp quyết định và thống nhất được lợi ích của người chủ sở hữu nguồn lực và người sử dụng nguồn lực
- Đảm bảo cho người sản xuất và người tiêu dùng được tự do lựa chọn và quyết định việc sản xuất và tiêu dùng của mình do vấn đề tiêu dùng cái gì? Tiêu dùng như thế nào và tiêu dùng cho ai là do người tiêu dùng quyết định, vì vậy, để tồn tại, các quyết định sản xuất của doanh nghiệp cần xác định trên cơ sở nhu cầu thị trường
* Nhược điểm của mô hình nền kinh tế thị trường: Do chạy theo mục tiêu lợi nhuận, quyết định kinh tế tối ưu của các doanh nghiệp sẽ có những tác động xấu tới nền kinh tế, do
đó nhược điểm của mô hình nền kinh tế thị trường là:
- Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên do các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, các quyết định sản xuất của doanh nghiệp thường được căn cứ vào mục tiêu lợi nhuận
do đó các mục tiêu về môi trường, mục tiêu xã hội không được đảm bảo
Trang 19- Phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội gia tăng do cơ chế phân phối thu nhập theo mức độ đóng góp và khả năng của mỗi cá nhân trong xã hội
- Nhu cầu về quốc phòng, an ninh và xã hội không được giải quyết thoả đáng do những hàng hóa/dịch vụ này là những hàng hóa/dịch vụ công cộng, không đem lại lợi nhuận cao, không kiểm soát được bằng mức giá nên khu vực kinh tế tư nhân không muốn đảm nhiệm
c Mô hình nền kinh tế hỗn hợp
Trong mô hình nền kinh tế hỗn hợp các doanh nghiệp vẫn tự giải quyết các vấn đề kinh tế của minh thông qua quan hệ cung cầu, cạnh tranh và tôn trọng vai trò giá cả thị trường, lấy lợi nhuận làm mục tiêu và động cơ phấn đấu Tuy nhiên, việc lựa chọn kinh tế tối ưu không chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường và khả năng của doanh nghiệp mà còn phải phù hợp với hoạt động điều tiết nền kinh tế của chính phủ
Mô hình nền kinh tế hỗn hợp được tất cả các quốc gia vận dụng với mức độ điều tiết nền kinh tế khác nhau tùy vào quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và khả năng quản lý của họ Thông qua việc xây dựng nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế hỗn hợp, các quốc gia sẽ khắc phục được những nhược điểm của mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và mô hình nền kinh tế thị trường, đồng thời, cũng phát huy được các ưu điểm của hai mô hình nền kinh tế trên, đảm bảo nguồn lực của nền kinh tế được sử dụng hiệu quả nhất và nền kinh tế phát triển ổn định
Trang 20CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Các vấn đề kinh tế cơ bản của một nền kinh tế? Trong trường hợp nào thì một nền kinh tế không phải giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản này?
2 Đường giới hạn khả năng sản xuất là gì? Tại sao nói các điểm trên đường giới hạn khả năng sản xuất chỉ đảm bảo hiệu quả kỹ thuật?
3 Lựa chọn kinh tế tối ưu là gì? Ý nghĩa, bản chất, phương pháp và ràng buộc của lựa chọn
kinh tế tối ưu đối với một nền kinh tế?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 David Begg và nnk (1992), Kinh tế học (tập 1), NXB Giáo dục
2 Ngô Đình Giao và nnk (2000), Kinh tế học vi mô, NXB Thống kê, HN
3 Nguyễn Văn Dần, (2011), Kinh tế học vi mô, nhà xuất bản Tài Chính
4 Paul A.Samuelson và nnk (2002), Kinh tế học (Tập 1), NXB Thống kê
5 Trần Bình Trọng (2014), Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân
6 Luật số 68/2014/QH13
Trang 21CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ CUNG - CẦU
Chương 2 cung cấp các kiến thức cơ bản về cung, cầu - lý thuyết về hành vi của người bán và người mua trên thị trường hàng hoá/dịch vụ: Lý thuyết cầu về hàng hóa/dịch vụ cung cấp lý luận về hành vi của người mua và lý thuyết cung về hàng hóa/dịch vụ cung cấp lý luận
về hành vi của người bán
Thông qua các kiến thức cơ bản đó, nội dung chương 2 cung cấp lý luận giúp cho việc phân tích cơ chế hoạt động của thị trường hàng hóa/dịch vụ như trạng thái cân bằng của thị trường, những tác động làm thay đổi trạng thái cân bằng thị trường hoặc thay đổi điểm cân bằng thị trường
Ngoài ra, các lý thuyết về hệ số co giãn của cầu, hệ số co giãn của cung cũng được làm rõ trong chương này
2.1 LÝ THUYẾT CẦU
2.1.1 Khái niệm cầu và lượng cầu
a Khái niệm cầu
Lý thuyết cầu phản ánh hành vi của người mua trên thị trường hàng hóa/dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình Khi giá hàng hóa thay đổi, người mua có xu hướng thay đổi số lượng hàng hóa được mua do khả năng mua thay đổi, đồng thời, người mua
sẽ cân nhắc lợi ích mang lại từ hàng hóa đó để quyết định mua/không mua
Cầu (D) là số lượng của một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó mà người mua có khả
năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau, trong một khoảng thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Khái niệm cầu phản ánh hành vi của người mua trước sự thay đổi về giá của hàng hóa/dịch vụ Từ khái niệm cầu, cần lưu ý các vấn đề sau:
- Cầu biểu thị số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể Khi nói đến cầu, không thể biểu thị chung chung cầu của hàng hóa/dịch vụ mà cần xác định chính xác loại hàng hóa đang là đối tượng nghiên cứu Bởi lẽ, với mỗi loại hàng hóa/dịch vụ khác nhau, hành vi mua của người mua sẽ khác nhau
- Cầu biểu thị số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể, được đảm bảo bởi khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người mua Khả năng mua là tổng hợp những yếu tố quyết định việc mua được hàng hóa của người mua như: ngân sách, thời gian, phương tiện, sức khỏe Sự sẵn sàng mua biểu thị trạng thái thực sự muốn/sự sẵn lòng mua hàng hóa của người mua Với một loại hàng hóa cho trước, tại một mức giá, nếu người mua vừa có khả năng mua, vừa có sự sẵn sàng mua thì chắc chắn người mua sẽ mua hàng hóa, nếu thiếu một trong hai hoặc cả hai điều kiện trên, cầu về hàng hóa đó sẽ bằng 0
Ví dụ, Linh là sinh viên trường Đại học Mỏ - Địa chất có mong muốn mua một chiếc Ipad để phục vụ nhu cầu học tiếng Anh Tại cửa hàng, Linh chọn được loại ipad Air với giá
16 triệu đồng nhưng Linh chỉ có khả năng chi trả ở mức 12 triệu đồng Vậy, cầu về ipad Air của Linh bằng 0 do không đảm bảo khả năng mua
Được tư vấn loại Ipad Mini với mức giá 09 triệu đồng/chiếc nhưng Linh thấy không hài lòng vì kích thước tương đối bé của chiếc Ipad này Vậy cầu về Ipad Mini của Linh bằng 0
do không đảm bảo sự sẵn sàng mua
- Cầu biểu thị nhiều mức số lượng hàng hóa/dịch vụ tại nhiều mức giá Khi mức giá của một loại hàng hóa nào đó thay đổi, khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người mua sẽ thay đổi, kéo theo số lượng hàng hóa đó được đảm bảo bởi khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người mua sẽ thay đổi Cầu biểu thị tập hợp mọi mức số lượng hàng hóa/dịch vụ tại các mức giá đó
- Cầu biểu thị mức số lượng hàng hóa/dịch vụ trong một khoảng thời gian Con số biểu thị số lượng hàng hóa/dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua chỉ có ý nghĩa
Trang 22khi được biểu thị trong một khoảng thời gian nhất định Tại các khoảng thời gian khác nhau, các mức số lượng hàng hóa/dịch vụ được cầu sẽ khác nhau Ví dụ: Số lượng kem và sữa chua được gia đình ông An mua trong tháng 7/2017 sẽ khác với số lượng kem và sữa chua được gia đình ông mua trong tháng 12/2017, ngoài lý do giá bán thay đổi, sự thay đổi về số lượng này còn do sự thay đổi về thời tiết, số lượng người trong gia đình, thu nhập
Các hình thức biểu thị cầu về một loại hàng hóa/dịch vụ
Cầu về một loại hàng hóa/dịch vụ có thể được biểu thị thông qua biểu cầu, hàm cầu hoặc đồ thị cầu
- Biểu cầu: Là bảng biểu tập hợp các mức số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ được cầu tại các mức giá Bảng 2.1 biểu thị các mức số lượng TV mà người mua trên thị trường M có khả năng và sẵn sàng mua trong 6 tháng đầu năm 2017 tương ứng với các mức giá
Bảng 2.1 Lượng cầu TV Sony 40 inch KDL-40W650D tại các mức giá
- Đường cầu: là đường biểu thị tập hợp các mức số lượng của một loại hàng hóa/dịch
vụ được cầu tại các mức giá Đường cầu về TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường
M trong 6 tháng đầu năm 2017 được minh họa trong Hình 2.1
Một cách tổng quát, đường cầu về đại đa số các loại hàng hóa/dịch vụ là một đường cong lõm dốc xuống phía dưới Tuy nhiên, để đơn giản trong quá trình nghiên cứu, người ta thường coi đường cầu là đường thẳng tuyến tính
Dạng dốc xuống phía dưới của đường cầu là mối quan hệ ngược chiều giữa lượng cầu
về một loại hàng hóa/dịch vụ và giá bán hàng hóa/dịch vụ đó
- Hàm cầu: Là hàm số biểu thị mối quan hệ giữa mức số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ được đảm bảo bởi khả năng và sẵn sàng mua của người mua và mức giá của hàng hóa/dịch vụ đó
trong 6 tháng đầu năm 2017
Trang 23Một cách tổng quát, hàm cầu có dạng: QD = f(P) (2.1) Với số liệu trong bảng 2.1, hàm số: QD = 5.110 – 500P là hàm cầu về TV trên thị trường M trong 6 tháng đầu năm 2017
b Khái niệm lượng cầu
Ứng với mỗi mức giá khác nhau, khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người mua sẽ khác nhau, dẫn đến số lượng hàng hóa/dịch vụ được cầu bởi người mua sẽ khác nhau Số lượng hàng hóa/dịch vụ được cầu tại mỗi mức giá được gọi là lượng cầu Lượng cầu (QD) là
số lượng của một loại hàng hoá/dịch vụ nào đó mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở một mức giá cho trước, trong một khoảng thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Lượng cầu biểu thị số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể tại một mức giá đã cho Hay nói cách khác, tại các mức giá khác nhau, lượng cầu về một loại hàng hóa/dịch vụ
đã cho sẽ khác nhau, do đó khi nói đến lượng cầu về một loại hàng hóa/dịch vụ, cần xác định được một mức giá của hàng hóa/dịch vụ đó
Từ khái niệm cầu và lượng cầu, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa cầu và lượng cầu
về một loại hàng hóa/dịch vụ: cầu về một loại hàng hóa/dịch vụ cho trước là tập hợp tất cả các lượng cầu về hàng hóa/dịch vụ đó tại các mức giá
c Cầu cá nhân, cầu thị trường
Mỗi người mua khác nhau với các điều kiện: Ngân sách, quy mô gia đình, sự sẵn sàng mua … sẽ khác nhau, kéo theo lượng cầu về một loại hàng hoá/dịch vụ cho trước tại các mức giá sẽ khác nhau Theo số lượng người mua trên thị trường, mối quan hệ giữa lượng cầu của người mua về một loại hàng hoá/dịch vụ cho trước tại các mức giá sẽ hình thành khái niệm cầu cá nhân và cầu thị trường
Cầu cá nhân: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà một người mua có khả năng và
sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Cầu thị trường: Là số lượng hàng hoá/dịch vụ mà toàn bộ người mua trên thị trường
có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu
tố khác không đổi)
Từ khái niệm cho thấy, cầu thị trường về một loại hàng hóa/dịch vụ được xác định bằng cách cộng lượng cầu về hàng hóa đó của các cá nhân tại từng mức giá Hay nói cách khác, cầu thị trường về một loại hàng hoá cho trước được xác định bằng cộng cầu của các cá nhân về hàng hoá đó
Giả định tại khu vực thị trường M có 4 người mua gas: A, B, C và D Bảng 2.2 biểu thị mức lượng cầu về gas của các cá nhân A, B, C, D tại khu vực M trong quý 2 năm 2017
Bảng 2.2 Lượng cầu về gas của các cá nhân A, B, C, D và của thị trường M
trong quý 2 năm 2017
Trang 24Từ số liệu trong bảng 2.2, tại mức giá 240 nghìn đồng/bình, lượng cầu về gas của thị trường M được xác định: QM = QA + QB + QC +QD = 2,5 + 2,0 + 1,5 + 3,0 = 9,0 bình/tháng Lượng cầu về gas tại các mức giá khác sẽ được tính tương tự và tập hợp trong bảng 2.2
2.1.2 Luật cầu
Khi giá của một hàng hóa/dịch vụ nào đó tăng lên, với thu nhập và các yếu tố khác không đổi, khả năng mua và sự sẵn sàng mua hàng hóa/dịch vụ đó của người mua sẽ giảm xuống, lượng cầu về hàng hóa/dịch vụ giảm Xu hướng này được biểu hiện dưới dạng quy luật được gọi là luật cầu với nội dung cơ bản như sau: Khi giá của một hàng hóa/dịch vụ nào
đó tăng lên thì lượng cầu về hàng hoá/dịch vụ đó sẽ giảm xuống và ngược lại (trong một thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi)
Ví dụ: Khi giá điện tăng lên, với mức ngân sách không đổi, khả năng mua điện của gia đình ông Nam sẽ giảm xuống Bên cạnh đó, với mức giá điện tăng lên, ông cảm thấy việc tiêu dùng điện không còn có lợi như trước nữa, giả định ông sẽ chuyển sang sử dụng gas là nhiên liệu thay thế cho điện trong việc nấu ăn và nước phục vụ sinh hoạt làm lượng cầu về điện của gia đình ông giảm xuống
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Hành vi mua hàng hóa/dịch vụ của người mua không chỉ chịu ảnh hưởng bởi giá của hàng hóa/dịch vụ mà còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như thu nhập, giá hàng hóa liên quan, số lượng người mua trên thị trường, thị hiếu, kỳ vọng của người mua Khi một trong các yếu tố này thay đổi, sẽ làm thay đổi khả năng và sự sẵn sàng mua của người mua, kéo theo cầu về hàng hóa/dịch vụ cũng thay đổi theo Tác động cụ thể của từng yếu tố tới hành vi mua hàng hóa/dịch vụ của người mua sẽ được phân tích cụ thể trong các nội dung dưới đây
a Thu nhập của người mua (I)
Khi thu nhập của người mua thay đổi, khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người mua đối với bất kỳ một loại hàng hóa nào cũng sẽ thay đổi, kéo theo cầu về hàng hóa đó sẽ thay đổi Khi thu nhập tăng lên, với điều kiện các yếu tố khác không đổi, khả năng mua hàng hóa của người mua sẽ tăng lên, tuy nhiên, người mua có sẵn sàng mua nhiều hàng hóa đó hơn
so với trước hay không còn tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng hóa
Trang 25Vào cuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Đức Ernst Engel đề xướng một quy luật tiêu dùng thực nghiệm Quy luật này phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập và phân phối thu nhập cho các nhu cầu tiêu dùng cá nhân về một loại hàng hóa cụ thể Theo quy luật này, hàng hóa được chia thành 3 nhóm đánh giá của người mua về khả năng có được hàng hóa và mức giá của nó
- Nhóm hàng hóa xa xỉ: Bao gồm những hàng hóa có mức giá tương đối cao và người mua tương đối khó khăn mới có thể mua được hàng hóa;
- Nhóm hàng hóa thông thường: Bao gồm những hàng hóa có mức giá trung bình và người mua mua được hàng hóa tương đối dễ dàng;
- Nhóm hàng hóa thứ cấp: Bao gồm những hàng hóa có mức giá và chất lượng tương đối thấp, người mua có xu hướng không thích dùng loại hàng họa này
Tuy nhiên, một hàng hóa được coi là thuộc nhóm hàng hóa xa xỉ, thông thường hay thứ cấp, không phụ thuộc vào hình thái vật chất của hàng hóa mà nó được xem xét trong điều kiện kinh tế xã hội của từng khu vực, vùng miền và trong những khoảng thời gian nhất định
Ví dụ như một chiếc xe máy Honda Wave RS là hàng hóa xa xỉ nếu được xem xét ở khu vực huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái nhưng nó được coi là hàng hóa thứ cấp nếu được xem xét ở khu vực quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Với hàng hóa xa xỉ hay thông thường, khi thu nhập của người mua tăng lên, khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người mua sẽ tăng lên, kéo theo cầu về loại hàng hóa này sẽ tăng lên
Ví dụ, điều hòa nhiệt độ là loại hàng hóa thông thường đối với thị trường Hà Nội hiện nay, khi thu nhập tăng lên, người mua có khả năng mua nhiều điều hòa nhiệt độ hơn, đồng thời, họ cũng sẵn sàng mua nhiều điều hòa hơn để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, làm cho cầu về điều hòa nhiệt độ tăng lên
Với hàng hóa thứ cấp, khi thu nhập của người mua tăng lên, khả năng mua của người mua sẽ tăng lên nhưng người mua có xu hướng chuyển sang mua nhưng hàng hóa có chất lượng cao hơn, kéo theo cầu về loại hàng hóa này sẽ giảm xuống
Hiện nay, xe đạp Thống Nhất được coi là hàng hóa thứ cấp trên thị trường Hà Nội Khi thu nhập tăng lên, dù khả năng mua xe đạp tăng lên nhưng người mua có xu hướng chuyển sang dùng những loại phương tiện có chất lượng cao hơn như: xe máy, ô tô , do đó, cầu về xe đạp trên thị trường Hà Nội sẽ giảm
b Giá của hàng hóa liên quan (P Y )
Xét trong mối quan hệ tiêu dùng, các hàng hóa dịch vụ hiếm khi được tiêu dùng độc lập với một số loại các hàng hóa khác mà chúng thường có mối liên hệ với nhau, kéo theo, quyết định tiêu dùng hàng hóa này sẽ có ảnh hưởng nhất định tới việc tiêu dùng một số loại hàng hóa khác Khi quyết định tiêu dùng hàng hóa này làm ảnh hưởng tới quyết định tiêu dùng hàng hóa khác, 2 loại hàng hóa đó được coi là hàng hóa liên quan Theo tính chất của mối liên hệ liên quan, hàng hóa được chia thành 2 nhóm:
- Hàng hóa bổ sung: hai hàng hóa X và Y được gọi là hàng hóa bổ sung khi hàng hóa
X được sử dụng cùng với hàng hóa Y để đáp ứng một nhu cầu của người sử dụng Trong trường hợp này, nếu tăng cường sử dụng hàng hóa X sẽ dẫn tới việc tăng tiêu dùng hàng hóa Y
Trong trường hợp X và Y là hàng hóa bổ sung: Nếu giá của hàng hóa Y tăng lên, người mua có suy nghĩ việc tiêu dùng hàng hóa Y không có lợi như trước nữa, do đó người mua không mua nhiều hàng hóa Y như trước, kéo theo cầu về hàng hóa X sẽ giảm Ví dụ, xăng là hàng hóa bổ sung của ô tô sử dụng nhiên liệu xăng (gọi tắt là ô tô), ô tô cần có xăng
để có thể đi lại được và đáp ứng nhu cầu đi lại của người sử dụng Khi giá xăng tăng, chi phí cho việc sử dụng ô tô để đi lại tăng, làm giảm khả năng thanh toán cho việc đi lại bằng ô tô và giảm sự sẵn sàng mua ô tô của người mua Cầu về ô tô giảm
Trang 26- Hàng hóa thay thế: hai hàng hóa X và Y được gọi là hàng hóa thay thế khi hàng hóa
X có thể được sử dụng thay cho hàng hóa Y để đáp ứng một nhu cầu nào đó của người sử dụng Trong trường hợp này, nếu tăng cường sử dụng hàng hóa X sẽ dẫn tới việc giảm tiêu dùng hàng hóa Y
Trong trường hợp X và Y là hàng hóa thay thế: Nếu giá của hàng hóa Y tăng lên, người mua cho rằng: Việc tiêu dùng hàng hóa Y không có lợi như trước nữa, họ có xu hướng chuyển sang sử dụng những hàng hóa có khả năng thay thế cho hàng hóa Y, trong đó có hàng hóa X và làm cầu về hàng hóa X tăng lên Ví dụ, dịch vụ vận chuyển hành khách bằng tàu hỏa
từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh là dịch vụ thay thế của dịch vụ vận chuyển hành khách bằng máy bay trên tuyến đường này Khi giá vé máy bay tăng, một số người mua không có khả năng đáp ứng và cảm thấy đi từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh không có lợi như trước Để đáp ứng nhu cầu di chuyển, người mua sẽ tìm kiếm và sử dụng dịch vụ thay thế
và dịch vụ vận chuyển hành khách bằng tàu hỏa là một trong những loại dịch vụ sẽ được khách hàng ưu tiên lựa chọn Khi đó, cầu về dịch vụ vận chuyển hành khách bằng tàu hỏa trên tuyến đường này có xu hướng tăng lên
c Số lượng người mua (N B )
Khi số lượng người mua tăng lên thì cầu về hàng hóa trên thị trường sẽ được bổ sung thêm một lượng đúng bằng cầu về hàng hóa đó của những người mua mới, kéo theo cầu thị trường về hàng hóa đó sẽ tăng lên Việc nhà máy Samsung đi vào hoạt động tại Phổ Yên (Thái Nguyên) đã thu hút hàng nghìn công nhân từ các vùng khác nhau tới đây làm việc và cầu về nhà trọ tại khu vực này sẽ tăng lên
xe ô tô Toyota sẽ cao hơn so với những thương hiệu xe khác và cầu về xe tô tô Toyota sẽ cao hơn
e Kỳ vọng của người mua (E B )
Kỳ vọng biểu thị sự dự đoán của của người mua về một điều gì đó sẽ xảy ra trong tương lai gần và ảnh hưởng đến thị trường hàng hóa/dịch vụ như: giá cả, số lượng hàng hóa/dịch vụ, điều kiện mua, chất lượng hàng hóa Những dự đoán này sẽ chi phối sự sẵn sàng mua của người mua tại thời điểm hiện tại Khi người mua dự đoán rằng, trong tương lai, giá của một loại hàng hóa nào đó sẽ tăng lên, ở thời điểm hiện tại, người mua sẵn sàng mua nhiều hàng hóa đó hơn và làm cầu về hàng hóa này tăng lên Hiện nay, rất nhiều nhà đầu tư cho rằng, trong vòng 1 năm tới, giá bất động sản ở Hà Nội sẽ tăng lên, giá vàng và Đô la Mỹ
sẽ giữ ổn định Thông tin này đã làm cho một số lượng tương đối lớn người mua quyết định mua nhà đất sớm hơn so với dự định, cầu về nhà, đất ở Hà Nội tăng lên
Như vậy, quyết định về số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ nào đó của người mua không chỉ phụ thuộc vào giá của hàng hóa đó, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Khi đó, để biểu thị hàm cầu tổng quát, cần đưa vào hàm cầu các biến tương ứng với các yếu
tố ảnh hưởng và được xác định là:
Trang 27NB: Số lượng người mua
EB: Kỳ vọng của người mua T: Thị hiếu của người mua
2.1.4 Sự vận động dọc theo đường cầu và sự dịch chuyển đường cầu
Với hàm cầu tổng quát theo công
thức 2.1, khi biểu diễn trên không gian 2
chiều biểu thị mối quan hệ giữa biến lượng
cầu về hàng hóa/dịch vụ và giá bán của
hàng hóa/dịch vụ đó thì giá bán của hàng
hóa/dịch vụ được coi là biến nội sinh, theo
luật cầu, khi biến này thay đổi, sẽ làm thay
đổi lượng cầu về hàng hóa/dịch vụ đó Các
biến khác, được gọi là biến ngoại sinh và
khi biến này thay đổi, sẽ làm cầu về hàng
hóa/dịch vụ thay đổi Biểu diễn trên đồ thị,
sự thay đổi biến nội sinh hoặc ngoại sinh sẽ
gây ra 2 trường hợp: Vận động dọc theo
đường cầu hoặc dịch chuyển đường cầu về
hàng hóa/dịch vụ
Sự vận động dọc theo đường cầu là
hiện tượng xảy ra khi giá của hàng hóa/dịch vụ đang được nghiên cứu thay đổi (các yếu tố khác không đổi) Hình 2.3 biểu diễn giá
xe máy trên thị trường Hà Nội giảm
xuống từ P1 tới P2 làm cho lượng cầu về
xe máy trên thị trường sẽ tăng từ Q1 tới
Q2, tạo ra sự vận động dọc theo đường
cầu tới một điểm ứng với lượng cầu cao
hơn
Sự dịch chuyển đường cầu là hiện
tượng xảy ra khi một biến ngoại sinh thay
đổi (các yếu tố khác không đổi) Hình 2.4
biểu diễn sự thay đổi của cầu về xe máy
trên thị trường Hà Nội khi giá xăng giảm
Giả sử các yếu tố khác không đổi, nếu giá
xăng giảm xuống, nhiều người mua xe
máy thấy việc mua xe máy sẽ có lợi hơn
trước, kéo theo cầu về xe máy tăng lên,
đường cầu về xe máy sẽ dịch chuyển lên
trên/sang phải từ D tới D’
0
Hình 2.4 Sự dịch chuyển đường cầu về xe máy
D P
Q D’
Trang 282.2 LÝ THUYẾT CUNG
2.2.1 Khái niệm cung và lượng cung
a Khái niệm cung
Cung (S) là số lượng của một loại hàng hoá/dịch vụ nào đó mà người bán có khả năng
và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Khái niệm cung phản ánh hành vi của người bán trước sự thay đổi về giá của hàng hóa/dịch vụ Khái niệm cung có thể được hiểu cụ thể như sau:
- Cung biểu thị số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể Khi nói đến cung, không thể biểu thị chung chung cung của hàng hóa/dịch vụ mà cần xác định chính xác loại hàng hóa đang là đối tượng nghiên cứu Bởi lẽ, với mỗi loại hàng hóa/dịch vụ khác nhau, hành vi bán của người bán sẽ có những khác biệt nhất định
- Cung biểu thị số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể, được đảm bảo bởi khả năng bán và sự sẵn sàng bán của người bán, bao gồm tổng hợp những yếu tố quyết định việc bán hàng hóa của người bán như: sự sẵn sàng về hàng hóa/dịch vụ, thời gian, phương tiện
và sự sẵn lòng bán/muốn bán hàng hóa/dịch vụ của người bán Với một loại hàng hóa cho trước, tại một mức giá, nếu người bán vừa có khả năng bán, vừa có sự sẵn sàng bán thì chắc chắn người bán sẽ bán hàng hóa, nếu thiếu một trong hai hoặc cả hai điều kiện trên, cung về hàng hóa đó sẽ bằng 0
Ví dụ, tại mức giá 9.900 ngđ/chiếc, cửa hàng điện tử Hoài Nam muốn bán và sẵn sàng bán 20 chiếc TV Sony 40 inch KDL-40W650D trong 1 tuần Tuy nhiên, khi đặt hàng với nhà sản xuất, do thời gian không đủ dài, nhà sản xuất không thể cung ứng cho cửa hàng loại sản phẩm trên, vì vậy, cung về TV của cửa hàng này bằng không do thiếu yếu tố khả năng bán Sau 1 tháng, nhà sản xuất liên hệ và đề nghị cung ứng cho cửa hàng loại hàng hóa này, tuy nhiên, lúc này giá TV giảm xuống còn 9.500 ngđ/chiếc, cửa hàng cảm thấy không có lợi nhuận nếu kinh doanh loại hàng hóa này, do đó, đã chuyển sang kinh doanh các loại hàng hóa khác, vì vậy, cung của cửa hàng về loại TV này cũng bằng 0 do thiếu sự sẵn sàng bán
- Cung biểu thị rất nhiều mức số lượng hàng hóa/dịch vụ tại nhiều mức giá Khi mức giá của một loại hàng hóa nào đó thay đổi, mức lợi nhuận thu được từ việc bán hàng hóa sẽ thay đổi sẽ tác động đến sự sẵn sàng bán của người bán Khi đó số lượng hàng hóa đó được đảm bảo bởi khả năng bán và sự sẵn sàng bán của người bán sẽ thay đổi Cung biểu thị tập hợp mọi mức số lượng hàng hóa/dịch vụ tại các mức giá đó
- Cung biểu thị mức số lượng hàng hóa/dịch vụ trong một khoảng thời gian Con số biểu thị số lượng hàng hóa/dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán chỉ có ý nghĩa khi được biểu thị trong một khoảng thời gian nhất định Tại các khoảng thời gian khác nhau, các mức số lượng số lượng hàng hóa/dịch vụ này sẽ khác nhau Ví dụ: Trong năm 2017,
số lượng TV được cung trên thị trường Hà Nội trong 3 tháng 7, 8 và 9 sẽ khác với số lượng
TV được cung trên thị trường này trong 3 tháng 10, 11 và 12, ngoài lý do giá bán TV có xu hướng tăng vào dịp cuối năm, sự thay đổi về số lượng này còn do sự thay đổi về số lượng các loại TV được nhà sản xuất tung ra thị trường và sự đầu tư của các cửa hàng phục vụ dịp tết
Các hình thức biểu thị cung về hàng hóa/dịch vụ
Tương tự như cầu, cung về một loại hàng hóa/dịch vụ có thể được biểu diễn dưới dạng một bảng biểu, hàm số hoặc trên đồ thị
Biểu cung là bảng thống kê số lượng hàng hoá/dịch vụ mà người bán có khả năng và
sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi) Biểu cung là một bảng thể hiện mối quan hệ giữa lượng cung và giá hàng hóa/dịch vụ Bảng 2.3 là biểu cung về TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường M tại các mức giá trong 6 tháng đầu năm 2017
Trang 29Bảng 2.3 Lượng cung về TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường M
6 tháng đầu năm 2017
Hàm cung là là hàm số biểu thị mối quan hệ giữa mức số lượng của một loại hàng
hóa/dịch vụ được đảm bảo bởi khả năng và sẵn sàng bán của người bán và mức giá của hàng hóa/dịch vụ đó
Dạng tổng quát của hàm cung về một loại hàng hóa/dịch vụ là một hàm số theo giá của hàng hóa/dịch vụ đó: QS = f(P) (2.3)
Với số liệu trong bảng 2.3, hàm cung tuyến tính về TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường M trong 6 tháng đầu năm 2017 có dạng:
QS = 2.730 + 300P
Đường cung là đường biểu diễn số lượng hàng hoá/dịch vụ mà người bán có khả năng
và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi) Số liệu trong bảng 2.3 được biểu diễn trên đồ thị sẽ cho thấy đường cung (S) về
TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường M trong 6 tháng đầu năm 2017
Hình 2.5 Đường cung về TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường M
trong 6 tháng đầu năm 2017
Một cách tổng quát, đường cung về đại đa số các loại hàng hóa/dịch vụ là một đường cong, dốc lên về phía phải Tuy nhiên, để đơn giản trong quá trình nghiên cứu, người ta thường coi đường cung là đường thẳng tuyến tính
Dạng dốc lên của đường cung cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa lượng cung về một loại hàng hóa/dịch vụ và giá bán hàng hóa/dịch vụ đó Khi giá hàng hóa/dịch vụ này tăng lên làm tăng lợi nhuận mà người bán thu được, người bán sẽ có khả năng và sẵn sàng bán nhiều hàng hóa/dịch vụ hơn
b Khái niệm lượng cung
Lượng cung (QS) là số lượng của một loại hàng hoá/dịch vụ nào đó mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở một mức giá cho trước, trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Trang 30Như vậy, lượng cung biểu thị một mức số lượng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể tại một mức giá cho trước Số lượng hàng hóa này cũng được đảm bảo bởi khả năng bán và sự sẵn sàng bán của người bán Hay nói cách khác, cung về một loại hàng hóa/dịch vụ nào đó là tập hợp các lượng cung về hàng hóa/dịch vụ này tại các mức giá
c Cung cá nhân, cung thị trường
Thông thường, với mỗi loại hàng hóa, trong một khu vực nhất định sẽ có nhiều người bán khác nhau Mỗi người bán được đặc trưng bởi khả năng bán và sự sẵn sàng bàn hàng hóa khác nhau, dẫn tới lượng cung về hàng hóa đó của mỗi người bán cũng khác nhau Theo số lượng người bán trên thị trường, tập hợp các mức lượng cung về hàng hóa/dịch vụ của một người bán tại các mức giá khác nhau sẽ hình thành khái niệm cung cá nhân và cung thị trường
về hàng hóa đó
Cung cá nhân là số lượng của một loại hàng hoá/dịch vụ nào đó mà một người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Bảng 2.4 biểu thị mức lượng cung về gas tại các mức giá của 4 người bán: A, B, C, D tại khu vực thị trường M trong 6 tháng đầu năm 2017
Cung thị trường là số lượng của một loại hàng hoá/dịch vụ nào đó mà tất cả các người
bán trên thị trường có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)
Từ khái niệm trên cho thấy: Cung thị trường về một loại hàng hóa/dịch vụ là tổng của các cung cá nhân về hàng hóa/dịch vụ đó
Bảng 2.4 Lượng cung về gas của các cá nhân và của thị trường
Trang 31Bảng 2.4 và hình 2.6 minh họa cho mối quan hệ giữa cung cá nhân và cung thị trường
về gas trên thị trường M Tại mức giá 240 ngđ/bình gas, lượng cung về gas trên thị trường là tổng các lượng cung về gas của 4 người bán trên thị trường tại mức giá đó
sự thay đổi này mang tính quy luật, được phát biểu trong luật cung
Luật cung: Trong một thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi, lượng cung về
một loại hàng hóa/dịch vụ cho trước sẽ tăng lên khi giá bán của hàng hoá/dịch vụ đó sẽ tăng lên và ngược lại
Nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi hành vi của người bán hàng hóa khi giá hàng hóa tăng lên là sự thay đổi lợi nhuận và các lợi ích khác liên quan tới việc bán hàng hóa làm thay đổi khả năng và đặc biệt là sự sẵn sàng bán của người bán Khi phân tích hành vi của người bán cho thấy: Với chi phí đầu vào là không đổi, khi giá bán hàng hóa tăng lên, lợi nhuận mà người bán thu được sẽ tăng lên, người bán có xu hướng đầu tư thêm cho sản xuất và sẵn sàng bán nhiều hàng hóa/dịch vụ hơn, lượng cung về hàng hóa/dịch vụ sẽ tăng lên
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung
Khi nghiên cứu hành vi của người bán đối với một loại hàng hóa/dịch vụ cho trước cho thấy, ngoài giá của hàng hóa/dịch vụ đó, cung về hàng hóa/dịch vụ này còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như: Công nghệ sản xuất, số lượng người bán, thuế sản xuất, kỳ vọng của người bán, giá yếu tố đầu vào
b Giá các yếu tố đầu vào (P i )
Khi các yếu tố khác không đổi, việc tăng lên của giá các yếu tố đầu vào sẽ làm giá thành sản phẩm của người bán tăng lên, lợi nhuận của người bán sẽ giảm Việc suy giảm lợi nhuận sẽ không khuyến khích người bán cung với số lượng hàng hóa như trước, họ có xu hướng thu hẹp sản xuất hoặc chuyển hướng sản xuất các loại hàng hóa khác Trong giai đoạn
2012 - 2015, việc tăng giá điện và tính giá điện theo đơn giá lũy tiến đã làm tăng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp khai thác than Các doanh nghiệp này phải điều chỉnh giảm sản lượng dẫn tới cung về than trên thị trường giảm xuống
c Số lượng người bán (N)
Khi số lượng người bán tăng lên thì cung về hàng hóa/dịch vụ trên thị trường được bổ sung thêm cung hàng hóa/dịch vụ của những người bán mới gia nhập thị trường, cung hàng
Trang 32đã đầu tư thêm máy móc và phương tiện dự trữ đá sạch, từ đó khả năng bán và sự sẵn sàng bán của họ tăng lên, cung về đá sạch có xu hướng tăng lên
e Thuế sản xuất (t)
Từ góc độ quản lý nhà nước, thuế sản xuất là một trong những công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế Tuy nhiên, từ góc độ sản xuất, thuế sản xuất là một loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra, có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của người bán Khi chính phủ tăng thuế sản xuất, sẽ làm tăng chi phí sản xuất, kéo theo lợi nhuận của người bán giảm, người bán giảm khả năng và sự sẵn sàng bán tại tất cả các mức giá, cung về hàng hóa giảm xuống và ngược lại Giả sử, chính phủ tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô sản xuất trong nước, làm giảm lợi nhuận của người sản xuất, cung về ô tô sẽ giảm xuống
Như vậy, ngoài giá bán của hàng hóa/dịch vụ, lượng cung về một loại hàng hóa/dịch
vụ cho trước còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như: công nghệ, giá của yếu tố đầu vào, thuế sản xuất, số lượng nhà sản xuất, kỳ vọng Do đó, hàm cung về một loại hàng hóa/dịch vụ cho trước sẽ được trình bày dưới dạng tổng quát như sau:
QS= f(P,T, Pi, N, t, ES, ) (2.4)
Trong đó:
QS: Lượng cung hàng hóa/dịch vụ nghiên cứu
P: Giá của hàng hóa/dịch vụ nghiên cứu
Pi: Giá của yếu tố đầu vào
đường cung về một loại hàng hóa
xảy ra khi có sự thay đổi của giá
bán hàng hóa/dịch vụ, làm cho
lượng cung về hàng hóa đó thay
đổi (các yếu tố khác không đổi)
Ví dụ: Trong năm 2017,
khi giá xe máy Honda Lead trên
thị trường M tăng lên từ P1 tới P2
Theo luật cung, lượng cung về xe
máy trên thị trường này trong năm
2017 sẽ tăng từ Q1 tới Q2 Sự gia
tăng của lượng cung khi giá tăng
lên sẽ gây ra sự vận động dọc theo
đường cung Sự vận động dọc
Trang 33theo đường cung được minh họa trong hình 2.7
Sự dịch chuyển đường cung về một loại hàng hóa/dịch vụ sẽ xảy ra khi có sự thay đổi của các biến khác trong hàm cung,
không phải là giá của bán hàng
Giả sử khi chính phủ tăng
thuế sản xuất xe máy, làm cung về
xe máy Honda Lead có xu hướng
giảm xuống, gây ra dịch chuyển
đường cung lên trên/sang trái từ S
tới S’ Sự dịch chuyển đường cung
trong trường hợp này được minh
họa trong hình 2.8
2.3 CÂN BẰNG THỊ TRƯỜNG
Lý thuyết về cân bằng thị trường sẽ cung cấp thông tin làm cơ sở xác định giá bán và sản lượng hàng hóa/dịch vụ được trao đồi trên thị trường, những tác động làm thay đổi giá bán và sản lượng cân bằng về hàng hóa/dịch vụ đó
2.3.1 Trạng thái cân bằng thị trường
Trạng thái cân bằng thị trường về một hàng hóa/dịch vụ nào đó là trạng thái mà tại đó không có sức ép làm giá của hàng hóa/dịch vụ đó thay đổi
Trạng thái cân bằng thị trường đối với một loại hàng hóa sẽ xảy ra khi tại một mức giá xác định, lượng cung về hàng hóa đó vừa đủ để đáp ứng lượng cầu trong một khoảng thời gian nhất định Khi thị trường đạt trạng thái cân bằng, sẽ xác định được mức giá và sản lượng cân bằng (P0, Q0) được sử dụng để trao đổi hàng hóa/dịch vụ trên thị trường
Như vậy, tại điểm cân bằng: PD = PS = P0
về TV được xác định là 9,8 trđ/chiếc và 210 chiếc/tháng
Bảng 2.7 Biểu cung - cầu về TV Sony 40 inch KDL-40W650D trên thị trường M
trong 6 tháng đầu năm 2017
Hình 2.9 minh họa đường cung, đường cầu, điểm cân bằng và mức giá, sản lượng cân bằng về TV trên thị trường M trong 6 tháng đầu năm 2017 Điểm cân bằng (E) trên thị trường được xác định là giao điểm giữa đường cung và đường cầu Tại điểm cân bằng, mức giá và sản lượng cân bằng cũng được xác định là 9,8trđ/chiếc và 210 chiếc/tháng
Trang 34Tại mức giá là 9,8 trđ/chiếc lượng TV mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua (lượng cầu) và lượng TV mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán (lượng cung) đều bằng
210 chiếc/tháng, tại mức giá này không có sức ép làm giá thay đổi, bởi vì cả người mua và người bán đều không có khả năng và sẵn sàng bán nhiều hơn hoặc ít hơn so với số lượng TV nói trên
2.3.2 Trạng thái thiếu hụt hoặc dư thừa trên thị trường
Điểm cân bằng trên thị trường được xác định tại đó không có sức ép làm giá hàng hóa thay đổi Tuy nhiên, điểm cân bằng không tồn tại vĩnh cửu mà khi có một tác động làm giá của hàng hóa thay đổi, người bán và người mua sẽ thay đổi hành vi của mình, kéo theo trạng thái cân bằng trên thị trường sẽ thay đổi
Giả sử có một tác động làm giá trên thị trường TV tăng lên so với mức giá cân bằng Khi giá hàng hóa tăng, theo luật cầu, lượng cầu về TV trên thị trường sẽ giảm do người mua giảm khả năng và sự sẵn sàng mua không còn như trước nữa Ngược lại, với mức giá cao hơn, lượng cung sẽ tăng lên do người bán nhận thấy việc kinh doanh loại hàng hóa này có lợi hơn
so với trước Với sự thay đổi hành vi của người bán và người mua, lượng cung về TV sẽ lớn hơn lượng cầu về hàng hóa này, vì vậy sẽ xuất hiện trạng thái dư thừa hàng hóa
Trang 35Dư thừa hàng hóa (dư cung) xảy ra khi giá hàng hóa trên thị trường lớn hơn giá cân bằng, điều này dẫn tới lượng cung về hàng hóa lớn hơn cho trước tăng từ P0 tới P1
Khi giá hàng hóa tăng từ P0 tới P1, theo luật cung, lượng cung về hàng hóa sẽ tăng tới
Q1, theo luật cầu, lượng cầu về hàng hóa sẽ giảm tới Q2 Do lượng cung lớn hơn lượng cầu, thị trường xuất hiện trạng thái dư thừa hàng hóa tại mức giá P1 Khi thị trường xuất hiện trạng thái dư thừa hàng hóa, trạng thái tồn kho xuất hiện buộc các nhà sản xuất phải giảm giá để bán được số dư thừa hoặc ít nhất ngăn cho số dư này không tăng lên Kết quả là giá sẽ giảm, lượng cung sẽ giảm và lượng cầu sẽ tăng lên cho tới khi giá cân bằng P0 được khôi phục lại tại đúng vị trí cũ
Tương tự như vậy, trạng thái thiếu hụt hàng hóa (hay còn gọi là dư cầu) xảy ra khi giá hàng hóa/dịch vụ trên thị trường thấp hơn mức giá cân bằng, dẫn tới lượng cầu lớn hơn lượng cung Hình 2.11 minh họa trường hợp thiếu hụt về một loại hàng hóa cho trước khi giá hàng hóa này giảm xuống thấp hơn mức giá cân bằng Tại mức giá P2 thấp lớn hơn mức giá cân bằng, người mua có khả năng và sẵn sàng mua nhiều hàng hóa hơn so với trước, hay nói cách khác, lượng cầu về hàng hóa này sẽ tăng lên Bên cạnh đó, với mức giá thấp hơn, người bán
sẽ không sẵn sàng bán với mức số lượng như trước nữa, làm lượng cung về hàng hóa tại mức giá này giảm xuống Với lượng cầu lớn hơn lượng cung, sự khan hiếm hàng hóa làm người mua sẵn sàng trả giá cao hơn để có được hàng hóa Tương tác giữa người mua và người bán trên thị trường sẽ làm mức giá thị trường tăng lên và điểm cân bằng sẽ được khôi phục tại vị trí cũ với mức giá cân bằng P0
2.3.3 Sự thay đổi điểm cân bằng
Việc thay đổi giá bán hàng hóa làm lượng cung và lượng cầu về hàng hóa thay đổi, kéo theo trạng thái cân bằng trên thị trường thay đổi Người bán và người mua sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình và điểm cân bằng lại được khôi phục tại đúng vị trí cũ Tuy nhiên, nếu
có sự thay đổi của một biến số khác (không phải là giá bán hàng hóa) thuộc hàm cung và/hoặc hàm cầu, khi đó, đường cung và/hoặc đường cầu sẽ dịch chuyển Trên đồ thị, điểm cân bằng mới sẽ được thiết lập với mức giá và sản lượng cân bằng mới
* Ví dụ về sự thay đổi của công nghệ khai thác dầu khí
Hình 2.12 mô tả sự thị trường Dầu khí
khi có sự thay đổi công nghệ khai thác dầu khí
trong đá phiến sét
Trước khi có sự thay đổi công nghệ, với
đường cung về dầu (S) và đường cầu về dầu
(D), thị trường dầu cân bằng tại điểm E, mức
giá và sản lượng cân bằng được xác định là P0
và Q0
Sự thay đổi công nghệ khai thác dầu khí
trong đá phiến sét đã làm tăng năng suất lao
động, chi phí sản xuất giảm, lợi nhuận sẽ tăng,
người bán có khả năng và sẵn sàng bán nhiều
dầu hơn tại mọi mức giá, cung về dầu tăng Cầu
về dầu không đổi Với sự gia tăng của cung về
dầu, đường cung sẽ dịch chuyển sang phải từ S
sang S', đường cầu giữ nguyên, thị trường đạt
cân bằng ở E1 ứng với giá cân bằng mới (P1)
thấp hơn và lượng cân bằng mới (Q1) cao hơn Điều này giải thích lý do tại sao giá dầu khí trên thị trường nước Mỹ giảm đáng kể, kéo theo sự giảm giá mạnh của dầu khí trên thị trường thế giới thời gian gần đây
E
Trang 36* Ví dụ về sự thay đổi về thu nhập của người mua
Hình 2.13 minh họa sự thay
đổi của thị trường TV khi thu nhập
của người mua tăng lên Trước khi
có sự thay đổi về thu nhập, với
đường cầu (D) và đường cung về TV
(S), điểm cân bằng được xác định tại
E, mức giá và sản lượng cân bằng là
P0 và Q0
Khi thu nhập của người mua
tăng lên, người mua sẽ có khả năng
và sẵn sàng mua nhiều TV hơn, điều
này làm cầu về TV tăng lên, đường
cầu về TV dịch chuyển sang phải tới
D1 Với đường cầu mới và đường
cung về TV không đổi, điểm cân
bằng mới E1 được thiết lập với mức
giá cân bằng P1 và mức sản lượng
cân bằng Q1 cao hơn
* Ví dụ về sự tăng lên đồng thời
cả thu nhập của người mua và giá linh
kiện lắp ráp TV
Hình 2.14 minh họa sự thay đổi
điểm cân bằng của thị trường TV khi có
sự tăng lên đồng thời cả thu nhập của
người mua và giá linh kiện lắp ráp TV
Khi giá linh kiện lắp ráp TV tăng
lên, cung về TV sẽ giảm, đường cung về
TV sẽ dịch chuyển sang trái tới S1 Bên
cạnh đó, thu nhập của người mua tăng
lên, làm cầu về TV tăng và đường cầu
dịch chuyển sang phải tới D1 Sự thay đổi
của cả cung và cầu sẽ làm điểm cân bằng
thị trường được xác định tại E2 với mức
giá và sản lượng cân bằng tương ứng là
P2 và Q2
2.3.4 Can thiệp giá của chính phủ
Với một số loại hàng hóa/dịch vụ, giá thị trường có thể là quá cao hoặc quá thấp so với khả năng của người bán hoặc người mua, làm ảnh hưởng tới mức sống của người mua hoặc hoạt động sản xuất của người bán Để bảo vệ lợi ích của người bán hoặc người mua khi tham gia thị trường, chính phủ của một số quốc gia sẽ quy định mức giá trần hoặc mức giá sàn cho hàng hóa
a Giá trần
Giá trần (P C ): là mức giá tối đa mà chính phủ quy định cho một loại hàng hóa/dịch vụ
được trao đổi, mua bán trên thị trường trong một khoảng thời gian xác định
Mức giá trần được quy định nhằm bảo vệ lợi ích của người mua Chính vì vậy, mức giá trần thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường Tuy nhiên, khi chính phủ quy định mức
Trang 37giá trần, lượng cung về hàng hóa sẽ nhỏ hơn lượng cầu, dẫn đến trên thị trường sẽ xuất hiện hiện tượng thiếu hụt hàng hóa (dư cầu)
Hình 2.15 minh họa mức giá trần đối
với nhà ở cho sinh viên và ảnh hưởng của mức
giá trần tới sự thay đổi trên thị trường nhà ở tại
khu vực Hacinco
Khi Chính phủ chưa quy định mức giá
trần, thị trường nhà ở tại khu vực này cân bằng
tại điểm E với mức giá cân bằng P0 và sản
lượng cân bằng Q0 Với mức giá P0 tương đối
cao, sẽ ảnh hưởng tới đời sống của sinh viên, vì
vậy, chính phủ quy định mức giá trần về nhà ở
tại khu vực này là PC < P0 Với mức giá này,
theo luật cầu, lượng cầu về nhà ở có xu hướng
tăng lên tới Q1, lượng cung về nhà ở có xu
hướng giảm xuống tới Q2
Với lượng cung nhỏ hơn lượng cầu, trên
thị trường sẽ xuất hiện trạng thái dư cầu (thiếu
hụt hàng hóa) với lượng hàng hóa thiếu hụt là
∆Q = Q1 - Q2
b Giá sàn
Giá sàn (P f ) là mức giá tối thiểu được chính phủ quy định cho một hàng hóa/dịch vụ
nào đó được trao đổi trên thị trường trong một khoảng thời gian
Mức giá sàn được quy định nhằm bảo vệ lợi ích của người bán Chính vì vậy, mức giá sàn lớn lơn mức giá cân bằng trên thị trường Tuy nhiên, khi Chính phủ quy định mức giá sàn, lượng cung về hàng hóa sẽ lớn hơn lượng
cầu, dẫn đến trên thị trường sẽ xuất hiện hiện
tượng dư thừa hàng hóa (dư cung)
Hình 2.16 minh họa mức giá sàn đối
với lúa gạo và ảnh hưởng của mức giá sàn tới
thị trường lúa gạo khu vực đồng bằng Sông
Cửu Long Khi Chính phủ chưa quy định
mức giá sàn, thị trường về gạo cân bằng tại
mức giá (P0) và sản lượng Q0 Tại mức giá P0
tương đối thấp, sẽ ảnh hưởng đến khả năng
sản xuất của người nông dân, vì vậy, chính
phủ quy định mức giá sàn PF > P0 Với mức
giá sàn cao hơn mức giá cân bằng trên thị
trường, theo luật cung và luật cầu, lượng
cung về lúa gạo sẽ tăng lên tới Q1 và lượng
cầu sẽ giảm tới Q2 dẫn tới hiện tượng dư thừa
hàng hóa với mức dư thừa là: ∆Q = Q1 - Q2
Tuy nhiên, trên thực tế, việc quy định giá sàn đối với hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản, người mua sẽ có phản ứng giảm lượng cầu, gây ra hiện tượng dư thừa hàng hóa Hàng nông sản tồn kho không bán được, trong khi hầu hết các hộ nông dân không có được kho chứa đảm bảo tiêu chuẩn để bảo quản hàng Điều này có thể dẫn tới hiện tượng hàng hóa sẽ nhanh chóng bị hỏng và các hộ nông dân phải đổ hàng đi Mặt khác, với đặc điểm sản xuất hàng nông sản, người nông dân cần phải bán hàng hóa để có vốn tái sản xuất Trong trường hợp
Trang 38hàng hóa bị tồn kho, người nông dân sẽ gặp khó khăn khi thực hiện tái sản xuất cho vụ sau Chính vì vậy, trong trường hợp này, bên cạnh quy định giá sàn, chính phủ cần có những biện pháp thu mua, dự trữ hàng nông sản để giúp các hộ nông dân giải quyết số hàng thừa đó
2.4 HỆ SỐ CO GIÃN CỦA CẦU VÀ CUNG
Trong lý thuyết cầu và lý thuyết cung, xu hướng phản ứng của người mua/người bán trước tác động của sự thay đổi của các yếu tố như giá bán, thu nhập, thuế hay giá của yếu tố đầu vào … Lý thuyết về hệ số co giãn sẽ giúp lượng hoá mức độ phản ứng của người mua và người bán đối với một loại hàng hoá khi có sự thay đổi của các nhân tố ảnh hưởng đó
2.4.1 Hệ số co giãn của cầu
2.4.1.1 Hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa
a Khái niệm hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa
Theo luật cầu, khi giá của một loại hàng hoá tăng lên, lượng cầu về hàng hoá đó giảm xuống và ngược lại Hay nói cách khác, luật cầu chỉ ra xu hướng phản ứng của người mua đối với một loại hàng hoá cụ thể khi giá của hàng hoá đó thay đổi Khi giá của hàng hoá tăng một lượng nhất định, người mua sẽ phản ứng với sự tăng giá này bằng cách giảm lượng hàng hoá được mua và lượng cầu về hàng hoá đó sẽ giảm xuống một lượng tương ứng Chỉ tiêu hệ số
co giãn của cầu theo giá của hàng hóa được sử dụng để đo lường mức độ thay đổi của lượng cầu về một loại hàng hoá khi giá của hàng hoá đó thay đổi
Hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa là thước đo sự nhạy cảm của lượng cầu đối với giá hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện các yếu tố khác không đổi
- Công thức tính
𝐸𝑃𝐷 =%∆𝑄𝐷
%∆𝑃 (2.5) Trong đó:
𝐸𝑃𝐷: Hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa
%∆𝑄𝐷: Mức thay đổi tính theo phần trăm của lượng cầu về hàng hóa
%∆𝑃 : Mức thay đổi tính theo phần trăm của giá hàng hóa
Từ công thức 2.5 cho thấy, hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa luôn có giá trị
âm (𝐸𝑃𝐷 < 0)do hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa luôn bị chi phối bởi mối quan hệ ngược chiều giữa mức giá và lượng cầu về hàng hóa Về mặt ý nghĩa, hệ số co giãn của cầu cho biết mức độ thay đổi của lượng cầu (tính theo %) khi giá của hàng hoá đó thay đổi 1%, với giả định các yếu tố khác không đổi Với mỗi loại hàng hoá, tỷ lệ giữa mức giá và mức ngân sách của người mua sẽ khác nhau, tính chất của hàng hoá theo quan điểm của người mua cũng khác nhau, vì vậy, mức độ phản ứng của người mua trước sự thay đổi của giá hàng hoá
sẽ khác nhau và kéo theo hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa cũng có giá trị khác biệt nhất định
b Phương pháp xác định hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa
Tuỳ theo điều kiện số liệu và mục đích tính toán hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa, hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hóa được chia thành hai loại: Hệ số co giãn khoảng và hệ số co giãn điểm Hai phương pháp này còn được vận dụng để xác định các loại
hệ số co giãn khác như hệ số co giãn của cầu theo giá hàng hóa liên quan, hệ số co giãn của cầu theo thu nhập, hệ số co giãn của cung theo giá của hàng hóa, hệ số co giãn của cung theo thuế, …
* Hệ số co giãn khoảng
Hệ số co giãn khoảng được sử dụng để xác định hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá
Trang 39trên một khoảng hữu hạn nào đó của đường
cầu Hệ số co giãn khoảng được sử dụng khicó
sự thay đổi lớn và rời rạc của lượng cầu theo
các mức giá Hình 2.17 minh hoạ đoạn cầu AB
cần tính toán hệ số co giãn của cầu theo giá của
hàng hóa Theo công thức tính hệ số co giãn
của cầu theo giá của hàng hoá, tại các điểm
khác nhau trên đoạn cầu AB, mức giá và lượng
cầu về hàng hoá sẽ có giá trị khác nhau, do đó
hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá sẽ
khác nhau Do có sự khác nhau về hệ số co giãn
của cầu theo giá của hàng hoá tại các điểm trên
đoạn cầu, hệ số co giãn của cầu theo giá của
hàng hoá tại trung điểm của đoạn cầu được sử
dụng để biểu thị hệ số co giãn của cầu theo giá
của hàng hoá trên đoạn cầu đó Khi đó, hệ số co
giãn khoảng được xác định theo công thức:
𝐸𝐷𝐷 =%∆QD
%∆P =
Q1−Q2 Q1+Q2 2
∗100
P1−P2 P1+P2 2
∗100 (2.6) Trong đó:
𝐸𝑃𝐷: Hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá trên đoạn cầu AB;
𝑄1; 𝑄2: Lượng cầu hàng hóa/dịch vụ tại điểm A; lượng cầu hàng hóa tại điểm B;
𝑃1; 𝑃2: Giá hàng hóa tại điểm A; giá hàng hóa tại điểm B
Ví dụ về tính toán hệ số co giãn của cầu về TV Sony trên thị trường M trong 6 tháng cuối năm 2017 trên đoạn cầu AB được mô tả trong hình 2.18 Áp dụng công thức ta có:
EPD =
Q1− Q2
Q1+ Q22
∗ 100
P1− P2
P1+ P22
∗ 100
=
300 − 200
300 + 2002
∗ 100
10 − 12
10 + 122
Trang 40AB, khi giá TV tăng lên 1%, lượng cầu về TV sẽ giảm đi 2,2% và ngược lại, khi giá TV giảm 1%, lượng cầu về TV sẽ tăng lên 2,2%
* Hệ số co giãn điểm
Hệ số co giãn điểm được sử dụng để xác định hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá trên một điểm tại đường cầu Hệ số co giãn điểm thường được áp dụng trong trường hợp hàm cầu về hàng hóa khả vi và liên tục
Hình 2.19 minh hoạ điểm A trên đường cầu cần xác định hệ số co giãn với mức giá P0
và mức lượng cầu Q0 Khi đó, hệ số co giãn
của cầu theo giá của hàng hoá được xác định
𝑄0𝐷;P0: Lượng cầu hàng hóa tại điểm
tính hệ số co giãn; giá hàng hóa tại điểm tính
hệ số co giãn
𝑄(𝑃)′ : Đạo hàm bậc nhất của hàm cầu
theo giá hàng hóa
Giả sử hàm cầu về TV Sony trên thị trường M trong 6 tháng cuối năm 2017 có dạng:
QD = 800 – 50P Hệ số co giãn của cầu theo giá của loại TV này tại điểm A với mức giá P0 =
12 trđ/chiếc và mức lượng cầu là 200 chiếc được xác định như sau:
EPD = 𝑄(𝑃)′ ∗ P0
Q0= −50 ∗
12
200= −3 Theo kết quả tính toán: EPD= - 3 cho biết khi giá TV tăng lên 1%, lượng cầu về TV sẽ giảm đi 3% và ngược lại
c Phân loại hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá
Với đường cầu tuyến tính, tại các điểm khác nhau, hệ số góc của đường cầu (𝑄(𝑃)′ )có giá trị không đổi nhưng với mức giá của hàng hoá tăng dần thì lượng cầu của hàng hoá sẽ giảm dần, kéo theo giá trị tuyệt đối của hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá sẽ giảm dần theo xu hướng giảm của giá bán hàng hoá
Hình 2.20 minh hoạ xu hướng và mức độ thay đổi của hệ số co giãn của cầu theo giá của một loại hàng hoá cho trước Với mục tiêu so sánh mức độ phản ứng của người mua tại các điểm khác nhau, hệ số co giãn của cần theo giá của hàng hoá được xem xét trong giá trị tuyệt đối
Tại điểm A, mức lượng cầu về hàng hoá QD = 0, từ công thức:
E𝑃𝐷 = 𝑄(𝑃)′ ∗PA
Q𝐴
Hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá: |E𝑃𝐷| = ∞ Tại điểm này, khi hoá hàng hoá tăng 1%, lượng cầu về hàng hoá ngay lập tức giảm xuống tới không (Q = 0) Nói cách khác, tại điểm này, người mua phản ứng vô cùng mạnh mẽ khi giá hàng hoá thay đổi và hàng hoá đươc coi là hoàn toàn co giãn theo giá của nó
Tại điểm B, mức giá của hàng hoá P = 0, từ công thức E𝑃𝐷 = 𝑄(𝑃)′ ∗PB
Q 𝐵, hệ số co giãn của cầu theo giá của hàng hoá |E𝑃𝐷| = 0 Tại điểm này, giá hàng hoá thay đổi bao nhiêu đi