TRÌNH BÀY Ý NGHĨA CỦA MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG ĐỐI VỚI BẢN THÂN giúp bạn có thêm tài liệu để tham khảo hoặc sửa đổi tài liệu làm bản của chính bản thân giúp bạn có điểm qua môn lịch sử đảng cộng sản việt nam một cách dễ dàng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHOA CHÍNH TRỊ - QPAN – GDTC
*****
Câu hỏi tiểu luận : Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo? Liên hệ vấn đề này với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đồng thời anh chị cần phải làm gì để thực hiện tốt vấn đề này?
Trang 2MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
Những nguyên tắc cơ bản của Mác – Lê Nin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo và sự vận dụng những nguyên tắc này của Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiệnnay
Tôn giáo một vấn đề tưởng chừng như vô cùng cũ kĩ, nhưng thực chất nó luônluôn mới mẻ Cũng bởi vì tôn giáo nằm trong một bộ phận cấu thành nên xã hội này nên cùng với sự thay đổi của loài người mà tôn giáo cũng có những sự biến đổi
dù là về nội dung hay chỉ là về hình thức Ở Việt Nam tôn giáo là một vấn đề luôn được cập nhật thường xuyên bởi tôn giáo là sự phản ánh sự biến đổi của đất nước,
xã hội, nó còn phản ánh trình độ nhận thức của con người Việt Nam Tôn giáo, tín ngưỡng là hoạt động thường xuyên, liên tục của người dân Việt Nam, nó có tầm vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân
Nhận thấy tầm quan trọng của tôn giáo, Đảng và nhà nước đã có những chính sách quan tâm đến vấn đề này, thông qua chính sách ấy mà người dân có thể được tự do hoạt động tôn giáo nhưng lại vẫn có thống nhất theo quy định của pháp luật
Trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn giáo hiện nay đã được Đảng và Nhà nước ta xem xét, đánh giá lại trên quan điểm khách quanhơn, không xoá bỏ một cách duy ý chí như trước nữa mà nhìn nhận trên quan điểm phát huy những mặt tích cực, gạt bỏ những mặt tiêu cực trong các tôn giáo Đặc biệt là các chỉ thị về tôn giáo, hay quan điểm của các tôn giáo hiện nay là: sống tốt đời đẹp đạo
Để có thể hiểu được sâu sắc vấn đề này em xin chọn đề tài “Phân tích quan
điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo? Liên hệ vấn đề này với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đồng thời anh chị cần phải làm gì để thực
hiện tốt vấn đề này?”
Trang 5Chương I : Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo
1.1 Khái niệm, bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
1.1.1 Tôn giáo là gì ?
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hoang đường và hư ảo hiện thực khách quan Qua sự phản ánh của tôn giáo mọi sức mạnh tự phát của tự nhiên
và xã hội đều trở thành thần bí
Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên
và lịch sử xã hội xác định Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xãhội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội ở một mức
độ nhất định tôn giáo có vai trò tích cực trong văn hoá, đạo đức xã hội như: đoàn kết, hướng thiện, quan tâm đến con người… Tôn giáo là niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần của quần chúng lao động
Về phương diện thế giới quan, thế giới quan tôn giáo là duy tâm, hoàn toàn đối lập với hệ tư tưởng và thế giới quan Mác - Lênin khoa học và cách mạng Sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội hiện thực và thiên đường mà các tôn giáo thường hướngtới là ở chỗ trong quan niệm tôn giáo thiên đường không phải là hiện thực mà là ở thế giới bên kia Còn những người cộng sản chủ trương và hướng con người vào xãhội văn minh, hành phúc ngay ở thế giới hiện thực, do mọi người xây dựng và vì mọi người
1.1.2 Bản chất của tôn giáo là gì ?
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng : Tôn giáo là một hiện tượng xã hội
- văn hóa do con người sáng tạo ra Con người sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợiích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ Nhưng, sángtạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối hóa và phục vụ tôngiáo vô diều kiện
Trang 6Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nhất, nhưng có giao thoa nhất định Tín
ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thức thể hiện
Trang 7niềm tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần thánh,linh thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ Có nhiều loại hình tín ngưỡng khácnhau như: tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng Thờ anh hùng dân tộc, tínngưỡng Thờ Mẫu…
Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông, không dựa trên cơ sở khoa học nào.Nói cách khác là niềm tin về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, sự vật, hiệntượng, nhưng thực tế không có mỗi liên hệ cụ thể, rõ ràng, khách quan, tất yếu,nhưng được bao phủ bởi các yếu tố siêu nhiên thần thánh hư ảo Dị đoan là sự suyđoán, hành động một cách tùy tiện, sai lệch những điều bình thường, chuẩn mựctrong cuộc sống Mê tín dị đoan là niềm tin của con người vào các lực lượng siêunhiên, thần thánh đến mức mê muội, cuồng tín, dẫn đến những hành vi cực đoan,sai lệch quá mức, trái với giá trị văn hóa, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại cho cánhân, xã hội và cộng đồng
1.1.3 Nguồn gốc sinh ra tôn giáo
Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, hoàn thiện và biến đổi cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội Sự xuất hiện và
biến đổi đó gắn liền với các nguồn gốc sau:
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội: Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ lực lượng
sản xuất thấp kém, con người cảm thấy yếu đuối, lệ thuộc và bất lực trước tự nhiên
Vì vậy họ đã gán cho tự nhiên những lực lượng siêu tự nhiên có sức mạnh, quyềnlực to lớn, quyết định đến cuộc sống và họ phải tôn thờ
Khi xã hội có giai cấp đối kháng, nạn áp bức, bóc lột, bất công của giai cấpthống trị đối với nhân dân lao động là nguồn gốc nảy sinh tôn giáo V.I.Lênin đãviết: "Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tấtnhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia" Hiện nay, conngười vẫn chưa hoàn toàn làm chủ tự nhiên và xã hội ; các cuộc xung đột giai cấp,
Trang 8dân tộc, tôn giáo, thiên tai, bệnh tật, vẫn còn diễn ra, nên vẫn còn nguồn gốc đểtôn giáo tồn tại.
- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo Tôn giáo bắt nguồn từ sự nhận thức hạn
hẹp, mơ hồ về tự nhiên, xã hội có liên quan đến đời sống, số phận của con người.Con người đã gán cho nó những sức mạnh siêu nhiên, tạo ra các biểu tượng tôngiáo Mặt khác, trong quá trình biện chứng của nhận thức, con người nảy sinhnhững yếu tố suy diễn, tưởng tưởng xa lạ với hiện thực khách quan, hình thành nêncác biểu tượng tôn giáo
- Nguồn gốc tâm lí của tôn giáo Tình cảm, cảm xúc, tâm trạng lo âu, sợ hãi,
buồn chán, tuyệt vọng đã dẫn con người đến sự khuất phục, không làm chủ đượcbản thân là cơ sở tâm lí để hình thành tôn giáo Mặt khác, lòng biết ơn, sự tôn kínhđối với những người có công khai phá tự nhiên và chống lại các thế lực áp bứctrong tình cảm, tâm lí con người cũng là cơ sở để tôn giáo nảy sinh
1.1.4 Tính chất của tôn giáo
Tính lịch sử của tôn giáo: Tôn giáo ra đời, tồn tại và biến đổi phản ánh và phụ
thuộc vào sự vận động, phát triển của tồn tại xã hội Tôn giáo còn tồn tại rất lâu dài,nhưng sẽ mất đi khi con người làm chủ hoàn toàn tự nhiên, xã hội và tư duy
Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo phản ánh khát vọng của quần chúng
bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái (dù đó là hư ảo) Tôn giáo đã trởthành nhu cầu tinh thần, đức tin, lối sống của một bộ phận dân cư Hiện nay, một bộphận không nhỏ quần chúng nhân dân tin theo các tôn giáo
Tính chính trị của tôn giáo: Xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp Giai
cấp thống trị lợi dụng tôn giáo làm công cụ hỗ trợ để thống trị áp bức bóc lột và mêhoặc quần chúng Những cuộc chiến tranh tôn giáo đã và đang xảy ra, thực chất vẫn
là xuất phát từ lợi ích của những lực lượng xã hội khác nhau lợi dụng tôn giáo đểthực hiện mục tiêu chính trị của mình
1.2.Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kì quá độ lên CNXH
Trang 9Trong thời kì quá độ lên CNXH, tôn giáo vẫn tồn tại, tuy đã có sự biến đổitrên nhiều mặt Vì vậy, khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần đảm bảo các nguyên tắcsau :
- Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tin ngưỡng của nhân
- Quan điểm lịch sử cụ thể trong vấn đề giải quyết tín ngưỡng, tôn giáo
Chương II : Liên hệ vấn đề trên vào thực trạng việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và giải pháp để thực hiện tốt vấn đề này.
2.1 Đăc điểm tôn giáo ở Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc cũng là quốc gia
đa tôn giáo Mỗi tôn giáo có lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, chứcsắc, cơ sở thờ tự, vị trí, vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, đó là do nước ta
nằm giữa ngã ba Đông Nam Châu á - là nơi giao lưu giữa các luồng tư tưởng, vănhoá khác nhau, có địa hình phong phú đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa,
thiên nhiên vừa ưu đãi vừa đe doạ cộng đồng người sống ở đây Do đó thườngnãy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào lực lượng tự nhiên
Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thành sớm, lại kề bên
hai nền văn minh lớn của loài người là Trung Hoa và Ấn Độ, nên tín ngưỡng,
tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm từ hai nền văn minh này
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, nhưng người có cộng lớn
trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ
phụng Trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống
nước, nhớ nguồn” Điều đó thể hiện rất rõ trong đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng,
Trang 10tôn giáo của họ.
Từ đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó đã tác động sâu sắc đến tínngưỡng, tôn giáo Việt Nam, làm cho tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam có nhữngđặc điểm sau:
- Một là Việt Nam là một quóc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau đang tồn tại
Đó là do điều kiện địa lý nước ta thuận lợi cho việc giao lưu của nhiềuluồng tư tưởng, văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng của hai nền vănminh lớn của thế giới là Trung Hoa và Aán Độ
Nước ta có nhiều dân tộc cư trú(54 dân tộc) ở nhiều khu vực khác nhau,với điều kiện tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo khácnhau Hơn nữa, bản tính người Việt luôn cởi mở, khoan dung nên cùng một lúc
họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Từ nhữnghình thức tôn giáotín ngưỡng sơ khai đến hiện đại, từ tôn giáo phương Đong cổđại đến phương Tây cận, hiện đại, tất cả đã và đang cùng tồn tại bên cạnh tínngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc khác nhau
- Hai là tính đan xen, hoà đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo
Việt Nam Điều đó được biểu hiện:
Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện diện của một số vị thần,
thánh, tiên ,phật của nhiều tôn giáo
Đối với người Việt Nam, rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo của họ.Người ta không chỉ thờ phụng ở đình, chùa, am, miếu, ma còn khấn vái “tứphương”, kể cả những gốc cây, mô đất, khúc sông
Về phía giáo sĩ: ở Việt Nam có nhiều tăng ni, phật tử thông thạo giáo lýPhật giáo, đồng thời cũng triết thuyết Khổng Mạnh và nghiên cứu cả đạo giáo Giáo lý cùa các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác biệt
và trong lịch sử đã xuất hiện những mâu thuẩn nhất định, nhưng nhìn chung,chưa có sự đối đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo
Trang 11Tín ngưỡng tôn giáo VN là hòa đồng, đan xen, hỗ trợ lẫn nhau.Truyền
thống “Tam giáo đồng nguyên”, “Ngũ chi hợp nhất” được kết tinh trong đạo Caođài Những tôn giáo độc thần như : Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo du nhập vàonước ta cũng như tôn giáo nội sinh như : Cao Đài, Hòa Hảo ít nhiều đều có tínhđan xen, hòa đồng dung hợp với nhau với tín ngưỡng bản địa
- Ba là yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưõng, tôn giáo ở Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam là lỉch sử chống ngoại xâm, người phụ nữ có vai trò
quan trọng trong xã hội không chỉ vì họ gánh vác công việc nặng nề thay chồngnuôi con ở hậu phương mà còn xông pha trận mạc
Ở nước ta, dù mẫu quyền được thay thế bởi phụ quyền từ lâu, nhưng tàn
dư chế độ này còn kéo dài dai dẵng đến tận ngày nay Hơn nữa, ở một xứ sởthuộc nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, vốn coi trọng yếu tố âm-đất-
mẹ, người mẹ biểu tượng cho ước muốn phong đăng, phồn thực; hình tượngcủa sự sinh sôi, nãy nở, sự trường tôn của giống nòi, sự bao dung của lòng đất
Vì vậy, một trong những đặc điểm đáng quan tâm trong tín ngưỡng, tôn giáo ViệtNam là truyền thống tôn thờ yếu tố nữ
- Bốn là thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước.
Con người Việt Nam vốn có yêu nước, trọng tình “uống nước, nhớ
nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam cũngthấm đượm tinh thần ấy Từ xưa, ở Việt Nam đã hình thành 3 cộng đồng gắn bóvới nhau là gia đình, làng xóm và quốc gia
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hay giàu, song nhà nào cũng cóbàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ-những người đã khuất
Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ Mỗ làg có phong tục, lối sốngriêng Trong phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương
và việc thờ cúng này trở nên phổ biến ở nhiều tộc người
Những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước đều được ngườiViệt Nam tôn vinh, sùng kính
Trang 12- Năm là tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động.
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn, nên tín đồ
hầu hết là nông dân Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hiểu giáo lý khôngsâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt cộngđồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm
- Sáu là một số tôn giáo bị các thế lực thù địch phản động trong và ngoài
nước lợi dụng vì mục đích chính trị
Tôn giáo nào cũng có 2 mặt: nhân thức tư tưởng và chính trị Chín vì vậy,tuy mức độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thì các giai cấp thống trị,bóc lột vẫn chú ý sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
Các thế lực trong và ngoài nước đang âm mưu sử dụng ngọn cờ nhân
quyền gắn với tôn giáo hong xóm xoá bỏ CNXH ở nước ta Vì vậy, một mặt phảiđáp ứng đúng như cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân, mặt khác phải luôncảnh giác với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
- Bảy là hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện mang
tính chất thị trường
Những năm qua, nhờ có công cuộc đổi mới mà đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân được nâng cao nhưng cũng kéo theo nhưng hoạt động của
các tôn giáo sôi nổi hơn trước, việc xây mới, sửa chũa cơ sở thờ tự diễn ra khókiểm soát Hiện tượng “buôn thần, ban thánh” có dấu hiệu bùng phát làm tiêu tốntiền bạc, thời gian, sức khoẻ của nhân dân
Hiện nay đã xuất hiện một số chức sắc, tín đồ các tôn giáo có biểu hiện
suy thoái đạo đức, lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền mê tín-dị đoan, kiếm tiềnbất chính
2.2 Chính sách của Đảng, nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay.
Trang 13" Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo 1 tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước." (Điều 70)
2.2.1 Những nguyên tắc về tín ngưỡng, tôn giáo :
1 "Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau
2 Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân
3 Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phi tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật, có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia
4 Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được đảm bảo Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo
được tôn trọng và khuyến khích phát huy
5 Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để làm mất trất tự an toàn xã hội, phưng hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hoá của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật Hoạt động mê tín phi bị phê phán và loại bỏ" (chỉ thị 37/CT-TW ngày 2/7/1998)
Chính sách tôn giáo của Đaeng Cộng sản Việt Nam và của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước hết là đoàn kết dân tộc, đoàn kết người có tôn giáo với nhau, đoàn kết người khác tôn giáo với nhau, đoàn kết người có tôn giáo