1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TAI LIỆU MÔN THỂ DỤC CƠ BẢN ĐẠI HỌC

63 500 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Chung Về Thể Dục
Trường học Đại học
Chuyên ngành Thể dục
Thể loại Tài liệu
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu môn thể dục cơ bản, cung cấp nội dung và hình ảnh minh họa về môn thể dục cơ bản tại các trường đại học. Thể dục là một hệ thống phương tiện và phương pháp chuyên môn được chọn lọc và thực hiện theo những nguyên lí khoa học, nhằm phát triển cơ thể toàn diện và hoàn thiện khả năng vận động. Như chúng ta đã biết, thể dục thể thao hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Trong quá trình phát triển ấy hệ thống giáo dục thể chất đã hình thành các phương tiện riêng biệt như: Thể thao, thể dục, trò chơi vận động,… Tuy khác nhau về sự thực hiện và phương pháp hình thành kĩ năng vận động, song các phương tiện của giáo dục thể chất luôn bổ sung và hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện. Trong đó, thể dục được xem như là bộ phận cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển và hoàn thiện thể chất. Ở góc độ văn hóa, thể dục là một bộ phận của văn hóa thể chất. Đó là thành tựu của nhân loại trong việc sáng tạo nên những phương tiện và phương pháp nhằm hoàn thiện năng lực thể chất và năng lực vận động của con người.

Trang 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ DỤC

1 Khái niệm và phân loại thể dục

1.1 Khái niệm

Thể dục là một hệ thống phương tiện và phương pháp chuyên môn đượcchọn lọc và thực hiện theo những nguyên lí khoa học, nhằm phát triển cơ thểtoàn diện và hoàn thiện khả năng vận động

Như chúng ta đã biết, thể dục thể thao hình thành và phát triển gắn liềnvới sự phát triển của xã hội loài người

Trong quá trình phát triển ấy hệ thống giáo dục thể chất đã hình thành cácphương tiện riêng biệt như: Thể thao, thể dục, trò chơi vận động,…

Tuy khác nhau về sự thực hiện và phương pháp hình thành kĩ năng vậnđộng, song các phương tiện của giáo dục thể chất luôn bổ sung và hỗ trợ nhautrong quá trình thực hiện

Trong đó, thể dục được xem như là bộ phận cơ bản, có ý nghĩa đặc biệtquan trọng trong sự phát triển và hoàn thiện thể chất

Ở góc độ văn hóa, thể dục là một bộ phận của văn hóa thể chất Đó làthành tựu của nhân loại trong việc sáng tạo nên những phương tiện và phươngpháp nhằm hoàn thiện năng lực thể chất và năng lực vận động của con người

1.2 Phân loại thể dục

Cùng với sự phát triển xã hội và nhu cầu văn hoá thể chất của con người,việc phân loại các loại hình thể dục đã có thể sắp xếp, hệ thống hoá các phươngtiện thể dục và sử dụng chúng một cách hiệu quả là một yêu cầu của thực tiễn

Hiện nay, việc phân loại thể dục được dựa trên cơ sở mục đích tập luyện

và cấu trúc của các bài tập thể dục Có thể chia thể dục thành hai nhóm chính:

- Nhóm thể dục phát triển chung (hay thể dục nhằm mục đích sức khoẻ,

văn hoá, xã hội) bao gồm số lượng lớn phương tiện của thể dục Nhóm thể dục

Trang 2

phát triển chung hết sức phong phú và đa dạng, phù hợp với các loại đối tượng,giới tính và lứa tuổi.

Nhóm thể dục phát triển chung nhằm mục đích giữ gìn sức khoẻ, nâng caodân trí, kéo dài tuổi thọ, phát triển tố chất thể lực, rèn luyện tư thế đúng - đẹp

- Nhóm thể dục thi đấu (hay thể dục nhằm mục đích thể thao) bao gồm số

lượng lớn các loại bài tập

Luật lệ thi đấu và trọng tài của các môn thể dục thi đấu cũng không ngừngđược hoàn thiện

1.2.1 Nhóm thể dục phát triển chung

a Thể dục cơ bản:

Là các bài tập cơ bản, đơn giản nhất của thể dục, thể dục cơ bản phù hợpvới các loại đối tượng, giới tính và lứa tuổi Thể dục cơ bản trong các cấp họcphổ thông nhằm phát triển các kỹ năng cần thiết trong đời sống, hình thành các

tư thế đúng - đẹp, phát triển khả năng phối hợp vận động và các tố chất thể lựcnhư: sức mạnh, sức bền, sức nhanh

Thể dục cơ bản cho thanh niên và người đứng tuổi góp phần hoàn thiện

các năng lực thể lực và các kĩ năng cần thiết của cuộc sống như: đi, chạy, nhảy,ném, bắt, leo trèo, mang vác

b Thể dục bổ trợ cho các môn thể thao:

Thể dục bổ trợ cho các môn thể thao được sử dụng nhằm phát triển nhiều

tố chất vận động và kĩ năng chuyên môn, làm cơ sở đạt thành tích cao ở các mônthể thao

Nội dung chính của loại hình thể dục này là các bài tập phát triển chung

và các bài tập chuyên môn thuộc các môn thể thao

c Thể dục thực dụng quân sự:

Là loại hình thể dục được sử dụng nhằm rèn luyện kĩ năng quân sự chothanh niên và các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang

Trang 3

Thể dục thực dụng quân sự bao gồm các nội dung: Các bài tập đội ngũ đội hình, các bài tập đi, chạy, nhảy, ném, các bài tập leo trèo, mang vác, dichuyển người và trọng vật.

sự linh hoạt của khớp, các bài tập làm tăng đàn tính của cơ và dây chằng, các bàitập này cần kết hợp với các biện pháp vật lí trị liệu, các biện pháp dinh dưỡng,các bài tập tâm lí hoặc kết hợp với các thiết bị chuyên môn y học (dụng cụ y họcchuyên dụng) để tăng hiệu quả chữa bệnh

g Thể dục đồng diễn:

Thể dục đồng diễn là loại hình thể dục mang tính chất biểu diễn tập thểvới quy mô nhỏ (dưới 500 người), quy mô trung bình (dưới 1000 người) hoặcquy mô lớn (trên 1000 người) Để thực hiện chủ đề của thể dục đồng diễn nộidung chính biểu diễn là các bài tập thể dục tay không hoặc kết hợp với các đạo

cụ (vòng, gậy, sào, lụa ), các động tác múa được lựa chọn và sắp xếp tạo hìnhbiến hoá của đội hình, đội ngũ biểu diễn

Trang 4

Thể dục đồng diễn được thực hiện trên nền nhạc và với các màn đồngdiễn thể dục quy mô lớn, thường có sự hỗ trợ sinh động của các hình ảnh và xếpchữ trên khán đài.

Thể dục đồng diễn đòi hỏi sự phối hợp tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, tínhnghệ thuật cao Thể dục đồng diễn thường được tiến hành trong lễ hội văn hoá -thể thao các khu vực trong nước và quốc tế

i Thể dục thể hình:

Thể dục thể hình nhằm mục đích phát triển cân đối toàn diện cơ thể Đồngthời, phát triển sức mạnh, độ dẻo, tính khéo léo và các tố chất cần thiết khác củacon người

Thể dục thể hình bao gồm một hệ thống các bài tập phát triển chung (cóhoặc không có dụng cụ) Các dụng cụ tập luyện thể dục thể hình thường là: tạtay, đòn tạ, dây cao su, bóng nhồi, dây lò so Đặc biệt các máy tập thể dục thểhình có nhiều chức năng và ngày càng được cải tiến, hoàn thiện nhằm nâng caohiệu quả tập luyện

Thể dục thể hình trong quá trình phát triển đã hình thành các môn thểthao: Sport Aerobic và Body building

1.2.2 Thể dục thi đấu

a Thể dục dụng cụ:

Trang 5

Thể dục dụng cụ dành cho nam gồm có sáu môn là: Thể dục tự do, xàđơn, xà kép, nhảy chống, ngựa vòng, vòng treo và nữ gồm bốn môn là: Thể dục

tự do, xà lệch, cầu thăng bằng và nhảy chống

Thể dục dụng cụ sử dụng các bài tập phát triển chung, các động tác nhàolộn và thể dục nghệ thuật như những phương tiện bổ trợ quan trọng để hìnhthành kĩ năng, kĩ xảo vận động và phát triển tố chất thể lực, rèn luyện đạo đức, ýchí

Từ 1958, Luật thi đấu và trọng tài thể dục dụng cụ được hoàn thiện, quycách tiêu chuẩn dụng cụ thi đấu được quy định chính thức Từ 1972, Liên đoànThể dục Quốc tế (FIG) bổ - sung thêm vào Luật các cuộc thi chung kết để xácđịnh vô địch toàn năng cho các môn hỗn hợp (trước đó, đã có Luật thi chung kếtcác môn đơn của nam và nữ)

b Thể dục nghệ thuật:

Thể dục nghệ thuật là môn thể dục thi đấu dành cho nữ

Trong thi đấu các vận động viên phải thực hiện hai loại bài tập: Quy định

Thể dục nhào lộn - trước đây chưa được coi là môn thể thao độc lập Màchỉ được đưa vào là một nội dung trong môn thể dục tự do của thể dục dụng cụ

Trang 6

Từ giữa thập kỷ 70, do khuynh hướng phát triển mới, nhiều cuộc thi đấuthể dục nhào lộn quốc tế đã được tổ chức.

d Sport Aerobic:

Sport Aerobic là môn thể dục thi đấu được phát triển từ thể dục nhịp điệu,nền nhạc sử dụng trong Sport Aerobic có tiết tấu nhanh và sôi động SportAerobic là bài tập liên hoàn, động tác phong phú và đa dạng Kết quả tập luyệntạo ra sự thích ứng tốt đối với hệ tuần hoàn và hô hấp, các tố chất thể lực đượcphát triển tốt

Sport Aerobic bao gồm các bài tập: Bài tập nhảy, bài tập sức mạnh, cácbài tập thăng bằng, mềm dẻo, các bài tập tĩnh lực, các dạng chuối

e Body building:

Body Building là dạng thể dục thể hình Mục đích tập luyện nhằm pháttriển tối đa kích thước của cơ bắp, đặc biệt là những nhóm cơ lớn như: nhóm cơngực, cơ lưng, cơ bụng, cơ tứ đầu đùi, cơ tam đầu cẳng chân

Body Building bao gồm các bài tập phát triển chung kết hợp thêm trọnglượng phụ (tạ tay, đòn tạ), bài tập với máy tập chuyên dụng

Lượng vận động, trọng lượng phụ thường ở mức gần tốỉ đa hoặc tối đa đểđạt mục đích tập luyện

g Thể dục trên lưới bật (batút):

Các bài tập trên lưới bật có tác dụng bổ trợ cho các môn thể dục thi đấunhư thể dục dụng cụ, nhào lộn, đồng thời là môn thi đấu độc lập

Thể dục trên lưới bật bao gồm: các bài tập bật nhảy kết hợp với lộn trênkhông một hoặc nhiều vòng, theo các hướng khác nhau và quay theo các trụckhác nhau

Khi rơi xuống, tiếp xúc với mặt lưới bật bằng các bộ phận khác nhau của

cơ thể

Trang 7

2 Lịch sử hình thành phát triển thể dục

Sự hình thành và phát triển của thể dục thể thao nói chung và Thể dục nóiriêng được gắn liền với sự phát triển nền văn hoá của nhân loại

Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên và sự phát triển của các chế độ

xã hội, con người đã chú ý đến việc rèn luyện thể lực, các kĩ năng lao động vàchiến đấu Do đó, thể dục đã xuất hiện rất sớm trong nền văn minh xa xưa của

xã hội loài người

2.1 Sự hình thành phát triển thể dục trên thế giới

Lần đầu tiên, thuật ngữ “Thể dục” xuất hiện ở Hy Lạp, vào khoảng 10 thế

kỉ trước Công nguyên, vào giai đoạn phồn thịnh của nền văn hoá cổ đại HyLạp.1

Thời kỳ cổ Hy Lạp, trình độ xã hội phát triển đến mức khá cao, hình thànhquan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ Các quốc gia nhỏ mang tính chất thành bangđược tổ chức theo chế độ quân sự để khuất phục nô lệ, bảo vệ lãnh thổ và quyềnthống trị của giai cấp chủ nô Thời đó, sức mạnh quân sự của các quốc gia gắnliền với trình độ thể lực và tổ chức của binh lính nên người Hy Lạp rất quan tâmđến huấn luyện quân sự và giáo dục thể chất

Người La Mã cổ đại, đã chế tạo được ngựa gỗ (để huấn luyện cưỡi ngựa),thang dóng, rào nhảy, thang, sào và các dụng cụ leo trèo khác

1 Giáo trình thể dục – ĐH sư phạm TDTT Hà Nội (2013), Nxb TDTT, Tr 6.

Trang 8

Như vậy, trong thời kỳ cổ đại, các phương tiện của thể dục đã khá phongphú và đa dạng, được sử dụng vối nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, cácphương tiện thể dục này chỉ nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị

b Thể dục thời kì trung đại và cận đại

Ở thời kỳ trung đại, sự xuất hiện của súng, đạn thay thế cho việc sử dụng

áo giáp, gươm đao, lá chắn đã có ảnh hưởng quan trọng trong việc lựa chọnphương tiện và phương pháp giáo dục thể chất

Các vũ khí đời mới ra đời, thì cũng đồng thời xuất hiện hàng loạt các loạibài tập thể dục mới như: Đội hình đội ngũ, Thể dục thực dụng (chạy, nhảy, cưỡingựa, leo trèo, vượt chướng ngại vật v.v )

Ở giai đoạn lịch sử này, hệ thống giáo dục thể chất đã có những thay đổiquan trọng Đã có nhiều loại bài tập liên hợp đa dạng và phức tạp, những kháiniệm ban đầu về tiết tấu, nhịp điệu diễn cảm, thẩm mỹ Các dụng cụ thể dục mớiđược chế tạo như xà đơn xà kép, cầu bật, bục nhảy v.v

Vào thời kì chuyển từ chế độ Phong kiến sang chế độ Tư bản chủ nghĩa,các nhà nhân đạo chủ nghĩa đã xác lập một hệ thông giáo dục thể chất mới theokhuynh hướng tiến bộ

Sau này, Giăng giắc Rút xô (1712-1778) và Pestalôsi (1746-1827) từkhuynh hướng tiến bộ đó, đã đặt cơ sở lí luận cho các bài tập thể dục, như làphương tiện nhằm hoàn thiện khả năng phối hợp vận động của con người.2

Đầu thế kỉ XIX, đã phát triển các khuynh hướng thể dục, chủ yếu là tổnghợp của các loại hình thể dục:

- Thể dục vệ sinh: như là một phương tiện quan trọng để củng cố sức khoẻ

và phát triển năng lực thể chất con người

2 Giáo trình thể dục – ĐH sư phạm TDTT Hà Nội (2013), Nxb TDTT, Tr 8.

Trang 9

- Thể dục thể hình (thể dục lực sĩ): Là phương tiện nhằm phát triển các tốchất vận động, gồm nhiều bài tập thể dục phức tạp, trong đó đã có các bài tậptrên dụng cụ.

- Thể dục thực dụng: Là phương tiện - để huấn luyện quân sự

Vào thời kì này, các nước Đức, Thụy Điển, Pháp, Áo là những nước khởixướng khuynh hướng thể dục nói trên (còn được gọi là những trường phái thểdục chủ yếu)

- Trường phái thể dục Đức: Còn có tên gọi là Turnen, được hình hành ở

nước Đức Nhà sư phạm có công sáng lập ra trường phái thể dục Đức làFriđơrích Lan (1778-1852), đã biên soạn những bài tập thể dục với các dụng cụkhác nhau và các loại trò chơi chiến đấu Ông khẳng định: các bài tập trên dụng

cụ có tác dụng tốt hơn so với các bài tập phát triển chung tay không và với dụng

cụ nhẹ

- Trường phái thể dục Thụy Điển: Những người sáng lập trường phái thể

dục Thụy Điển là Pie Lingơ (1776 -1839) và Ianma lingơ (1820-1866)

Pie lingơ sáng tạo nên trường phái thể dục Thụy Điển là dựa vào nguyêntắc vệ sinh Theo ông để phát triển thế chất con người phải áp dụng các bài tậpnhằm củng cố sức khỏe, phát triển các cơ quan của cơ thể con người Các bài tậpphải dựa trên cơ sở dấu hiệu về mặt giải phẫu học và hình thái học Nghĩa là cácbài tập phải có tác dụng riêng biệt cho từng bộ phận cơ thể

- Trường phái thể dục Pháp: Người có công sáng lập trường phái thể dục

Pháp là một sĩ quan quân đội Pháp tên là Phơranxicô Amarôt (1770 1848).Năm 1817, ông mở trường dạy thể dục quân sự tại Pari Giảng dạy các kỹ năngthực dụng trong chiến đấu và đời sống được coi là cơ sở trong hệ thống giáo dụcthể chất của trường phái thể dục Pháp

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX đã hình thành ba hệ thống giáo dục, phảnánh ba khuynh hướng thể dục khác nhau Hệ thống thể dục Đức (thể dục thể

Trang 10

hình), hệ thống thể dục Thụy Điển (thể dục vệ sinh), hệ thống thể dục Pháp (thểdục thực dụng chiến đấu).

Những năm 60 của thế kỷ XIX ở châu Âu còn một hệ thống thể dục củaTiệp Khắc gọi là Hệ thống thể dục Sôkôn (chim ưng)

Người có vai trò quan trọng, trong việc thành lập hệ thống thể dục Sôkôn

là tiến sĩ Milôsláp Tưrờsơ (1832 -1884)

Hệ thống thể dục Sôkôn là hệ thống thể dục lôi cuốn đông đảo thanh thiếu niên tập luyện Hình dáng vẻ đẹp bên ngoài động tác là tiêu chuẩn cơ bản

-Hệ thống thể dục Sôkôn được phân chia thành bốn loại chính:

+ Các bài tập tay không (đi, chạy, nhảy, đội hình đội ngũ, thể dục tự do).+ Các bài tập theo nhóm (trò chơi thể dục, nhào lộn, chồng người)

+ Các bài tập có dụng cụ (gồm trên dụng cụ và với dụng cụ)

+ Các bài tập chiến đấu (bài tập đối kháng: vật, quyền Anh, đấu kiếm ).Buổi học thể dục của trường phái này gần giống các buổi học hiện đại vềkết cấu và nội dung:

+ Phần đầu buổi: Học là các bài tập đội hình - đội ngũ, các bài tập taykhông hoặc với dụng cụ nhẹ

+ Phần cơ bản: buổi học gồm các bài tập trên dụng cụ, các động tác nhảy,nhào lộn, các bài tập chiến đấu và các trò chơi

+ Phần kết thúc: Bao gồm đi bộ, chạy nhẹ nhàng, các động tác thả lỏngtoàn thân

c Thể dục thời kì hiện đại

Cuối thế kỷ XIX, xuất hiện những hệ thống thể dục dựa trên cơ sở nhữngquan điểm khoa học Ở nước Nga có hệ thống thể dục P.Létsgáp; ở Pháp có hệthống thể dục của G.Đêmênhi

Trang 11

G.Đêmênhi là nhà sinh lí học ngưòi Pháp (1850 -1917), ông cho rằng: các

hệ thống thể dục trước đó còn thiếu cơ sở khoa học, chủ yếu mang tính nghệthuật, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của giáo dục thể chất

Theo ông, các bài tập trong giáo dục thể chất bao gồm:

+ Các bài tập phải động, chứ không phải là tĩnh lực

+ Các bài tập phải được thực hiện với biên độ rộng

+ Các bài tập phải được thực hiện với nhiều phương hướng khác nhau.+ Phải biết tiết kiệm sức khi thực hiện bài tập

+ Tiếp thu bài tập phải tuân theo một trình tự định: từ đơn giản đến phứctạp và thực hiện luân phiên theo các hình thức đi, chạy, nhảy

Các bài tập trong hệ thống thể dục của G.Đêmênhi là những bài tập bổ trợrất tốt cho các bài tập thi đấu Hệ thống này, còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triểncủa thể dục trường học và thể dục cho phụ nữ

Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, giai cấp tư sản đã sử dụng thể thaonhư là một phương tiện nhằm giáo dục tư tưởng chính trị và thu lợi nhuận quathi đấu Thể thao trở thành chính sách nô dịch và mê hoặc quần chúng Các hệthống thể dục Turnen và Sôkôn dần thay đổi về hình thức và nội dung để trởthành hệ thống thể thao Các hội và liên đoàn thể thao được thành lập

Năm 1881, Hiệp hội Thể dục quốc tế (gọi tắt là FIG) đã ra đời để lãnh đạocác cuộc thi đấu thể dục quốc tế Tháng 6 năm 1894, ủy ban Olympic Quốc tếđược thành lập Sự hồi sinh Đại hội Olympic trong thời đại ngày nay, khởinguồn từ hoạt động không mệt mỏi của nhà tư tưởng, nhà sư phạm kiên địnhngười Pháp - Nam tước Pierre De Coubertin (1863 - 1937)

Ngay từ Đại hội Olympic lần thứ nhất (1896), tổ chức tại Aten (Hy Lạp),thể dục đã được đưa vào chương trình thi đấu

Từ năm 1928, Đại hội Olympic lần đầu tiên các VĐV nữ thể dục đượctham gia thi đấu

Trang 12

Từ nay 1952, tại Đại hội Olympic lần thứ XV (đối với nam) và từ 1958 tạigiải quán quân thế giới (đối với nữ) chương trình thi đấu chính thức 6 môn thểdục dụng của nam (thể dục tự do, xà đơn, xà kép, nhảy chống, ngựa vòng, vòngtreo) và 4 môn của nữ (thể dục tự do, nhảy chống, xà lệch, cầu thăng bằng).

Từ năm 1961, Ủy ban kỹ thuật của FIG đã quyết định đưa môn thể dụcnghệ thuật là một môn thi chính thức trong các Đại hội TDTT Các VĐV Liên

Xô (cũ) và Bungari luôn giành vị trí cao nhất

Từ năm 1975, các cuộc thi đấu nhào lộn quốc tế mới được chính thức tổchức Các vị trí cao nhất thuộc về VĐV các nước Liên xô (cũ), Ba lan, Bungari,Trung Quốc và Cộng hoà liên bang Đức

2.2 Sự hình thành và phát triển thể dục ở Việt Nam

Cuối thế kỉ XVIII, trước thời kì thực dân Pháp xâm lược nước ta, các bàitập thể dục được phát triển trong khuôn khổ các hoạt động thể thao dân tộctruyền thống, chưa trở thành môn tập luyện và thi đấu độc lập

Khi thực dân Pháp cai trị nước ta, với chính sách khai hoá thuộc địa, một

số môn thể thao mới được đưa vào Việt Nam Tuy nhiên, mục đích thể dục thểthao lúc này là nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị còn đại đa số nhân dân laođộng sống trong cảnh bần cùng, không thể có điều kiện tham gia tập luyệnTDTT Các bài tập thể dục được phổ biến vào Việt Nam chỉ có một số nội dungsau: Đội hình đội ngũ, thể dục vệ sinh, thể dục thể hình và một số bài tập đơngiản trên dụng cụ xà đơn - xà kép.3

Sau cách mạng tháng Tám thành công, việc tập luyện thể dục được duy trìtrong các cơ quan ở chiến khu, ở các đơn vị bộ đội góp phần quan trọng trongviệc giữ gìn sức khoẻ phòng chống bệnh tật, tăng cường sức chiến đấu cho cán

bộ, chiến sĩ trong điều kiện khó khăn và gian khổ của công cuộc kháng chiến

Từ năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi miền Bắc hoàn toàn giảiphóng và nhất là sau tháng 4 năm 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất

3 Giáo trình thể dục – ĐH sư phạm TDTT Hà Nội (2013), Nxb TDTT, Tr 18.

Trang 13

nước Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, phong trào TDTT nói chung vàthể dục nói riêng đã phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng hoà nhập với phong tràothể thao châu Á và Đông Nam Á.

a Sự phát triển của thể dục theo khuynh hướng vì sức khoẻ - văn hoá và

xã hội.

Từ thập kỉ 60, Thể dục đồng diễn với quy mô khác nhau đã được đưa vàochương trình hoạt động các ngày lễ lớn, Đại hội TDTT, Hội khoẻ Phù Đổng, đãlôi cuốn quần chúng tham gia tập luyện TDTT và gây được ấn tượng chính trị -văn hoá sâu sắc trong nhân dân

Từ năm 1976 ủy ban Olympic Việt Nam được thành lập Năm 1980, Đạihội Olympic lần thứ XXII tổ chức tại Matxcơva (Liên xô cũ) Việt Nam lần đầutiên tham gia thế vận hội

Năm 1982,Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Olympic châu Á(OCA) và bắt đầu tham gia các Đại hội Thể thao châu Á kể từ ASIAD IX tổchức tại Neu Deli (Ấn Độ) từ 19 tháng 11 đến 4 tháng 12 năm 1982

Năm 1989, Việt Nam tham gia trở lại vào Liên đoàn Thể thao Đông Nam

Á và bắt đầu cử các đoàn thể thao tham gia đều đặn các Đại hội Thể thao ĐôngNam Á kể từ SEA Games XV tổ chức tai Kuala Lampơ năm 1989

Trong nghị quyết về giáo dục của Nhà nước, được thể hiện ở kế hoạchgiáo dục thể chất trong trường Chương trình giáo dục thể chất được quy địnhbắt buộc trong chương trình các cấp phổ thông, trung học chuyên nghiệp, caođẳng và đại học đã quy định rõ vị trí và nhiệm vụ về giáo dục sức khoẻ cho họcsinh: Công tác giáo dục thể chất ở trường học các cấp góp phần quan trọng vàoviệc thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới, phát triển cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, sẵn sàng xâydựng và bảo vệ tổ quốc

Từ năm 2000 đến nay, chương trình giáo dục thể chất đã và đang cải cách

để phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trang 14

Ngoài ra, phong trào thể dục đang được phát triển mạnh mẽ ở mọi ngànhnghề, mọi lứa tuổi trong xã hội.

Thể dục vì mục đích sức khoẻ - văn hoá và xã hội được phát triển phongphú và đa dạng Nhiều câu lạc bộ TDTT xuất phát từ nhu cầu tập luyện của một

xã hội đang phát triển, đã được thành lập như: Câu lạc bộ sức khoẻ ngoài trờidành cho người cao tuổi, Câu lạc bộ thể hình - thẩm mĩ dành cho thanh niên vàtrung niên v.v

b.Sự phát triển của thể dục thi đấu.

Có thể phân chia quá trình hình thành và phát triển môn Thể dục dụng cụthành ba giai đoạn sau đây:

- Giai đoạn I: Từ 1955 đến 1970

Từ 1955 - 1964: Đã bắt đầu hình thành phong trào tập luyện môn thể dụcdụng cụ tại một số tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định; ởmột số ngành như: Quân đội, trường Trung cấp TDTT Từ Sơn (Hà Bắc)

Nhờ sự quan tâm của ủy ban TDTT Trung ương, sự giúp đỡ của chuyêngia Liên xô (cũ), những giáo viên, HLVvà VĐV nòng cốt về thể dục đã đượcđào tạo Một số trung tâm huấn luyện VĐV thể dục đã ra đời như ở Hà Nội,Quân đội, Trường Trung cấp TDTT (Từ Sơn - Hà Bắc)

Từ 1964 - 1970: Giai đoạn này được đánh đấu bằng việc hình thành mộtđội ngũ đông đảo giáo viên, HLV thể dục được đào tạo trong nước và từ nướcngoài về, trực tiếp huấn luyện và giảng dạy tại các trường TDTT và các câu lạcbộ

Cuộc thi đấu thể dục dụng cụ đầu tiên ở nước ta, tổ chức năm 1967 tạiNhà tập Long Biên (Hà Nội) Trong thời gian này đội tuyển quốc gia Thể dụcdụng cụ, đã được tập huấn và thi đấu ở nước ngoài

Đã tham gia các đại hội: năm 1963, Đại hội TDTT Ganefo thế giới tại Giacác ta (Inđônêxia); năm 1966 Tại Nôngpênh (Campuchia); tại Đại hội TDTT

Trang 15

Ganeio châu Á, đội thể dục dụng cụ Việt Nam đứng thứ 3 (sau đội Trung Quốc

và Triều Tiên)

- Giai đoạn II: Từ 1970 đến 1979

Phong trào luyện tập TDTT chuyển hướng nhằm phục vụ cho sản xuất vàchiến đấu Công tác đào tạo VĐV thể dục bị thu hẹp Một số VĐV trẻ được tậphuấn ở Trung Quốc, một số VĐV được cử đi học, đào tạo giáo viên và HLV

Từ 1975 - 1979: Đất nước hoàn toàn giải phóng Một sự kiện chính trị tolớn là Đội Thể dục dụng cụ thanh niên Hà Nội đã biểu diễn thành công tại SàiGòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh)

Từ 1976 các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, và Quân đội bắt đầukhôi phục và củng cố phong trào tập luyện thể dục dụng cụ đồng thời cũng xâydựng và phát triển lực lượng VĐV cấp cao

Bộ môn Thể dục thường xuyên tổ chức các cuộc thi đấu cấp thiếu niên vàngười lớn, là tiêu đề cho các cuộc thi tranh giải toàn quốc sau này

- Giai đoạn III: Từ 1979 đến nay

Giai đoạn này, Việt Nam gia nhập Liên đoàn Thể dục Thế giới và cũngđồng thời Việt Nam trở thành thành viên của phong trào Olympic thế giới

Các VĐV thể dục liên tục được tập huấn và thi đấu hữu nghị tại các giải

“Hữu nghị”, “Thiện chí”, báo “Tuần tin tức Matscơva”, Giải thể thao sinh viênquốc tế

Từ 1985 - 1989: Hàng năm, các cuộc thi đấu được thường xuyên tổ chứcvới sự tham gia của bốn trung tâm đào tạo VĐV thể dục lớn là Hà Nội, HảiPhòng, Quân đội và thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1985, tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ nhất, thể dục dụng cụ làmôn thi đấu chính của Đại hội

Trang 16

Năm 1987, lần đầu tiên trong thi đấu, VĐV Việt Nam áp dụng Luật thi vàbài thi theo quy định quốc tế Đây là dấu mốc quan trọng, đánh giá sự trưởngthành về chất nhằm đạt đến trình độ thể dục quốc tế.

Từ 1989 đến nay: Giai đoạn này, thể dục dụng cụ tiếp tục duy trì và pháttriển Ở các trung tâm thể thao lớn, thể dục được xác định là mũi nhọn Thể dụcdụng cụ đã là một trong các môn thi đấu của nưốc ta, tham gia các Đại hộiTDTT Đông Nam Á (SEA Games) lần thứ XV, XVI, XVII và Đại hội TDTTchâu Á lần thứ XI tại Bắc Kinh (Trung Quốc)

Vào năm 1995, Liên đoàn Thể dục Việt Nam được thành lập tiếp tục đưaThể dục dụng cụ Việt Nam phát triển và hoà nhập Thể dục dụng cụ thế giới

* Thể dục nghệ thuật:

Từ giữa thập kỉ 80, thể dục nghệ thuật đã được tổ chức tập luyện và thiđấu Tuy nhiên, mới chỉ có ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh

Năm 1985 và 1987 chuyên gia Bungari đã mở lớp đào tạo ngắn hạn chohuấn luyện viên thể dục nghệ thuật tại Việt Nam

Bô môn Thể dục đã biên soạn chương trình tập luyện, Luật thi đấu vàtrọng tài môn Thể dục nghệ thuật

Khu vực Đông Nam Á, Thể dục nghệ thuật được đưa vào chương trình thiđấu từ năm 1987

Trình độ chuyên môn và thành tích trong khu vực còn thấp Do đó, nước

ta thường xuyên đưa các VĐV trẻ, đào tạo và tập huấn môn Thể dục nghệ thuật

ở Trung Quốc nhằm chuẩn bị cho các kỳ SEA Games

* Thể dục nhào lộn và Thê dục thể hình:

Thể dục nhào lộn và Thể dục thể hình là hai môn thể thao được thanh,thiếu niên nước ta ham thích tập luyện

Trang 17

Thể dục thể hình được đưa vào Việt Nam từ thời Pháp thuộc (trước 1954)song không được phát triển.

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều câu lạc bộ thể dục nhào lộn

và Thể dục thể hình Lần đầu tiên, năm 1988 đã tiến hành thi đấu cấp thành phố

Thể dục thể hình đã có nhiều vận động viên có khả năng thi đấu giành thứhạng cao tại các kỳ SEA Games, tiêu biêu là VĐV Lý Đức, Phạm Văn Mách củathành phố Hồ Chí Minh

3 Đặc điểm, nội dung và nhiệm vụ của thể dục

3.1 Đặc điểm của thể dục

Nội dung và phương pháp của thể dục rất phong phú Do đó, nó ảnhhưởng toàn diện đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự pháttriển có chọn lọc đối với các bộ phận trên cơ thể

- Thể dục phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính Từ trẻ em đến người caotuổi, nam cũng như nữ, người khỏe cũng như người có bệnh tật, người có trình

độ luyện tập cao cũng như người mới tập

- Thể dục là phương tiện phát triển thể lực toàn diện và thể lực chuyênmôn để đạt đến những thành tích cao trong thể thao

- Thể dục biểu hiện tính nghệ thuật cao, trong hình tượng, nhịp điệu,phong thái biểu diễn và khả năng diễn cảm

- Thể dục giáo dục tính thẩm mĩ, rèn luyện tư thế đúng - đẹp và phát triểncân đối cơ thể người tập

- Thể dục bao gồm nhiều yếu tố giáo dục, rèn luyện con người về phẩmchất đạo đức, ý chí, tác phong, tính đồng đội, tính tập thể

- Các bài tập thể dục có kết cấu đa dạng phong phú và mức độ khó khácnhau, nên đòi hỏi trong tập luyện phải nghiêm túc, dũng cảm, tỉ mỉ và chính xác.Trong quá trình tập luyện phải có sự bảo hiểm - giúp đỡ của giáo viên, đồng đội

Trang 18

nhằm hỗ trợ tích cực cho việc nắm vững nhanh chóng kĩ thuật động tác vàphòng ngừa chấn thương có thể xảy ra.

- Thể dục là môn học tiêu biểu cho sự kết hợp giữa thể chất và trí tuệ Quátrình học động tác sẽ kích thích hoạt động trí tuệ và ngược lại hoạt động trí tuệcàng cao, làm cho quá trình học động tác càng nhanh

- Thể dục là môn khoa học trong hệ thống giáo dục thể chất

Thể dục được đặt trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác Lê-nin về giáodục, tâm lí học, sinh lí học, giải phẫu học và lí luận về khoa học giáo dục thểchất Khi nghiên cứu về kĩ thuật động tác để phát triển và hoàn thiện thể chấtphải vận dụng những nguyên lí cơ bản của cơ học vật lí, sinh cơ học và toán học

3.2 Nội dung của thể dục

Căn cứ vào nhiệm vụ của giáo dục, nội dung của thể dục bao gồm:

Trang 19

- Loại bài tập nhằm chủ yếu nâng cao khả năng vận động và ý chí củangười tập (các bài tập trên dụng cụ, nhảy chống, các bài tập thể dục tự do, thểdục nhào lộn và thể dục nghệ thuật)

Sự phân chia trên đây, tạo điều kiện dễ dàng cho việc lựạ chọn các bài tậpnhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục khác nhau

Tập luyện các bài tập phát triển chung, các bài tập thể dục dụng cụ, nhàolộn… có tác dụng bồi dưỡng một số lượng lớn các kĩ năng, kĩ xảo chuyên môncủa thể dục Thông qua tập luyện, khả năng phối hợp vận động được tăngcường, con người trở nên linh hoạt trong lao động, chiến đấu và cuộc sống hàngngày

- Thể dục góp phần quan trọng trong việc giáo dục các phẩm chất đạođức, ý chí và óc thẩm mĩ, tính sáng tạo của người tập

Trang 20

Việc thực hiện các yêu cầu của thể dục luôn luôn đòi hỏi người tập nỗ lựccao về thể chất và tinh thần Người tập nhìn nhận cái đẹp chuẩn xác và tinh tếhơn Thể dục là môn tiêu biểu cho sự kết hợp giữa trí dục và thể dục.

Quá trình tập luyện là quá trình phân tích và tổng hợp vận động, chủ độngđiều khiển hoạt động của cơ thể, hình thành những mối liên kết vận động mới,phát triển những khả năng vận động sẵn có Quá trình đó sẽ kích thích hoạt độngtrí tuệ và mang tính linh hoạt của các quá trình thần kinh

4 Từ chuyên môn trong thể dục (Thuật ngữ)

4.1 Khái niệm về từ chuyên môn trong thể dục

Thể dục là một hệ thống các bài tập đa dạng và phong phú, trong đó cáckhái niệm chuyên môn được diễn tả bằng ngôn ngữ, còn gọi là thuật ngữ chuyênmôn (từ chuyên môn trong thể dục) Trong thể dục, thuật ngữ giúp người tậpphân biệt được các động tác khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi trong giao tiếp,truyền thụ kiến thức giữa người dạy và người học Thuật ngữ thể dục bao gồmmột hệ thống tên gọi chuyên môn nhằm diễn đạt ngắn gọn các động tác thể dục,những khái niệm chung, tên gọi dụng cụ nhằm đảm bảo sự thống nhất cần thiếtcho người dạy và người học

Lịch sử phát triển thể dục đã hình thành hệ thống “từ chuyên môn trongthể dục” (Thuật ngữ thể dục), sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, dễ hiểu, chính xác,ngắn gọn do các cán bộ khoa học đầu ngành thể dục biên soạn

Thuật ngữ thể dục cho các bài tập thể dục bao gồm hai nhóm chính: Cácbài tập phát triển chung và các bài tập trên dụng cụ

Trước khi giới thiệu một số qui ước chính về từ chuyên môn trong thểdục, chúng ta cần thống nhất những khái niệm về trục cơ thể, mặt phẳng thựchiện động tác và phương hướng chuyển động

4.2 Trục cơ thể, mặt phẳng thực hiện động tác và phương hướng chuyển động.

2.2.1 Trục cơ thể

Trang 21

Gồm ba trục chính: Trục phải - trái, trục

trước - sau, trục trên - dưới (xem hình 1.1)

- Trục phải - trái: Là đường thẳng tưởng

tượng đi qua vai phải và trái Các động tác

chuyển động quanh trục này gồm: Lăn, lộn ra

trước và ra sau

Ví dụ: Lộn xuôi (trước), lộn ngược (sau)

Trục trước sau: Là đường thẳng tưởng tượng vuông góc với trục trái

-phải, đi từ trước ra sau

Các động tác chuyển động quanh trục này thuộc các dạng lộn về phía phảihoặc trái

Ví dụ: Lộn chống nghiêng hoặc lộn nghiêng trên không (phải - trái)

- Trục trên - dưới: Là đường thẳng tưởng tượng đi từ đỉnh đầu đến gót

- Mặt phẳng phải - trái: Là mặt phẳng cắt dọc cơ thể từ đầu đến chân,

chia toàn bộ cơ thể thành hai phần bên phải và bên trái

Các động tác chứa trong mặt phẳng này theo hai hướng ra trước và ra sau

Ví dụ: Từ chống cánh tay lăng lên trước

- Mặt phẳng trước sau: Là mặt phẳng cắt dọc cơ thể từ đầu đến chân, chia

cơ thể thành hai phần trước và sau

Trang 22

Các động tác chứa trong mặt phẳng này theo hai hướng bên phải và bêntrái

Ví dụ: Lộn nghiêng chống tay sang phải (trái)

- Mặt phẳng trên - dưới: Là mặt phẳng cắt ngang cơ thể thành các phần

trên, dưới

Các động tác chứa trong mặt phẳng này, gồm các động tác quay của toàn

bộ cơ thể hoặc một bộ phận cơ thể quanh trục dọc

Ví dụ: Nhảy quay 180° - 360° sang phải (trái)

4.4 Các hướng chuyển động cơ bản của tay và chân

a Phương hướng chuyển động của tay:

- Vị trí tay trong mặt phẳng trước - sau:

+ Tay ở dưới (hình 1.2a)

+ Tay chếch dưới (hình 1.2b)

+ Tay dang ngang (hình 1.2c)

+ Tay chếch cao (hình 1.2d)

+ Tay trên cao (hình 1.2e)

+ Tay chếch dưới bên trái (hình 1.2h)

+ Tay bên trái (hình 1.2i)

+ Tay chếch cao bên trái (hình 1.2k)

Trang 23

- Vị trí tay trong mặt phẳng phải - trái:

+ Tay ở dưới (hình 1.2m)

+ Tay chếch dưới (hình 1.2n)

+ Tay ở trước (hình 1.2o)

+ Tay chếch trên trước (hình 1.2p)

+ Tay trên cao (hình 1.2q)

+ Tay ở sau (hình 1.2r)

b Phương hướng vị trí của chân:

- Vị trí chân trong mặt phẳng trước - sau:

+ Chân phải ở dưới (hình 1.3a)

+ Chân phải dạng bên, mũi chân chạm đất (hình 1.3b).+ Chân phải chếch dưới phía bên (hình 1.3c)

+ Chân phải đưa ngang (hình 1.3d)

+ Chân phải chếch cao phía bên (hình 1.3e)

Trang 24

+ Chân phải trên cao phía bên (hình 1.3f).

- Vị

phẳng phải - trái:

+ Chân phải ở trước, mũi chân chạm đất (hình 1.3h)

+ Chân phải chếch dưới phía trước (hình 1.3i)

+ Chân phải đưa ngang phía trước (hình 1.3k)

+ Chân phải chếch cao phía trước (hình 1.31)

+ Chân phải ở sau, mũi chân chạm đất (hình 1.3m)

+ Chân phải chếch dưới phía sau (hình 1.3n)

+ Chân phải đưa ngang phía sau (hình 1.3o)

4.5 Một số quy ước về từ chuyên môn trong thể dục

4.5.2.Tay nắm dụng cụ (Hình 1.4)

- Nắm - cách cầm dụng cụ gồm có:

Trang 25

- Nắm sấp: Hai ngón cái hướng vào nhau trong tư thế treo và chống (hình

1.4a)

- Nắm ngửa: Hai ngón cái hướng

ra ngoài trong tư thế treo và chống (hình

1.4.b)

- Nắm sấp - ngửa: Một tay nắm

sấp, tay kia nắm ngửa (hình 1.4.c)

- Nắm vặn: Ngón cái hướng ra

ngoài, sau khi tay quay vào trong

- Nắm bắt chéo: Hai tay bắt chéo

qua nhau, cầm vào dụng cụ

- Nắm rộng: Khoảng cách hai tay

nắm rộng hơn vai

- Nắm hẹp: Khoảng cách hai tay nắm hẹp hơn vai.

4.5.3 Các tư thế và động tác chính

a Các tư thế của ngón tay:

- Khép ngón tay: Các ngón tay duỗi thẳng, sát nhau thành một khối.

- Ngón tay tự nhiên: Xoè tự nhiên, không dùng sức các cơ bàn tay.

- Ngón tay co: Dùng sức co các ngón tay, nếu co mạnh thì thành nắm đấm.

- Ngón tay mở: Xoè ngón tay, bàn tay duỗi thẳng.

- Ngón tay đan nhau: Các ngón tay xoè và đan vào nhau.

b Các tư thế của bàn tay (Hình 1.5).

- Bàn tay sấp: Lòng bàn tay hướng xuống dưới.

- Bàn tay ngửa: Lòng bàn tay hướng lên trên.

- Bàn tay hướng trước: Lòng bàn tay hướng về trước.

- Bàn tay hướng sau: Lòng bàn tay hướng về sau.

Trang 26

- Bàn tay hướng ngoài: Lòng bàn tay hướng ra ngoài.

- Bàn tay hướng trong: Lòng bàn tay hướng vào nhau về phía trong.

c Các tư thế của cánh tay và cẳng tay (Hình 1.6):

- Tay thẳng: Gồm các hướng sang bên, ra trước, lên cao, xuống dưới, các

tư thế tay thẳng chếch

- Tay co: Tay gập ở khớp khuỷu.

+ Tay co ở dưới vai: Tay chống hông

Tay co, bàn tay trên vai, co tay trước ngực, tay co sau lưng

Trang 27

+ Tay co, trên vai và ngang vai: Tay co, bàn tay trước ngực, bàn tay đểtrên và sau đầu, tay xếp trước ngực.

d Các tư thế của chân và toàn thân:

- Các tư thế đứng:

+ Đứng nghiêm (đứng ở tư thế cơ bản)

+ Đứng nghỉ: đứng trên mũi chân (kiễng gót), đứng trên gót chân, đứng cochân phải (trái), đứng tỳ trước - sau - bên (đứng trên một chân, chân kia tì đấtbằng mũi bàn chân)

+ Đứng chuyển: Từ tư thế đứng nghiêm, có sự di chuyển trọng tâm, sangphía chân bước ra, còn chân ở lại trở thành, chân tì

+ Đứng dạng: Từ tư thế đứng nghiêm, một chân bước sang bên (hoặc ratrước) rộng hơn hoặc bằng khoảng cách hai vai, trọng tâm dồn đều trên hai chân

+ Đứng bước rộng: Một chân bước về trước (hoặc sang bên) Chân bước

ra, gối khuỵu, thân và chân kia thẳng, trọng tâm dồn chủ yếu lên chân bước ra

+ Đứng thủ: Là tư thế đứng, một chân bước ra trước (sau hoặc sang bên).Chân bước ra luôn giữ thẳng, chân kia gối khuỵu Trọng tâm cơ thể chủ yếu dồnlên chân đứng tại chỗ, thân người và chân bước ra luôn giữ thẳng

+ Đứng một chân: Là tư thế đứng trên chân phải (trái), chân kia có thể cohoặc duỗi thẳng, đưa về trước, ra sau hoặc sang bên

Trang 28

+ Quì thăng bằng: Quì trên một chân, chân phải (trái) đưa ra sau, sangbên, ra trước.

+ Quì chống tay: Quì một hoặc hai chân, chống đất bằng một hoặc hai tay

- Các tư thế ngồi:

+ Ngồi cao: Tay dang ngang, tay ra trước Tay chống trước, tay chốnghông, ngồi cao trên nửa bàn chân; ngồi cao tay chống hông, ngồi trên một chân(chân kia đưa sang bên, ra trước, ra sau)

+ Ngồi thấp: Là ngồi mông tiếp xúc với mặt đất hoặc mặt dụng cụ Ngồithấp gồm co gối hoặc duỗi thẳng chân, dạng hoặc khép chân, ngồi thấp taychống sau, ngồi thấp chân trên cao

- Các tư thế nằm:

Gồm nằm sấp (mặt hướng đất); nằm ngửa (lưng hướng đất); nằm chốngsau Nằm chống trước; nằm thăng bằng tay dang ngang Nằm ngửa uốn cầu;nằm nghiêng chống một tay (thẳng hoặc co tay), tay kia đưa lên cao hoặc duỗithẳng dọc theo thân Nằm ngửa chống khuỷu tay

e Các động tác chính:

- Tư thế chuẩn bị (TTCB): Tư thế của người tập trước khi làm động tác.

- Tư thế kết thúc (TTKT): Tư thế của người tập sau khi làm xong động tác.

- Treo: Tư thế người tập trên dụng cụ, khi trục dụng cụ cao hơn trục vai.

- Chống: Tư thế tì vào dụng cụ, trục vai cao hơn trục dụng cụ (hai tư thế

treo và chống có hai loại đơn giản và hỗn hợp)

- Ngồi: Trường hợp ngồi chống hỗn hợp đặc biệt cần ghi rõ vị trí của tay

khi không chống vào dụng cụ

- Lên: Chuyển động đưa cơ thể từ thấp lên cao thành chống trên dụng cụ.

- Lên dùng sức: Chuyển động đưa cơ thể lên bằng sức co của cơ, không

dùng đà lăng

Trang 29

- Lên dùng đà lăng: Chuyển động đưa cơ thể lên bằng quán tính của đà

lăng

- Ngả: Chuyển nhanh cơ thể từ chống xuống treo hoặc từ chống cao

xuống chống thấp (thân và vai di chuyển theo đường vòng)

- Hạ: Chuyển chậm cơ thể từ chống xuống treo (thân và vai di chuyển

theo đường thẳng)

- Lăng: Chuyển động con lắc của cơ thể khi treo hoặc một số bộ phận cơ

thể khi chống

- Đu lăng: Chuyển động con lắc của cơ thể cùng với sự di chuyển của

dụng cụ từ điểm này đến điểm khác

- Lăng vượt: Chuyển động của một hoặc hai chân qua trên hay dưới dụng

cụ Tư thế của thân tương đối ổn định

- Lăng chéo (cắt chéo): Lăng chuyển hai chân chéo nhau cùng bên hay

khác bên

- Vòng: Chuyển động theo đường cong khép kín của một (hoặc hai) tay,

một (hoặc hai) chân

- Vòng cung: Chuyển động theo đường vòng không khép kín.

- Quay: Các bộ phận cơ thể xoay quanh trục dọc hoặc toàn thân xoay

quanh trục dọc

- Vòng lớn: Thân người quay đủ vòng quanh trục có bán kính lớn nhất.

- Lộn: chuyển động tròn, đủ vòng Trong đó, đầu qua phía dưới và phần

lớn các bộ phận cơ thể lần lượt tiếp xúc với mặt phẳng (mặt đất hoặc mặt dụngcụ)

- Lộn chống: Lộn có điểm chống của tay trên mặt đất hoặc một bộ phận

cơ thể trên dụng cụ

- Lộn trên không: Lộn không có điểm chống, thực hiện trong không gian.

- Lộn xoay vai: Lộn qua đầu từ tư thế treo thành treo nhờ xoay vai.

Trang 30

- Lăn: Chuyển động quay không qua đầu, trong đó phần lớn các bộ phận

cơ thể lần lượt tiếp xúc với mặt đất hoặc dụng cụ

- Tạo đà: Là chuyển động của cơ thể tạo ra tốc độ cần thiết để thực hiện

các động tác tiếp theo

- Chạy đà: Là chuyển động của cơ thể do chạy, tạo ra tốc độ cần thiết để

thực hiện động tác

- Xuống: Động tác rời dụng cụ, kết thúc bài tập.

- Chuối: Giữ tư thế thân thẳng đứng, chân hướng lên trên.

- Uốn cầu: Tư thế uốn cong thân người, lưng hướng đất, tay và chân

chống trên mặt đất hoặc mặt dụng cụ

- Thăng bằng: Tư thế nằm ngang của cơ thể trong tư thế chống, treo, đứng

trên một chân

- Làn sóng: Chuyển động hình sóng nhờ những cử động gập duỗi mềm

mại, thực hiện đồng thời hoặc lần lượt ở các khớp của cơ thể

- Xoạc: Tư thế chân dạng rộng về hai phía (trước - sau, phải - trái) tiếp

xúc với mặt đất hoặc mặt dụng cụ

- Chuyển: Sự di chuyển đổi hướng của cơ thể trên dụng cụ sang các phía

trong quá trình thực hiện động tác

Trang 31

Chương 2 ĐỘI NGŨ, ĐỘI HÌNH

1 Khái niệm, ý nghĩa của việc tập luyện đội ngũ, đội hình

a Khái niệm:

Đội ngũ, đội hình là một nội dung của thể dục trong tập luyện thể dục thể thao và quân sự

Đội ngũ: Là sự sắp xếp tương quan giữa người này với người khác, tổ

này với tổ khác hay đơn vị này với đơn vị khác trong tập thể

- Đội hình: Cũng chỉ sự sắp xếp tương quan giữa từng người, từng tổ hay

đơn vị trong tập thể nhưng có sự di chuyển biến hoá, dàn hàng và tạo hình

Ví dụ: vòng tròn, hình sin, hình xoáy trôn ốc

- Mối quan hệ giữa đội ngũ và đội hình:

Đội ngũ và đội hình có mối quan hệ rất chặt chẽ Trong đội ngũ có nhân tốcủa đội hình và ngược lại Nhưng không có đội ngũ thì không có đội hình Độihình là hình thức tập luyện biến hoá muôn hình muôn vẻ, được áp dụng rộng rãitrong đồng diễn thể dục

b Ý nghĩa của tập luyện đội ngũ, đội hình

- Nhằm rèn luyện ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức tập thể

- Giáo dục tư thế đúng, đẹp - tác phong nhanh nhẹn hoạt bát

- Giúp cho việc tổ chức học tập, huấn luyện thể thao, đồng thời là hìnhthức tổ chức, tập hợp quần chúng, biểu dương lực lượng

2 Danh từ chuyên môn thường dùng trong tập luyện đội ngũ, đội hình

- Hàng ngang: Là sự sắp xếp hàng ngũ, mà trong đó 1 trục phải - trái của

người này với người khác, đơn vị này với đơn vị khác tạo thành một đường

Ngày đăng: 03/12/2021, 18:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. D. Harre - Chủ biên (1996), Học thuyết huấn luyện, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: D. Harre
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
2. Đại học TDTT 1 (1994), Thể dục, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1994
3. Đại học TDTT 1 (2003), Giáo trình “Sinh lý học thể dục thể thao”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thể dục thể thao
Tác giả: Đại học TDTT 1
Nhà XB: NxbTDTT
Năm: 2003
4. Đại học TDTT 1 (2006), Lý luận và Phương pháp TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và Phương pháp TDTT
Tác giả: Đại học TDTT 1
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2006
5. Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội (2012), Giáo trình “Thể dục – tập 1”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Thể dục – tập 1”
Tác giả: Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2012
6. Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội (2013), Giáo trình “Thể dục – tập 2”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thể dục – tập 2”
Tác giả: Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2013
7. Trần Thị Hạnh Dung và Quách Văn Tỉnh (2003), Giáo trình “Giải phẫu học TDTT”, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫuhọc TDTT
Tác giả: Trần Thị Hạnh Dung và Quách Văn Tỉnh
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2003
8. Nguyễn Mậu Loan (1997), Giáo trình “Lý luận và phương pháp giảng dạy TDTT”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Lý luận và phương pháp giảng dạy TDTT”
Tác giả: Nguyễn Mậu Loan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Phạm Nguyên Phùng và Vũ Thị Thư (2001), Thể dục nhào lộn và Thể dục nghệ thuật, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục nhào lộn và Thể dục nghệ thuật
Tác giả: Phạm Nguyên Phùng, Vũ Thị Thư
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
10. Nguyễn Xuân Sinh (2000), Lịch sử Thể dục thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thể dục thể thao
Tác giả: Nguyễn Xuân Sinh
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2000
11. Đặng Đức Thao (1998), Thể dục dụng cụ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục dụng cụ
Tác giả: Đặng Đức Thao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Đặng Đức Thao (1998), Thể dục và phương pháp dạy học – (tập 1, 2, 3), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục và phương pháp dạy học – (tập 1, 2,3)
Tác giả: Đặng Đức Thao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Đặng Đức Thao và Phạm Nguyên Phùng (2001), Thể dục cơ bản và Thể dục thực dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục cơ bản vàThể dục thực dụng
Tác giả: Đặng Đức Thao và Phạm Nguyên Phùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w