Bài thu hoạch, Tiểu luận cao cấp lý luận chính trị, môn Triết: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở trong việc phát triển lý luận ở VN (Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn hơn 30 năm đổi mới của Đảng ta đã góp phần làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Con đường đó phản ánh tính phổ biến và tính đặc thù của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã rõ vẫn còn nhiều điều cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tìm câu trả lời cho những vấn đề do cuộc sống đặt ra, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI.) Đủ mười chín môn thì liên hệ không chín bốn hai, năm chín năm sáu chín sáu.
Trang 1MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam qua 91 năm xây dựng và trưởng thành đã giành được nhiều thành tựu quan trọng Đặc biệt giai đoạn từ khi đổi mới đến nay, kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốc phòng
và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao
Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong và ngoài nước không ngừng tấn công, chống phá ta, chúng thường tập trung vào lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm, có tác động lâu dài và khó lường Với âm mưu xảo quyệt, các thế lực thù địch liên tục và ráo riết tiến hành các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình"; thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng
ta để đi đến tan rã, như sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương: “Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng Từ thực tiễn trong quá trình công tác cùng với những tri thức trong môn Triết học được nghiên cứu trong chương trình Cao cấp lý luận chính trị em lựa chọn nội dung
“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được vận dụng trong thực
Trang 2tiễn cách mạng Việt Nam” để làm chủ đề viết thu hoạch Nội dung này nằm
trong mục 2 thuộc chuyên đề “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong việc phát triển lý luận ở Việt Nam”.
Trang 3NỘI DỤNG
Ngày nay, triết học là một trong ba bộ phận hợp thành hữu cơ không thể tách rời của chủ nghĩa Mác-Lênin Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng,
là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần
là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính
ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước
ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta
là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay
1 Khái niệm Thực tiễn và Lý luận
1.1 Thực tiễn
Hêghen – nhà triệt học duy tâm khách quan điển hình của người Đức cho rằng, “hoạt động có ý chí của ý niệm”, hoạt động tinh thần thế giới “ha hóa” thành giới tự nhiên, xã hội, lịch sử con người là thực tiễn – tức hoạt động tinh thần là hoạt động thực tiễn Các nhà tôn giáo cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của những lực lượng siêu nhiên là thực tiễn Có nhà triết học duy vật trước Mác cho hoạt động thực nghiệm khoa học là thực tiễn Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đầy đủ
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Từ quan niệm này của triết học duy vật biện chứng
về thực tiễn, chúng ta thấy thực tiễn có ba đặc trưng:
Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ
là những hoạt động vật chất cảm tính Đó là những hoạt động mà con người
Trang 4phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, làm thủy lợi, đắp đê, cày ruộng…
Hai là, những hoạt động mang tính lịch sử - xã hộ của con người Do
đó hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội
cụ thể Đồng thời, thực tiễn cũng trai qua những giai đoạn lịch sử phát triển
cụ thể
Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên
và xã hội phục vụ con người Khác với hoạt động có tính bản năng, tự phát của động vật nhằm thích nghi thụ động với thế giới, con người bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, chủ động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghị một cách chủ động, tích cực với thế giới
1.2 Lý luận
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
Lý luận có những đặc trưng:
Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ
Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có tri thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành
lý luận Tuy nhiên, không phải mọi tri thức kinh nghiệm đều có thể khái quát thành lý luận
Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ảnh được bản chất sự vật, hiện tượng
2 Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
2.1 Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn
Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát
từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn, phản ánh đúng thực tiễn đó, nếu không lý luận đó sẽ là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống dễ trở thành lý luận ảo tượng, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Bởi lẽ, thực tiễn có vai trò to lớn đối với lý luận Điều này thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận Hoạt động thực tiễn
của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại
Trang 5của con người Muốn sống, muốn tồn tại, con người phải sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên và xã hội, nghĩa là hoạt động thực tiễn Như vậy, con người quan hệ với thế giới xung quanh bắt đầu bằng và thông qua hoạt động thực tiễn Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật của mình Trên cơ sở đó, con người mới có hiểu biết về sự vật và dần dần có cơ sở để khái quát những hiểu biết này thành lý luận Như vậy, chính thực tiễn đã cung cấp vật liệu cho nhận thức, cho lý luận Có thể nói, mọi tri thức của con người xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Nói khác đi, thực tiễn là cơ sở của nhận thức, của
lý luận
Thực tiễn còn là cơ sở đề ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi con người trong đời sống của mình phải giải quyết Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức, lý luận phát triển Thực tiễn còn quy định khuynh hướng phát triển của lý luận Hơn nữa, thực tiễn luôn vận động biến đổi, phát triển luôn đòi hỏi phải được khát quát, tổng kết để làm giàu kinh nghiệm, phát triển lý luận, định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp theo Vì thế, thực tiễn luôn thúc đẩy cho sự ra đời của các ngành khoa học mới, của các lý luận mới
Thực tiễn đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được rất nhiều thành tựu nhưng cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tổng kết để bổ sung
lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đại hội XI của Đảng
đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận” Đại hội XII của Đảng tiếp tục đề ra nhiệm vụ “Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”
Thực tiễn còn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó, giúp con người nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn Thông qua hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến luôn chính bản thân mình, phát triển năng lực, trí tuệ của mình Ph Ăng ghen đã viết: “…Chính việc người ta biến đổi tự nhiên chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”
Hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn và khái quát lý luận đúng đắn hơn Chính nhu cầu chế tạo, cải tiến công cụ sản xuất cũng như công cụ, máy móc hỗ trợ con người, nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy, lý luận
và bản thân thực tiễn phát triển
Trang 6Như vậy, thực tiễn là cơ sở, động lực chủ yếu, trực tiếp của nhận thức, của lý luận Nhưng như thế không có nghĩa là mỗi người, mỗi thế hệ người đều phải lặp lại những hoạt động thực tiễn giống như ban đầu để có được những tri thức giống nhau Mỗi người, mỗi thế hệ người có thể tiếp thu, kế thừa những kinh nghiệm và tri thức của các thế hệ trước để bổ sung, phát triển làm giàu tri thức, lý luận của mình Nhưng những tri thức, kinh nghiệm được tiếp thu, kế thừa này, xét đến cùng đều trực tiếp, hoặc gián tiếp bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn
Thứ hai, thực tiễn là mục đích của lý luận Hoạt động nhận thức, lý
luận của con người ngay từ khi con người mới xuất hiện trên trái đất với tư cách là người đã bị quy định bởi nhu cầu tồn tại, nhu cầu sống, nhu cầu hoạt động thực tiễn của mình Để tồn tại, để sống, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh để có những hiểu biết nhất định về thế giới, trên cơ sở đó phải khái quát những hiểu biết của mình thành lý luận để định hướng cho những nhu cầu này cũng như hoạt động của mình Như vậy, chính nhu cầu sống, nhu cầu sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên, xã hội buộc con người phải tìm hiểu, khám phá, nhận thức thế giới xung quanh Nghĩa là, nhận thức của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn Nói cách khác, thực tiễn chính là mục đích của nhận thức, của lý luận Lịch sử phát triển của nhân loại
đã chứng tỏ, không có nhận thức vị nhận thức, không có lý luận vị lý luận, chỉ
có nhận thức thực tiễn, lý luận vị thực tiễn
Những tri thức - kết quả của nhận thức, những lý luận – kết quả của khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn chỉ có giá trị, có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn, cụ thể là vận dụng vào sản xuất vật chất, cải tạo chính trị - xã hội, vào thực nghiệm khoa học phục vụ con người Nói cách khác đi, thước đo đánh giá giá trị của lý luận, của nhận thức chính là thực tiễn Nếu nhận thức, lý luận không vì thực tiễn, không nhằm phục vụ, soi đường dẫn dắt chỉ đạo thực tiễn mà vì chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức thì nhất định sẽ mất phương hướng, phải trả giá
Thứ ba, thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận Tri
thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức Tri thức ấy có thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan Theo triết học Mác-Lênin, chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông Chân lý cũng không phải
là cái gì đó hiển nhiên Chân lý cũng không phải chỉ là cái có ích, cái có lợi Triết học Mác - Lênin cho rằng, chân lý là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Như chúng
ta đã biết, dù tồn tại dưới hình thức nào thì thực tiễn đều là những hoạt động vật chất – cảm tính Chính bằng và thông qua những hoạt động vật chất – cảm
Trang 7tính này con người mới có những hiểu biết về sự vật, hiện tượng Con người
có được những hiểu biết về thế giới thông qua hoạt động thực tiễn Do vậy, cũng chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn con người mới chứng minh được những tri thức – sự hiểu biết mà mình có được là chân lý hay là sai lầm Hơn nữa, chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, con người mới “vật chất hóa” tri thức, “hiện thực hóa được tư tưởng” Trong quá trình ‘vật chất hóa” tri thức,
“hiện thực hóa tư tưởng” đó, con người mới khẳng định được chân lý, bác bỏ
được sai lầm Cho nên, C.Mác trong Luận cương về Phoiơbắc đã khẳng định:
“Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan
không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là vấn đề thực tiễn.
Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là
một vấn đề kinh viện thuần túy” Khi đọc Hêghen, V.I.Lênin cũng khẳng định: “… con người chứng minh bằng thực tiễn của mình sự đúng đắn khách
quan của những ý niệm, khái niệm, tri thức của mình, của khoa học của
mình” Ph.Ăngghen trong Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ
điển Đức cũng khẳng định: “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự
vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác (những quan niệm
triết học sai lầm – tác giả nhấn mạnh), là thực tiễn, chính là thực nghiệm và
công nghiệp” Chính vì vậy, thực tiễn cũng là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng sai của lý luận Có nhiều hình thức hoạt động thực tiễn khác nhau, do vậy cũng
có nhiều hình thức kiểm tra sự đúng, sai của lý luận khác nhau, chẳng hạn như bằng thực nghiệm khoa học; bằng việc áp dụng lý luận vào cải biến xã hội Vì vậy, việc sử dụng thực tiễn như là phương thức kiểm tra chân lý, bác
bỏ sai lầm cũng phải linh hoạt, mềm dẻo, không được cứng nhắc
Với tư cách là tiêu chuẩn chân lý, thực tiễn vừa có tính tuyệt đối, vừa
có tính tương đối Tính tuyệt đối của thực tiễn với tư cách là tiêu chuẩn chân
lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử - cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Ngoài thực tiễn ra
không gì có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối của thực
tiễn với tư cách là tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển, do đó, với tư cách là tiêu chuẩn chân lý nó cũng không đứng im mà thay đổi Hơn nữa đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “Không
bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào
đó của con người, dủ biểu tượng ấy là thế nào đi chăng nữa” Vì vậy, khi thực tiễn thay đổi thì nhận thức, lý luận cũng phải thay đổi theo cho phù hợp thực tiễn mới Cũng vì vậy, thực tiễn được xem xét trong không gian càng rộng, trong thời gian càng dài thì càng rõ đâu là chân lý, đâu là sai lầm Những người mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa thường lấy thực tiễn vụn vặt để
Trang 8chứng minh cho luận điểm của mình Do đó, thực tiễn ấy không mang tính điển hình và tính phổ biến
Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận là phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động Quan điểm thực tiễn đòi hỏi nhận thức sự vật, nhận thức lý luận phải gắn với nhu cầu thực tiễn; phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận, chủ trương, đường lối, chính sách; phải tăng cường tổng kết thực tiễn để kiểm tra
lý luận, chủ trương, đường lối, chính sách và kịp thời bổ sung, điều chỉnh, phát triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách cho phù hợp với thực tiễn mới Phải thấm nhuần lời căn dặn của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
2.2 Thực tiễn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học, nếu không sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm
Thực tiễn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học, nếu không sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm, mất phương hướng, không
có tính hướng đích Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở:
“Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng” Bởi lẽ,
lý luận khoa học có vai trò to lớn đối với thực tiễn Điều này thể hiện ở những quan điểm sau:
Thứ nhất, lý luận khoa học đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo
thực tiễn Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận khoa học có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người
Lý luận khoa học vạch ra phương hướng, phương pháp cho hoạt động thực tiễn, nhằm biến đổi hiện thực khách quan theo hướng tiến bộ vì lợi ích của con người Nếu thực tiễn không được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học thì thực tiễn đó sẽ rơi vào mò mẫm, vòng vo, mất thời gian, tốn công sức, tiền của, không hiệu quả
Thứ hai, lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên,
tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng Lý luận khoa học góp phần định hướng cho quần chúng trong cuộc sống và trong hoạt động thực tiễn Do vậy, khi lý luận khoa học thâm nhập được vào đông đảo quần chúng sẽ tạo thành khối thống nhất giữa lý luận và quần chúng để cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người
Thứ ba, lý luận, nếu phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sự
vật, của thực tiễn sẽ góp phần dự báo, định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn; giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn
Trang 9Thứ tư, lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa
học về tự nhiên, xã hội và về bản thân con người Trên cơ sở những tri thức khoa học đó, con người có thể thông qua hoạt động thực tiễn làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân phục vụ cho mục đích của mình
Thứ năm, lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy, nó
có thể thông qua hoạt động thực tiễn tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn Lý luận có vai trò tác động tích cực đối với thực tiễn, một khi nó phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, thâm nhập được vào đông đảo quần chúng nhân dân và được con người vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tiễn, lịch sử - cụ thể Nếu lý luận sai lầm, ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, kinh nghiệm, v.v… sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với thực tiễn
Mức độ, hiệu quả tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của lý luận; mức độ thâm nhập của lý luận vào quảng đại quần chúng nhân dân; vào
sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận hay không bởi chủ thể hoạt động thực tiễn
Qua đó, chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận là phải thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận cho bản thân Phải thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi” Tuy nhiên, khi học tập lý luận không được tuyệt đối hóa lý luận; học tập lý luận thì phải liên hệ với thực tiễn đất nước và thời đại Phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả Do đó,
trong lúc học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: “Lý luận phải liên hệ với
thực tế”.
3 Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc phát triển lý luận ở Việt Nam
3.1 Ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều:
3.1.1 Bệnh kinh nghiệm
Kinh nghiệm đóng vai trò hết sức to lớn trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn của con người Nhưng nếu tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường, hạ thấp lý luận, không chiu học tập lý luận thì sẽ mắc bệnh kinh nghiệm Biểu hiện của căn bệnh này rất đa dạng, như coi thường lý luận, coi thường học tập lý luận; cho kinh nghiệm là yếu tố duy nhất quyết định mọi thành công trong nhận thức và hoạt động thực tiễn; không đánh giá đúng vai trò của đội ngũ trí thức, v.v Bệnh kinh nghiệm, về bản chất là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm cá biệt, cụ thể; biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biên nhằm áp dụng những kinh
Trang 10nghiệm này cho mọi trường hợp, mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, hạ thấp, coi thường lý luận Người mắc bệnh kinh nghiệm thường nhân danh đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận Trên thực tế, “thực tiễn” mà họ đề cao là là thực tiễn cục bộ, vụn vặt, chưa chính thể, chưa toàn vẹn, chưa mang tính phổ biến Về thực chất, những người mắc bệnh kinh nghiệm không chỉ hạ thấp lý luận mà
hạ thấp cả thực tiễn
Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm có nhiều, chẳng hạn như ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ, lúa nước, theo mùa, theo chu kỳ; ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, phong kiến; ảnh hưởng của kinh nghiệm chiến tranh du kích quá lâu dài, … Nhưng nguyên nhân cơ bản, trực tiếp là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn của cán bộ, đảng viên
Để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả thì phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như: Thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để khắc phục ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ; khắc phục tư tưởng gia trưởng, phong kiến, như tư tưởng coi thường trí thức, tuyệt đối hóa kinh nghiệm của người cao tuổi, … Đặc biệt, phải quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng đúng quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn
3.1.2 Bệnh giáo điều:
Về bản chất, bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường hạ thấp thực tiễn, không đánh giá đúng vai trò của thực tiễn trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động lý luận, hoặc
áp dụng lý luận và kinh nghiệm không tính tới điều kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể
Việt Nam có hai loại bệnh giáo điều Một là, giáo điều lý luận, thể hiện
ở chỗ vận dụng lý luận không căn cứ vào những điều kiện thực tiễn – cụ thể; học tập lý luận tách rời thực hiện, xa rời cuộc sống, rơi vào bệnh sách vở; bệnh “tầm chương, trích cú”; bệnh câu chữ, … Hai là, giáo điều kinh nghiệm, thể hiện ở chỗ, vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào mình nhưng không tính tới những điều kiện thực tiễn lịnh sử - cụ thể của mình
Bệnh giáo điều ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân như: Ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp quá lâu; ảnh hưởng của tư tưởng tiêu tư sản, như bệnh thành tích, bệnh hình thức, … Đặc biệt là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và không hiểu quan hệ biện chứng giữ lý luận và thực tiễn ở một số cán bộ, đảng viên Đây là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp nhất của căn bệnh giáo điều ở Việt Nam