1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG TIN HỌC

29 985 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 229 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần cho sự phát triển vượt bậc này là nhờ vào thành quả của việc nghiên cứu khoa học - là một trong những hoạt động phát triển nhanh nhất hiện nay, nó đang nghiên cứu giải quyết tất

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC CNTT

BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TRONG TIN HỌC

Họ tên học viên : NGÔ PHƯƠNG BÌNH

Trang 2

TP HCM, naêm 2012

Trang 3

Lời mở đầu

0

Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên bùng nổ công nghệ thông tin, mọi thành tựu khoa học và công nghệ đều xuất hiện một cách hết sức mau lẹ và cũng nhanh chóng thay đổi Góp phần cho sự phát triển vượt bậc này là nhờ vào thành quả của việc nghiên cứu khoa học - là một trong những hoạt động phát triển nhanh nhất hiện nay, nó đang nghiên cứu giải quyết tất cả các góc cạnh vấn đề của thế giới, và những thành tựu do nó đem lại đã được ứng dụng rộng rãi vào trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đã làm đảo lộn nhiều quan niệm truyền thống, làm cho năng suất sản xuất xã hội tăng lên hàng trăm lần so với vài thập niên trước đây.

Song song với sự phát triển này, con người có được những hiểu biết sâu sắc về thế giới, đặc biệt là những hiểu biết về phương pháp nhận thức thế giới Cho nên phương pháp nghiên cứu khoa học đã gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới Và cũng chính vì vậy mà hiện nay việc nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học nói riêng ngày càng trở nên cần thiết.

Do thời gian tìm hiểu về “phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học” hạn hẹp, nên trong phạm vi của bài thu hoạch này, em sẽ trình bày sơ lược một số phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung, phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học mà em thu thập được trong quá trình học tập Và qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn đến GS TS Hoàng Văn Kiếm

- người thầy đã tận tình truyền đạt những kiến thức cơ bản cho em về môn học “Phương pháp nhiên cứu khoa học trong tin học”

Trang 4

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1) Khái niệm :

Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, cáckhái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải

hiểu được khái niệm khoa học là gì?

Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên

cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau Ơû mức độ

chung nhất, khoa học được hiểu như sau : Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra

từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học.

Từ hiểu biết trên đây về khoa học ta thấy rõ ràng rằng phương pháp làphạm trù trung tâm của phương pháp nghiên cứu khoa học Vậy phương phápnghiên cứu khoa học là gì ?

Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thựctiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quátrình nghiên cứu khoa học Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những sự vật hiện tượng

chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các sự vật hiện tượng đó.Nhưng bản chất bao giờ cũng bị che khất bên trong bản chất của sự vật hiệntượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu bên trong hiện tượng và nhận rađược quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiêncứu khoa học đúng đắn Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của quá trìnhnhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu Đến lượt mình, phương pháp làcông cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó.Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụngphương pháp

Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con

người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó Phương pháp nghiên cứu khoa học

chính là con đường dẫn dắt nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo

Trên đây là những khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học Để cóđược sự hiểu biết sâu sắc hơn và cái nhìn toàn diện hơn về phương pháp nghiêncứu khoa học chúng ta cần đi sâu tìm hiểu những đặc điểm của phương phápnghiên cứu khoa học

Trang 5

2) Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp bao giờ cũng là những cách thức làm việc của chủ thể nhằmvào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là : chủ thể và đối tượng

Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủthể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan Mặt chủ quan của phương phápchính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiệntrong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng đểkhám phá chính đối tượng

Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từđặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phươngpháp có mặt khách quan Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cáchkia trong hoạt động của chủ thể Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọnphương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cáikhách quan Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưngnhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp Ý thức về sự sáng tạo của conngười phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới

Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mụcđích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi vàlựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chínhxác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượtqua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu

Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiêncứu Phương pháp là hình thức vận động của nội dung Nội dung công việc quyđịnh phương pháp làm việc Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụthể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng

Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệthống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu Sự thành côngnhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện đượchay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ýthức

Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần cócác phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao Phương tiện và phươngpháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứvào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu củaphương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần

Trang 6

phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó Chính cácphương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chínhxác cao.

PHÂN LOẠI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học Ở đây ta đề cập đến phân loạitheo chức năng nghiên cứu và theo tính chất của sản phẩm tri thức khoa học thuđược từ kết quả nghiên cứu

PHẦN I : Phân loại theo chức năng :

Nghiên cứu mô tả : là những nghiên cứu nhằm tạo ra một hệ thống tri

thức về sự nhận dạng sự vật, giúp con người phân biệt được sự khácnhau về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác Nội dung mô tả cóthể bao gồm mô tả hình thái, động thái, tương tác; mô tả định tính tứclà các đặc trưng về chất của sự vật; mô tả định lượng nhằm chỉ rõ cácđặc trưng về lượng của sự vật

Nghiên cứu giải thích : là những nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những

nguyên nhân dẫn đến sự hình thành sự vật, cũng như những quy luậtchi phối đến quá trình vận động của sự vật Nội dung của giải thích cóthể bao gồm giải thích nguồn gốc; động thái; cấu trúc; tương tác; hậuquả; quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật

Nghiên cứu dự báo: là những nhiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái

của sự vật trong tương lai Mọi dự báo đều phải chấp nhận có nhữngsai lệch, kể cả trong nghiên cứu tự nhiên và xã hội Sự sai lệch trongkết quả dự báo có thể do nhiều nguyên nhân : sai lệch khách quantrong kết quả quan sát, sai lệch do những luận cứ bị biến dạng do sựtác động của các sự kiện khác …

Nghiên cứu sáng tạo, là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chưa

từng tồn tại Khoa học không bao giờ dừng lại ở mô tả và dự báo màluôn hướng vào sự sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới

PHẦN II : Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu :

Theo tính chất của sản phẩm, nghiên cúu được phân loại thành nghiên cứu cơbản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai

Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research) là những nghiên cứu nhằm

phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vậtvà mối liên hệ giữa sư vật với các sự vật khác Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có

Trang 7

thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến viêc hình thành một hệ thốnglý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học,chẳng hạn Newton phát minh định luật hấp dẫn vũ trụ; Marx phát hiện quy luậtgiá trị thặng dư Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại : nghiên cứu cơ bảnthuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng.

- Nghiên cứu cơ bản thuần túy, còn được gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hoặcnghiên cứu cơ bản không định hướng, là những nghiên cứu về bản chất sự vật đểnâng cao nhận thức, chưa có hoặc chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng

- Nghiên cứu cơ bản định hướng, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiếntrước mục đích ứng dụng, các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xãhội, … đều có thể xem là nghiên cứu cơ bản định hướng Nghiên cứu cơ bản định

hướng được phân chia thành nghiên cứu nền tảng (background research) và nghiên cứu chuyên đề (thematic research).

- Nghiên cứu nền tảng, là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệthống sự vật Hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiênnhư địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng; điều tra cơ bản về kinhtế, xã hội đều thuộc loại nghiên cứu nền tảng

- Nghiên cứu chuyên đề, là nghiên cứu về một hiên tượng đặc biệt của sựvật, ví dụ trạng thái plasma của sự vật, bức xạ vũ trụ, gien di truyền Nghiên cứuchuyên đề vừa dẫn đến hình thành những cơ sở lý thuyết, mà còn dẫn đến nhữngứng dụng có ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu ứng dụng (Applied research) : là sự vận dụng quy luật

được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyênlý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xúât và đời sống Giải phápđược hiểu theo nghĩa rộng có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổchức và quản lý Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế Kết quảnghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được, để có thể đưa kết quả nghiên cứuứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác có têngọi là triển khai

Nghiên cứu triển khai (Development research) : còn gọi là nghiên cứu

triển khai thực nghiệm hay triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các

quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu

ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật Kết quả

nghiên cứu triển khai thì chưa triển khai được: sản phẩm của triển khai chỉ mới lànhững hình mẫu khả thi về kỹ thuật, nghĩa là không còn rủi ro về mặt kỹ thuật, đểáp dụng được còn phải tiến hành nghiên cứu những tính khả thi khác như khả thi

Trang 8

tài chính, khả thi kinh tế, khả thi môi trường, khả thi xã hội Hoạt động triển khaibao triển khai trong phòng thí nghiệm và triển khai bán đại trà.

 Triển khai trong phòng thí nghiệm : là loại hình triển khai nhằm khẳngđịnh kết quả sao cho ra được sản phẩm, chưa quan tâm đến quy mô ápdụng trong những nghiên cứu về công nghệ, loại hình này được thựchiện trong các phòng thí nghiệm, labô công nghệ, nhà kính Trên mộtquy mô lớn hơn, hoạt động triển khai cũng được tiến hành trong cácxưởng thực nghiệm thuộc viện hoặc xí nghiệp sản xuất

 Triển khai bán đại trà : trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹthuật và khoa học công nghệ là một dạng triển khai nhằm kiểm chứnggiả thuyết về hình mẫu trên một quy mô nhất định, thường là quy môáp dụng bán đại trà, hay quy mô bán công nghiệp

Khái niệm triển khai được áp dụng cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật vàxã hội; trong các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai được ápdụng khi chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới; trong các nghiêncứu khoa học xã hội có thể lấy ví dụ về thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ởcác lớp thí điểm; chỉ đạo thí điểm một mô hình quản lý mới tại một cơ sở được lựachọn

Sự phân chia loại hình nghiên cứu như trên đây được áp dụng phổ biến trênthế giới Phân chia là để nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, để có cơsở lập kế hoạch nghiên cứu, cụ thể hóa các cam kết trong hợp đồng nghiên cứugiữa các đối tác Tuy nhiên trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loạihình nghiên cứu, hoặc tồn tại hai trong ba loại hình nghiên cứu

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC :

1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứuthành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiêncứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúpchúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cáichung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy

Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giácđược nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó

Trang 9

Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phảiphân chia nó theo cấp bậc.

Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung,thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổbiến Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải:

 Xác định tiêu thức để phân chia

 Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu

 Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung.Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp Tổng hợp là quá trình ngược vớiquá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cáikhái quát

Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thứcđầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượngnghiên cứu

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổsung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tínhquy luật của bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắntiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phậnấy, có ý nghĩa rất quan trọng Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộcvề khả năng liên kết các kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khảnăng trìu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh địnhlượng khác nhau Với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật do tính chính xác quyđịnh, mặt phân tích định lượng có vai trò khá quyết định kết quả nghiên cứu Quátrình tổng hợp, định tính ở đây hoặc giả là những phán đoán, dự báo thiên tai, chỉđạo cả quá trình nghiên cứu, hoặc giả là những kết luận rút ra từ phân tích địnhlượng Trong các ngành khoa học xã hội- nhân văn, sự hạn chế độ chính xác trongphân tích định lượng làm cho kết quả nghiên cứu lệ thuộc rất nhiều vào tổng hợp,định tính Song chính đặc điểm này dễ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch donhững sai lầm chủ quan duy ý chí

2 Phương pháp quy nạp và diễn giải :

Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rờirạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chấtcủa một đối tượng nào đó

Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quynạp thành những nguyên lý chung Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là

Trang 10

sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại,biểu hiện thông qua cái riêng Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìmmối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mốiquan hệ giữa bản chất và hiện tượng Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất.Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa

ra giải pháp Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc pháthiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết

Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giảthuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụthể nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu

Phương pháp diễn giải ngược lại với phương pháp quy nạp Đó là phươngpháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra cáchiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng.Phương pháp diễn giải nhờ vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ mônkhoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giảthuyết, và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận, định lý, công thức.Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau songliên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cáiriêng Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó màviệc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải Phươngpháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp vào việcnghiên cứu đối tượng

3 Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc

Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai mặt biểu hiện của phươngpháp biện chứng mácxít Tính thống nhất và tính khác biệt của nó cũng bắt nguồntừ tính thống nhất và tính khác biệt của hai phạm trù lịch sử và lôgíc

a Phương pháp lịch sử :

Các đối tượng nghiên cứu (sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triểntheo những hoàn cảnh cụ thể của nó, tạo thành lịch sử liên tục được biểu hiệntrong sự đa dạng, phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ có cả tất nhiên và ngẫu nhiên.Phương pháp lịch sử là phương pháp thông qua miêu tả tái hiện hiện thực với sựhỗn độn, lộn xộn, bề ngoài của các yếu tố, sự kiện kế tiếp nhau, để nêu bật lêntính quy luật của sự phát triển Hay nói cách khác, phương pháp lịch sử là phươngpháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển vàbiến hoá của đối tượng, để phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng Do đóphương pháp lịch sử có những đặc điểm sau :

Trang 11

- Nó phải đi sâu vào tính muôn màu muôn vẻ của lịch sử, tìm ra cái đặcthù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến Và trên cơ sở nắm được những đặcthù cá biệt đó mà trình bày thể hiện cái phổ biến của lịch sử.

- Phương pháp lịch sử còn yêu cầu chúng ta phải tìm hiểu cái không lặp lạibên cái lặp lại Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn, nhưng khôngbao giờ diễn lại hoàn toàn như cũ Phương pháp lịch sử phải chú ý tìm racái khác trước, cái không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử

- Phương pháp lịch sử lại yêu cầu chúng ta phải theo dõi những bước quanh

co, thụt lùi tạm thời…của phát triển lịch sử Bởi vì lịch sử phát triển muônmàu muôn vẻ, có khi cái cũ chưa đi hẳn, cái mới đã nảy sinh Hoặc khicái mới đã chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầutồn tại trong một chừng mực nhất định Phương pháp lịch sử phải đi sâuvào những uẩn khúc đó

Tóm lại, mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều có lịch sử củamình, tức là có nguồn gốc phát sinh, có quá trình vận động phát triển và tiêu vong.Quy trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính cụ thể của nó, với mọi sự thayđổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp,muôn hình muôn vẻ, trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời giannhất định Đi theo dấu vết của lịch sử chúng ta sẽ có bức tranh trung thực về bảnthân đối tượng nghiên cứu Phương pháp lịch sử yêu cầu làm rõ quá trình pháttriển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tínhphong phú của nó, phải bám sát sự vật, theo dõi những bước quanh co, những ngẫunhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển Từ cái lịch sửchúng ta sẽ phát hiện ra cái quy luật phát triển của đối tượng.Tức là tìm ra cáilôgíc của lịch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học

Phương pháp lôgíc

Nếu phương pháp lịch sử là nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lịch sử thìphương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các hiệntượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy luật,khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng Do đó phương pháp lôgíc cónhững đặc điểm sau :

Phương pháp lôgíc nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặplại của các hiện tượng Muốn vậy, nó phải đi vào nhiều hiện tượng, phân tích, sosánh, tổng hợp… để tìm ra bản chất của hiện tượng

Nếu phương pháp lịch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùitạm thời của lịch sử, thì phương pháp lôgíc lại có thể bỏ qua những bước đó, màchỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của

Trang 12

nó, tức là nắm lấy quy luật của nó Lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử mộtcách đơn thuần, mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo quyluật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại Nhờ những đặc điểm đó mà phươngpháp lôgíc có những khả năng riêng là :

Phương pháp lôgíc giúp chúng ta nhìn nhận ra cái mới Bởi vì, lôgíc là sựphản ánh của thế giới khách quan vào ý thức con người, mà thế giới khách quanthì không ngừng phát triển, cái mới luôn luôn nảy sinh Do luôn luôn chú ý đến cáiphổ biến, cái bản chất mà tư duy lôgíc dễ nhìn thấy những bước phát triển nhảyvọt và thấy cái mới đang nảy sinh và phát triển như thế nào Đặc điểm của cáimới là nó khác về chất với cái cũ Mặc dù là hình thức thì chưa thay đổi, nhưngchất mới đã nảy sinh

- Do thấy được mầm mống của cái mới mà phương pháp lôgíc có thể giúp

ta thấy được hướng đi của lịch sử, nhằm chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới

- Phương pháp lôgíc còn có ưu điểm là giúp chúng ta tác động tích cựcvào hiện thực, nhằm tái sản sinh ra lịch sử ở một trình độ cao hơn, nghĩa là chủđộng cải tạo, cải biến lịch sử, nhờ đó nắm được những quy luật khách quan đó

PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ - BÀI TOÁN TIN HỌC : 1) Phương pháp trực tiếp :

Đặc điểm của cách giải quyết vấn đề này là xác định trực tiếp được lờigiải thông qua một số thuật giải tính toán, hoặc qua các bước căn bản để có đượclời giải Đối với phương pháp này, việc giải quyết vấn đề trên máy tính chỉ là thaotác lập trình hay là sự chuyển đổi lời giải từ ngôn ngữ bên ngoài sang các ngônngữ được sử dụng trong máy tính Tìm hiểu về phương pháp này chính là tìm hiểuvề kỹ thuật lập trình trên máy tính

Để thực hiện tốt phương pháp trực tiếp, ta nên áp dụng các nguyên lý :

- Nguyên lý 1 : Chuyển đổi dữ liệu bài toán thành dữ liệu của chương trình,

có nghĩa là “Dữ liệu của bài toán sẽ được biểu diễn lại dưới dạng các biến của

chương trình thông qua các quy tắc xác định của ngôn ngữ lập trình cụ thể”.

- Nguyên lý 2 : Chuyển đổi quá trình tính toán của bài toán thành các cấu

trúc của chương trình, có nghĩa là “Mọi quá trình tính toán đều có thể mô tả và

thực hiện dựa trên ba cấu trúc cơ bản : Cấu trúc tuần tự, rẽ nhánh và lặp”.

- Nguyên lý 3 : Biểu diễn các tính toán chính xác, có nghĩa là “Chương

trình tính toán theo các biểu thức chính xác không đồng nhất với quá trình tính toán chính xác về mặt hình thức ”

Trang 13

- Nguyên lý 4 : Biểu diễn các tính toán gần đúng bằng cấu trúc lặp, có

nghĩa là “Mọi quá trình tính toán gần đúng đều dựa trên các cấu trúc lặp với tham

số xác định ”.

- Nguyên lý 5 : Phân chia bài toán ban đầu thành những bài toán nhỏ hơn,

có nghĩa là “Mọi vấn đề - bài toán đều có thể giải quyết bằng cách phân chia

thành những vấn đề - bài toán nhỏ hơn ”.

- Nguyên lý 6 : Biểu diễn các tính toán không tường minh bằng đệ quy, có

nghĩa là “Quá trình đệ quy trong máy tính không đơn giản như các biểu thức quy

nạp trong toán học ”

2) Phương pháp gián tiếp :

Phương pháp này được sử dụng khi chưa tìm ra lời giải chính xác của vấnđề Đây cũng chính là cách tiếp cận chủ yếu của loài người từ xưa đến nay Điểmkhác ở đây là chúng ta đưa ra những giải pháp mang đặc trưng của máy tính, dựavào sức mạnh tính toán của máy tính Chúng ta có thể áp dụng các phương phápgián tiếp như sau :

a) Phương pháp thử – sai :

Khi xây dựng lời giải bài toán theo phương pháp thử – sai, người ta thườngdựa vào 3 nguyên lý sau :

- Nguyên lý vét cạn : Đây là nguyên lý đơn giản nhất, liệt kê tất cả các

trường hợp có thể xảy ra

- Nguyên lý ngẫu nhiên : Dựa vào việc thử một số khả năng được chọn

một cách ngẫu nhiên Khả năng tìm ra lời giải đúng phụ thuộc rất nhiều vào chiếnlược chọn ngẫu nhiên

- Nguyên lý mê cung : Nguyên lý này được áp dụng khi chúng ta không

thể biết được chính xác “hình dạng” lời giải mà phải xây dựng dần lời giải quatừng bước một giống như tìm đường đi trong mê cung

Để thực hiện tốt phương pháp thử - sai, chúng ta nên áp dụng nguyên lý :

- Nguyên lý vét cạn toàn bộ : Muốn tìm được cây kim trong đống rơm,

hãy lần lượt rút ra từng cọng rơm cho đến khi rút được cây kim

- Nguyên lý mắt lưới : Lưới bắt cá chỉ bắt được những con cá có kích

thước lớn hơn kích thước mắt lưới

- Nguyên lý giảm độ phức tạp của thử và sai : Thu hẹp trường hợp trước

và trong khi duyệt, đồng thời đơn giản hóa tối đa điều kiện chấp nhận một trườnghợp

Trang 14

- Nguyên lý thu gọn không gian tìm kiếm : Loại bỏ những trường hợp

hoặc nhóm trường hợp chắc chắn không dẫn đến lời giải

- Nguyên lý đánh giá nhánh cận : Nhánh có chứa quả phải nặng hơn

trọng lượng của quả

Ví dụ : Cho 3 dãy số nguyên X, Y, Z lần lượt gồm M, N và K phần tử đã

được sắp theo thứ tự không giảm Tìm các phần tử giống nhau có trong X, Y, Z

Để giải bài toán trên ta dùng nguyên lý vét cạn như sau :

}

b) Phương pháp Heuristic :

Phương pháp thử – sai khi giải quyết vấn đề bằng cách dùng một số lượngphép thử quá lớn, thời gian để có được kết quả có khi khá lâu không chấp nhậnđược Phương pháp Heuristic có đặc điểm là đơn giản và gần gũi với cách suy nghĩcủa con người, cho ra được những lời giải đúng trong đa số các trường hợp ápdụng Các thuật giải Heuristic được xây dựng dựa trên một số nguyên lý rất đơngiản như “vét cạn thông minh”, “tối ưu cục bộ” (Greedy), “hướng đích”, “sắp thứtự”, Đây là một số thuật giải khá thú vị và có rất nhiều ứng dụng trong thựctiễn

Để thực hiện tốt phương pháp Heuristic, ta nên áp dụng các nguyên lý :

Ngày đăng: 06/07/2015, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w