Nhiều năm qua, Việt Nam là một nước có nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới như: xây dựng và ban hành văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, là một trong các quốc
Trang 1MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vấn đề bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ vào tạo điều kiện để phụ nữ được tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong các văn kiện thành lập Ðảng tháng 2-1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một chủ trương lớn về “thực hiện nam nữ bình quyền” Trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ:
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện” Ðiều đó chứng tỏ, ngay
từ khi thành lập Ðảng, vấn đề bình đẳng giới đã được Bác Hồ và Ðảng ta hết sức coi trọng trong xây dựng đường lối cách mạng Nhiều năm qua, Việt Nam là một nước có nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới như: xây dựng và ban hành văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, là một trong các quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới, là nước dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các chỉ số bình đẳng giới
Tuy nhiên, ở Việt Nam, bên cạnh các thành tựu đạt được về bình đẳng giới, chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là tình trạng bất bình đẳng giới còn diễn ra trên một số lĩnh vực, tồn tại dưới một số hình thức khác nhau Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành công đáng kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng giới trên hành trình đến với các vị trí lãnh đạo, quản lý Xuất phát từ thực tiễn đó,
qua nghiên cứu môn học Giới trong lãnh đạo quản lý em chon đề tài “Thực trạng
về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam và một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ nữ trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” làm bài
thu hoạch kết thúc môn của mình Bài viết tập trung mô tả thực trạng bình đẳng giới trong tham chính và góp phần gợi ý một vài hàm ý chính sách nhằm từng bước tăng cường hơn nữa vị thế chính trị cho phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ
Trang 2nữ huyện Định Hóa nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay
NỘI DUNG
1 THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm bình đẳng và Bình đẳng giới
1.1.1 Khái niệm bình đẳng
Khái niệm bình đẳng có nhiều định nghĩa và phạm vi áp dụng Theo nghĩa hẹp, những người đạt đến cấp độ như nhau dựa trên một số tiêu chí được sử dụng
để đánh giá cần phải được hưởng những quyền lợi giống nhau Ở đây, chúng ta hiểu Bình đẳng nghĩa là tạo ra môi trường công bằng, để cho những người rất khác nhau được hiểu những quyền cơ bản giống nhau
1.1.2 Khái niệm Bình đẳng giới
Theo Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng góp và thụ hưởng những thành quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội
Trang 3Như vậy ta có thể rút ra khái niệm bất bình đẳng giới: Nghĩa là phụ nữ không được hưởng những điều kiện cũng như đóng góp những thành quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa như nam giới
1.2 Thực trạng về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay
Bước chân vào thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo hướng hiện đại, Đảng và Nhà nước tiếp tục thể hiện sự quan tâm đến việc thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới và sự phát triển của phụ nữ, đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp tạo điều kiện cho phụ nữ tiến bộ và tạo được bình đẳng Và vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020 để bảo đảm quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong nội tại các gia đình
Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc cải thiện chính sách, tạo môi trường bình đẳng cho phụ nữ, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về bình đẳng giới, xóa bỏ khoảng cách giới, đặc biệt là ở các lĩnh vực lao động, việc làm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục Nổi bật là tỷ lệ nữ tham gia chính trị tại tất cả các cấp đã
có chuyển biến tích cực Theo đó, quyền của phụ nữ tham gia vào các hoạt động chính trị được coi là nhân tố tiêu biểu nhất trong các điểm sáng về bình đẳng giới của Việt Nam với các điều luật được quy định đầy đủ tại Hiến pháp 2013 (Điều 7,
16, 26, 27); Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới; Luật Bầu cử; Luật Bình đẳng Giới (Điều 11); Luật Lao động 2019…
Theo đó, tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam ngày càng tăng và có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung Ngày càng nhiều phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý cao và có vai trò trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Trang 4Trong giai đoạn từ năm 1975-1976, số lượng đại biểu Quốc hội nữ đạt mức cao nhất là 32% (khóa V), đến khóa XIII (2011-2016), tỷ lệ đã giảm còn 24,4% trong năm 2011, đến khóa XIV (2016-2021), số lượng có dấu hiệu tăng trở lại với mức 27,01% (131 đại biểu nữ/485 đại biểu), với 41 đại biểu nữ là người dân tộc thiểu số, bằng 32,30% tổng số đại biểu nữ Tỷ lệ này được đánh giá cao hơn mức trung bình 23,4% toàn cầu và 18,6% của châu Á, được Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp hạng đứng thứ 97/144 quốc gia về tỷ lệ nữ tham gia chính trị, là 1 trong mười quốc gia thực hiện tốt nhất trên toàn thế giới ở mục tiêu số 5 về bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái, nâng cao trình độ học vấn của trẻ em gái và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động
Tỷ lệ nữ ủy viên Bộ Chính trị và ủy viên BCH Trung ương Đảng tăng trong
3 nhiệm kỳ liên tiếp Lần đầu tiên, chúng ta có nữ Chủ tịch Quốc hội và có 3 ủy viên Bộ Chính trị là nữ; 13/30 bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ có thứ trưởng là nữ Ở cấp tỉnh có 7 bí thư, 14 phó bí thư, 8 chủ tịch, 31 phó chủ tịch HĐND, 18 phó chủ tịch UBND cùng nhiều nữ cán bộ đảm nhiệm các vị trí trọng trách ở các cơ quan Trung ương và địa phương Ở các địa phương, nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề quan trọng
Với chủ trương bình đẳng giới, trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng đến việc mở rộng cơ chế chính sách khuyến khích các nữ doanh nhân làm chủ doanh nghiệp Theo kết quả điều tra doanh nghiệp dân doanh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trên toàn bộ các tỉnh, thành phố từ năm 2011 đến nay, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ có xu hướng gia tăng theo thời gian Tỷ lệ doanh nghiệp do nữ làm chủ tăng từ 4% năm 2009, đến tháng 9-2019, toàn quốc có 285.689 doanh nghiệp
do phụ nữ làm chủ, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp cả nước Dẫu vậy, con số này cách xa mục tiêu, tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 30% vào năm 2015 và từ 35% trở lên vào năm 2020
Trang 5Tuy nhiên, nhìn vào khu vực châu Á, tỷ lệ phụ nữ tham gia trong ban lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp của Việt Nam lại thuộc nhóm khá cao trên thế giới, khi đứng thứ hai châu Á với tỷ lệ khoảng 36%, chỉ sau Phi-lí-pin Nữ doanh nhân là người dân tộc thiểu số tăng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số được phát huy
Bình đẳng giới trong lao động cũng đạt được nhiều kết quả khả quan Cũng theo báo cáo của VCCI, hiện có khoảng 45,6% lực lượng lao động xã hội là phụ nữ Số lượng lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài, được hỗ trợ việc làm trong nước liên tục tăng Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lên đến 73% trong tổng số phụ nữ trong độ tuổi lao động, với tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ rơi vào khoảng là 1,85% (2017) Như vậy, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam hiện đang đi làm nhiều hơn hẳn so với phần lớn các quốc gia trên thế giới
Bên cạnh đó, các mô hình hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm cho lao động
nữ ở khu vực nông thôn, miền núi, lao động nữ di cư tiếp tục phát huy hiệu quả Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số năm 2019, toàn quốc có khoảng 91,7% dân số trong độ tuổi đi học phổ thông hiện đang đi học Tỉ lệ này của nữ cao hơn
so với nam, tương ứng là 92,5% và 90,8% Tính đến năm 2019, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam biết chữ là 94,6%, tiến tới năm 2020, tỷ lệ biết chữ của phụ nữ đạt 98% Trong 20 năm qua, tỉ lệ biết đọc, biết viết của nữ tăng 7,7%; khoảng cách chênh lệch về tỉ lệ biết đọc, biết viết giữa nam và nữ được thu hẹp đáng kể Tỉ số giới tính
là 99,1 nam/100 nữ, trong đó khu vực thành thị là 96,5 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 100,5 nam/100 nữ
Đặc biệt, trong những năm vừa qua, tại các đấu trường thể thao lớn của khu vực và thế giới, các vận động viên (VĐV) nữ của Việt Nam làm rạng danh dân tộc với nhiều tấm huy chương danh giá, đại diện cho hình ảnh người phụ nữ kiên cường, mạnh mẽ như hình ảnh VĐV bơi lội Nguyễn Thị Ánh Viên giành được 6 HCV và trở thành VĐV xuất sắc nhất SEA Games 30 tại Phi-lí-pin; đội tuyển nữ bóng đá Việt Nam bảo vệ thành công tấm Huy chương Vàng lần thứ 6 tại SEA
Trang 6Games 30 hay nữ VĐV Taekwondo Trần Hiếu Ngân, người dành tấm Huy chương Bạc đầu tiên cho Việt Nam tại đấu trường Ô-lym-píc
Nỗ lực bảo đảm bình đẳng giới của Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận, theo xếp hạng năm 2018 của Liên hiệp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới, Việt Nam đứng thứ 68 trong 162 quốc gia được xếp hạng về bình đẳng giới Theo chỉ số khoảng cách giới tính toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố ngày 17-12-2019, Việt Nam đứng thứ 87/153 quốc gia được xếp hạng về bình đẳng giới Con số này thụt giảm 10 bậc so với năm 2018
WEF ghi nhận Việt Nam đã cải thiện được chỉ số về Cơ hội và sự tham gia vào các hoạt động kinh tế của nữ giới Đặc biệt, khoảng 45% thu nhập trong nền kinh tế Việt Nam thuộc về phụ nữ, đây là mức cao nhất trong thống kê năm nay Tuy nhiên, Việt Nam còn phải làm rất nhiều để cải thiện sự mất cân bằng giới tính khi sinh Tỷ lệ giới tính khi sinh ở Việt Nam là 89 bé gái/100 bé trai Việt Nam có
sự suy giảm về chỉ số bình đẳng giới Tuy nhiên, Việt Nam đang thể hiện sự thu hẹp khoảng cách giới về mặt chuyên môn đặc biệt trong nhóm các công nhân kỹ thuật và các lĩnh vực giáo dục - đào tạo
1 3 Những thách thức đối với phụ nữ trong quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý
Bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt Những nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam đã mang lại nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, cần sự vào cuộc của chính quyền, sự tham gia của toàn dân để khắc phục
Việc yêu cầu quyền bình đẳng 100% là điều không thể bởi tính đặc thù riêng của 2 giới Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn thẳng trực diện vào nỗ lực kéo dần khoảng cách giữa nam và nữ, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến quyền cá nhân Bản thân người phụ nữ luôn gặp phải những rào cản trực tiếp từ nhiều mặt, ảnh hưởng tới quá trình công tác, sinh sống của mỗi cá nhân Ví dự như rào cản về mặt thể
Trang 7chế với sự khác biệt chỉ rõ trong độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ theo quy định trong Bộ luật Lao động Mặc dù Quốc hội đã thông qua Luật Lao động sửa đổi, tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 và nữ là 60, tuy nhiên, xét về mặt thể trạng và điều kiện cá nhân, phụ nữ vẫn có thời gian làm việc ngắn hơn, cũng như sẽ có ít thời gian hơn để thăng tiến trong công việc so với các đồng nghiệp là nam giới Với thiên chức làm mẹ, người phụ nữ cũng gặp nhiều vấn đề hơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như những khó khăn về quỹ thời gian và sức khỏe, khó khăn trong việc phấn đấu để đạt được các mục tiêu cao trong công việc và hạnh phúc gia đình…
Tại nhiều gia đình Việt Nam từ xưa đến nay luôn quan niệm “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” – đàn ông chính là trụ cột gia đình, còn phụ nữ giữ trọng trách sinh con, đẻ cái, chăm sóc việc nội trợ, lo liệu cho gia đình Chính vì suy nghĩ ấy mà nhiều người phụ nữ suy nghĩ mình cần làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ trong gia đình, hy sinh mọi thứ để người chồng có thể phát triển và xây dựng sự nghiệp Điều ấy tạo nên những “rào cản” vô hình ngăn cách phụ nữ được bình đẳng, được tự tin khẳng định bản thân và phát triển tài năng của chính mình Nhìn thẳng vào thực tiễn, tính đến tháng 6-2019, tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới chỉ có 8 chỉ tiêu thống kê đã tiệm cận đạt, đạt và vượt
so với yêu cầu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020
Ngay trong việc thực hiện quyền của phụ nữ tham gia vào các hoạt động chính trị ở cấp địa phương còn có nhiều điểm hạn chế Tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp
ủy nhiệm kỳ 2015-2020 ở cấp xã chỉ đạt 19,69%; cấp huyện chỉ đạt 14,3%; cấp tỉnh chỉ đạt 13,3% Nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV đạt 131 người (tỷ lệ 27,01%) nhưng vẫn còn cách khá xa so với mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra Chỉ có 13,7% nữ đại biểu tham gia giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan của Quốc hội và chủ yếu tập trung vào các cơ quan văn hóa - xã hội, thiếu vắng phụ nữ trong các cơ quan Quốc hội về kinh tế, đối ngoại, tài chính, pháp luật Tỷ lệ phụ nữ tham gia đại biểu HĐND cấp xã đạt 26,59%; cấp huyện đạt 27,85%; cấp tỉnh đạt 26,54%; nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ
Trang 8nữ lãnh đạo, quản lý cấp xã dưới 5%, trong đó phần lớn là các tỉnh, thành phố phía bắc Chưa tính đến việc, tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia các vị trí lãnh đạo các cấp còn ít, tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số còn cao
Ở nước ta, mất cân bằng giới tính khi sinh có xu hướng tiếp tục tăng và lan rộng ở cả nông thôn, thành thị, ở tất cả các vùng, miền Nếu không có những biện pháp can thiệp kịp thời, dự báo đến năm 2050, Việt Nam sẽ thiếu từ 2,3 đến 4,3 triệu phụ nữ
Sự bất bình đẳng về giáo dục vẫn còn tồn tại khi tỷ lệ học sinh nữ ở cấp tiểu học và THCS thấp hơn học sinh nam, nhất là ở các vùng nông thôn nghèo và vùng dân tộc thiểu số Việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế Tỷ lệ tử vong sản phụ còn cao
so với một số nước trong khu vực
Tình trạng bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em vẫn tồn tại khá nghiêm trọng Nhận thức về pháp luật của cán bộ và người dân về phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế Chế tài thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm các hành vi bạo lực gia đình
Bên cạnh đó, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, sự bất bình đẳng giới thể hiện
rõ nét ở thị trường lao động và trong thu nhập Cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm
có thu nhập cao và các nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam Nhiều doanh nghiệp tỏ ra e ngại khi tiếp nhận một lao động nữ trẻ vì họ sẽ bị vướng thời gian 6 tháng nghỉ thai sản
Theo thống kê, hiện nay nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản giá trị cao Hầu hết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mang tên chủ hộ là nam giới Hay riêng về mặt luật pháp, một số văn bản hướng dẫn, thể chế hóa quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới chậm được ban hành Việc triển khai quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
Trang 9trong xây dựng và thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đạt kết quả chưa cao
2 GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế; phá vỡ rào cản trong công tác bình đẳng giới và “Đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ
em gái" qua 08 mục tiêu cụ thể được ghi nhận tại Tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững như: Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái trong mọi lĩnh vực và ở mọi nơi; Giảm đáng kể mọi hình thức bạo lực đối với phụ
nữ và trẻ em gái nơi công cộng hoặc nơi riêng tư, bao gồm cả hình thức bóc lột tình dục và các hình thức bóc lột khác; Đảm bảo sự tham gia đầy đủ, hiệu quả và
cơ hội bình đẳng tham gia lãnh đạo của phụ nữ ở tất cả các cấp hoạch định chính sách trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội;… cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
2.1 Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới
Hiện nay, tình trạng "trọng nam, khinh nữ" vẫn đang là một hệ luỵ tư tưởng lớn, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của nữ giới mà còn hạn chế sự phát triển của xã hội Chỉ khi thay đổi được nhận thức, xoá bỏ định kiến về giới thì mới thay đổi được cách hành xử Chính vì vậy, cả nam và nữ đều phải thay đổi nhận thức, xoá bỏ định kiến phân biệt giới và để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cần thực hiện các biện pháp cụ thể như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới; Tiến đến xoá bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời có mang định kiến về giới; Thường xuyên tổ chức các buổi toạ đàm, sinh hoạt, nói chuyện về bình đẳng giới trong các cơ quan, đơn vị, trong các khu dân cư
2.2 Tiếp tục hoàn thiện, đẩy mạnh thực hiện các quy định của pháp luật, các chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới
Trang 10Cần thay đổi các quy định hiện hành còn chưa phù hợp, hạn chế bình đẳng giới Cụ thể Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tại Khoản1, Điều 71 quy định rõ là:
“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên” Nhưng Khoản 4 Điều 2 về nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đình vẫn tiếp tục duy trì khuôn mẫu giới bởi quy định:
“giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” Quy định này không khác nào khẳng định trách nhiệm nuôi dạy con cái vẫn thuộc về người mẹ, kế hoạch hoá gia đình chủ yếu vẫn là trách nhiệm của người vợ Nói như vậy để thấy rằng cần điều chỉnh những quy định chưa phù hợp và cần xoá bỏ khuôn mẫu giới ngay tại các văn bản quy phạm pháp luật
Lồng ghép công tác bình đẳng giới vào nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và chương trình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương Xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, phân biệt giới để răn đe trong xã hội Các trường hợp này cần phổ biến rộng rãi bằng nhiều hình thức như: tổ chức các phiên toà lưu động; tuyên truyền miệng tại tổ dân phố, các khu dân cư; lồng ghép vào các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương để tạo hiệu ứng lan toả tốt nhất đủ sức cảnh báo, răn đe để người dân biết và không vi phạm
2.3 Tích cực thu hẹp khoảng cách về giới tại nơi làm việc
Tuy pháp luật đã có quy định cụ thể về nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính, nhưng trên thực tế cần bảo đảm cơ chế triển khai thực hiện các quy định này trên thực tế Cần nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về lợi ích kinh tế và xã hội của bình đẳng giới và nhất là thay đổi tư duy của người sử dụng lao động nhằm xoá bỏ những định kiến và rào cản đối với cả nam và nữ
Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có cơ chế giám sát các
cơ sở lao động trong việc thực hiện chế độ thai sản, cung cấp và xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện tốt nhất cho cả lao động nam và