- Phân môn Tập làm văn: + HS tích cực + GV sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt vào dàn bài chung còn chưa rõ nên HS chưa thực sự nắm rõ được cấu tạo của bài văn tả người; nên trong hoạt độn[r]
Trang 1TR ƯỜ NG ĐẠ I H C Ọ ĐỒ NG NAI KHOA TI U H C – M M NON Ể Ọ Ầ
-
Môn: Ph ươ ng pháp d y h c Ti ng Vi t 1 ạ ọ ế ệ
Giảng viên: Trần Dương Quốc Hòa
Sinh viên : Phạm Thị Huyền Trang
Lớp: Đại học Tiểu học C – K5
Năm học: 2017 - 2018
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC PHẦN
Trang 2Yêu cầu 1: Xem xét – đánh giá việc thực hiện 3 nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở
trường tiểu học (Nguyên tắc phát triển tư duy; Nguyên tắc giao tiếp; Nguyên tắc
chú ý đến tâm lí và trình độ Tiếng Việt vốn có của HSTH ).
Nguyên tắc phát triển tư duy:
- Phân môn Tập đọc lớp 5 ( bài Hành trình của bầy ong, bài Mùa thảo quả)
+ Trong hoạt động tìm từ khó, HS được yêu cầu dùng bút chì gạch chân dưới những từ khó, từ chưa rõ nghĩa Sau đó trao đổi với bạn cùng bàn để tìm hiểu nghĩa, hoặc dùng từ điển Tiếng Việt để tìm nghĩa thích hợp Hoạt động này giúp HS tư duy, tăng khả năng tìm tòi, học hỏi
+ Trong hoạt động tìm hiểu bài, HS luôn phải tư duy để tìm câu trả lời của
GV đưa ra
- Phân môn Tập làm văn, lớp 5 (bài: Cấu tạo của bài văn tả người)
+ Trong hoạt động tìm hiểu bài “Hạng A Cháng” ,GV sử dụng hệ thống các câu hỏi (câu hỏi phân tích, so sánh, khái quát, mở rộng ) giúp HS có thể nắm rõ được cấu tạo của bài văn tả người; giúp HS khắc sâu, ghi nhớ một cách tự nhiên
+ Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi chưa phong phú, mở rộng Một số câu hỏi còn chung chung, chưa rõ vấn đề trọng tâm
- Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 (bài Mở rộng vốn từ : Bảo vệ môi trường)
+ Trong hoạt động bài tập, HS được xem nhiều tranh ảnh về sông, suối, đồi, khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên, khu sản xuất; các clip về vườn quốc gia Từ đó, HS dần hình thành được vốn từ vựng về môi trường thông qua tranh ảnh
+ HS luôn được thảo luận nhóm để giải các bài tập
+ Tuy nhiên ở phần xem clip, GV không đưa yêu cầu trước khi coi clip, nên khi xem xong, HS sẽ gặp khó khăn khi trả lời câu hỏi của GV
- Phân môn Học vần lớp 1( bài ôn – ơn)
+ Trong hoạt động với vần mới, tiếng khóa, HS tư duy để ghép vần, ghép tiếng vào bảng cài; sau đó đánh vần, đọc trơn
+ Trong hoạt động với từ khóa, từ ứng dụng , HS được xem tranh ảnh, clip
có nội dung chứa từ khóa, từ ứng dụng HS coi và tư duy để tìm từ khóa, từ ứng dụng ẩn chứa sau đoạn clip và luyện đọc
+ Tuy nhiên, ở phần tìm tiếng chứa vần vừa được học trong từ ứng dụng, trong từ “khôn lớn”, GV bỏ sót vần “ơn”, chỉ nhận xét vần “ôn”
Nguyên tắc giao tiếp:
- Phân môn Tập đọc:
+ Trong hoạt động luyện đọc, HS được lắng nghe bạn đọc và đọc thầm để phát hiện lỗi phát âm, dấu câu, lỗi ngắt nghỉ HS được luyện đọc diễn cảm nhiều Hoạt động này giúp HS luyện được kĩ năng nghe, đọc tốt
+ Trong hoạt động giải nghĩa từ khó, HS được thảo luận và tự giải thích nghĩa trước lớp theo cách hiểu của bản thân Hoặc khi gặp câu hỏi mở rộng,
Trang 3HS dùng lời nói của mình để trả lời câu hỏi Hoạt động này kích thích giúp
HS phát triển kĩ năng nói
- Phân môn Tập làm văn:
+ HS được rèn cách viết dàn bài chung, viết văn , sử dụng câu từ phù hợp
ngữ cảnh
+ Tuy nhiên, hệ thống câu hỏi chưa mở rộng nên kĩ năng nói và khả năng
liên hệ thực tế của các em còn hạn chế
- Phân môn Luyện từ và câu
+ Trong hoạt động bài tập, GV sử dụng thêm nhiều câu hỏi mở rộng ( ví dụ:
Di tích lịch sử là gì? Danh lam thắng cảnh là gì? VSV là gì? ); yêu cầu giải thích nghĩa của các cụm từ (khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên ) , hoạt động này giúp HS được trả lời theo ý của bản thân, giúp phát triển khả năng nói
- Phân môn Học vần
+ Trong hoạt động cho HS luyện đọc với vần mới, tiếng khóa, từ khóa; GV cho HS đọc theo từng khu vực bất kỳ (ví dụ: nhóm 1, 3 bàn bắt đầu từ bạn Lan,…) Hoạt động này, HS sẽ phải luôn chăm chú lắng nghe cô giảng bài; qua đó rèn kĩ năng đọc tốt, trôi chảy
+ HS được rèn kĩ năng viết thông qua luyện viết bảng con, vở tập viết
Nguyên tắc chú ý đến tâm lí và trình độ tiếng việt vốn có của HSTH
- Phân môn Tập đọc:
+ HS tích cực tham gia các hoạt động do GV tổ chức như thảo luận nhóm, đọc diễn cảm…
+ GV cũng chú ý đến trình độ của HS trong lớp, vì lớp đọc tốt nên GV thường chú trọng khắc sâu kiến thức, tìm hiểu nội dung bài học
+ Tuy nhiên, còn chú trọng vô HS khá giỏi nên HS trung bình ít được quan tâm (ví dụ như: Trong hoạt động luyện đọc, tìm hiểu bài, chủ yếu HS khá giỏi trả lời HS trung bình thường im lặng, không giơ tay phát biểu GV cũng không chú ý nhiều )
- Phân môn Tập làm văn:
+ HS tích cực
+ GV sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt vào dàn bài chung còn chưa rõ nên
HS chưa thực sự nắm rõ được cấu tạo của bài văn tả người; nên trong hoạt động viết dàn bài, HS còn lúng túng, thiếu sót nhiều phần
- Phân môn Luyện từ và câu:
+ HS tích cực tham gia các hoạt động của GV yêu cầu
- Phân môn Học vần
+ HS tích cực
+ GV sử dụng từ ngữ khi giảng bài gần gũi với HS.
Trang 4Đánh giá các tiết dạy Tiếng Việt theo tiêu chí của một tiết dạy tích cực:
Tiêu chí 1: Mọi HS đều tham gia hoạt động.
- Phân môn Tập đọc:
+ Trong hoạt động KTBC, GV sử dụng các bài tập khác nhau để kiểm tra kiến thức, HS dùng hoa xoay để trả lời câu hỏi của GV
+ Trong hoạt động luyện đọc, HS được đọc nhiều, đọc thầm để phát hiện lỗi phát âm, ngắt nghỉ, dấu câu khi lắng nghe bạn đọc
+ Trong hoạt động tìm từ khó, HS cả lớp đều phải dùng bút chì để gạch chân dưới những từ khó, từ chưa hiểu; sau đó hoạt động nhóm để giải nghĩa
+ Tuy nhiên trong phần trả lời câu hỏi tìm hiểu nội dung thường chú trọng đến HS khá, giỏi
- Phân môn Tập làm văn:
+ HS cả lớp phải lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả người thân trong gia đình tại lớp
+ Tuy nhiên, HS trả lời các câu hỏi của GV đưa ra còn đơn lẻ, chú trọng nhiều vào HS khá, giỏi
- Phân môn Luyện từ và câu:
+ HS được thảo luận nhóm, làm bài tập vào vở
+ HS đều được quan sát tranh ảnh, coi clip và cùng giải các bài tập, trả lời yêu cầu của GV
- Phân môn Học vần:
+ HS cả lớp đều thực hiện các hoạt động dùng bảng cài, luyện đọc, luyện viết
Tiêu chí 2 : Tự HS sản sinh ra tri thức
- Phân môn Tập đọc:
+ GV sử dụng các câu hỏi dẫn dắt, HS tự tìm hiểu được nội dung của bài Tập đọc
+ Qua bài tập đọc, HS tự rút ra được bài học, lời khuyên cho bản thân
- Phân môn Tập làm văn:
+ Sau khi trả lời các câu hỏi của GV trong bài “Hạng A Cháng”, HS tự rút ra được dàn bài chung của bài văn tả người
+ Tuy nhiên, do hệ thống câu hỏi của GV một số chỗ còn hơi chung chung và chưa rõ nên HS chưa nắm kĩ được cấu tạo của bài văn tả người
- Phân môn Luyện từ và câu:
+ Sau khi quan sát các bức tranh, clip do GV đưa ra, HS có thể tự mở rộng vốn từ về môi trường
Tiêu chí 3 : Không khí lớp học sinh động, vui vẻ, thoải mái:
- Hầu như các tiết học đều vui vẻ, thoải mái GV thân thiện, HS tích cực.
Trang 5- Trừ một vài tiết, có lẽ do GV nhắc bài trước nên HS trả lời còn hơi gượng
ép, không khí lớp học không được tự nhiên
Yêu cầu 2:
- Liệt kê các băn khoăn, thắc mắc của bản thân khi tiếp cận thực tế với các
tiết dạy Tiếng Việt ở trường Tiểu học
- Thử đưa ra lí giải (nếu thấy “lạ”) hoặc đề xuất các ý tưởng về giải pháp
khắc phục (nếu thấy bất cập)
Các băn khoăn, thắc mắc:
1 Trong các tiết dạy thường, hoạt động KTBC chỉ có 1 HS lên bảng, HS còn lại đặt câu hỏi Vậy có nhất thiết phải kiểm tra bài cũ hết tất cả HS hay không?
2 Làm sao để dạy 1 tiết Tập đọc đầy đủ quy trình mà thời gian vẫn đảm bảo ? (Vì em đi hội giảng, các tiết Tập đọc đủ quy trình đều 40 phút)
3 Hầu như các tiết dạy mẫu, hội giảng mới phong phú, đa dạng, đầy đủ quy trình Còn các tiết dạy thường ở trên lớp, GV thường bỏ qua nhiều bước,
HS cũng ít tích cực hơn
4 Trong suốt thời gian thực tập, em chưa được dự tiết chính tả nào
5 Trong các tiết hội giảng, hầu như GV đều nhắc trước bài cho HS Vậy nếu không gài kiến thức trước, liệu tiết dạy đó có đủ thời gian và khắc sâu đủ kiến thức, HS hiểu bài hay không.?
6 Cách trình bày bảng khi dùng powerpoint như thế nào ?
7 Khi luyện tập viết dàn bài chung tả người thân trong gia đình, có 2 HS làm bảng lớn, HS còn lại làm nháp Khi nhận xét, GV chỉ nhận xét bài trên bảng, không kiểm tra bài làm nháp của HS
Thử đưa ra lí giải hoặc đề xuất ý tưởng, giải pháp.
1 Theo em, KTBC là không cần thiết Ta có thể lồng việc KTBC trong khi dạy bài mới Như thế các em sẽ hiểu được sự liên hệ của kiến thức cũ và kiến thức mới Như vậy sẽ giúp các em nhớ được kiến thức lâu hơn
2 Theo em, tùy vào trình độ của HS mà sẽ có kế hoạch giảng dạy phù hợp
Ví dụ: lớp đọc khá tốt, vậy nên bớt thời gian đọc, tập trung vào những phần HS chưa tốt, cần khắc sâu kiến thức Như vậy mình sẽ điều chỉnh được thời gian phù hợp cho mỗi hoạt động, sẽ đảm bảo được thời gian
3 Theo em, vì GV hiểu rõ trình độ, học lực của lớp mình nên có thể bỏ qua
1 số bước; chủ yếu tập trung vào những phần chính, phần HS chưa tốt để giúp HS học tiến bộ hơn
4 Vì thời gian kiến tập vào trúng hội thi hội giảng cấp trường, nên việc giảng dạy của GV bị gián đoạn Khi về lớp, GV chủ yếu chạy bài cho HS nên phần Chính tả không được quan tâm nhiều HS về nhà tự chép phần Chính tả đoạn bài vào vở, hôm sau GV sẽ kiểm tra
Trang 65 Theo em, với thời gian 35 phút, GV không nhắc bài trước cho HS thì có thể HS sẽ chậm hiểu bài hơn, việc khắc sâu kiến thức cho HS sẽ mất nhiều thời gian, thời gian không đảm bảo
6 Theo em, nếu như dùng powerpoint với tác dụng là hỗ trợ việc giảng dạy ( như hình, clip ) thì vẫn phải viết thứ, ngày, tháng, năm và tên bài rõ ràng lên bảng
Nếu dùng powerpoint để giảng dạy trực tiếp thì không cần viết lên bảng Nhưng phải viết lên từng slide (thứ, ngày, tháng, năm; tên bài)
7 Theo em, GV nên sử dụng phiểu học tập Khi HS làm bài xong, GV sẽ thu phiếu về để chấm Như vậy sẽ biết được các em làm đúng, sai như thế nào; cần chỉnh sửa những gì cho các em Thông qua đó cũng biết được tiết dạy của mình đã khắc sâu được kiến thức cho các em hay chưa