Ý nghĩa phương pháp luận của việc nắm vững vấn đề này trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: - Khái niệm vật chất: vật chất là một phạm
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN LÝ LUẬN CƠ SỞ Câu 1 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nắm vững vấn đề này trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?
* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
- Khái niệm vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tạikhách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lenin:toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1980, t18, tr.151.)
Vật chất có nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ bản nhất là “thực tại kháchquan” – tức là tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người và loài người.Thuộc tính này là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt cái gì thuộc về vật chất, cái gìkhông thuộc vật chất
Theo triết học Mác – Lênin, vật chất tồn tại thông qua vận động, không gian
và thời gian
- Khái niệm ý thức: về bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan Nghĩa là, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc conngười Ý thức là hình ảnh của sự vật được thực hiện ở trong bộ óc người Nhưngđây là sự phản ánh năng động, sáng tạo
Vật chất và ý thức là hai phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật mácxít, giữahai phạm trù này có mối quan hệ sau:
Chủ nghĩa duy vật mác xít khẳng định vật chất có trước ý thức, quyết định ýthức, ý thức là cái phản ánh cho nên là cái có sau, là cái bị quyết định Như trênchúng ta đã rõ, ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao,
tổ chức đặc biệt Đó là bộ óc của con ngườ Do vậy, không có bộ óc người thìkhông thể có ý thức Hơn nữa, ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinhcủa bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan
Vật chất còn là cơ sở, nguồn gốc của những nội dung mà ý thức phản ánh.Nghĩa là vật chất quyết định nội dung phản ánh của ý thức
Chủ nghĩa duy vật mác xít cũng cho rằng, mặc dù vật chất quyết định ý thức,nhưng ý thức có tính năng động sáng tạo, cho nên thông qua hoạt động thực tiễncủa con người có thể tác động trở lại vật chất bằng cách thúc đẩy hoặc kìm hãm ởmột mức độ nào đó các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan.Tuy nhiên, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất dù đến đâu đi chăng nữavẫn phụ thuộc vào các điều kiện vật chất Cho nên, xét đến cùng, vật chất luônquyết định ý thức
* Ý nghĩa phương pháp luận của việc nắm vững vấn đề này trong nhận thức và hoạt động thực tiễn:
Từ quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức , triết học mácxít rút ra quanđiểm khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm khách quan
Trang 2yêu cầu, trong nhận thức phải nhận thức sự vật vốn như nó có, không “tô hồng, bôiđen” “Tô hồng, bôi đên” trong nhận thức đều là phản ánh không đúng sự vật, từphản ánh không đúng này dẫn tới sai lầm trong hành động.
Trong hoạt động thực tiễn luôn luôn phải xuất phát từ thực tế khách quan,tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan Chúng takhông thể lấy mong muốn chủ quan thay cho thực tế khách quan, không thể hànhđộng không đúng quy luật khách quan Vì như vậy sẽ phải trả giá, thất bại
Quan điểm khách quan cũng yêu cầu trong hoạt động thực tiễn phải biết pháthuy tính năng động, sáng tạo của ý thức, tinh thần trong cải tạo thế giới Nghĩa làphải cố gắng, tích cực vươn lên, biết phát huy tối đa lực lượng vật chất hiện có.Đồng thời, phải tránh không rơi vào chủ nghĩa khách quan, tức là trông chờ, thụđộng, ỷ lại điều kiện khách quan, không cố gắng, tích cực vượt khó, vươn lên
Quan điểm khách quan cũng yêu cầu phải chống bệnh chủ quan, duy ý chí,tuyệt đối hóa ý thức, tinh thần trong hoạt động thực tiễn Thực tiễn xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta trước đổi mới (1986) cho thấy, chúng ta đã mắc phải bệnhchủ quan duy ý chí trong xây dựng mục tiêu, trong xây dựng, cải tạo xã hội chủnghĩa Khắc phục những sai lầm chủ quan này, trong quá trình đổi mới, Đảng vàNhà nước ta đã xuất phát từ thực tiễn đất nước vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội phùhợp Do vậy, mọi mặt đời sống của nhân dân được nâng lên, vị thế của đất nướcđược nâng cao
Câu 2 Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa của việc nắm vững quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
1 Nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại
a) Khái niệm
- Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sựvật hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó màkhông phải là sự vật khác
- Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vậthiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị đại lượng con số các thuộctính, các yếu tố,v.v cấu thành sự vật Lượng được thể hiện thành số lượng, đạilượng về trình độ, quy mô, nhịp điệu, tốc độ,v.v của sự vận động và phát triểncủa sự vật
b) Nội dung
Theo triết học duy vật biện chứng, mỗi sự vật đều có sự thống nhất giữa chất
và lượng Sự thay đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng,nhưng không phải mọi thay đổi về lượng đều dẫn đến thay đổi về chất Khoảnggiới hạn mà sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho chất của sựvật thay đổi được gọi là độ Nói khác đi, độ là phạm trù triết học chỉ sự thống nhất
Trang 3giữa lượng và chất; là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên
hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của sự vật diễn ra Ví dụ,
độ của học viên lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính là từ khi nhập học đếntrước khi thi đỗ tốt nghiệp Trong khoảng thời gian đó, học viên có học và thi thêmđược các môn học khác nhưng chất học viên Trung cấp lý luận chính trị - hànhchính” chưa đổi
Sự thay đổi về lượng của sự vật (tăng lên hoặc giảm đi) đến giới hạn nhấtđịnh sẽ làm cho chất của sự vật thay đổi Điểm tới hạn đó được gọi là điểm nút Ví
dụ, khi học viên Trung cấp lý luận chính trị - hành chính thi đỗ tốt nghiệp, thì sẽ có
sự thay đổi về chất diễn ra Chất “học viên Trung cấp lý luận chính trị - hànhchỉnh" đã chuyển sang chất "Người có bằng Trung cấp lý luận chính trị - hànhchính” Nghĩa là thời điểm thi đỗ tốt nghiệp của "học viên Trung cấp lý luận chínhtrị - hành chính" được gọi là điểm nút của bước chuyển sang "Người có bằngTrung cấp lý luận chính trị - hành chính)
Khi có sự thay đổi về chất diễn ra do sự thay đổi về lượng trước đó gây rađược goi là bước nhảy Có nhiều loại bước nhảy khác nhau Chẳng hạn, bước nhảyđột biến (chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơbản, cấu thành sự vật) và bước nhảy dần dần (là quá trình thay đổi về chất diễn rabằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dầnnhững nhân tố của chất cũ); bước nhảy toàn bộ (là bước nhảy làm thay đổi về chấttất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật) và bước nhảy cục bộ (làbước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố, bo phận của sự vật đó) Tronglĩnh vực xã hội, thay đổi về lượng được gọi là "tiến hóa", thay đổi về chất được gọi
là "cách mạng"
Sau khi ra đời, chất mới lại tác động trở lại tới lượng mới Sự tác động củachất mới đến lượng mới thể hiện ở chỗ nó tác động tới quy mô, nhịp điệu, tốc độ,
v của lượng mới
Tóm lại, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ Nhữngthay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy ra bước nhảy, chất cũ bịphá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới Như vậy, sự vật phát triển theo cách thức:đứt đoạn trong liên tục Liên tục chính là sự tích lũy về lượng, đứt đoạn chính làbước nhảy về chất Nghĩa là sự vật phát triển theo cách thức từ từ tích lũy về lượngrồi đến một giới hạn nhất định thì nhảy vọt về chất khi sự tích lũy về lượng đã đạttới điểm nút Chất mới ra đời tác động trở lại tới lượng mới
2 Ý nghĩa của việc nắm vững quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
Lượng đổi – chất đổi là quy luật khách quan vốn có, tồn tại trong tất cả các
sự vật hiện tượng, làm cho sự vật thay đổi Nhưng sự thay đổi về chất chỉ diễn ratrong điều kiện lượng đã thay đổi tới giới hạn điểm nút cho nên không được chủquan, nóng vội Trong hoạt động thực tiễn cần phải có những bước chuẩn bị rấtchu đáo, phải quan tâm thích đáng đến quá trình tích lũy về lượng Đồng thời khilượng thay đổi đã đến điểm nút thì phải sẵn sàng thực hiện bước nhảy vọt Đồngthời phải chủ động, tích cực, sáng tạo, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết đểquá trình chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới được thực hiện hoàn hảo nhất
Trang 4Trong hoạt động thực tiễn cần phải chống biểu hiện của tư tưởng chủ quannóng vội, duy ý chí, muốn nhảy vọt mà lại không quan tâm thích đáng đến quátrình tích lũy về lượng Thực tiễn cải tạo các thành phần kinh tế phi XHCN, bấtchấp trình độ còn rất thấp kém của lực lượng sản xuất hiện có ở nước ta trước đây
là một bài học rất có ý nghĩa thuộc nhóm sai lầm này Vì vậy, sẽ không thể cónhững bước nhảy sáng tạo ra chất mới nếu không có quá trình tích lũy đầy đủ vềlượng Không chú trọng về lượng, nôn nóng, muốn có ngay chất mới trong tiết họcgọi là sai lầm tả khuynh
Ngược lại tư tưởng bảo thủ hữu khuynh thì không chủ động tác động làmcho lượng đổi Ngay cả khi lượng đổi đến giới hạn điểm nút cũng không dám chủđộng tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện những bước nhảy vọt
Trong hoạt động thực tiễn, cả hai loại sai lầm này đều có những tác hại rấtlớn Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn cần phải phát huy đúng mức vai trò của nhân
tố chủ quan Một mặt, phải biết cách phân tích, xác định đúng quy mô, nhịp điệucủa các bước nhảy, chống tư tưởng giáo điều, rập khuôn, nôn nóng, ỷ lại mặtkhác, phải có quyết tâm và nghị lực cao trong việc thực hiện các bước nhảy khi cócác điều kiện chín muồi
Câu 3 Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn? Liên
hệ
Phần này lưu ý: Đề thi sẽ có 2 dạng câu hỏi
Dạng 1: Trình bày quan điểm của CNDV mác xít về vai trò của thực tiễn đối với lý luận?
Dạng 2: Trình bày quan điểm của CNDV mác xít về vai trò của lý luận với thực tiễn?
Phạm trù thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với lý luận là một trongnhững nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin Lý luận này chỉ ra rằng việcnhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn,học đi đôi với hành Sinh thời, Chủ tịch HCM thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên:
“Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”
* Khái niệm thực tiễn và lý luận:
- Thực tiễn: Theo Chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là toàn bộ hoạtđộng vật chất-cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo
tự nhiên và xã hội
- Lý luận: Theo Chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những trithức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất,tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật - hiện tượng trong thế giới và được biểuđạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
* Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức,lý luận
Trang 5Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào sự vật làm cho
sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất và quy luật Trên cơ sở đó, con người có hiểu biết
về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp vật liệu cho nhận thức không có thực tiễn thì
không có nhận thức VD: Những tri thức về thiên văn, toán học, trồng trọt của người
xưa đều được hình thành từ việc quan sát thời tiết, tính toán chu kì vận động của Mặttrời, của tuần trăng, sự đo đạt ruộng đất, sự đúc kết kinh nghiệm từ thực tế gieo trồnghằng năm
Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi lý luận phải trả lời, trên cơ sở
đó thúc đẩy lý luận phát triển VD: Dịch cúm H5N1 , EBOLA, COVID-19 đặt ra cho
nhân loại nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo vắc xin để điều trị, phòng ngừa
Thực tiễn còn là rèn luyện các giác quan của con người VD: thông qua sảnxuất, chiến đấu các cơ quan cảm giác của con người như thị giác, thính giác, đượcrèn luyện từ đó sẽ tạo cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn
Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức
hiệu quả hơn, trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển VD: Công tác quản lý hiện
nay bằng máy vi tính
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận
Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu cuộc sống, nhu cầu tồn tại.Ngay từ khi con người xuất hiện, nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầuthực tiễn, những tri thức, kết quả của nhân thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận
dụng vào thực tiễn phục vụ con người VD: Quan điểm xây dựng CNXH ở VN
Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa hìnhthức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn cũng sẽ mất phương hướng
- Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận
Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ, chỉ có thông qua thựctiễn con người “vật chất hóa” được tri thức, “hiện thực hóa” được tư tưởng thông quáquá trình đó, con người có thể khẳng định được chân lý, bác bỏ sai lầm Phải hiểuthực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối,vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch
sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm.Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi phát triển.Cho nên, khi thực tiễn thay đổi thì nhận thức cũng phải thay đổi theo cho phù hợp.Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệmthông qua thực tiễn
* Vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
- Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn
Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hếtsức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt
Trang 6động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan, biến đổi chínhthực tiễn và biến đổi chính con người.
- Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục động viên tập hợp quầnchúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng
- Lý luận đóng vai trò định hướng dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạtđộng thực tiễn chủ động, tự giác hơn
VD: Liên hệ cách mạng Việt Nam khi thực dân Pháp đô hộ, có rất nhiều sĩ phuyêu nước đứng lên làm cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… nhưng chưa
có lý luận soi đường nên tất cả đều đi vào thất bại và khủng hoảng về đường lối cứunước
* Ý nghĩa phương pháp luận
Phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểmthực tiễn yêu cầu:
Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người xuất phát
từ thực tiễn địa phương, thực tiễn ngành, đất nước
Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành
Ba là, phải “đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấpcác luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trươngcủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩnkiểm tra sự đúng sai của lý luận
Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinhnghiệm và bệnh giáo điều Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiệnphương châm “nói đi đôi với làm”, tránh nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều làm ít;nói mà không làm;…
Liên hệ với bản thân trong quá trình công tác
Ưu điểm:
Tùy thuộc vào mỗi vị trí công việc để đánh giá về việc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn (các anh chị tự liên hệ)
Tuy nhiên nhìn chung có thể đánh giá dựa trên các mặt sau:
Về nhận thức: Nhận thức đúng về vai trò của thực tiễn đối với lý luận và vai tròcủa lý luận đối với thực tiễn
Về thực hiện nhiệm vụ chuyên môn:
- Nắm vững các vấn đề lý luận liên quan trực tiếp hoạt động chuyên môn đặcbiệt các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động chuyên môn
- Bám sát các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng liên quan đến lĩnhvực chuyên môn
- Phương pháp làm việc khoa học, logic trong đánh giá và giải quyết các vấnđề
- Về cơ sở để kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động công tác
- Liên hệ với người dân để nắm bắt thực tiễn
Trang 7- Tổng kết công tác để kịp thời phát hiện các vướng mắc, khó khăn từ chínhsách, pháp luật hoặc những bất cập từ thực tế thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
- Thường xuyên về cơ sở, địa phương để nắm bắt thực tiễn
- Tổ chức các hoạt động hội thảo, hội nghị để tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Câu 4 Trình bày nguồn gốc, bản chất của nhà nước? Đặc điểm của nhà nước vô sản? Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay?
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhà nước thực chất là một tổchức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế
và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mụcđích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội
* Nguồn gốc và bản chất của nhà nước:
- Nguồn gốc của nhà nước:
Vấn đề về nhà nước là một trong những vấn đề phức tạp nhất và bị các nhà
tư tưởng của giai cấp bóc lột xuyên tạc nhiều nhất Các nhà tư tưởng của giai cấpbóc lột thống trị luôn luôn tuyên truyền những tư tưởng xuyên tạc bản chất của nhànước nhằm biện hộ cho sự thống trị của mình
Lý luận khoa học về nhà nước, về nguồn gốc và bản chất của nhà nước, chỉ
có thể được dựa trên cơ sở những quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triểncủa xã hội
Theo quan điểm mácxít, xã hội không phải khi nào cũng có nhà nước Nhànước ra đời và tồn tại khi trong xã hội xuất hiện những mâu thuẫn giai cấp pháttriển đến mức không thể điều hòa được Như vậy, trước khi giai cấp ra đời thìkhông thể có nhà nước
Trang 8Xã hội cộng sản nguyên thủy không có giai cấp, nhà nước cũng chưa xuấthiện Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc – những tổ chức xã hội thời kỳ này – là nhữngtộc trưởng, hội đồng các tộc trưởng Đó là những cơ quan quản lý xã hội còn rấtđơn giản và mang tính tự quản.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắtkhông thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện Khẳng định điều đó, V.I Leeninviết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thểđiều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan,những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Vàngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp làkhông thể điều hòa được”
- Bản chất của nhà nước:
Nhà nước xuất hiện và tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của một cánhân hay một giai cấp nào Trái lại, sự xuất hiện nhà nước là một tất yếu kháchquan để “khống chế những đối kháng giai cấp”, để làm “dịu” xung đột giai cấp,làm cho xung đột giai cấp diễn ra trong vòng “trật tự”; trật tự ấy hoàn toàn cầnthiết để duy trì chế độ kinh tế, trong đó giai cấp này bóc lột giai cấp khác Nhànước, “đó là sự kiến lập một “trật tự”, trật tự này hợp pháp hóa và củng cố sự ápbức kia bằng cách làm dịu xung đột giai cấp”
Đương nhiên, trên cơ sở tất yếu nói trên, giai cấp lập ra và sử dụng nhà nướcphải là giai cấp mạnh nhất, giai cấp giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế Nhờ có nhànước, giai cấp này trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị Nhà nước, do đó vềbản chất là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế
Nhà nước là công cụ thống trị chính trị giai cấp, nhưng trong thực tế, nó lạitồn tại như một công quyền, một quyền lực công cộng Vì vậy, nhà nước không chỉmang tính giai cấp, mà còn mang tính xã hội; không chỉ có chức năng thống trị giaicấp mà còn có những chức năng xã hội Hơn nữa, chức năng xã hội còn là cơ sởcho sự thống trị chính trị
Giữa chức năng giai cấp và chức năng xã hội có mối quan hệ với nhau đó làchức năng giai cấp giữ vai trò chi phối phương hướng và mức độ thực hiện chứcnăng xã hội của nhà nước “Ở khắp nơi chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trịchính trị và sự thống trị chính trị chỉ kéo dài trong thời gian nào đó còn thực hiệnchức năng xã hội đó của nó” (Ăngghen)
Vì vậy, sẽ là mơ hồ nếu không thấy được tính chính trị, tính giai cấp của cácchủ trương, chính sách và sư tác động can thiệp nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế,văn hóa, giáo dục…Nhưng ngược lại, nếu quy các chức năng đa dạng của nhànước về chức năng giai cấp, tuyệt đối hóa tính giai cấp, mà không thấy được tính
xã hội, vai trò tích cực sáng tạo của chức năng xã hội của nhà nước trong sự pháttriển đất nước thì sẽ là cực đoan, phiến diện
Khi nhà nước nằm trong tay giai cấp đại biểu cho toàn thể xã hội trong thờiđại của mình, nghĩa là trong tay giai cấp đang đóng vai trò tiến bộ và cách mạng,thì tính tích cực của chức năng xã hội của nó biểu hiện càng rõ rệt
Trang 9* Đặc điểm của nhà nước vô sản:
Khái niệm nhà nước vô sản: Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới của giaicấp công nhân, đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân lao động, do Đảng cộng sản
tổ chức lãnh đạo, lấy học thuyết Mác – Lênin làm hệ tư tưởng chính thống và dựatrên khối liên minh công nông trí thức, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân laođộng
Nhà nước vô sản có các đặc điểm sau:
Một là, lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một nhà nước của dân, do dân và
vì dân Nó không còn là nhà nước của thiểu số thống trị đa số như trước đây, mà lànhà nước của đa số “thống trị” thiểu số những kẻ chống lại lợi ích của nhân dân laođộng Cơ sở xã hội và nòng cốt của nhà nước vô sản là liên minh công nhân, nôngdân, trí thức, tức liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp lao động, trong đó giai cấpcông nhân đóng vai trò lãnh đạo thông qua đội tiên phong chính trị của mình.Trong nhà nước vô sản, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân lao độngkhông những làm chủ về chính trị mà còn làm chủ về kinh tế, văn hóa, xã hội Đó
là bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Tính chất của dân, do dân và vì dânthể hiện thông qua nguyên tắc tổ chức, cơ chế hoạt động và pháp luật của nhànước
Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử đã ra đời một nhà nước mà chức năng chủyếu nhất của nó không phải là bạo lực trấn áp mà là tổ chức xây dựng, phát triển xãhội V.I Lênin chỉ rõ rằng: “Chuyên chính vô sản…không phải chỉ là bạo lực đốivới bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực”, mà là chủ yếu là thựchiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản
Với hai đặc điểm trên, nhà nước vô sản không còn là nhà nước theo nguyênnghĩa mà là nhà nước “nửa nhà nước”
* Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay:
Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cảquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnhđạo Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công; phối hợp và kiểm soátgiữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp,.Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và khôngngừng tang cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trongthời kỳ quá độ ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Tính tất yếu đó không chỉbắt nguồn từ đặc điểm của thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bảnlên chủ nghĩa xã hội, mà còn xuất phát từ thực tế và đòi hỏi của cách mạng ViệtNam
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, xây dựng và hoàn thiện nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình, hơn nữa đối với nước ta, đó là một quá
Trang 10trình lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xãhội chủ nghĩa.
Có thể nói trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta trước đây chưa sửdụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng xét theo các đặc trưng, những giá trịphổ biến của Nhà nước pháp quyền đã được nhận thức và diễn đạt khá rõ nét trongcác bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980
Bước vào đổi mới, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngàycàng đầy đủ hơn, rõ rang, cụ thể hơn và quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa dướihình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, trong chủ trương đổi mới nhànước, đã manh nha một số nội dung về nhà nước pháp quyền Đó là sự khẳng định
“quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý” “Phải quan tâm xâydựng pháp luật Từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để đảm bảocho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật” Đến Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII, trong quan điểm đổi mới nhà nước được bổ sung themnội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó” Như vậy, qua hai nhiệm kỳ Đạihội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới nhà nước theo hướng xây dựng Nhànước pháp quyền của Đảng có những bước tiến quan trọng Tuy nhiên, chỉ đến Hộinghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) chủ trương xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta mới được chính thức khẳng định.Thuật ngữ nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được chính thức sử dụng trong Vănkiện quan trọng của Đảng
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng coi xây dựngNhà nước như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong việc tiếp tục cải cách
bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, qua tổng kết những thànhtựu trong nghiên cứu lý luận, cũng như thực tiễn từng bước xây dựng Nhà nướcpháp quyền ở nước ta, Đảng ta coi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là một nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyênsuốt, trong “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dânchủ, tang cường pháp chế”
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tụckhẳng định “Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tập trungvào ba nội dung lớn: một là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhànước, trong đó nhấn mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chínhphủ, đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, đổi mới
tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương; hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu tình hình mới; ba là, tích cựcphòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hànhtiết kiệm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng coi việc “tiếp tục xâydựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo lànhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”
Trang 11Câu 5 Phân tích lượng giá trị hàng hóa Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa?
* Lượng giá trị hàng hóa:
Thước đo lượng giá trị hàng hóa tính bằng thời gian lao động Trên thị trường,
có nhiều cá nhân, cơ sở sản xuất cùng sản xuất ra một loại hàng hóa với mức hao phíthời gian khác nhau nên lượng giá trị hàng hóa không thể tính theo thời gian lao động
cá biệt, mà là đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất ra mộthàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất trung bình của xã hội, với một trình
độ thành thạo trung bình, với một trình độ trang thiết bị trung bình và một cường độlao động trung bình trong xã hội đó
Có hai cách xác định thời gian lao động xã hội cần thiết: Thứ nhất, tính tổng sốthời gian lao động cá biệt chia bình quân cho tổng số đơn vị hàng hóa đó Thứ hai,thời gian lao động xã hội cần thiết tương đương với thời gian lao động cá biệt của cơ
sở sản xuất chiếm phần lớn thị phần hàng hóa đó
Trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, thời gian lao động xã hộicần thiết sản xuất ra hàng hóa không chỉ xét trong phạm vi thị trường một nước mà
mở rộng ra quốc tế Vì thế, hàng hóa trong nước nếu có hao phí thời gian lao độngnhiều sẽ gặp phải sự bất lợi trong cạnh tranh
* Lượng giá trị hàng hóa chịu tác động của các nhân tố sau:
- Năng suất lao động:
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được đo lường bởi
số lượng của sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc thời gian để sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm
Khi năng suất lao động tăng thì số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thờigian sẽ tăng hay số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm sẽ giảm Do đó, lượng giá trị của một hàng hóa giảm xuống, giá cả hàng hóa sẽ
rẻ hơn
Khi năng suất lao động giảm thì số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vịthời gian sẽ giảm hay số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vịsản phẩm sẽ tăng Do đó, lượng giá trị của hàng hóa tăng, giá cả hàng hóa sẽ đắt hơn
Như vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa biến đổi ngược chiều với năngsuất lao động
Muốn tăng năng suất lao động để giảm giá trị và giá cả, tăng sức cạnh tranh củahàng hóa phải khai thác tốt các yếu tố như: trình độ khéo léo (thành thạo) của ngườilao động; mức độ phát triển của khoa học, công nghệ và sự ứng dụng những thành tựu
đó vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, vàcác điều kiện tự nhiên
- Cường độ lao động:
Trang 12Cường độ lao động là mức độ khẩn trương lao động, mật độ hao phí sức laođộng trong một đơn vị thời gian.
Khi cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất tăng lên, nhưnghao phí lao động trừu tượng cũng tăng lên Do đó, lượng giá trị của một đơn vị sảnphẩm không giảm Tăng cường độ lao động có ý nghĩa đối với những công việc cótính chất mùa vụ, cần sự khẩn trương hoặc khi trình độ sản xuất chưa tăng lên nhưngcần tăng sản lượng trong thời gian ngắn
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thànhchuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao độnggiản đơn Thị trường sẽ quyết định tỷ lệ trao đổi giữa đơn vị hàng hóa do lao độngphức tạp sản xuất với đơn vị hàng hóa do lao động giản đơn sản xuất ra
Câu 6 Trình bày nội dung và vai trò của quy luật sản xuất giá trị thặng dư trong xã hội tư bản Tại sao nói sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản?
1 Quy luật sản xuất giá trị thặng dư trong XHTB
a) Khái niệm
Qui luật giá trị thặng dư là qui luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản bởi
vì nó qui định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đờisống kinh tế của xã hội tư bản
Không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản Theo C.Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là qui luật tuyệt đối của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa
Ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản, ngược lại, ởđâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có sản xuất giá trị thặng dư Chính vì vậy, Lêningọi qui luật giá trị thặng dư là qui luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
b) Nội dung qui luật
Quy luật giá trị thặng dư đã vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản chủnghĩa và phương tiện để đạt mục đích đó
Mục đích trực tiếp của sản xuất TBCN không phải là sản xuất ra giá trị sửdụng và cũng không phải vì sản xuất ra giá trị nói chung mà là sản xuất ra giá trịthặng dư Đối với tất cả các nhà tư bản, giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt
Trang 13Phương pháp và thủ đoạn bóc lột công nhân làm thuê để có giá trị thặng dưngày càng lớn là kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng năng suất laođộng Phương tiện để đạt được mục đích trên là ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiệnđại trên cơ sở hình thành và phát triển nền đại công nghiệp cơ khí Do vậy, sảnxuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN.
Như vậy, nội dung chủ yếu là quy luật giá trị thặng dư là tạo ra giá trị thặng
dư càng nhiều càng tốt cho giai cấp tư sản bằng cách mở rộng sản xuất, phươngtiện kỹ thuật và bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê
c) Vai trò của quy luật
Trong nền sản xuất TBCN, vai trò quy luật giá trị thặng dự được thể hiện ởtác động hai mặt của nó
Một mặt với mục đích chạy theo giá trị thặng dư buộc các nhà tư bản phảiphát triển khoa học - công nghệ, đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý Từ đó thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển
Mặt khác, do chạy theo giá trị thặng dư CNTB không trừ một thủ đoạn nào,
nó đem lại nhiều đau khổ, chết chóc cho người lao động Đồng thời, nó làm chocác mẫu thuẫn của CNTB, nhất là mâu thuẫn cơ bản - mâu thuẫn giữa tính chất xãhội hoá của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất TBCN về tư liệu sản xuất –ngày càng gay gắt Mâu thuẫn này đòi hỏi phải tiến hành cách mạng xã hội chủnghĩa để xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn
Tóm lại, quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tưbản, có quy định quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong tất yếu của CNTB
2 Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của CNTB
Giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại, phát triển của CNTB, không những phảnánh mục đích mà cả phương pháp, thủ đoạn và phương tiện để đạt mục đích củanền sản xuất TBCN
Quy luật giá trị thặng dư tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của xã hội tư bản
Nó quyết định toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển của CNTB và sự thay thếCNTB bằng một xã hội mới, cao hơn Nó là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy pháttriển kỹ thuật, công nghệ, phân công lao động, xã hội hóa sản xuất; nó lôi cuốn mọihoạt động sản xuất và thu hút toàn bộ lao động xã hội vào phục vụ cho lợi ích củagiai cấp tư sản
Song, do tác động của quy luật giá trị thặng dư nên sự phát triển của nền sảnxuất TBCN diễn ra dưới hình thức mâu thuẫn đối kháng Sự tác động của quy luậtnày làm cho mâu thuẫn cơ bản – mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sx vớihình thức chiếm hữu tư nhân TBCN – và nói chung, toàn bộ mâu thuẫn của CNTBngày càng sâu sắc, tạo cơ sở kinh tế, xã hội quyết định đia vị lịch sử của CNTB
Câu 7 Tính tất yếu khách quan và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam?