Đồng chí Trịnh Văn Chiến, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh báo công với Bác Với sức mạnh của truyền thống, với những thành tựu to lớn đã đạt được và những kinh nghiệm quý báu đã có; ch[r]
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
Nhắc đến vùng đất xứ Thanh “địa linh nhân kiệt” là đến địa danh: Hàm Rồng -Sông Mã Ai đã từng vào Nam ra Bắc, qua niềm “đất lửa” năm xưa, nơi sơn thủy hữu tình, khí thiêng hội tụ, phát tích nền văn hóa Đông Sơn hẳn còn lưu giữa hình ảnh cầu Hàm Rồng nối đôi bờ Sông Mã, gối đầu lên núi Ngọc, núi Rồng; dòng sông xanh lặng lờ uốn khúc chở nặng phù sa, mang theo điệu hò neo đậu lòng người ngược xuôi của những chàng trai cô gái xứ Thanh…
Cây Cầu Hàm Rồng bất tử nối liền hạt ngọc với miệng thần long, sông Mã ở điểm này nước chảy rất xiết đổ thông qua họng, lưỡi, răng của thần long và cũng là nơi thủy táng rất nhiều máy bay Mỹ, tạo sắc huyền bí cho một bức tranh bộc lộ long mạch Nơi đây từng là trọng điểm của cuộc chiến tranh, hàng trăm máy bay Mỹ bỏ mạng, hàng chục giặc Mỹ bị bắt sống, đặc biệt là trong 2 ngày 3,4/4/1965 quân và dân Hàm Rồng đã bắn rơi 47 máy bay Mỹ Sau bao lần bị đánh phá ác liệt, cầu Hàm Rồng vẫn hiên ngang, đứng vững tựa vào sườn núi bên bờ sông Mã, trở thành biểu tượng của sức mạnh ý chí, quật cường dân tộc “Hàm Rồng – tức là miệng Rồng, nó
đã chiến đấu như một thần thoại phi thường”
Tôi yêu quê tôi bằng niềm tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng Đó là mảnh đất thiêng liêng, anh hùng, quê hương của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi, người
đã cùng nghĩa quân Lam Sơn làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trước quân Minh xâm lược Đất nước bị xâm lăng, toàn thể dân tộc Việt Nam, hàng triệu trái tim như một, cháy lên tình yêu mãnh liệt dành cho tổ quốc và lòng căm thù giặc sâu sắc
Ở đó cũng có triệu triệu trái tim của những người con mang tên Thanh Hóa Đó cũng
là mảnh đất của tình yêu thương: là căn cứ cách mạng, là quê hương của những người
mẹ nuôi bộ đội tiếp sức cho các anh để các anh tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước
Năm học 2016 – 2017 tỉnh Thanh Hóa có tổ chức cuội thi “Em yêu lịch sử xứ Thanh” lần thứ nhất , em rất vinh dự được tham gia cuộc thi và cũng từ cuộc thi đã giúp em hiểu thêm về kiến thức lịch sử của quê Thanh
Trang 2PHẦN II NỘI DUNG CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI Câu 1:
Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu (tức Thanh
Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất
Trả lời:
Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu (tức
Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa
Nếu tính từ khi nước Nam ta có Nhà nước đầu tiên cho đến khi kết thúc triều đại phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn, thì điểm lại hầu hết các dòng họ vua, chúa
đa phần đều phát tích từ đất Thanh Hóa (Ái Châu) mà ra Đây được xem là vùng đất
có nhiều dòng vua, chúa nhất nước
Hình thế và con người
Năm 1428 Lê Lợi lập ra nhà Hậu Lê Ông là người Thanh Hóa
Đất Thanh Hóa, trải qua các đời có nhiều tên gọi khác nhau Xưa thuộc bộ Cửu Chân, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Triệu là quận Cửu Chân… Tên gọi Ái Châu quen thuộc được biết đến vào thời Lương Vũ Đế nhà Lương Đến thời nhà Lý được đổi làm phủ Thanh Hóa, tên gọi Thanh Hóa từ đó mà được biết đến
Về hình thể, sách Đại Nam nhất thống chí, quyển VI, phần Thanh Hóa tỉnh chí cho biết: “Mặt đông trông ra biển lớn, mặt tây khống chế rừng dài Bảo Sơn Châu (hoặc Sơn Thù) chăm hiểm ở phía Nam, (tục gọi là Eo Ống), giáp huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, núi Tam Điệp giăng ngang phía Bắc Ở trong thì sông Mã, sông Lương, sông Ngọc Giáp hợp nhau; ở ngoài thì núi Chiếc Đũa, núi Biện Sơn che chở Thực là một trọng trấn có hình thế tốt” Lại xét, Ái Châu là vùng đất mà như ngày
Trang 3nay nói là “khu IV đẩy ra, khu III đẩy vào”, tức là nơi giao nhau giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, có thể xem như là yết hầu của nước Nam nơi cõi Bắc vậy Nhờ có địa thế
tự nhiên với biển, núi, sông che chở, nên vùng đất này có được cái thế hiểm yếu hiếm
có trong quân sự Chẳng thế mà sau này quân Tây Sơn lại chọn lui về Tam Điệp (còn gọi là đèo Ba Dội giao nhau giữa Ninh Bình, Thanh Hóa) và Biện Sơn để ngăn bước tiến quân Thanh
Hình thế đắc địa như một vương quốc riêng như vậy, cũng từ đó mà hình thành nên tính cách, phong tục của người dân nơi đây được An Nam chí lược của Lê Tắc trong phần Phong tục khen là: “Người sinh ra ở Giao Châu và Ái Châu thì rộng rãi,
có mưu trí” Còn trong Đại Nam nhất thống chí thì bình rằng: “Sĩ tử thích văn học, giữ khí tiết, nông dân chăm cày cấy, thợ thì có người đẽo đá là sở trường hơn cả, ít người buôn bán” Chính từ địa lợi, nhân hòa ấy, góp phần cho vùng đất Ái châu trở thành nơi thiên thời cho việc xưng vương, dựng nước
Cũng vì là đất đế vương, cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhà Trần đã từng phải cho người đục núi, lấp sông ở nơi đây để trấn yểm các huyệt mạch đế vương
Điều này được chứng thực bởi Việt sử địa dưcủa Phan Đình Phùng, nguyên văn như
sau: “Trần Thái Tông niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 17 (1248), sai người giỏi về phong thủy đi trấn áp vượng khí trong khắp núi sông, như núi Chiêu Bạc, sông Bà, sông Lễ ở Thanh Hóa, đều đào và đục đi Lấp các khe kênh, mở đường ngang lối dọc không kể xiết” Núi Chiêu Bạc chính là núi Chiếu Sơn thuộc huyện Nga Sơn Sông Bà thuộc địa giới huyện Đông Sơn, còn sông Lễ chính là sông Mã Nhưng việc làm ấy cũng chỉ như muối bỏ biển, bởi ngay sau nhà Trần thì nhà Hồ đã phát ra từ xứ Thanh rồi Thế nên lời của sử thần Ngô Sĩ Liên quả chẳng sai chút nào:
“Từ khi có trời đất này, thì đã có núi sông này, mà khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, đều có số cả Khí trời từ Bắc chuyển xuống Nam, hết Nam rồi lại quay về Bắc Thánh nhân trăm năm mới sinh, đủ số lại trở lại từ đầu Thời vận có lúc chậm lúc chóng, có khi thưa khi mau mà không đều, đại lược là thế, có can gì đến núi sông? Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà trấn áp, thì khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời có pháp thuật gì trấn áp được không? Ví như Tần Thủy Hoàng biết là phương Đông Nam có vượng khí thiên tử, đã mấy lần xuống phương ấy để trấn áp,
mà rút cuộc Hán Cao vẫn nổi dậy, có trấn áp được đâu”
Liên tiếp các triều đại vua, chúa phát tích từ đất Ái Châu mà ra, nên trong dân gian đời xưa có câu ngạn ngữ truyền đời: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”, ý nói Thanh Hóa là nơi phát tích của các triều đại đế vương Còn xứ Nghệ An là nơi có các tôi thần giỏi giang giúp vua trị nước Theo thống kê của tác giả, kể từ khi nước ta có vua thời Văn Lang cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn vào năm 1945 với vua Bảo Đại, thì Thanh Hóa chính là nơi khởi nguồn của nhiều dòng vua, chúa nhất nước Vậy nên, nói Thanh Hóa là vùng đất địa linh, nhân kiệt từ ngàn xưa đến nay quả chẳng ngoa chút nào
Trang 4Đất của vua
Nguyễn Hoàng và họ hàng vào Thuận Hóa
Năm Mậu Thìn (248), Lệ Hải bà vương Triệu Thị Trinh đánh quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa làm quân giặc khiếp đảm tôn phục với câu cửa miệng
“Hoành qua đương hổ dị Đối diện bà Vương nan” (Múa giáo chống hổ dễ Đối mặt vua bà khó) Dù chưa lập triều nghi, nhưng ngay quân Ngô đã tôn xưng người con gái của chiến tuyến bên kia làm vua rồi
Tháng 12 năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ quê làng Giàng, nay thuộc
xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã đánh đuổi quan đô hộ Lý Khắc Chính, Lý Tiến của nhà Đường, chiếm thành Đại La, tự xưng làm Tiết Độ sứ, nhưng thực ra đã là một “vua không ngai” khi tiếp nối được nền độc lập, tự chủ do dòng họ Khúc dựng nên từ năm Ất Sửu (905)
Tháng 7 năm Canh Thìn (980), Thái hậu Dương Vân Nga khoác áo mời Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi để thống nhất lòng dân chống quân xâm lược Tống,
từ đó mở ra nhà Tiền Lê (980 - 1009) Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành vốn quê xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa Nhà Tiền Lê trải ba đời gồm Lê Đại Hành (980 - 1005), Lê Trung Tông (1005), Lê Ngọa Triều (1005 - 1009)
Vào 520 năm sau, cũng năm Canh Thìn (1400), ngoại thích Hồ Quý Ly thoán đoạt ngôi vị nhà Trần lập nhà Hồ với tên nước là Đại Ngu, kinh đô ở thành Tây Giai, tức Tây Đô của Thanh Hóa Tổ tiên ông vốn ở Chiết Giang, Trung Quốc, sau di cư sang sống ở Diễn Châu, Nghệ An rồi chuyển ra hương Đại Lại, Thanh Hóa lập nghiệp Nhà Hồ truyền qua hai đời vua trong 7 năm (1400 - 1407)
Thời gian 1428 – 1789 là thời kỳ tồn tại của nhà Hậu Lê gồm giai đoạn Lê sơ (1428 - 1527) và Lê Trung hưng (1533 - 1789) Người sáng nghiệp nhà Hậu Lê là Lê
Trang 5Thái Tổ (Lê Lợi) sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh (1416
- 1428) Ông quê ở xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa Giai đoạn Lê sơ trải qua 10
vị vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng, được xem là thời thịnh trị của chế độ phong kiến Đại Việt với đỉnh cao là đời vua Lê Thánh Tông trị vì (1460 - 1497) Giai đoạn Lê Trung hưng đánh dấu sự phục hồi của nhà Lê sau khi bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi với vị vua đầu tiên Lê Trang Tông (1533 - 1548), và kết thúc với vua thứ
16 Lê Chiêu Thống (1786 - 1789)
Triều đại cuối cùng của Việt Nam là nhà Nguyễn (1802 - 1945) do Nguyễn Ánh Gia Long hưng khởi, tổ tiên của ông là chúa Nguyễn Hoàng vốn bản quán ở Gia Miêu ngoại trang thuộc huyện Tống Sơn (xã Hà Long, huyện Hà Trung nay), đất Thanh Hóa Nhà Nguyễn truyền được 13 đời vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802 -1820) cho đến vua Bảo Đại (1926 - 1945)
“Nhà” của chúa
Trong lịch sử nước Nam ta, ghi nhận chính thức có hai dòng chúa là chúa Trịnh và chúa Nguyễn Cả hai dòng chúa đều phát tích từ xứ Thanh
Chúa Trịnh thời vua Lê – chúa Trịnh thế kỷ XVI - XVIII do Trịnh Kiểm lập nên Ông vốn xuất thân nghèo nàn từ làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa Tuy tiếng là phò giúp nhà Lê, nhưng quyền lực thực tế của các chúa Trịnh lại át cả vua Lê, có cung vua thì có phủ chúa Vua Lê có Lục Bộ thì chúa Trịnh có Lục phiên Vua Lê dạo Trung hưng chỉ có hư vị mà thôi Thế nên dân gian mới có câu: “Phi đế phi bá, quyền nghiêng thiên hạ” để chỉ thế lực của chúa Trịnh Dòng dõi chúa Trịnh bắt đầu từ chúa Trịnh Kiểm (1545 1570) cho đến thời chúa Trịnh Bồng (1786 -1787) bị Bắc Bình vương Nguyễn Huệ dẹp thì dứt hẳn
Chín đời chúa Nguyễn được lập nên sau thời chúa Trịnh Vào năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng nghe theo lời Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên
“Hoành Sơn nhất đại, khả dĩ dung thân” đã vào trấn trị đất Thuận Hóa Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chính là con trai thứ của An Thành hầu Nguyễn Kim người Gia Miêu ngoại trang được nói tới ở trên Dòng dõi chúa Nguyễn trải qua 9 đời từ Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) cho tới Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777), có công lập nên và khai phá đất Đàng Trong, mở rộng dần về phía Nam đất nước cho tới tận Mũi Đất, Cà Mau
Không chỉ là nơi phát vua, phát chúa, Ái Châu – Thanh Hóa còn nhiều lần đóng vai trò trung tâm của đất nước khi từng giữ vị trí là đất Thần Kinh Cụ thể là Tây Đô thời Hồ với thành An Tôn, hay Tây Giai (1400 - 1407)
Câu 2:
Trang 6Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài
hoa của cha ông - NXB Giáo dục 1988) Ngày 27 - 06 - 2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này
Trả lời:
“Thành nhà Hồ” một công trình kiến trúc mang giá trị nổi bật toàn cầu được
UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào ngày 27/6/2011.Chính học giả
người Pháp L.Bơdatxie đã phải công nhận rằng: “Công trình này là một trong những
tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam”
Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm
1398 đến 1407
Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly - lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần
- cho xây dựng vào năm 1397 Thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) về Thanh Hóa Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay nhà Trần và đặt tên nước là Đại Ngu (1400-1407), thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn
có các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai
Hoàng đế Hồ Quý Ly - tranh sơn dầu của Hoàng Hoa Mai
Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít còn lại trên thế giới
Trang 7Thành Nhà Hồ đã đáp ứng hai tiêu chí được quy định trong Công ước Di sản Thế giới năm 2008 Đó là tiêu chí 2 “bày tỏ sự trao đổi quan trọng của các giá trị nhân văn, qua một thời kỳ hay bên trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những phát triển trong kiến trúc, công nghệ, nghệ thuật điêu khắc, quy hoạch thành phố hay thiết kế phong cảnh” và tiêu chí 4 “là ví dụ nổi bật về một loại hình công trình xây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc cảnh quan minh họa một (hoặc nhiều) giai đoạn trong lịch sử nhân loại”
Trong hồ sơ di sản thế giới, thành Nhà Hồ được mô tả là một công trình kỳ vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời
kỳ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 Nhờ kỹ thuật xây dựng độc đáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, thành Nhà Hồ được bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn Đây là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng thì phức hợp di sản thành Nhà Hồ ngoài Thành nội, Hào thành, La thành còn có Đàn
tế Nam Giao
Thành Nhà Hồ cách Hà Nội 150 km về phía nam Do giặc phương Bắc lăm le xâm chiếm nên thành được xây dựng bởi Hồ Quý Ly từ tháng giêng đến tháng ba năm 1397, rộng 5.234 ha với rất nhiều khối kiến trúc Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữa sông Mã và sông Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi
Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50m Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành
Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông Tây dài 883,5 m Bốn cổng thành theo chính hướng Nam -Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm Những phiến
đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau
Trang 8HÀNH NHÀ HỒ
Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long
Bức tòa thành đá 600 năm tuổi này đã khiến bất kỳ ai một lần đến thăm cũng đều xuýt xoa khen ngợi bởi kiến trúc độc đáo và bền vững của nó.Mỗi mặt của bức tường thành dù đã qua 600 năm vẫn giữ được sự nguyên vẹn với bốn cổng thành đứng sừng sững Một số phần đã mọc kín cỏ, cây bụi rậm Xung quanh là cảnh đặc trưng của làng quê Việt Nam với đồng lúa, ao hồ càng khiến khung cảnh thêm nên thơ Đây còn được xem là một công trình vô cùng kỳ lạ ở 2 điểm Điểm đầu tiên, nhà
Hồ chỉ tồn tại vỏn vẹn trong 7 năm (1400-1407) trong chiều dài lịch sử Việt Nam Điều thứ hai, Thành nhà Hồ hoàn toàn trống rỗng, chỉ gồm 4 bức tường bao quanh một khu đất Ngoài ra không hề có tòa lâu đài, ngôi miếu nào bên trong
Vẻ đẹp của Thành nhà Hồ đã gây ấn tượng với rất nhiều tờ báo nước ngoài Họ
từng ca ngợi “Công trình được xây dựng trong 3 tháng, ghép các viên đá lại với nhau
mà không hề dùng vữa này là một thành tích ấn tượng của kỹ thuật thế kỷ XV”
Thành nhà Hồ là tòa thành bằng đá còn nguyên vẹn nhất không chỉ trong nước
mà còn ở khu vực Đông Nam Á Thành nhà Hồ được bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia lần đầu tiên vào năm 1962 Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận với nhũng giá trị nổi bật sau: khu di sản thành nhà Hồ là trung tâm kinh thành Việt Nam ở cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV, là trung tâm kinh tế- chính trị-văn hóa của Bắc Trung Bộ ở từ thế kỉ XVI đến XVIII Giá trị nổi bật toàn cầu của di sản bao gồm tòa thành đá đươc xây dựng bằng kĩ thuật đá lớn La Thành, Nam Giao, các tầng văn hóa nối tiếp nhau trong lòng đất lưu giữ các dấu tích cung điện, đền đài, đường
xá, các làng cổ và toàn bộ cảnh quan đồi núi sông hồ mang đậm chất phong thủy
Trang 9điển hình phản ánh rõ nét về thời kì lịch sử văn hóa văn minh Việt Nam với các đặc trưng mang tầm vóc khu vực và quốc tế
Thành nhà Hồ là một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất nước ta ở tỉnh Thanh Hóa, nó là di sản đại diện cho nước Việt Nam đứng trên nền kiến trúc của thế giới Thành đã tô thêm vẻ đẹp văn hóa và truyền thống giữ nước của dân tộc ta qua nhiều thế kỉ Tự hào biết bao nhiêu! Chúng ta nên tôn trọng, bảo vệ và giữ gìn nó để nền kiến trúc Việt Nam không bị hao mòn, mà phải trở thành công trình kiến trúc lâu đời nhất được vinh danh trên thế giới qua nhiều thế kỉ tiếp theo
Câu 3:
Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Bằng kiến thức lịch
sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh
Trả lời :
Việt Nam chúng ta không phải chỉ có nam nhân xưng đế anh hùng, không ít những nữ nhân đã không tiếc tuổi xuân đứng lên dựng cờ khởi nghĩa cứu nước Bà
Triệu từng nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Đó cũng chính là truyền thống anh hùng bất khuất
của dân tộc ta được truyền qua ngàn đời, lưu giữ và truyền lại qua mọi thế hệ người xưa và nay
Chân dung Triệu Thị Trinh đang cỡi voi ra trận
Từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang, nhân dân ta đã có một truyền thống yêu nước nồng nàn và da diết Chúng ta tự hào rằng mình là con rồng cháu tiên, là
Trang 10dòng dõi của trời Đồng bào ta đoàn kết và có tình yêu thương gắn kết, đùm bọc lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh khó khăn Đồng bào ta nói chung và nhân dân xứ Thanh nói riêng luôn tự gây dựng cho mình một tình yêu nước nồng nàn bền vững qua năm tháng
Xứ Thanh là nơi bắt nguồn của nhiều vị vua trong thời kỳ lịch sử Việt Nam Là nơi khởi đầu của những cuộc khởi nghĩa in danh Lịch Sử hào hùng dân tộc Nhân dân Thanh Hóa ta tự hào vì điều đó Vốn từ xưa, khi có áp bức nhân dân Thanh Hóa ta luôn làm tiên phong khởi nghĩa chống lại quân giặc, những đời vua bị suy thoái cả về đạo đức lẫn trí tuệ Con giun xéo lắm cũng phải quằn, đó là điều dĩ nhiên Bắt nguồn
từ Bà triệu chống quân Ngô đô hộ, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa mang khí thế yêu nước hào hùng đòi tự do đã nổ ra mang âm hưởng yêu nước vô cùng sâu sắc nối tiếp truyền thống qua ngàn đời nay Điển hình là cá cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha, các vị vua Lê Đại Hành, Hồ Quý Ly, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Gia Long,… Tiếp đến cho thời kì của Hồ chủ tịch đã xuất hiện nhiều những chiến sĩ quả cảm yêu nước họ đã hy sinh vì độc lập tự
do của dân tộc Việt Nam Bác Hồ từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước,
đó là truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng là tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” Quả đúng như vậy! Tinh thần yêu nước tồn tại qua năm tháng, bền vững với thời gian, trở thành một truyền thống đoàn kết bền vững Đất Thanh Hóa là mảnh đất của vua, chúa, nơi đất lành chim đậu, nơi xây dựng nền tảng quân sự mạnh mẽ
Thanh Hóa đã đóng góp một phần công lao vô cùng to lớn trong quá trình dựng nước và giữ nước Là cái nôi của các vị anh hùng dân tộc Trải qua bao thời kì lịch
sử, Thanh Hóa vẫn âm vang tinh thần yêu nước và tinh thần hào hùng dân tộc Chúng
ta không thể phủ nhận điều đó Vẫn hiên ngang như cây tre mọc thẳng, tiếp nối truyền thống tre già măng mọc, “không chịu khom lưng cúi đầu” trước gian nguy thử thách
Thanh Hóa vẫn còn đó, vẫn là một tỉnh kiểu mẫu với lòng yêu nước và tinh thần hiếu học để cho những nơi khác nhìn vào, đi đầu trong việc tiếp nối truyền thống “tre già mang mọc” tiếp nối các thế hệ của cha ông ta từ thế hệ này đến thế hệ khác
Câu 4:
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập như thế nào? Hãy nêu những hiểu biết của em về một người Cộng sản Thanh Hóa mà em ấn tượng nhất?
Trả lời :
Năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức xâm lược
Việt Nam Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thanh Hóa, liên tục vùng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Pháp xâm lược Các cuộc đấu tranh yêu nước do các sỹ phu phong kiến lãnh đạo, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục diễn ra rộng khắp, thế nhưng đều lần lượt bị địch khủng bố đẫm máu và thất bại, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn của một chính Đảng Trong bối cảnh đó, ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập,