1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài nghiên cứu thực tế thiên nhiên

36 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Tài Nghiên Cứu Thực Tế Thiên Nhiên
Tác giả Đặng Thị Tình
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Văn Lõm, Cô Hoàng Thị Hoa, Cô Lương Ánh Võn, Thầy Đỗ Hoàng Tấn
Trường học Cao Đẳng Bình Định
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 269 KB
File đính kèm đề tài nghiên cứu thực tế.rar (69 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đợt nghiên cứu thực tế thiên nhiên vừa qua, từ ngày 752012 đến ngày 1252012 tại các địa điểm: Hồ Núi Một, Phước Lộc – Tuy Phước, Eo Gió; Hòn Bà – Nhơn lý, trạm Thực nghiệm thuỷ sản Mỹ Châu được trường Cao Đẳng Bình Định tổ chức, lớp SH7 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Riêng bản thân tôi đã cố gắng học hỏi bổ sung cho mình được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý giá, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô và 27 thành viên trong lớp nên đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này. Qua đây em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến: BGH nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng em được mở mang sựhiểu biết bằng chuyến đi thực tế vừa qua. Thầy Nguyễn Văn Lâm, cô Hoàng thị Hoa, cô Lương Ánh Vân, thầy Đỗ Hoàng Tân đã trực tiếp hướng dẫn chúng em hoàn thành chuyến đi thực tế của mình. Em cũng xin chân thành cảm ơn đến các cô chú, anh chị tại vườn ươm nhân giống cây con Phước Lộc, trạm thực nghiệm thuỷ sản Mỹ Châu… đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu cho chúng em hoàn thành đề tài của mình. Đồng thời với tinh thần đoàn kết của tập thể lớp SH7 đã giúp cho chuyến đi thành công tốt đẹp.Em xin chân thành cảm ơnQuy nhơn, ngày 10 tháng 09 năm 2012Sinh viên thực hiệnĐẶNG THỊ TÌNHLỜI NÓI ĐẦU Thiên nhiên bao la với bao điều bí ẩn luôn la một dấu chấm hỏi tri thức của loài người. Để khám phá được nó, con người phải luôn tìm tòi suy luận, tiếp cận với thiên nhiên và quan trọng hơn là phải tìm ra được quy luật biến thiên, để từ đó trở thành bạn đồng hành với thiên nhiên trong cuộc sống. Việt Nam là một đất nước giàu và đẹp trải dài từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái, mảnh đất hình chữ S ấy mang trên mình một hệ động – thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và có những nét đặc trưng riêng. Đặc biệt là ở các khu sinh thái, chúng ta không những được tham quan cái vẻ đẹp hoang dã ấy của tự nhiên mà còn được khám phá, học hỏi nhiều điều như: Ở đó có những loài sinh vật gì, trong điều kiện tự nhiên đó chúng thích nghi như thế nào?... ¾ diện tích trái đất là nước, điều này cho chúng ta biết rằng hệ sinh thái ở dưới nước và khu vực biển thì vô cùng phong phú và đa dạng. Nói đến biển thì ai cũng quen thuộc với Nha Trang, vũng Tàu, Bình Thuận vậy thì Quy Nhơn sẽ là điểm đến hấp dẫn cho những người yêu thích biển và sự bình yên, bên cạnh đó ở Quy Nhơn chúng ta còn được khám phá nhiều nơi có hệ sinh thái vô cùng phong phú và đa dạng như ở Eo Gió, Hòn Sẹo. Eo Gió thuộc thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý, nằm cách Quy Nhơn hơn 20 km về phía đông bắc. Đây là thắng cảnh đẹp mang dáng vẻ hùng vĩ nhất của tỉnh Bình Định. Đường lên Eo Gió, lối đi vẫn còn hoang sơ và không bị tác động nhiều từ bàn tay con người. Từ trên cao nhìn xuống Eo Gió xinh xắn nhiều gợi cảm. Núi ôm biển, biển lượn viền theo chân núi; sóng biển vỗ dạt dào nhè nhẹ vào vách đá tạo nên những khúc nhạc du dương. Phía sâu trong khe núi là tiếng róc rách của những con suối nhỏ… Tất cả tạo thành một bản hòa tấu độc đáo. Bên cạnh đó là một bức tranh phong cảnh với vẻ đẹp được tạo từ rất nhiều màu sắc khác nhau của các loài sinh vật. Địa hình chủ yếu là núi và biển đã giúp cho một số loài sinh vật phát triển, thích nghi với điều kiện tự nhiên nơi đây. Eo gió là một thắng cảnh đẹp hoang sơ và thơ mộng, thì Hòn Sẹo từ trong đất liền nhìn ra tựa như một con thuyền khổng lồ đang tiến vào bờ. Hòn Sẹo là một hòn đảo rất đẹp trên bán đảo Phương Mai, thuộc địa phận xã Nhơn Lý cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 15 km về hướng đông bắc, là một trong 32 hòn đảo có tiềm năng kinh tế và du lịch của Bình Định, nơi đây còn khá nguyên sơ, kỳ thú và không có người ở. Nhưng không khí ở đây khá trong lành, mát mẻ với nhiều bãi đá tuyệt đẹp và quyến rũ, nằm sâu trong chân núi còn có một hang đá khá rộng có thể chứa được khoảng hàng trăm người. Với điều kiện thiên nhiên như vậy là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài sinh vật biển, đa dạng và phong phú về thành phần cũng như số lượng loài, mà quan trọng là một số loài có giá trị về kinh tế và dược liệu. Hệ động vật nơi đây rất phong phú và đa dạng, chúng sinh trưởng và phát triển phù hợp với điều kiện sinh thái của môi trường. với nhiều điều bí ẩn và lí thú về động vật mà ta chưa biết và hiểu rõ về chúng. Vì vậy, mà để hiểu rõ về thế giới sinh vật tôi đã chọn học ngành sinh. Trong suốt hai năm học qua tôi đã cố gắng tích lũy cho mình những kiến thức về sinh vật, tuy nhiên những kiến thức này còn mang tính lí thuyết. Trong quá trình học tập bản thân tôi được biết hải sản là những món ăn có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày của tất cả mọi người. Nhưng cũng có một số loài có giá trị về dược liệu. Điều này làm tôi thấy tò mò và muốn khám phá về động vật ở dưới nước. Thật may mắn cho lớp chúng tôi được nhà trường tổ chức chuyến đi thực tế ở Eo Gió, Hòn Sẹo – Nhơn Lý là điều kiện tốt cho chúng tôi thâm nhập thực tế, hiểu rõ hơn về lĩnh vực mà mình đang quan tâm đến. Việc chọn cho mình đề tài: “NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC LOÀI SINH VẬT THÍCH NGHI VỚI HỆ SINH THÁI KHU VỰC EO GIÓ, HÒN SẸO – NHƠN LÝ” là cơ hội cho tôi hiểu sâu về sinh thái, cấu tạo, hoạt động sống của thế giới động vật trong tự nhiên mà đặc biệt là các loài sinh vật ở khu vực Eo Gió, Hòn Sẹo – Nhơn Lý. Là một sinh viên ngành sư phạm Sinh – Hóa, tương lai sẽ là giáo viên tôi luôn lo lắng suy nghĩ làm sao để có một bài giảng hay, lôi cuốn được các em học sinh, giúp các em có thể nắm vững kiến thức cho mình. Chính nhờ chuyến đi thực tế này là cơ hội rất thuận lợi để giúp tôi thực hiện các thắc mắc, lo lắng trên. Chuyến đi này đã cho tôi tiếp cận trực tiếp với thế giới động vật, trau dồi thêm kiến thức, học hỏi được nhiều điều hay, lí thú từ các các thầy cô giáo có nhiều kinh nghiệm. Trong quá trình tiếp cận được với thế giới động vật cũng là dịp để chúng tôi củng cố lại vốn kiến thức mà mình đã được học ở trường, và thông qua chuyến đi thực tế này đã cho tôi được nhiều bài học hay. Với nhiều kinh nghiệm bổ ích sẽ là hành trang vững chắc cho công việc giảng dạy sau này.CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong thế giới tự nhiên, giới sinh vật nói chung và động – thực vật nói riêng rất phong phú và đa dạng, chúng phân bố khắp nơi trên trái đất từ những vùng núi cao đến những vùng đồng bằng hay từ đất liền đến vùng biển đều có sự hiện diện của chúng. Như trên đất liền thực vật chiếm một khối lượng khổng lồ thì trong môi trường nước biển là những loài động vật cũng chiếm một khối lượng không nhỏ. Nhưng dù ở trên bờ hay dưới biển thì các loài động vật và thực vật không phân bố hỗn độn mà tuỳ từng loài chúng thích nghi với những điều kiện sống thích hợp, chúng tạo thành những tầng khác nhau phù hợp với điều kiện môi trường sống của chúng.I. VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG BIỂN VIỆT NAM: 1. Khái quát về biển Việt Nam: Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng của khu vực và thế giới. Với 3.260 km đường bờ biển trải dài trên 13 vĩ độ, chạy qua 29 tỉnh, thành phố gồm 124 huyện, thị xã với 612 xã, phường (trong đó có 12 huyện đảo, 53 xã đảo) Việt Nam đã thu hút 20 triệu người sống ở ven bờ và 17 vạn người sống ở các đảo. Ngoài phần lục địa “hình chữ S”, nước ta còn có cả vùng biển rộng lớn gần 1 triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền. Vùng biển nước ta có hơn 4000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc và Tây Nam với những đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiến lược như Bạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Trường Sa.... Dọc bờ biển có 90 cảng biển, 48 vũng vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển. Đặc biệt, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Đây là vừa là cơ hội vừa là thách thức cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế xã hội, giao lưu văn hóa và an ninh quốc phòng. Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất, đời sống của dân tộc Việt Nam và ngày càng có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”, khai thác biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khi các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới nguồn tài nguyên từ biển cả. Một số nguồn tài nguyên chính từ biển đang được Việt Nam đầu tư khai thác. 2. Nguồn thủy hải sản của nước ta:Biển nước ta có khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Trữ lượng hải sản biển Việt Nam dao động trong khoảng 3,1 4,2 triệu tấnnăm, với khả năng khai thác 1,4 1,6 triệu tấnnăm. Trong đó, trữ lượng cá nổi và đáy tập trung nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, diện tích nuôi trồng thủy sản của Việt Nam khoảng 2 triệu hécta với 3 loại hình nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ. Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim biển, thú biển, hải sâm… Với 48 vũng, vịnh nhỏ và 12 đầm, phá ven bờ, khoảng 1.120 km rạn san hô, 252.500 ha rừng ngập mặn, cùng các thảm cỏ biển phân bố từ Bắc vào Nam... hệ sinh thái ven biển Việt nam mỗi năm đem lại lợi nhuận ước tính từ 6080 triệu USD. Biển và đại dương cung cấp nguồn tài nguyên đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhân loại nhưng biển

Trang 1

LỜI CẢM ƠN



Trong đợt nghiên cứu thực tế thiên nhiên vừa qua, từ ngày 7-5-2012 đếnngày 12-5-2012 tại các địa điểm: Hồ Núi Một, Phước Lộc – Tuy Phước, Eo Gió;Hòn Bà – Nhơn lý, trạm Thực nghiệm thuỷ sản Mỹ Châu được trường Cao ĐẳngBình Định tổ chức, lớp SH7 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Riêng bản thân tôi đã cốgắng học hỏi bổ sung cho mình được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý giá,đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô và 27 thành viên trong lớp nên đãgiúp tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này

Qua đây em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

- BGH nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng em được mở mang sự

hiểu biết bằng chuyến đi thực tế vừa qua

- Thầy Nguyễn Văn Lâm, cô Hoàng thị Hoa, cô Lương Ánh Vân, thầy ĐỗHoàng Tân đã trực tiếp hướng dẫn chúng em hoàn thành chuyến đi thực tế củamình

- Em cũng xin chân thành cảm ơn đến các cô chú, anh chị tại vườn ươm nhângiống cây con Phước Lộc, trạm thực nghiệm thuỷ sản Mỹ Châu… đã giúp đỡ vàcung cấp tài liệu cho chúng em hoàn thành đề tài của mình

Đồng thời với tinh thần đoàn kết của tập thể lớp SH7 đã giúp cho chuyến đithành công tốt đẹp

Em xin chân thành cảm ơn!

Quy nhơn, ngày 10 tháng 09 năm 2012

Sinh viên thực hiệnĐẶNG THỊ TÌNH

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU



Thiên nhiên bao la với bao điều bí ẩn luôn la một dấu chấm hỏi tri thức củaloài người Để khám phá được nó, con người phải luôn tìm tòi suy luận, tiếp cậnvới thiên nhiên và quan trọng hơn là phải tìm ra được quy luật biến thiên, để từ đótrở thành bạn đồng hành với thiên nhiên trong cuộc sống

Việt Nam là một đất nước giàu

và đẹp trải dài từ mũi Cà Mau đến địađầu Móng Cái, mảnh đất hình chữ S ấymang trên mình một hệ động – thựcvật vô cùng phong phú, đa dạng và cónhững nét đặc trưng riêng Đặc biệt là

ở các khu sinh thái, chúng ta khôngnhững được tham quan cái vẻ đẹphoang dã ấy của tự nhiên mà còn đượckhám phá, học hỏi nhiều điều như: Ở

đó có những loài sinh vật gì, trongđiều kiện tự nhiên đó chúng thích nghinhư thế nào? ¾ diện tích trái đất lànước, điều này cho chúng ta biết rằng

hệ sinh thái ở dưới nước và khu vựcbiển thì vô cùng phong phú và đadạng Nói đến biển thì ai cũng quen thuộc với Nha Trang, vũng Tàu, Bình Thuậnvậy thì Quy Nhơn sẽ là điểm đến hấp dẫn cho những người yêu thích biển và sựbình yên, bên cạnh đó ở Quy Nhơn chúng ta còn được khám phá nhiều nơi có hệsinh thái vô cùng phong phú và đa dạng như ở Eo Gió, Hòn Sẹo

Eo Gió thuộc thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý, nằm cách Quy Nhơn hơn 20

km về phía đông bắc Đây là thắng cảnh đẹp mang dáng vẻ hùng vĩ nhất của tỉnhBình Định Đường lên Eo Gió, lối đi vẫn còn hoang sơ và không bị tác động nhiều

từ bàn tay con người Từ trên cao nhìn xuống Eo Gió xinh xắn nhiều gợi cảm Núi

ôm biển, biển lượn viền theo chân núi; sóng biển vỗ dạt dào nhè nhẹ vào vách đátạo nên những khúc nhạc du dương Phía sâu trong khe núi là tiếng róc rách củanhững con suối nhỏ… Tất cả tạo thành một bản hòa tấu độc đáo Bên cạnh đó làmột bức tranh phong cảnh với vẻ đẹp được tạo từ rất nhiều màu sắc khác nhau của

Trang 3

các loài sinh vật Địa hình chủ yếu là núi và biển đã giúp cho một số loài sinh vậtphát triển, thích nghi với điều kiện tự nhiên nơi đây.

Eo gió là một thắng cảnh đẹp hoang sơ và thơ mộng, thì Hòn Sẹo từ trongđất liền nhìn ra tựa như một con thuyền khổng lồ đang tiến vào bờ Hòn Sẹo là mộthòn đảo rất đẹp trên bán đảo Phương Mai, thuộc địa phận xã Nhơn Lý cách trungtâm thành phố Quy Nhơn 15 km về hướng đông bắc, là một trong 32 hòn đảo cótiềm năng kinh tế và du lịch của Bình Định, nơi đây còn khá nguyên sơ, kỳ thú vàkhông có người ở Nhưng không khí ở đây khá trong lành, mát mẻ với nhiều bãi đátuyệt đẹp và quyến rũ, nằm sâu trong chân núi còn có một hang đá khá rộng có thểchứa được khoảng hàng trăm người Với điều kiện thiên nhiên như vậy là môitrường thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài sinh vật biển, đa dạng và phongphú về thành phần cũng như số lượng loài,

mà quan trọng là một số loài có giá trị về

kinh tế và dược liệu Hệ động vật nơi đây rất

phong phú và đa dạng, chúng sinh trưởng và

phát triển phù hợp với điều kiện sinh thái

của môi trường với nhiều điều bí ẩn và lí

thú về động vật mà ta chưa biết và hiểu rõ về

chúng Vì vậy, mà để hiểu rõ về thế giới sinh

vật tôi đã chọn học ngành sinh Trong suốt

hai năm học qua tôi đã cố gắng tích lũy cho

mình những kiến thức về sinh vật, tuy nhiên

những kiến thức này còn mang tính lí thuyết

Trong quá trình học tập bản thân tôi được

biết hải sản là những món ăn có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, là nhu cầu thiếtyếu trong cuộc sống hằng ngày của tất cả mọi người Nhưng cũng có một số loài

có giá trị về dược liệu Điều này làm tôi thấy tò mò và muốn khám phá về động vật

ở dưới nước Thật may mắn cho lớp chúng tôi được nhà trường tổ chức chuyến đithực tế ở Eo Gió, Hòn Sẹo – Nhơn Lý là điều kiện tốt cho chúng tôi thâm nhậpthực tế, hiểu rõ hơn về lĩnh vực mà mình đang quan tâm đến Việc chọn cho mình

đề tài: “NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC LOÀI SINH VẬT THÍCHNGHI VỚI HỆ SINH THÁI KHU VỰC EO GIÓ, HÒN SẸO – NHƠN LÝ” là cơhội cho tôi hiểu sâu về sinh thái, cấu tạo, hoạt động sống của thế giới động vậttrong tự nhiên mà đặc biệt là các loài sinh vật ở khu vực Eo Gió, Hòn Sẹo – NhơnLý

Là một sinh viên ngành sư phạm Sinh – Hóa, tương lai sẽ là giáo viên tôiluôn lo lắng suy nghĩ làm sao để có một bài giảng hay, lôi cuốn được các em họcsinh, giúp các em có thể nắm vững kiến thức cho mình Chính nhờ chuyến đi thực

Trang 4

tế này là cơ hội rất thuận lợi để giúp tôi thực hiện các thắc mắc, lo lắng trên.Chuyến đi này đã cho tôi tiếp cận trực tiếp với thế giới động vật, trau dồi thêm kiếnthức, học hỏi được nhiều điều hay, lí thú từ các các thầy cô giáo có nhiều kinhnghiệm Trong quá trình tiếp cận được với thế giới động vật cũng là dịp để chúngtôi củng cố lại vốn kiến thức mà mình đã được học ở trường, và thông qua chuyến

đi thực tế này đã cho tôi được nhiều bài học hay Với nhiều kinh nghiệm bổ ích sẽ

là hành trang vững chắc cho công việc giảng dạy sau này

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU



Trong thế giới tự nhiên, giới sinh vật nói chung và động – thực vật nói riêngrất phong phú và đa dạng, chúng phân bố khắp nơi trên trái đất từ những vùng núicao đến những vùng đồng bằng hay từ đất liền đến vùng biển đều có sự hiện diệncủa chúng Như trên đất liền thực vật chiếm một khối lượng khổng lồ thì trong môitrường nước biển là những loài động vật cũng chiếm một khối lượng không nhỏ.Nhưng dù ở trên bờ hay dưới biển thì các loài động vật và thực vật không phân bốhỗn độn mà tuỳ từng loài chúng thích nghi với những điều kiện sống thích hợp,chúng tạo thành những tầng khác nhau phù hợp với điều kiện môi trường sống củachúng

I VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG BIỂN VIỆT NAM:

1 Khái quát về biển Việt Nam:

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng của khuvực và thế giới Với 3.260 km đường bờ biển trải dài trên 13 vĩ độ, chạy qua 29tỉnh, thành phố gồm 124 huyện, thị xã với 612 xã, phường (trong đó có 12 huyệnđảo, 53 xã đảo) Việt Nam đã thu hút 20 triệu người sống ở ven bờ và 17 vạn ngườisống ở các đảo

Ngoài phần lục địa “hình chữ S”, nước ta còn có cả vùng biển rộng lớn gần 1triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền Vùng biển nước ta có hơn 4000 đảo lớn, nhỏvới diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biển

Trang 5

Đông Bắc và Tây Nam với những đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiến lược nhưBạch Long Vĩ, Phú quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, TrườngSa Dọc bờ biển có 90 cảng biển, 48 vũng vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ

ra biển Đặc biệt, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hànghải huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu

Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Đây

là vừa là cơ hội vừa là thách thức cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế xãhội, giao lưu văn hóa và an ninh quốc phòng

Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất, đờisống của dân tộc Việt Nam và ngày càng có vai trò hết sức quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ củabiển và đại dương”, khai thác biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiếnlược của hầu hết các quốc gia trên thế giới Khi các nguồn tài nguyên trên đất liềnđang ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới nguồn tài nguyên từbiển cả Một số nguồn tài nguyên chính từ biển đang được Việt Nam đầu tư khaithác

2 Nguồn thủy hải sản của nước ta:

Biển nước ta có khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinhthái điển hình thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau Trữ lượng hải sảnbiển Việt Nam dao động trong khoảng 3,1 - 4,2 triệu tấn/năm, với khả năng khaithác 1,4 - 1,6 triệu tấn/năm Trong đó, trữ lượng cá nổi và đáy tập trung nhiều nhất

ở khu vực Đông Nam Bộ Bên cạnh đó, diện tích nuôi trồng thủy sản của Việt Namkhoảng 2 triệu héc-ta với 3 loại hình nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven bờ.Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắnbiển, chim biển, thú biển, hải sâm… Với 48 vũng, vịnh nhỏ và 12 đầm, phá ven bờ,khoảng 1.120 km rạn san hô, 252.500 ha rừng ngập mặn, cùng các thảm cỏ biểnphân bố từ Bắc vào Nam hệ sinh thái ven biển Việt nam mỗi năm đem lại lợinhuận ước tính từ 60-80 triệu USD

Biển và đại dương cung cấp nguồn tài nguyên đảm bảo sự tồn tại và phát triểncủa nhân loại nhưng biển và đại dương cũng cần sự bảo vệ của con người Bảo vệ

sự sống của biển và đại dương cũng là hành động đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển bền cho chính loài người chúng ta

II KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở BÌNH ĐỊNH:

1 Vị trí địa lí Bình Định:

Trang 6

Bình Định là tỉnh thuộc Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung

bộ Việt Nam, có tổng diện tích tự nhiên 6.025km2 Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110

km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗhẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km) Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đườngranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông).Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam cótọa độ: 13°39'10 Bắc, 108o54'00 Đông) Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranhgiới chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông) PhíaĐông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu(Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21'Đông) Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnhTâyNguyên và vùng nam Lào

Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay HònTrâu Nằm gồm 4 đảo nhỏ; Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa Ven biển xã Mỹ Thọ

có 3 đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là Hòn Nước hay Đảo Đồn; Đảo HònTranh còn gọi là Đảo Quy vì có hình dáng giống như con rùa, đảo này nằm rất gần

bờ có thể đi bộ ra đảo khi thủy triều xuống; Đảo Hòn Nhàn nằm cạnh Hòn Đụn

Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, cácđảo còn lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn

đá và cát Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đèn hiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vàocảng Quy Nhơn, thì Bình Định còn có 2 ngọn hải đăng: một ngọn được xây dựngtrên mạng bắc của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ,ngọn này có tên gọi là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ haiđược xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn

3 Sông ngòi:

Trang 7

Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đôngdãy Trường Sơn Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sathấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw Ở thượnglưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh,thời gian truyền lũ ngắn Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồnglạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênhmông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trìnhche chắn nên thoát lũ kém Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, LaTinh và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan Ngoài cácsông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ cónước chảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho pháttriển thuỷ lợi và thuỷ điện Độ che phủ của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40%nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷ phá nghiêm trọng Ngược lại,mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nước tưới.

Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 27,9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình

-là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình -là 79%

Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 Riêng đối với khuvực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưaTây Nguyên Mùa khô kéo dài tháng 1 - 8 Đối với các huyện miền núi tổng lượngmưa trung bình năm 2.000 - 2.400 mm Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưatrung bình năm là 1.751 mm Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từmiền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miềnthường có bão đổ bộ vào đất liền Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam -

Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào Tần suất xuất hiệnbão lớn nhất tháng 9 – 11

5 Diện tích, dân số:

Trang 8

Bình Định có diện tích tự nhiên 6.039 km², dân số 1.578.900 người, mật độdân số 261.5 người/km² (số liệu năm 2007).

Theo số liệu niên giám thống kê năm 2005, toàn tỉnh có 1.600.400 người,trong đó nam là (761.000 người) chiếm 48,7%, nữ là (801.400 người) chiếm:51,3% Dân số ở thành thị là (393.000 người) chiếm 25,2%, nông thôn là(1.169.400 người) chiếm 74,8%, mật độ dân số là 259,4 người/km2 và dân số trong

độ tuổi lao động chiếm khoảng (793.687 người) chiếm: 50,8% dân số toàn tỉnh

6 Giới thiệu thành phố Quy Nhơn:

a Vị trí địa lí:

Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, phíađông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp huyện TuyPhước và huyện Phù Cát, phía nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên QuyNhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ Bắc, từ 109°06' đến109°22' kinh Đông

b Địa lí tự nhiên:

Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lí như núirừng, gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo vàđảo Bờ biển Quy Nhơn dài 42 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinhvật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao Các ngànhkinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch

vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch Vừa mở thêm khu kinh tếNhơn Hội

7 Các đặc trưng về vùng biển:

a Khu vực biển và bờ biển:

Khu vực bờ biển thềm lục địa tỉnh Bình Định có diện tích khoảng36.000km2, lớn gấp 6 lần diện tích tự nhiên của tỉnh

Nếu không kể các đường bờ của các hải đảo, bán đảo, tỉnh Bình Định cókhoảng 134 km bờ biển Do ảnh hưởng nhô ra của các dãy núi, cũng như khí hậu

và tác động của các quá trình thủy văn động lực của biển, đủ tạo nên sự phức tạpcủa vạch bờ, đồng thời cũng tạo nên nhiều đầm phá ven biển như: Đầm Trà Ổ, đầmNước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại và phá Công Khanh Các đầm, phá được

Trang 9

ngăn cách với biển bởi các doi cát hoặc các dãy núi thấp và trao đổi nước với biểnthông qua các cửa rất hẹp.

Do sự tác động của các quá trình tự nhiên trên đã tạo cho bờ biển tỉnh BìnhĐịnh có nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và nhiều đầm, phá Bình Định có nhiều tiềm năng tolớn cho việc phát triển du lịch, nuôi trồng hải sản

b Tính chất dao động của mực nước thủy triều:

Tính chất dao động mực nước ở vùng biển Quy Nhơn và Bình Định thuộc

về nhật triều không đều Tính chất trên cũng nhận được từ kết quả phân tích hằng

số điều hòa và cho phép nhận được tỷ số:

c Các đặc trưng mực nước thủy triều:

- Mực nước trung bình

- Mực nước cực đại

- Mực nước cực tiểu

d Các đặc trưng độ lớn thủy triều:

- Độ lớn thủy triều trung bình

- Độ lớn thủy triều cực đại

- Độ lớn thủy triều cực tiểu

Trang 10

*Các dữ kiện mực nước thủy triều trong hệ cao độ “0” thủy chí tại trạm mựcnước Quy Nhơn:

- Mực nước cao nhất tần suất 1% : 304 cm

- Mực nước quan trắc cao nhất : 296 cm

- Mực nước cao nhất trung bình : 263 cm

- Mực nước cao trung bình : 234 cm

- Mực nước trung bình nhiều năm : 157 cm

- Mực nước trung bình năm là 157cm, cực đại 296cm, cực tiểu 27cm

- Độ lớn thủy triều trung bình năm là 105cm, cực đại 178cm, cực tiểu36cm

- Mực nước dâng - rút do gió mùa trong khoảng 30 - 50cm

- Ngoài các điều kiện thiên văn, các quá trình mực nước chịu sự tác độngmạnh mẽ của nước dâng, nước rút do gió mùa, ảnh hưởng của lũ không rõ rệt

8 Các đặc trưng nhiệt độ, độ muối, mật độ nước biển:

a Các đặc trưng nhiệt độ nước biển:

- Sự phân bố theo mùa của nhiệt độ nước biển

Trang 11

- Biến trình năm của nhiệt độ nước biển

- Sự biến đổi theo phương thẳng đứng của nhiệt độ nước biển:

Sự phân bố thẳng đứng của nhiệt độ, ở đó cho thấy trên lớp mặt, nhiệt độkhoảng 28oC và sau đó giảm nhanh chóng khi độ sâu tăng lên, đến 600m thì nhiệt

độ nước chỉ còn 8oC và đến độ sâu 1.000m, nhiệt độ nước chỉ còn 5oC

b Các đặc trưng độ muối của nước biển:

- Sự phân bố theo mùa của độ muối

- Phân bố thẳng đứng của độ muối theo mùa:

Nhìn chung, sự phân bố độ muối theo phương thẳng đứng trong các mùađều cho thấy: lớp nước từ mặt xuống đến 100 m độ muối tăng nhanh theo độ sâu

và từ 100m trở xuống độ muối hầu như không thay đổi đáng kể trong lớp này Cóthể xem lớp nước từ 100m trở xuống là lớp đồng nhất theo phương thẳng đứng về

độ muối

c Các đặc trưng của mật độ nước biển:

- Sự phân bố của mật độ nước biển theo mùa

- Sự phân bố thẳng đứng của mật độ nước biển:

Nói chung cầu trúc thẳng đứng của trường mật độ có thể chia làm 2 lớp:lớp trên từ mặt đến độ sâu 100m có mật độ thấp và tăng nhanh khi độ sâu tăng lên;lớp dưới từ 100m đến đáy có mật độ lớn và giá trị mật độ tăng chậm chạp theo độsâu

* Như vậy, các quá trình nhiệt độ, độ muối và mật độ của nước biển trong vùngnghiên cứu cho thấy tính cấu trúc 2 lớp của nước biển: ở lớp trên từ tầng mặt đếntầng 100m các yếu tố nhiệt độ, độ muối và mật độ nước biển biến đổi nhanh chóngtheo độ sâu và chịu sự chi phối của các quá trình dòng chảy và sóng do gió mùamột cách rõ rệt; ở lớp dưới từ 100 m trở xuống các tầng sâu có các đặc trưng kểtrên biến đổi chậm chạp theo độ sâu Lớp này chịu ảnh hưởng của các dao độngngầm được kích động bởi các nguyên nhân động lực truyền từ lớp trên

d Sự phân bố nồng độ ôxy hòa tan trong nước:

Trang 12

- Sự phân bố ôxy trên tầng mặt

- Sự phân bố ôxy trên tầng 20m

- Sự phân bố ôxy trên tầng 50m

- Sự phân bố ôxy trên tầng 100m

- Sự phân bố ôxy ở tầng 200m

Nhìn chung, nằm trên toàn miền nghiên cứu trên tầng mặt sự phân bố gần nhưđồng nhất từ tầng 20m đến tầng 200m Ở ven bờ khu vực Quy Nhơn không xuấthiện lưỡi ôxy cao Kết quả này có thể do tác dụng của nước sông ngòi đổ ra biểncũng như đây là vùng xáo trộn tốt do sông, dòng chảy và nước trồi Đây là vùng cóthể tập trung nhiều sinh vật phù du, động vật và các loài cá

III TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT BIỂN:

Quy Nhơn là một thành phố biển thuộc khu vực duyên hải miền Trung với khíhậu nhiệt đới ẩm gió mùa Đặc điểm đặc trưng của kiểu khí hậu này là có hai mùa

rõ rệt: đó là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa ở nơi đây rât lớn và kéo dài , gây lũlụt, nước lũ từ thượng nguồn đỗ ra biển, chính nước lũ đã cuốn theo những chấtkhoáng từ đất liền đỗ ra biển làm cho nhiều loài phù du và nhiều loài thực vật pháttiển làm cho hệ động vật ở đây phong phú nhưng chính nước lũ cũng cuốn theonhững rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp ở đất liền làm môi trường bi ônhiểm nghiêm trọng gây ảnh hưởng mghiêm trọng đến hệ động thực vật nơi đây.Còn vào mùa khô chất khoáng ít nên lượng thức ăn cho sinh vật cũng ít đần Dovây hệ động vât vào mùa này kém dần, mật độ thưa hơn

IV NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN GIỚI ĐỘNG VẬT:

Để phục vụ lợi ích của mình cũng như việc du lịch hóa đã gây ra những hậuquả nặng nề Môi trường sống của động vật bị thu hẹp, số lượng các loài động vậtgiảm dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái Nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, chỉcòn lại một số lượng rất ít cần được bảo vệ Nếu như con người chỉ vì lợi ích trướcmắt mà khai thác chúng thì chắc chắn sẽ có lúc nhiều loài bị tuyệt chủng, sự khaithác của con người đã gây ra những hậu quả khó lường Muốn bảo vệ chúng Nhànước cần ban hành những luật khai thác động vật và phổ biến đến từng người dânlàm cho họ hiểu rõ vai trò cần thiết đảm bảo sự cân bằng sinh thái, tiêu diệt mộtloài động vật là hủy diệt một loại thiên nhiên và gây hại cho cả hệ sinh thái “Chimtrời cá nước” Những động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng thì cần phải được chăm

Trang 13

sóc, nuôi dưỡng để bảo tồn nòi giống Hiện nay Nhà nước ta đang có giải pháp bảo

vệ các loài động vật và môi trường sống, bảo vệ các loài động vật quý hiếm cónguy cơ bị tuyệt chủng Trên thực tế ở nước ta đã xây dựng các khu bảo tồn thiênnhiên như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Vườn quốc gia Bạch Mã, Viện Hải DươngHọc Nha Trang…

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG – NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU



I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu sự đa dạng của các loài sinh vật thích nghi với hệ sinh thái khu vực

Eo Gió, Hòn Sẹo – Nhơn lý

Tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm hình thái, lối sống, thức ăn, số lượng loài, sựthích nghi của các loài sinh vật này ở vùng biển Quy Nhơn

II NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu sự đa dạng của các loài sinh vật biển vùng biển Quy Nhơn

- Tìm hiểu đặc điểm hình thái, đời sống của các loài sinh vật này

- Tìm và thu mẫu, xử lí mẫu

- Nghiên cứu các tài liệu khác về các loài tìm được để làm đề tài nghiên cứu.III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1. Quan sát thực tế:

1.1 Quan sát thực tế:

Nghiên cứu trực tiếp ngoài thiên nhiên bằng các chuyến đi như: ĐếnHòn Sẹo – Nhơn Lý (thuộc địa phận bán đảo Phương Mai); Eo Gió – Hưng Lương,

Trang 14

Nhơn Lý… Chúng em đã quan sát trực tiếp các đối tượng về các mặt như về: Hìnhdạng, màu sắc, hoạt động tập tính, sự phân bố…Trên cơ sở lý thuyết đã học và ta

có thể trực tiếp thu được mẫu

1.2 Nghiên cứu thông qua lời giảng của giáo viên:

Thông qua lời giảng của thầy Lâm, chúng em được biết rất nhiều thôngtin về sự đa dạng của các loài sinh vật đặc hữu của vùng cũng như các đặc điểmchung của nó Trên cơ sở đó chúng em có thể hỏi thêm về các vấn đề có liên quan

mà trên cơ sở lý thuyết sách vở chúng em chưa biết

1.3 Phương pháp chụp ảnh ghi chép kết quả:

Ảnh động vật là một bằng chứng rất sinh động, thong qua đó chúng em

sẽ nghiên cứu kĩ hơn trên cơ sở những kiến thức nghe được, quan sát được

- Tại Hòn Sẹo – Nhơn Lý (thuộc địa phận bán đảo Phương Mai): Lặn tìm

và lấy mẫu, tìm hiểu môi trường sống, sự thích nghi của các loài sinh vật vùng biểnnày

- Tại Eo Gió – Hưng Lương, Nhơn Lý: Tìm và thu mẫu một số loài sinhvật tại khu vực này như: Đuôi rắn, hàu biển…

- Qua lời giảng của thầy Lâm: Tìm hiểu và nắm bắt thông tin về các loàisinh vật ở các mặt như: Môi trường sống, thức ăn, tập tính, sinh sản và giá trị củachúng về mặt kinh tế, dược liệu và số lượng hàng năm cung cấp cho chúng ta

3 Xử lí mẫu:

3.1 Xử lí mẫu tại chỗ:

Mẫu động vật thu được cho vào bì nilong, ghi tên loài, công dụng, ngàythu mẫu, giờ nghỉ ngơi, tiến hành xử lí mẫu tại chỗ bằng cồn 700 hoặc bằng

Trang 15

foocmon Tiến hành thay foocmon liên tục nếu nước đổi màu Xác định tên địaphương và tên khoa học.

3.2 Xử lí mẫu tại phòng thí nghiệm:

Sau khi thu được xử lí tạm thời đem về phòng thí nghiệm ta tiến hànhrửa bằng cồn hoặc nước cất, sau đó ngâm bằng cồn 700 hay foocmon Ta tiến hànhthay foocmon hay cồn thường xuyên cho đến khi nước trong thì thôi

4 Thống kê mẫu:

Trên cơ sở đặc điểm, hình thái, những tên có ghi sẵn tiến hành phân loạitheo kiểu mẫu:

- Tên khoa học

- Tên địa phương

- Ngày thu mẫu

- Nơi thu mẫu

- Người thu mẫu

- Công dụng

Sau đó ghi tất cả các cách phân loại này trên phiếu và dán vào mẫu vật đểtránh nhầm lẫn giữa các mẫu vật với nhau và giúp cho người xem có thể phân biệtđược khi xem các mẫu vật này

5 Thực hiện đề tài:

Nghiên cứu tổng hợp tài liệu để hoàn thành đề tài Tham khảo các tài liệu vềcác loài sinh vật, sinh thái, thu thập thông tin trên mạng entrenet, sách báo, quansát và ghi chép lời giáo viên hướng dẫn…Sau đó chọn lọc các vấn đề cần thiết cho

đề tài và đưa vào đề tài Xử lí thông tin, số liệu thu thập từ thực tế để hoàn thành đềtài nghiên cứu của mình

Trang 16

CHƯƠNG III: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU



I ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH:

Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng về du lịch biển và tập trung chủ yếu ởkhu vực miền Trung, trong đó có Bình Định Tỉnh ta có đường bờ biển dài 134 km,với gần một nửa số huyện, thành phố giáp biển, được thiên nhiên ban tặng vô sốnhững thắng cảnh và bãi biển đẹp, với hàng chục bãi tắm lớn, nhỏ, trong đó có một

số bãi tắm rộng hàng trăm ha và đa phần còn nguyên sơ, chưa được khai thác baonhiêu

Ngoài ra, hệ sinh thái thuỷ sinh của vùng biển Bình Định cũng khá phong phúvới khu hệ cá biển gồm 500 loài; khu hệ cá ở đầm có 116 loài, khu hệ tôm có 15loài….Tài nguyên thuỷ sinh vật ngập mặn không chỉ có ý nghĩa đối với sự pháttriển đời sống, kinh tế, da dạng sinh học mà còn có vai trò quan trọng đối với hoạtđộng dịch vụ du lịch, góp phần làm tăng tính hấp dẫn của du lịch địa phương quacác món ăn hải sản

II VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ SINH THÁI CÁC RẠN SAN HÔ ỞVÙNG BIỂN QUY NHƠN:

Rạn san hô ở vùng biển Quy Nhơn không đa dạng bằng một số nơi trong nước(Bình Thuận, Khánh Hòa) nhưng mang nhiều nét đặc trưng riêng, là nơi tồn cư củanhiều loài sinh vật quý hiếm, là môi trường tốt để bảo tồn nguồn gen, rạn san hô ởđây chủ yếu được kết thành bởi các tập đoàn san hô mềm Năm 2002 Viện Hảidương học Nha Trang đã tiến hành điều tra, khảo sát vùng vịnh Quy Nhơn đểnghiên cứu tìm giải pháp bảo vệ và tái tạo nguồn lợi ở vùng vịnh này

Ai cũng biết các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản Nguồn lợisinh vật tại các rạn san hô ở vùng biển Quy Nhơn khá phong phú Theo kết quảkhảo sát ban đầu tại đây có 61 loài rong biển thuộc 4 ngành: rong lam(Cyanophyta) rong nâu (Phaeophyta), rong đỏ (Rhodophyta) và rong lục(Chlorophyta) Đặc biệt có các loài rong có giá trị kinh tế: rong câu chân vịt(Gracilaria eucheumoides), rong câu rễ tre (Gelediella acerosa); rong đông (Hypreapannosa), rong mơ (Sargassum SPP) Ở đây còn có 111 loài cá sống ở rạn thuộc 61

Trang 17

giống và 34 họ Chiếm nhiều nhất là loại cá bướm, cá thia, cá bàng chài và cá đuôigai Bốn loài cá này đã chiếm 50,45% tổng số loài.

Ở Hòn Đất, Nhơn Lý có nhiều họ cá mú, cá thia, cá bàng chài, cá đuôi gai CùLao Xanh có: cá bướm, cá thia, cá bàng chài nhiều hơn tại Hòn Đất và Nhơn Lý.Ngoài ra ở cùng rạn còn nhiều loài nhuyễn thể khác: ốc đụn, ốc khối, ốc bàn tay,

ốc bông, ốc mặt trăng, bào ngư, hải sâm đen, tôm hùm đã làm tăng thêm tính đadạng của rạn Bên cạnh sự đa dạng về mặt sinh học, do cấu trúc địa chất, trongthành phần trầm tích vịnh Quy Nhơn hàm lượng khoáng vật nặng Ilmenit, Zircon,Rutin khá cao Chúng được phân bố ở độ sâu không quá 30m Đây là một dạngtài nguyên quý nhưng chưa được khảo sát đánh giá trữ lượng, bản đồ phân bố, để

có cơ sở quy hoạch khai thác hợp lý

Nhiều năm qua các rạn san hô tập trung bờ nam bán đảo Phương Mai (QuyNhơn) đã bị con người khai thác hủy diệt để lấy nguyên liệu nung vôi Nguồn lợisinh vật biển ở đây bị ngư dân khai thác khá triệt để bằng nghề giã cào đáy, đặtlồng, nghề lưới, câu, lặn, có khi bằng lưới vây mắt nhỏ Môi trường còn bị tàn hạinghiêm trọng do nhiều kẻ hám lợi đã khai thác thủy sản bằng phương tiện xungđiện, xiếc máy, chất nổ Các kiểu đánh bắt này đã tác động trực tiếp lên sự tồn tạicủa các rạn san hô Một số loài sinh vật cư trú trong khu vực các rạn, nhất là cácloài nhuyễn thể có dấu hiệu cạn kiệt Tính đa dạng sinh học của vùng biển phụthuộc nhiều vào các rạn san hô, khi các rạn này bị xâm hại, môi trường và tính đadạng sinh học cũng bị ảnh hưởng tiêu cực

Kết quả nghiên cứu, khảo sát vùng biển Quy Nhơn của Viện Hải dương họcNha Trang cho thấy: Vùng vịnh Quy Nhơn có tầng đáy được phủ bởi các lớp trầmtích chủ yếu là hạt nhỏ đến mịn, có hệ thống dòng chảy hoàn lưu, đây là điều kiệnthuận lợi để nhiều loài sinh vật đáy phát triển Vùng biển này có 204 loài động vật,thuộc 139 giống và 86 họ Trong đó nhiều nhất là giun nhiều tơ (123 loài), rồi đếngiáp xác (37 loài), thân mềm (30 loài), da gai (14 loài) Mức độ cân bằng sinh tồngiữa các loài tương đối tốt Nhìn chung tính đa dạng sinh vật ở đây tương đối cao,đáng kể nhất là vùng biển ven Hòn Đất, khu vực bờ đông nam bán đảo PhươngMai, Hòn Khô Về san hô, các rạn phát triển mạnh thuộc về khu vực phía nam đảoNhơn Lý, ven đảo Hòn Đất Ở ven đảo Cù Lao Xanh, do được bảo vệ tương đốitốt, ở khu vực phía đông, tây nam san hô đã tái sinh khá tốt, đặc biệt là hiện tượngphục hồi và tái phát triển của rạn san hô cứng đang diễn ra khá mạnh Tuy nhiêntrừ rạn san hô ở những địa điểm kể trên, ở những khu vực còn lại diện tích san hôcòn lại không đáng kể

Trang 18

Để quản lý khai thác có hiệu quả, trước mắt, Bình Định đã cấm khai thác đánhbắt hải sản bằng phương pháp hủy diệt, giã cào đáy tại rạn vùng tiếp giáp (phươngpháp khai thác này làm tăng hàm lượng vật chất lơ lửng, giảm độ trong suốt củanước Đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho rạn san hô kém phát triển, có khigây ra hiện tượng san hô chết hàng loạt) Không neo đậu tàu (trừ tàu du lịch) xảthải dầu nhớt tại các vùng bãi rạn và lân cận Tiến hành công tác khôi phục lại rạn-diệt các loài rong biển cạnh tranh với san hô, các loài động vật ăn san hô, trồng cácloại rong có ích tự làm sạch môi trường Kết quả nghiên cứu của Viện Hải dươnghọc Nha Trang sẽ là cơ sở để Bình Định xây dựng kế hoạch bảo tồn hệ sinh thái và

đa dạng sinh học khu vực các rạn Bảo vệ các rạn san hô chính là bảo vệ hệ sinhthái các bãi đẻ để duy trì và phát triển nguồn lợi sinh vật biển, đảm bảo sinh kế bềnvững cho dân địa phương, tạo môi trường sạch phục vụ du lịch sinh thái

III NÉT ĐẸP NGUYÊN THỦY CỦA NHƠN LÝ – BÌNH ĐỊNH:

Xã Nhơn Lý hiện nay đã phát triển nhưngvẫn còn giữ được vẻ đẹp tự nhiên với nhữngbãi cát trắng trải dài, nhà mái ngói đỏ tươi, biểnvẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ

Cách trung tâm phố Quy Nhơn 30km, băngqua cầu Thị Nại là xã Nhơn Lý Xã Nhơn Lý

đã có lịch sử lâu đời, bề dày về truyền thốngvăn hóa với những nét đẹp trong đời sống sinhhoạt hàng ngày

Người dân trong xã vẫn sống với nhữngnghề liên quan đến biển nhưng đánh bắt thủyhải sản, chế biển hải sản Đây là một xã đảo vẫn còn lưu giữ nhiều di tích của vănhóa Champa, với lễ hội Cầu ngư được tổ chức hàng năm, nơi còn lưu giữ 6 sắcphong của các triều đại Vua

IV GIỚI THIỆU ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN Ở EO GIÓ, HÒN SẸO – NHƠN LÝ:

1 Đặc điểm ở Eo Gió – Nhơn Lý:

Eo Gió thuộc thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý, nằm cách Quy Nhơn hơn 20

km về hướng đông bắc Đây là thắng cảnh đẹp, mang dáng vẻ hùng vĩ bậc nhất ởBình Định Eo Gió là một eo biển đẹp hình cánh cung mà thiên nhiên đã ban tặngcho xã miền biển Nhơn Lý (TP Quy Nhơn)

Đường lên Eo Gió, lối đi vẫn còn hoang sơ và không có sự tác động nhiều từbàn tay con người Từ trên cao nhìn ra xa, cụm dân cư thôn Hưng Lương nằm ngaydưới chân núi trông thật bình yên với những con thuyền bé nhỏ đang từ từ cập bến

Ngày đăng: 24/10/2021, 20:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Trần Bái – Động vật học không xương sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật học không xương sống
Tác giả: Thái Trần Bái
2. Nguyễn Quang Vinh – Sổ tay kiến thức sinh học THCS – NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kiến thức sinh học THCS
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh
Nhà XB: NXB Trẻ
3. Võ Văn Chi – Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc ở VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc ở VN
Tác giả: Võ Văn Chi
4. Lê Trọng Cúc – Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
Tác giả: Lê Trọng Cúc
5. Dương Hữu Thời – Cơ sở sinh thái học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Tác giả: Dương Hữu Thời
6. Vũ Trung Tạng – Đại Dương và những cuộc sống kì diệu Khác
7. Trang web: www.google.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w