Qua những trang thơ của Đỗ Phủ, độc giả thấy được ông thường hướng ngòi bút của mình vào cuộc sống, chiến tranh loạn ly, cảnh đời, cảnh người vất vả. Thơ Đỗ Phủ chất chứa tính hiện thực sâu sắc, hiện thực ấy vừa phũ phàng, vừa trầm uất về thực tại. Một thời đại hết sức tang thương và đầy biến loạn, xã hội thì lầm than, con người cùng cực đã được khắc họa trong những trang thơ của Thi Thánh Đỗ Phủ.
Trang 1BÀI TẬP LỚN
Đề tài: “Giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ”
Mục lục
Trang 2Mở đầu 3
Nội dung 3
Chương 1: Khái quát chung 3
1.1 Cơ sở lý thuyết 3
1.1.1 Khái niệm về giá trị hiện thực 3
1.1.2 Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực 4
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phủ 4
1.2.1 Bối cảnh lịch sử 4
1.2.2 Cuộc đời Đỗ Phủ 5
1.2.3 Sự nghiệp văn chương Đỗ Phủ 6
Chương 2: Giá trị hiện thực của nội dung thơ Đỗ Phủ 6
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của hiện thực thơ Đỗ Phủ 11
Kết luận 11
Tài liệu tham khảo 12
Mở đầu
Trung Quốc là đất nước có bề dày lịch sử hàng ngàn năm do vậy mà đất
Trang 3nước này sở hữu cho mình một kho tàng văn học đồ sộ, phong phú Bao gồm tất cả các thể loại: Thơ, Tiểu thuyết, Văn xuôi, Kịch Mà mỗi một giai đoạn lịch sử lại có một nét đặc sắc văn học riêng Thơ ca được xem như một thanh
âm đặc sắc góp phần làm nên bản hòa tấu văn chương Trung Hoa, gắn liền với nhiều cái tên tiêu biểu như: Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy và đặc biệt
là Đỗ Phủ - người được mệnh danh là thi thánh trong tứ đại thi nhân Thơ ông
là một bức tranh sống động về lịch sử của Trung Quốc mà người đời gọi là thi
sử Khi tìm hiểu về thơ ca Đỗ Phủ, giá trị hiện thực trong thơ ca của ông được thể hiện sâu sắc qua từng áng thơ Nhà thơ Đỗ Phủ đã khắc họa chân thật về cuộc sống con người ở mọi tầng lớp, hình ảnh xã hội thời nhà Đường
Những sáng tác của Đỗ Phủ là những hiện thực về cuộc sống và con
người dưới thời nhà Đường, do vậy tôi chọn “giá trị hiện thực trong thơ Đỗ
Phủ” làm đề tài để tìm hiểu, làm rõ hơn những giá trị hiện thực trong một số
bài thơ của Đỗ Phủ, cho thấy được xã hội hiện thực của Trung Quốc lúc bấy giờ Đồng thời qua đó tôi muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc khẳng định
vị thế trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Góp phần nâng cao chất lượng trong việc giảng dạy về tác phẩm văn học và tác giả Đỗ Phủ
Nội dung
Chương 1: Khái quát chung
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Khái niệm về giá trị hiện thực
Giá trị hiện thực của một tác phẩm văn học là toàn bộ hiện thực đời sống
được nhà văn phản ánh thông qua tác phẩm văn học Nhắc đến giá trị hiện thực, trong các tác phẩm văn chương thường đề cập đến ba các vấn đề chính: phản ánh trung thực đời sống xã hội lịch sử, khắc họa trung thực đời sống và nội tâm của con người và có sức mạnh to lớn tố cáo xã hội, chế độ của một thời kỳ
Hiện thực xã hội chính là nền tảng, là cơ sở giúp các nhà thơ, nhà văn lấy
nó làm chủ đề chính trong các sáng tác của mình Thế giới hiện thực trong văn chương chính là cái bóng của thực tại trong cuộc sống Thế giới hiện thực trong các tác phẩm văn chương được sáng tạo thông qua lăng kính thực tại khách quan và miêu tả qua cái nhìn chủ quan của người nghệ sĩ
1.1.2 Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực
Trang 4Ở thời kỳ nhà Đường, văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và đây
được coi là đỉnh cao của thi ca Trung Quốc Hai thi sĩ nổi tiếng nhất Trung
Hoa là Lý Bạch và Đỗ Phủ: “thi sĩ chỉ vẽ phác lên một cảnh, diễn một nỗi
lòng thương cảm rồi để cho độc giả tưởng tượng” [1] Đặc biệt, các tác giả sử
dụng những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nhất để khai thác các vấn đề một cách tinh tế nhất để thể hiện chiều sâu cả về sự việc và con người
Giá trị hiện thực trong văn học thường có hai đặc điểm chính:
Đặc điểm thứ nhất: Đặc điểm của hiện thực được tác giả đưa vào tác phẩm Hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm là những hiện thực đời sống thật trong một thời điểm lịch sử nhất định
Đặc điểm thứ hai: Mỗi thời kì lịch sử sẽ gắn liền với mẫu người điển hình-đại diện cho một giai cấp, tầng lớp xã hội đó Chính vì vậy những con người
ấy được các nhà văn khắc họa và xây dựng thành các hình tượng nhân vật điển hình trong chính tác phẩm của mình
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phủ
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Dưới thời nhà Đường, văn hóa và văn học Trung Quốc phát triển mạnh
mẽ Nhưng do cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn đã khiến đất nước rơi vào cảnh điêu đứng, suy tàn Các tầng lớp tranh dành lẫn nhau Bởi sự lãnh đạo của vua Đường Huyền Tông đã làm cho xã hội xảy ra nhiều biến cố như chiến tranh xảy ra liên tục, nhân dân thì sống trong cảnh đau thương, lầm than, khổ cực vì đói nghèo, bệnh tật Chính vì sự suy yếu đó đã ảnh hưởng tới tư tưởng của các nhà văn, nhà thơ yêu nước, điển hình là Đỗ Phủ
Cơ sở hình thành giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ đó là hoàn cảnh lịch sử
xã hội Sự mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và bị trị khi vua quan ăn chơi sa đọa còn nhân dân đói khổ lầm than Đó chính là lí do khiến nhà thơ đi theo con đường hiện thực, đặt bút tại hiện thực mà cất lời thơ Thứ hai, cuộc đời ông đã từng trải qua nhiều biến cố, gặp nhiều tầng lớp trong xã hội Cuộc sống khốn khó được ông quan sát ở vị trí gần nhất cho nên yếu tố đó đã giúp thơ ông đậm màu sắc hiện thực Tiếp thu tinh hoa truyền thống từ kinh thi, sở
từ, nhạc phủ… và phát triển nó một cách độc đáo, mới lạ
1.2.2 Cuộc đời Đỗ Phủ
Nếu Lý Bạch được người đời gọi là Thi Tiên thì Đỗ Phủ được gọi là Thi
Trang 5Thánh Nguyễn Du từng nói về ông:
“Thiên cổ văn chương thiên cổ sư
Bình sinh bội phục bất thường li” [2]
Đỗ Phủ (712 - 770) hiệu Tử Mỹ, tự Đỗ Thiếu Lăng, là một trong những nhà thơ lớn, vĩ đại nhất của lịch sử văn học Trung Quốc Quê của Đỗ Phủ ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quý tộc, và có truyền thống Nho học và thơ ca lâu đời Cha là Đỗ Nhàn, mẹ là Thôi thị xuất thân trong gia đình danh giá Năm 20 tuổi, ông ngao du hơn chục năm trời suốt vùng Ngô, Việt, Tề Thiệu Năm 746, ông ra kinh đô Trường An để ứng thí nhưng không được triều định lấy Ông sống ở Trường
An đến năm 40 tuổi thì dân ba bài phú cho Đường Huyền Tông lúc ông đang
cử hành đại lễ, vì vậy ông được đưa vào hiền viện chờ thi để chờ tuyển dụng nhưng bị cản trở Sống cơ cực ở Trường An thêm 10 năm, ông được nhậ chức quan nhỏ quản lý kho quân giới Khi về thăm gia đình đúng lúc cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn diễn ra ở Trường An, ông cùng gia đình nếm đủ mùi vị cay đắng Ông để gia đình ở tại Phu Châu, trong khi quay về thì bị quân phản nghịch bắt giam ở Trường An Sau khi liều mạng vượt qua chiến tuyến của địch để đến gặp nhà vua Đường Túc Tông Ông được phong thành Tả Thập
Di và sau đó đưa vợ con về thành Trường An Sau hai năm trải qua chiến tranh, thơ của ông đã được tôi luyện và từ đó ông trở thành nhà thơ vĩ đại của dân tộc Trung Quốc Đến năm 759, ông từ quan, trở về Tần Châu – Đồng Cốc, ông dựng lều cỏ bên bờ suối Cán Hoa Năm 762, Từ Tri Đạo làm loạn, ông định bỏ chạy sang nước Thục nhưng bị ngăn lại và được cất nhắc làm Tiết độ tham mưu kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang nhưng chỉ được một thời gian, ông tiếp tục đến Quỳ Châu sinh sống Năm 768, ông rời Qùy Châu đến Giang Lăng, Công An, Nhạc Châu, Hành Châu Trong 5 năm cuối cuộc đời ông sống trong bệnh tật và chút hơi thở cuối vào năm 59 tuổi
1.2.3 Sự nghiệp văn chương Đỗ Phủ
Thơ của Đỗ Phủ là sự kế thừa và phát huy truyền thống hiện thực từ thơ ca
Trung Quốc mà từ Kinh Thi tới hiện đại chưa có ai vượt qua ông Nhà thơ để lại với đời một số lượng tác phẩm đồ sộ gồm có 1400 tác phẩm, được chia làm hai loại: cận thể thi và cổ thể thi Trong đó, cổ thể thi có 416 bài thơ và cận thể thi có 1037
Trang 6Về nội dung thơ của Đỗ Phủ: thơ ông chủ yếu nghiêng theo đề tài như: lòng yêu nước, thương dân, giai đoạn suy vong hiện thực của nhà Đường, tội
ác tàn nhẫn của giai cấp thống trị và tinh thần kiên cường đứng lên đấu tranh Đặc tả về hiện thực nhưng tràn ngập màu sắc trữ tình lãng mạn, lòng nhân đạo sâu sắc Những bài thơ ông viết đều hướng tới phản ánh hiện thực xã hội đương thời, xót thương, đồng cảm và ngợi ca tình cảnh của nhân dân, còn phê phán, châm biếm những tội ác của giai cấp thống trị
Về nghệ thuật trong thơ của Đỗ Phủ: đó là một sự tinh tế trong tiếp nhận và
kế tục những giá trị văn chương truyền thống để đổi mới sáng tác của ông Ông sáng tác ở mọi thể loại thơ nhưng tiêu biết nhất phải nói đến thể luật thi Nhà thơ sử dụng các phép đối song song trong thơ của mình
Chương 2: Giá trị hiện thực của nội dung thơ Đỗ Phủ
2.1 Phản ánh chân thực hiện thực và đời sống con người
Đỗ Phủ quan niệm về thơ ca: “Văn chương thiên cổ sự
Đắc thất thốn tâm tri”
Văn chương là sự nghiệp muôn đời được hay mất chỉ tấc lòng biết thôi - thơ
ca là lẽ sống cuộc đời ông Những áng thơ của ông chan chứa không khí hiện thực mãnh liệt Ông được gọi là “nhà viết sử bằng thơ” bởi vì trong thơ của ông là hiện thực lịch sử của một xã hội loạn lạc vì chiến tranh, quan lại thì mải mê ăn chơi, hưởng thụ mặc cho dân đen đói khát, cơ cực Từ đó mâu thuẫn giai cấp nổi lên, cuộc nổi loạn do An Lộc Sơn cầm đầu Hình ảnh tang thương ấy được tác giả khắc họa một cách rõ nét nhất trong các tác phẩm:
Hậu xuất tái, Vô gia biệt, Bi Thanh Bản, Xuân vọng, Thu hứng…
Dưới ngòi bút của nhà thơ hiện thực, ông miêu tả người nông dân trong xã hội thời đó vô cùng khắc khổ Cái đói cái nghèo luôn thường trực trong đời
sống của họ: “Hành lữ tương phan viên
Xuyên quảng bất khả việt.
Lão thê ký dị huyện, Thập khẩu cách phong tuyết
Thuỷ năng cửu bất cố?
Thứ vãng công cơ khát” [3]
(Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách
tự)
Trang 7Cuộc sống của nhân dân vô cùng lầm than, cơ cực bởi đói nghèo Trước mắt ông là sự tiêu điều, không khí tang thương chết chóc, gia đình thì li tán bởi chiến tranh Nỗi đau xót xa trước cảnh vợ xa chồng, con xa cha, anh em thì
thất lạc: “Cảnh tiêu điều sau năm Thiên Bảo
Xóm mình có hơn trăm nhà Gặp đời loạn, mỗi người đi một phương Người còn không tin tức gì
Người chết biến thành bụi đất”
(Vô gia biệt) Đứng trước khung cảnh này làm ta nhớ đến hình ảnh tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” khiến ta càng căm thù chiến tranh phi nghĩa này Một màu ảm đạm thê lương bao trùm lấy cảnh vật nơi đây Khung cảnh con người thì cơ cực, cây cỏ xác xơ, chim muông đói khát, bức trảnh ấy được chính tác giả miêu tả lại một cách chân thực nhất
Ông hiểu thấu nỗi đau của muôn vàn người dân hay nỗi đau của muôn kiếp
vì chính bản thân của tác giả cũng đã phải trải qua những nỗi đau thương ấy Tác giả còn có sự đồng cảm sâu sắc của mình với những số phận của nhân dân, những bất hạnh trong cuộc sống thường ngày Từ đó trong các tác phẩm, ông đã lên tiếng tố cáo cái xấu, cái ác, cái bất công và bênh vực những con người nhỏ bé “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” giá trị hiện thực của
bài thơ này chính là cuộc sống khốn khổ, khổ cực của nhà thơ nói riêng và nhân dân Trung Quốc nói chung dưới chế độ phong kiến nhà Đường:
“Tháng tám, thu cao, gió thét già,
Cuộn mất ba lớp tranh nhà ta.
Tranh bay sang sông rải khắp bờ, Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa,
Đỗ Phủ mở đầu bằng lời tự sự, độc giả thấy được những nét khắc họa tỉ mỉ
về căn nhà của mình vào một đêm gió thu trở rét Mở ra trước mắt là cảm cảnh mái nhà tranh rách nát, tiêu điều của Đỗ Phủ mà thiên nhiên tàn phá Trong phút chốc, gió thu tháng tám đã lật tung những mái tranh kia bay khắp nơi Với biện pháp đối lập “mảnh thấp” với “mảnh cao”, nhà thơ Đỗ Phủ đã
Trang 8vẽ nên bức tranh căn nhà của ông bị gió thu tháng tám phá nát Ông đành bất lực trước cảm cảnh như vậy và đó còn là nỗi khổ về vật chất mà tác giả ngậm ngùi chịu đựng Mở đầu chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, nhà thơ Đỗ Phủ đã
mở ra trước mắt độc giả một hiện thực đầy xót xa
Với bút pháp hiện thực Đỗ Phủ đã dựng lên một bức tranh về sự áp bức, bóc lột, coi thường mạng sống của người dân:
“Cửa son mặc chèn ép cướp đoạt nhau,
Rồi lần lượt bị giết cả ba họ!
Ngựa vua ăn nhẵn thóc đậu,
Gà quan thu hết nếp kê”
(Tráng du) Nhà thơ Đỗ Phủ không chỉ nhìn thấu cuộc sống khó khăn của nhân dân, ông
còn lên án mâu thuẫn của xã hội lúc bấy giờ qua bài thơ Từ Kinh Đô Phụng
Tiên để vạch ra sự thật:
“Cửa son rượu thịt ôi Ngoài đường xương chết buốt
….
Quan lớn trong triều ngáy rượu thịt Vóc lụa thềm son chia
Do gái nghèo chịu nhọc Roi vụt nhà cùng đinh Tom tóp dân bệ ngọc”
(Từ Kinh Đô đi Phụng Tiên) Chỉ bằng vài câu thơ, miêu tả bằng vài chi tiết nhưng độc giả thấy được rằng, tất cả mọi thứ cao sang kia đều do nhân dân vất vả làm nên Bọn cường quyền, giai cấp thống trị lại dùng đòn roi để sai, để trừng trị nhân dân và chính chúng cũng là người lấy đi của cải của dân khi phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và máu Nhà thơ Đỗ Phủ khéo léo sử dụng các từ ngữ “roi vụt”,
“ban”, “chia”,…như một lời mỉa mai dành cho giai cấp thống trị Đỗ Phủ đã lên án, quất thẳng vào giai cấp thống trị thối nát đương thời
Lợi dụng nhân dân để lấy tư tưởng xưng danh mở rộng lãnh thổ:
“Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ Hoàng khai biên ý vị dĩ”
Trang 9(Ở biên thuỳ máu chảy thành sông thành biển
Ý muốn mở mang bờ cõi của Vũ Hoàng vẫn chưa ngưng)
Đỗ Phủ từng hỏi: bốn về đất rộng, tại sao còn cướp đất của người khác làm gì? Lời tố cáo đanh thép của ông trước hiện thực xã hội suy đồi như tiếng lòng của người dân Trung Hoa khi bị rơi vào cảnh nước mất nhà tan
Cuộc sống đầy máu, nước mắt, đói khát chết chóc của nhân dân luôn xuất hiện ở thơ ông Những từ “máu”, “nước mắt”, “khóc” xuất hiện trong thơ ông với tần xuất cao: trong số 997 bài có 190 lần nhắc tới “nước mắt” và “khóc”,
33 lần nhắc tới “máu” Như vậy có thể nói chiến tranh đã lấy đi bao nhiêu giọt
lệ của những người dân Trung Hoa Họ phải cam chịu sự chèn ép của giai cấp thống trị
Trong bài Lệ nhân hành tác giả đã miêu tả thú ăn chơi hưởng lạc của các tầng lớp thống trị: “Ngày mồng ba tháng ba tươi đẹp,
Gái Tràng An rộn rịp bên sông
Tần Quốc, Quách Quốc trên đời trứ danh!
Bướu lạc đà nồi xanh nấu sẩn, Mâm thủy tinh cá trắng bày ra.
Đũa tê chẳng gắp vì no, Dao đeo chuông nhạc, thái mà uổng công!”
Và của bọn vua quan triều đình:
“Cờ xí rợp trời giăng,
Lũng đồi đạp tuyết trượt, Suối ấm khí ùn ùn,
Quân hầu đông nghịt nghịt.
Vua tôi mải mê chơi, Vui nhộn ầm trời đất”
(Tự kinh phó Phụng Tiên huyện hoài vịnh ngũ bách tự)
Cuộc sống đối lập giữa quan trên xa hoa hưởng thụ còn nhân dân đói khổ lầm than, càng làm tác giả vô cùng phẫn uất hơn:
“Nghe nói vùng này mất mùa, hạn liên tiếp
Có cấy không gặt, mất sạch sanh
Hồ Nam, Hà Nam ười nắng mãi
Trang 10Ruộng không cày được, bỏ quanh năm Trai lớn, gái nhỏ đói xanh mặt
Cám nấu thay cơm, cỏ nấu canh Mắt thấy người đói bên đường chết, Hột táo trong bọc lăn bên mình Mấy trăm hộ đói sống lênh đênh”
(Binh xa hành) Nếu như trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông, cỏ cây câm lặng, úa vàng Những bài thơ của ông cho người đọc thấy rõ những hiện thực xã hội thời Đường của Trung Quốc Qua những giá trị hiện thực trong các tác phẩm của ông, người đọc càng cảm thấy ngưỡng mộ trái tim yêu thương, đồng cảm với mọi người, và đồng thời lên án
xã hội chiến tranh phi nghĩa đã làm cuộc sống nhân dân rơi vào cảnh nước mất nhà tan, đời sống vô cùng khổ cực
2.2 Thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc
Tư tưởng nhân đạo trong thơ Đỗ Phủ được thể hiện ở sự thương cảm, thấu hiểu cho số phận con người nói chung nhân dân Trung Hoa nói riêng Những trang thơ lên án hành động bỉ ổi, vô nhân tính của tầng lớp vua quan Sự đối lập giữa cuộc sống nghèo khổ với hoan lạc, bị bóc lột với cầm quyền được nhà thơ phê phán một cách mạnh mẽ Qua những đối lập đó thể hiện những mâu thuẫn giữa cái mộng và cái hiện thực Đó là một trong những đặc trưng thi pháp nghệ thuật của ông Tấm lòng nhân đạo đã tạo nên một Đỗ Phủ với tình yêu thương vô bờ bến Kể cả khi bản thân rơi vào cảnh ngộ khốn cùng, ông vẫn luôn nghĩ đến người khác Ý nguyện hi sinh bản thân mình để cầu ước cho những kẻ sĩ khác được hạnh phúc hơn, rất đáng ngưỡng mộ
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của hiện thực thơ Đỗ Phủ
Cái nhìn chân thực, cụ thể và chi tiết từ chiến tranh đến đói nghèo và cả số phận bất hạnh của con người đều được Đỗ Phủ phác họa một cách rõ nét nhất Tất cả tác phẩm đó đều mang tính thời sự, những sự kiện lịch sử quan trọng Ngoài ra, Đỗ Phủ còn mở đầu cho cả thơ Nhạc phủ của Vương Tịch, Trương
Kiến; “Chính Nhạc phủ” của Bì Nhật Hưu, “Lệ nhân hành”,“Binh xa hành”,
“Tam lại”,“Tam biệt”…Cùng với cái nhìn hiện thực của mình, vận dụng