Cảm quan hiện thực trong tư tưởng nghệ thuật của Đỗ Phủ không chỉ dừng lại ở phạm vi phản ánh, nội dung phản ánh mà còn ở cả tinh thần phản ánh. Chính tinh thần hiện thực này mới là yếu tố tiên quyết, chỉ huy con đường sáng tác của tác giả. Các giá trị hiện thực hội đủ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ Đỗ Phủ. Nội dung là sự phản ánh con người, xã hội thời Đường, thể hiện tư tưởng nhân đạo cùng với khát vọng đất nước được yên bình, người dân được ấm no của tác giả. Ở nghệ thuật, người đọc có thể thấy được tính chất hiện thực phổ quát trong thơ ông và cái nhìn khách quan, nhiều chiều kích, cùng với lối sử dụng và phát triển thể thức Nhạc phủ.Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị hiện thực trong các sáng tác của Đỗ Phủ, ta vẫn có thể bắt gặp những bài thơ lãng mạn hoặc mang sắc thái lãng mạn rất hay và nổi tiếng như: Ẩm trung bát tiên ca, Tẩy binh mã, Mộng Lý Bạch, Cổ bá hành, Tàm cốc hành…Đỗ Phủ tuy là nhà thơ hiện thực, nhưng ông không phủ nhận những nhà thơ lãng mạn và các sáng tác của họ như Lý Bạch, mà thậm chí còn học tập họ. Trong những bài thơ bàn về thơ ca của ông như Hí vi lục tuyệt cú và Giải muộn thập nhị thủ, nhà thơ rất đề cao tinh thần cách tân và kế thừa có phê phán. Chính vì vậy, thơ ông có một đặc sắc nhất định, nhưng vẫn có những nét giao thoa với các nhà thơ đương thời.Sau đời Đường, ảnh hưởng của Đỗ Phủ theo thời gian càng ngày càng sâu sắc. Có rất nhiều nhà thơ chịu sự ảnh hưởng từ ông. Những người yêu thơ ông, không chỉ vì nghệ thuật mà còn vì những tư tưởng chứa đựng ở bên trong. Nhà thơ thấu được sự sâu xa của thơ ca, vàđã đưa thơ ca làm công việc hết sức thiêng liêng của nó. Như Lâm Ngữ Đường đã nhận xét: “Thực cũng may cho dân tộc Trung Hoa có được những thi hào như Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, khéo dùng nghệ thuật mà tô điểm những ưu uất của ta, gợi cho ta tấm lòng thương cảm, đồng tình với nhân loại”
Trang 2Họ và tên Nhiệm vụ Phần
trăm
Điểm số
1) Trần Thị Hạnh Đoan - Tìm kiếm tài liệu
2) Nguyễn Thị Lan - Tìm kiếm tài liệu
- Viết bài: Hiện thực đời sống và con
3) Đào Hồng Thủy - Tìm kiếm tài liệu
- Viết bài: Hiện thực xã hội 95%
4) Bùi Thị Thanh Nhàn - Tìm kiếm tài liệu
- Viết bài: Giá trị nhân đạo
5) Lê Thị Hà Trang - Tìm kiếm tài liệu
- Viết bài: Ước mơ của tác giả và sự đối lập giữa ước mơ của tác giả với hiện thực
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
MỤC LỤ
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN CHƯƠNG CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC THỜI PHONG KIẾN MẠT KÌ TRUNG HOA 4
1.1 Khái niệm về chủ nghĩa hiện thực thời mạt kì phong kiến: 4
1.2 Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực phong kiến mạt kì thời Đường: 5
1.3 Thi pháp của chủ nghĩa hiện thực phong kiến mạt kì thời Đường: 5
CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI NHÀ ĐƯỜNG CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP TRƯỚC TÁC VĂN CHƯƠNG ĐỖ PHỦ 7
2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội thời Đường: 7
2.2 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Đỗ Phủ: 8
2.2.1 Cuộc đời Đỗ Phủ: 8
2.2.2 Sự nghiệp văn chương của Đỗ Phủ: 10
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ HIỆN THỰC CỦA NỘI DUNG THƠ ĐỖ PHỦ 14
3.1 Phản ánh chân thực hiện thực đời sống và con người: 14
3.1.1 Số phận của những người dân trong thơ Đỗ Phủ: 14
3.1.2 Bộ mặt của giai cấp thống trị trong thơ Đỗ Phủ: 18
3.1.3 Sự đối lập giữa hai tầng lớp: 20
3.2 Hiện thực xã hội được thể hiện trong thơ Đỗ Phủ: 22
3.2.1 Cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn: 22
3.2.2 Cuộc sống của dân chúng trong chiến loạn: bắt lính bừa bãi, những khung cảnh chia li, nhân dân đói kém, mất mùa: 23
3.3 Tư tưởng nhân đạo trong thơ Đỗ Phủ: 27
3.3.1 Thái độ phê phán xã hội: 27
3.3.2 Lòng yêu thương, quý trọng con người: 30
3.4 Ước mơ của tác giả và sự đối lập giữa ước mơ - hiện thực trong thơ Đỗ Phủ: 34
CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA HIỆN THỰC THƠ ĐỖ PHỦ 39
4.1 Cái nhìn nhiều chiều kích: 39
4.2 Tính hiện thực phổ quát: 40
4.3 Cách tân hình thức thể loại Nhạc phủ: 41
KẾT LUẬN 43
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6Thơ ca có một vị trí đặc biệt trong tinh thần người Trung Quốc, không chỉ bởi nó làthể loại văn chương có tuổi thọ lâu đời nhất Mà ngay từ buổi đầu, thơ ca xuất hiện
đã dẫn dắt, trải lối cho con người (Đạo), đảm nhận chức năng là suối nguồn củatâm hồn Lâm Ngữ Đường có lời: Thơ là tôn giáo của người Trung Quốc.1Thườngnhật, tôn giáo với họ chỉ như một nguồn an ủi, xoa dịu những nỗi đau của cuộc đời,lúc gần kề cái chết Còn thơ ca thì ngược lại, vượt thoát khỏi phạm vi của nó, đảmnhận nhiệm vụ của đức tin, bước lên lễ đài thiêng liêng được người người ngưỡngvọng
Hán: phú, Đường: thi, Tống: từ, Nguyên: khúc, Minh - Thanh: tiểu thuyết Ở TrungQuốc, vào thời Đường, thơ ca thời phong kiến đã đạt được đến thời hoàng kim cựcthịnh Sự xuất hiện hàng loạt tên tuổi của các đại thi nhân cùng với sự tinh diệu củathơ khi hình thức đã đạt đến mức độ hoàn thiện Theo nghiên cứu của các nhà vănhọc sử ngày nay,thơ thời Đường có hai trường phái lớn nhất, và đối lập nhau: lãngmạn và hiện thực Trường phái lãng mạn với sự đi đầu của Lý Bạch Trường pháihiện thực mà đại biểu là Đỗ Phủ
Hiện thực được ra đời sau lãng mạn Có thể nói đây là bước ngoặc của thơ ca khi
đã phần nào phá bỏ đi những thi pháp cổ điển của giới cung đình, hướng dần đếnđại chúng Sự ra đời này xuất phát từ nguyên nhân nội tại của khuynh hướng lãngmạn, phá bỏ đi sự thoát ly thực tại của thơ ca lãng mạn, hướng chủ đề về nhânsinh Nhà thơ Đỗ Phủ, với các trước tác của mình đã góp phần khơi dòng chảy mớitrong nguồn mạch văn chương phong kiến
“I learned that realism can come in all shapes and sizes The world is bigenoughfor different values to coexist” (Murakami Haruki), (tạm dịch: Tôi học được mộtđiều là (chủ nghĩa) hiện thực tồn tại ở khắp mọi nơi, trong bất kì hình dáng nào vàtrong bất kể kích thước nào Thế giới này rộng lớn đến nỗi mọi giá trị khác biệt đềucùng tồn tại được bên cạnh nhau) Và nhà văn chính là kẻ phát hiện, nhìn thấu vàtái hiện được hiện thực đó, bằng cách này hay cách khác
1 Lâm Ngữ Đường, Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa, Ca Dao, Sài Gòn, 1970, tr 87
Trang 7Cấu trúc của bài seminar gồm có bốn chương Chương 1 là những vấn đề lý luậncủa trường phái hiện thực thời đại phong kiến mạt kì ở Trung quốc, chương 2 làgiới thiệu về tác giả Đỗ Phủ cùng với sự nghiệp trước tác của ông, chương 3 là cácgiá trị hiện thực của nội dung thơ Đỗ Phủ và chương 4 là các giá trị hiện thực trongnghệ thuật thơ Đỗ Phủ Sự sắp xếp các chương mục đi từ các vấn đề lý luận(chương 1) tiếp đến là giới thiệu cuộc đời nhà thơ và tác phẩm (chương 2), cuốicùng là đưa ra những giá trị thu được mà đề tài yêu cầu (chương 3 và chương 4).Cách làm này có tác dụng giải thích rõ ràng các thuật ngữ và các lý thuyết văn học
ở bước đầu, góp phần cung cấp các cách hiểu dùng làm phương tiện soi chiếu vàotác phẩm, để đi đến bước quan trọng là rút ra những kết luận cần thiết
Trang 8CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN CHƯƠNG CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC THỜI PHONG KIẾN MẠT KÌ TRUNG HOA 1.1 Khái niệm về chủ nghĩa hiện thực thời mạt kì phong kiến:
Hiện thực hay chủ nghĩa hiện thực (Realism) là một thuật ngữ của lý luận văn họccủa văn học hiện đại Thuật ngữ này xuất hiện vào thế kỉ XIX ở Tây Âu, là giaiđoạn phát triển đến đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực cổ điển Cho nên, cách phânxuất khái niệm và cách sử dụng khái niệm này là sự soi chiếu dưới góc nhìn củacon người hiện đại vào văn chương
Chủ nghĩa hiện thực là một thuật ngữtrước hết được dùng để chỉ kiểu sáng tác táihiện – “thủ pháp miêu tả hiện thực cuộc sống xuất hiện trong mọi thời đại” (J J.Abrams) Sau đó, trong các công trình nghiên cứu, thì cách gọi này được hiểu theonghĩa là một phương pháp sáng tác (phương pháp sáng tác chủ yếu phản ánh hiệnthực, không can thiệp bởi tư tưởng chủ quan) Trong lịch sử văn học, chủ nghĩahiện thực xuất hiện dưới nhiều dạng, ở Phương Tây có: chủ nghĩa hiện thực thờiPhục hưng, chủ nghĩa hiện thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX;còn ở phương Đông có chủ nghĩa hiện thực thời phong kiến mạt kì PhươngĐông…
Vấn đề hiện thực mà đề tài seminar đề cập đến: “Giá trị hiện thực trong thơ ĐỗPhủ” đã xác định hệ quy chiếu của thuật ngữ hiện thực được sử dụng ở trong bài
Đó chính là khuynh hướng hiện thực của một tác giả ở phương Đông, mà cụ thể ởđây là khuynh hướnghiện thực của tác giả Đỗ Phủ, xuất hiện trong giai đoạn phongkiến thời nhà Đường của Trung Hoa Ở phương Đông không có chủ nghĩa hiệnthực (nguồn gốc của tên gọi “chủ nghĩa hiện thực” đã cho thấy đây là một hiệntượng văn học của phương Tây, vì một số đặc điểm giống nhau giữa các hiện tượngvăn học - đối tượng nghiên cứu của văn học sử - mà từ này được sử dụng để gọitên chung các đối tượng đó), mà thay vào đó là khuynh hướng hiện thực Khuynhhướng hiện thực có thể xuất hiện sớm hơn hoặc muộn hơn so với chủ nghĩa hiệnthực, ở các nền văn học khác không phải châu Âu Tựu chung, khuynh hướng hiệnthực với chủ nghĩa hiện thực vẫn giống nhau về các đặc trưng cơ bản, là phươngpháp sáng tác và nội dung tác phẩm đều phản ánh hiện thực đời sống
Khuynh hướng văn chương hiện thực ở Trung Quốc thường xuất hiện vào giaiđoạn cuối của một vương triều Những giai đoạn cuối cùng cũng là những giaiđoạn chuyển giao này, khung cảnh của đất nước thường là chiến tranh, loạn lạc, đi
Trang 9kèm theo đó là các hệ quả: đói kém, giặc cỏ - cướp bóc, bệnh dịch v.v Các phongtrào văn chương ở giai đoạn trước bỗng nảy sinh những mâu thuẫn nội tại bêntrong, không cứu cánh được con người khỏi những đau đớn từ hiện thực nên đãhình thành nên phong trào văn chương mới, giải quyết và chữa lành các vấn đề củavăn chương, cho đến khi bước sang một vương triều mới, văn chương lại được dẫndắt bởi ý thức hệ tư tưởng của triều đại mới, mang bộ mặt mới của chính quyềnđương thời Điều này cũng đúng với khuynh hướng hiện thực ở Việt Nam thế kỉcuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX.
1.2 Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực phong kiến mạt kì thời Đường:
Phong trào văn chương hiện thực xuất hiện ở thời kì thịnh Đường, tiêu biểu là thơcủa Đỗ Phủ, dù không tiếp thu/ tiếp xúc với chủ nghĩa hiện thực của phương Tâynhưng vẫn mang những nét đặc trưng cơ bản giống với văn chương chủ nghĩa hiệnthực phương Tây
Nếu nguyên tắc mỹ học đầu tiên của văn chương chủ nghĩa hiện thực là điển hìnhhóa nhân vật trong một hoàn cảnh điển hình từ các sự kiện thực tế đời sống, thì ởphong trào thơ ca hiện thực mạt kìphong kiến Trung Quốc chỉ có một điểm khác làlối mô tả chân thực các sự kiện đời sống qua sự quan sát của các nhà thơ Các nhânvật trong thơ không phải là nhân vật được điển hình hóa như ở hiện đại, mà đượctrực tiếp lấy từ đời sống Tuy nhiên, đó không phải là sự sao chụp máy móc, mànhờ thơ ca “thi sĩ chỉ vẽ phác lên một cảnh, diễn một nỗi lòng thương cảm rồi đểcho độc giả tưởng tượng”2 Những sự kiện được ghi chép lại cũng là các sự việc cụthể, chân thực, nó có sự tác động đến tư tưởng, tình cảm của nhà thơ
Cùng với sự điển hình hóa bên trên là sự coi trọng những chi tiết cụ thể và độchính xác, coi trọng sự khách quan trong hành động mô tả, làm cho bản thân sựviệc tự nói lên bản chất của mình Nhà văn không can dự nhiều vào câu chuyện,chỉ đơn giản là chứng kiến, và trần thuật
1.3 Thi pháp của chủ nghĩa hiện thực phong kiến mạt kì thời Đường:
Thi pháp học là sử dụng phương pháp hình thức, bắt nguồn từ lý thuyết của cấutrúc luận: Hình thức quyết định nội dung của tác phẩm Nhà nghiên cứu phân tíchcác bề mặt hình thức của tác phẩm, từ đó rút ra những ý nghĩa thẩm mỹ nhất địnhcủa tác phẩm văn học
Các yếu tố thi pháp của trường phái hiện thực thời Đường ở Trung Quốc: Sự chânthực của chi tiết, cái nhìn phê phán và cái nhìn nhân đạo
2 Lâm Ngữ Đường, Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa, Ca Dao, Sài Gòn, 1970, tr 117
Trang 10đều mang một ý nghĩa riêng, nhưng tác giả không lên tiếng mà để tự các mảnhghép ấy tự nói.
Cái nhìn phê phán: Mỗi một phát ngôn đều có một mục đích nhất định Không phải
vô cớ mà nhà thơ lại chọn nói, kể, tả về một câu chuyện, sự việc nào đó Xã hội khi
mà văn chương hiện thực mạt kì phong kiến xuất hiện thường đầy rẫy những đaukhổ, bất công Chọn nói về những điều này chính là giải tỏa những suy nghĩ bấtđồng của của tác giả
Cái nhìn nhân đạo: Sự phê phán luôn đi liền với tình thương Phê phán những thứbất công; đồng cảm, chia sẻ với những tình cảnh khốn khó
Trang 11CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI NHÀ ĐƯỜNG CUỘC ĐỜI, SỰ
NGHIỆP TRƯỚC TÁC VĂN CHƯƠNG ĐỖ PHỦ 2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội thời Đường:
Dưới vương triều nhà Đường, Trung Quốc là một quốc gia thịnh vượng trên tất cảmọi mặt Trong đó thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung đều phát triểnhết sức rực rỡ
Sau gần 400 năm bị chia cắt và lệ thuộc thời Lục Triều, Trung Quốc thống nhấtdưới thời nhà Đường do cha con Lý Uyên (Đường Cao Tổ), Lí Thế Dân (ĐườngThái Tông) lập nên ở buổi sơ khai Nắm được tình hình xã hội đương thời vớinhững mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp gay gắt giữa tầng lớp trên và tầng lớp dưới,đồng thời tiếp thu được bài học thống trị của những triều đại đi trước, nhà Đườngban hành nhiều chính sách sáng suốt giúp đất nước đi đến cảnh thịnh trị chỉ sau 10năm trị vì Đường Huyền Tông lên ngôi vua, giai đoạn đầu nhà vua cai trị đấtnước, đất nước tiếp tục phát triển, kéo dài sự thịnh vượng của thời Thịnh Đường
Xã hội thịnh vượng ấy là nguồn cảm hứng lớn để nghệ sĩ sáng tác, góp phần đưavăn học nghệ thuật phát triển đến độ của nó Đề tài trong sáng tác ngày càng được
mở rộng, những thể loại mới xuất hiện (như biến văn, tiểu thuyết truyền kì, từ) vàtác phẩm văn học có điều kiện để truyền bá rộng rãi Thơ ca được đưa vào chế độthi cử, với vị trí như vậy thơ ca được học tập và sáng tác mạnh mẽ, đội ngũ ngườisáng tác cũng được mở rộng từ nho sĩ đến bình dân, địa vị của thơ ca được đề caohơn bao giờ hết Đồng thời nhà Đường không độc tôn tôn giáo cho nên cả Nhogiáo, Phật giáo và Đạo giáo đều được truyền bá, góp phần giúp văn sĩ, thi sĩ mởrộng tư tưởng cũng như quan điểm thẩm mĩ trong sáng tác
Thời Thịnh Đường chấm dứt với loạn An - Sử năm 755, là giai đoạn Đường HuyềnTông trở nên sa đọa, xã hội một phen rối ren khôn lường Từ đây nhà Đường bướcvào giai đoạn Trung - Vãn Đường với nhiều biến cố, triều đình nhũng nhiễu, chiếntranh liên miên, nhân dân đau thương trong bể lầm than Tuy triều đình có cố gắngcứu vãn nhưng vẫn đi đến sự suy vong Từ thời thịnh vượng đến thời suy yếu, vănhọc được dịp biến động tư tưởng, từ chỗ lạc quan, lành mạnh đi đến đau thương,đào sâu cuộc sống và mở ra những hiện thực khốn cùng
Lịch sử xã hội đời Đường với những thăng trầm, thịnh suy đã ảnh hưởng rất lớnđến đời sống văn học nghệ thuật Chính trong bãi bể ấy những thi sĩ có tầm ảnhhưởng của Trung Quốc đã ra đời và để lại cho thi đàn những giá trị có sức ảnhhưởng lâu đời
Trang 122.2 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Đỗ Phủ:
2.2.1 Cuộc đời Đỗ Phủ:
Đỗ Phủ (712 – 770), tự Tử Mĩ, nguyên quán Tương Dương (nay thuộc tỉnh HồBắc), sinh ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam Ông thuộc dòng họ quan lại cũ Trong sốcác vị tổ tiên của dòng họ có người là tướng lĩnh danh tiếng, có người là học giả,nhà văn, nhà chính trị lớn Nhưng đến thời của Đỗ Phủ thì dòng họ đã đến chiều sasút Cuộc đời cũng như quá trình sáng tác của nhà thơ diễn ra trong 4 thời kì
Thời kì thứ nhất (712 – 746) là những năm đọc sách và du lịch của nhà thơ Thờituổi trẻ của ông nằm trong giai đoạn thịnh vượng của nhà Đường Lúc này, Đỗ Phủ
có điều kiện để đi đây đi đó, thỏa mãn đam mê phiêu bạt, giải tỏa phiền muộn vớikết quả không như mong muốn của con đường thi cử Trong thời kì này ông cónhững chuyến đi cùng những người bạn là Lí Bạch, Cao Thích Lí Bạch đã trởthành bạn tri kỉ của Đỗ Phủ, ông học hỏi khá nhiều từ người bạn này Những sángtác trong giai đoạn này không nhiều, hiện còn lại rất ít (các sáng tác của ông cònđược lưu trữ đến nay chủ yếu là các tác phẩm viết vào giai đoạn cuối đời), đềumang màu sắc phóng khoáng, tự do, “nhà thơ muốn vượt lên những truyền thốngthơ ca trước đó vốn thiên về sự lộng lẫy bên ngoài nhưng trống rỗng bên trong vàtách rời khỏi thực tế Đó là Đỗ Phủ thời trẻ đang tìm kiếm con đường của mình”.3
Thời kì thứ hai (746 – 755) là 10 năm nhà thơ sống khổ cực ở Trường An Đỗ Phủ
là con người nho gia, muốn hoạn lộ trên con đường thi cử, quan trường Nhưngthời kì này nhà Đường bắt đầu suy yếu với những rối ren, mâu thuẫn, đấu tranhnặng nề, không những làm cho hi vọng làm quan của ông bị sụp đổ (một lần nữa đithi và bị đánh hỏng) mà còn phơi bày trước mắt ông những thị phi của chốn quantrường, những bất hạnh cùng cực của đời sống nhân dân Chính vì thế những sángtác trong giai đoạn này đã biến chuyển mạnh mẽ, nhà thơ nghiêng về sáng tác hiệnthực và đời sống nhân dân “Ông chuyển sang phản ánh những bất công, độc ác,bạo ngược đầy rẫy trong cuộc sống làm cho cuộc sống nhuộm màu ảm đạm Ông
đã nhận thấy sự trung thành với đời sống là ở việc khám phá những mặt đen tối củahiện thực thời đại mình Đó là Đỗ Phủ phẫn nộ nhiệt tình và còn trẻ”.4
3 N Konrat, Phương Đông và Phương Tây (Những vấn đề triết học, triết học lịch sử, văn học Đông và Tây, NXB GD,
Hà Nội, 1997, tr 96
4 N Konrat, Phương Đông và Phương Tây (Những vấn đề triết học, triết học lịch sử, văn học Đông và Tây, NXB GD,
Hà Nội, 1997, tr 97
Trang 13Thời kì thứ ba (756 – 759) là những năm làm quan, chạy loạn và bị An Lộc Sơngiam lỏng ở Trường An Lúc này triều đình ban cho Đỗ Phủ một chức vụ nhỏ hàmbát phẩm là quản lí kho vũ khí Sau đó ông được đặc ân về thăm gia đình khi loạn
An - Sử đang hoành hành Đỗ Phủ phải cùng gia đình sơ tán, bị An Lộc Sơn bắtgiam khi chạy theo triều đình Triều đình khôi phục được, ông lại được cử làm Tảthập di nhưng ngay sau đó bị cách chức về nhận chức mới ở Hoa Châu và từ quannăm 759 Với những sự biến mới này, thơ ông nhuốm màu sắc mới, từ chỗ cămphẫn những cái xấu xa, độc ác, ông trĩu lòng thương cảm, đau xót với con người,con người của thời đại ông khiến ông nghĩ đến kiếp người nhân loại Đây là thời kìông sáng tác những chùm thơ có giá trị hiện thực cao nhất “Đỗ Phủ trở thành nhàthơ nhân đạo chủ nghĩa theo cái nghĩa cao quý nhất của từ này… Đó là một ĐỗPhủ đã chín chắn đau khổ và gần như tuyệt vọng trong đời sống” 5
Thời kì thứ tư (759 – 770) là những năm phiêu bạt cuối đời, cũng là giai đoạn cuốicùng của quá trình sáng tác Năm 759 là năm sống khổ cực nhất của nhà thơ, vừaphải đấu tranh với đói kém, với loạn lạc, vừa đấu tranh tư tưởng về công danh, sựnghiệp, thơ ca Năm 768 ông bắt đầu chuyến lữ hành cuối đời để đến Tràng An,nhưng trong bối cảnh loạn lạc, ông không thể thực hiện ước nguyện của mình.Cuối cùng, ông bỏ mình trên một chiếc thuyền nhỏ trên sông Dương Tử Đây làthời kì đau khổ nhất của đời ông nhưng lại là thời kì thành tựu nhất trong quá trìnhsáng tác của Đỗ Phủ: 1072 bài thơ ra đời (chiếm 73% trong tổng số tác phẩm củaông) với những quan điểm và tư tưởng mới mẻ Vẫn nằm trong vòng xoáy hiệnthực tàn bạo, nhưng khi đã trải qua nhiều những đau thương, chứng kiến và lêntiếng cho vô vàn những điều khốn khổ, nhà thơ nhận ra cuộc sống vẫn còn cái tốt
và niềm vui, cái tốt và niềm vui ấy xuất phát từ chính con người Chính vì thế thơthời kì này luôn ấm áp, nồng ấm vị tình
Những đóng góp của Đỗ Phủ được công nhận và ông được vinh danh là “Thi
thánh” và “Thi sử” của văn học Trung Quốc Siu Er–an trong Bàn về thơ Đường đã
viết: “Nói chung thơ ca không tách rời khỏi năng lực Có năng lực của Trời (Thiênnăng), có năng lực của Đất (Địa năng), có năng lực của Người (Nhân năng) Thiênnăng chúng ta tìm thấy ở Lý Bạch, Địa năng ở Đỗ Phủ và Nhân năng ở VươngDuy” Đỗ Phủ với năng lực “đất”, được cuộc sống trao đặc ân ở gần hơn với nhândân, ông thu hết vào mình những xáo động của cõi đất để từ đó mà cất lên tiếng canhân ái
5 N Konrat, Phương Đông và Phương Tây (Những vấn đề triết học, triết học lịch sử, văn học Đông và Tây, NXB GD,
Hà Nội, 1997, tr 98
Trang 142.2.2 Sự nghiệp văn chương của Đỗ Phủ:
2.2.2.1 Các trước tác của Đỗ Phủ:
Số tác phẩm Đỗ Phủ để lại hết sức đồ sộ, hơn 1000 bài thơ Những bài thơ bám sátcác thời kì trong cuộc đời ông Sau khi được tập hợp thành tuyển tập, có thể chiathành những phần như sau:
Ngao du Nam Bắc (731 – 745) với những bài thơ tiêu biểu như: Vọng nhạc, Họa ưng, Tặng Lí Bạch…
Trường An khốn đốn (746 – 755) với những bài thơ tiêu biểu như: Lệ nhân hành, Binh xa hành, 9 bài Tiền xuất trái, 5 bài Hậu xuất trái, Từ Kinh qua Phụng Thiên vịnh hoài năm trăm chữ…
Lưu vong làm quan (756 – 759) với những bài thơ tiêu biểu như: Bắc Chinh, Bành Nha hành, Tam lại (Thạch Hào lại, Tân An lại, Đồng Quan lại), Tam biệt (Tân hôn biệt, Thùng lão biệt, Vô gia biệt) …
Phiêu bạt Tây Nam (760 – 770) với những bài thơ tiêu biểu như: Bài ca nhà tranh
bị gió thu phá, Đăng cao, 8 bài Thu hứng…
Những bài thơ đầu tiên theo phong cách trang nhã nhưng về sau này khi trải quanhững cơ cực của chiến tranh thơ ông đã sáng tạo được phong cách cho chínhmình Những bài thơ sáng tác trong giai đoạn ở Tần Châu tuy đơn giản nhưng phảnánh toàn bộ quang cảnh hoang tàn Những bài thơ giai đoạn ở Thành Đô nhẹ nhàng
và đẹp đẽ, nhưng đến giai đoạn ở Quỳ Châu thì thơ ông đậm đặc các chi tiết và cótính dự báo
Sáng tác của ông ở mọi thể loại thơ, Đỗ Phủ nổi tiếng nhất ở cận thể thi, một kiểuthơ có nhiều ràng buộc về hình thức và số lượng từ trong câu Khoảng hai phần batrong hơn 1000 tác phẩm hiện còn của ông là ở thể này, và nói chung ông được coi
là nhà thơ tiêu biểu cho thể loại này Những bài thơ đạt nhất của ông trong thể loạidùng phép đối song song để thêm nội dung biểu đạt thay vì chỉ là một quy định kỹthuật thông thường
2.2.2.2 Quan niệm thơ ca:
Đỗ Phủ cho rằng thơ ca là lẽ sống của cuộc đời ông:
Trang 15“Văn chương thiên cổ sựĐắc thất thốn tâm tri”
(Văn chương là sự nghiệp muôn đờiđược hay mất chỉ tấc lòng biết thôi)
(Cảm tác)
Tuy nhiên nhà thơ ít khi nhắc đến quan niệm đó, với ông nó vừa là lẽ sống muônđời vừa là lẽ sống của mỗi cá nhân Tuy hết mình sáng tạo vì thơ ca nhưng ôngchưa bao giờ đem thơ ca làm con đường lập danh, lập thân, lập nghiệp Thơ ca làmột cõi để chính nhà thơ thể hiện và thỏa nỗi lòng của mình “Thơ ta viết, cách ta
làm/ Đâu mong nghĩ chuyện thế gian lưu truyền” (Ngẫu đề).
Trong nghệ thuật, Đỗ Phủ coi trọng những nỗ lực học hỏi, tìm kiếm, khám phá và
mở rộng Với ông thi ca phải là lao động có giá trị:
“Độc thư phá vạn quyển
Hạ bút như hữu thần”
(Sách đọc vỡ muôn cuốnđặt bút viết như có thần)
(Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận)
Đỗ Phủ được mệnh danh là “Thi thánh”, “Thi sử”, điều đó chứng tỏ quan niệmsáng tác của ông: tiếng nói chân thực và nhiệt thành của hiện thực đời sống, conngười Sự chân thực trong thơ Đỗ Phủ luôn chứa đựng tấm lòng nhiệt thành, yêuthương Đỗ Phủ là con người của nhân dân cùng khổ trong gọng kiềm của tầng lớptrên và chiến tranh, của thiên nhiên gần gũi, của nỗi đau công danh, bổn phận, lànhững gì mà chính nhà thơ tìm kiếm trong suốt cuộc hành trình phiêu bạt củamình Truyền thống hiện thực trong thơ ca Trung Quốc đã có trước Đỗ Phủ, từ
Kinh Thi, qua Sở từ, đến Nhạc phủ đời Hán và dân ca Nam Bắc triều nhưng rõ
ràng đến Đỗ Phủ, hiện thực được xây dựng đã đạt đến một ngưỡng mới làm nênkhuynh hướng hiện thực trong thơ của ông cũng như góp phần làm tiền đề vữngchắc cho thế hệ đi sau sáng tác theo khuynh hướng này Đỗ Phủ đã miêu tả đờisống hiện thực với tất cả những biểu hiện cơ bản nhất, tiêu biểu nhất của nó “Đặcđiểm quan trọng nhất của chủ nghĩa hiện thực là mô tả thực trạng trong mọi biểuhiện của nó Đặc điểm này phân biệt khá rõ nghệ thuật hiện thực với những hình
Trang 16Bên cạnh đó, Đỗ Phủ luôn tâm niệm, sáng tác thơ ca không chỉ là chuyện câu chữ.Thế giới nghệ thuật là chốn không chỉ mình câu chữ nói lên được tất cả, nó phảimang trong mình tinh thần bất diệt và trách nhiệm cao cả, có khi cả cuộc đời củangười sáng tác cũng chưa đủ để nói lên tất cả Nguyên Chẩn, nhà lí luận nổi tiếngđời Đường, nhận xét về Đỗ Phủ: “Duy đến Tử Mĩ thì thật là trên đến sát Phong,Nhã; dưới bao trùm Thẩm, Tống; lời cướp cả Tô, Lí; khí nuốt cả Tào, Lưu; át vẻcao kì của Tạ, Nhan; thừa mầu xinh đẹp của Từ, Dữu; giữ được thể thế của ngườiđời xưa, mà lại gồm có các sở trường riêng của người đời nay Từ khi có thi nhânđến giờ, chưa có ai như Tử Mĩ cả!”.7
Đỗ Phủ cũng rất ý thức khi quan niệm sáng tác phải biết học tập trên tinh thần tiếpbiến những giá trị truyền thống Đỗ Phủ tâm sự: “Rất trọng (cái hay trong thơ) củangười đời nay, nhưng cũng rất quí cái hay trong thơ của cổ nhân Câu hay lời đẹpcủa họ ta đều yêu mến cả Trộm mong được kề vai sát cánh cùng đi với KhuấtNguyên, Tống Ngọc chứ không muốn đi theo cái mặt trái “ủy mị, yếu đuối” (củathơ ca) đời Tề, Lương Chưa bằng được các bậc hiền tài càng không nghi ngờ, rồiđây biết lấy ai là người khôi phục, thuật lại được người xưa Cắt phăng những cáigiả tạo, hư ngụy, lập nên vẻ phong nhã mới Học tập cái hay của những ngườikhác, biến thành cái hay của mình”.8 Đỗ Phủ vẫn tuân theo quy tắc “thuật nhi bấttác” nhưng thuật theo cách của mình, lấy muối hòa vào biển đến độ không cònphân biệt được ranh giới, đó mới là cái hay, cái tài của người sáng tác
2.2.2.3 Nội dung chủ yếu của thơ ca Đỗ Phủ:
Thơ Đỗ Phủ là đời sống, thiên nhiên, con người với tất cả những gì chân thực nhất,điển hình nhất cho thời đại mà ông sống
Theo sát hiện thực, ông vừa viết về những hiện thực ngang trái của dân đen vớitiếng lòng cảm thương, đau xót, phẫn uất, vừa viết về cuộc đời cũng đầy trầm luâncủa chính mình, nỗi đau của ông hòa vào nỗi đau của muôn dân để từ đó bài ca trởnên thấm thía hơn hết Câu nói của Victo Huygo thật chính xác khi dùng để nói về
sự nghiệp văn chương của Đỗ Phủ: “Trái lại với những con tàu, những con chimchỉ bay giỏi khi ngược gió Thơ cũng giống như chim Chính vì thế mà thơ đẹp hơn
và khỏe hơn, mạo hiểm giữa những cơn giông bão chính trị”
6M.B Khraptren kô, Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực - con người, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984, tr 84
7Nhượng Tống (dịch), Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1975, tr 378
8Khâu Chấn Thanh, Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc (Mai Xuân Hải dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội,
1994, tr 419
Trang 17Thơ ông còn là những suy ngẫm của một đời lang bạt, một đời chìm nổi, một đờitheo đuổi con đường bổn phận Khó để nói ông sinh ra bất phùng thời hay không.Đứng từ góc nhìn cuộc đời, sự nghiệp công danh, chính thời đại đã vùi dập tài năng
và hi vọng của ông Nhưng đứng từ góc nhìn con đường thơ ca, chính thời đại vớirất nhiều những biến chuyển, thịnh suy theo quy luật vận động của nó, đã giúp ônghình thành nên phương pháp sáng tác độc đáo, mang lại vị trí đặc biệt của thơ ôngtrong lòng độc giả đến ngày hôm nay
2.2.2.4 Cơ sở hình thành giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ:
Thứ nhất, đó là điều kiện lịch sử xã hội Như đã trình bày ở trên, sự thịnh suy củathời đại nhà Đường, sự mâu thuẫn giữa đời sống của vua quan với đời sống nhândân, những nỗi đau mà tầng lớp dân đen phải chịu đựng bởi quan lại nhũng nhiễu
và chiến tranh phi nghĩa… là điều kiện để nhà thơ đi theo con đường hiện thực,nhìn thẳng vào hiện thực, đặt bút tại hiện thực mà cất lời thơ
Thứ hai, đó là cuộc đời với nhiều chặng đường, nhiều biến cố của chính Đỗ Phủ.Tuổi trẻ được ngao du khắp chốn, kết bạn tri kỉ, cùng sống cùng trầm luân theonhững biến chuyển của xã hội Sống một cuộc sống trong một xã hội như vậy, nhàthơ cũng không tránh khỏi ảnh hưởng thời đại, bị cuốn vào cuộc sống khốn khó,con đường công danh không được như mong muốn, tài năng đối lập với thi cử,triều đình Cùng chịu những cảnh khốn cùng, được quan sát hiện thực khắc nghiệt
ở vị trí gần nhất, chính là yếu tố giúp tiếng thơ của ông càng đậm màu sắc hiệnthực
Thứ ba, đó là sự tiếp thu khuynh hướng sáng tác hiện thực trong thi ca truyền
thống (Kinh thi, Sở từ, Nhạc phủ, dân ca, …) Đỗ Phủ không phải người mở
đường, ông học tập người xưa những khuynh hướng có thể vận dụng trong thời đại
mà mình sống, nhưng ông là người “khai sơn phá thạch” cho một khuynh hướnghiện thực đầy đủ và mới mẻ hơn Tác phẩm của ông là sự kéo dài lịch sử lịch đại
và là điểm tụ lịch sử đồng đại, tạo nên giá trị hiện thực đậm đặc
Trang 183.1 Phản ánh chân thực hiện thực đời sống và con người:
3.1.1 Số phận của những người dân trong thơ Đỗ Phủ:
Trước hết, dưới ngòi bút của ông, những người dân đen xuất hiện trong hoàn cảnh
bị cuộc sống nghèo khổ, đói khát bủa vây Cái đói nghèo còn bao trùm lấy đời sốngcủa toàn thể nhân dân lao động lúc bấy giờ:
“Hành lữ tương phan viên Xuyên quảng bất khả việt
Lão thê ký dị huyện, Thập khẩu cách phong tuyết
Thuỷ năng cửu bất cố?
(Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự)
Nỗi khốn khổ của người dân đen không chỉ là đói nghèo vì chính sách thuế má,bóc lột của tầng lớp trên mà còn là sự chia li do hoàn cảnh chiến tranh Cảnh yênbình ngày nào đâu còn nữa thay vào đó là một không khí tang thương, chết chóc,gia đình, anh em, bạn bè mỗi người một phương, không tin tức, sống chết không aihay:
“Tịch mịch Thiên Bảo hậu, Viên lư đãn cao lê
Ngã lý bách dư gia, Thế loạn các đông tê
Tồn giả vô tiêu tức,
Tử giả vị trần nê!”
Trang 19(Cảnh tiêu điều sau năm Thiên Bảo Nhà vườn toàn là cỏ dại
Xóm mình có hơn trăm nhà Gặp đời loạn, mỗi người đi một phương Người còn không tin tức gì
Người chết biến thành bụi đất)
(Vô gia biệt)
Chiến tranh ập xuống như tai họa thiên nhiên không đoán định, làm thân trai trángphải cầm gươm giáo ra chiến trận đã đành, nhưng đến cả những đứa trẻ ngây thơ,những cụ già tuổi yếu cũng chịu chung cảnh ngộ này:
“Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà, Tiện chí tứ thập tây doanh điền
Khứ thời lý chính dữ khoả đầu, Quy lai đầu bạch hoàn thú biên.”
(Có người mới mười lăm tuổi đã đi phòng giữ Hoàng Hà phía bắc Ðến bốn mươi tuổi thì đổi qua khai thác ruộng đất ở phía tây Khi ra đi viên lý trưởng cho chiếc khăn bịt đầu
Khi trở về đầu đã bạc lại đi trấn thủ biên cương)
(Binh xa hành) Hay trong bài Thạch Hào lại:
“Mộ đầu Thạch Hào thôn, Hữu lại dạ tróc nhân
Lão ông du tường tẩu, Lão phụ xuất môn khan
Lại hô nhất hà nộ, Phụ đề nhất hà khổ!
Thính phụ tiền trí từ:
"Tam nam Nghiệp Thành thú Nhất nam phụ thư chí
Nhị nam tân chiến tử
Tồn giả thả thâu sinh,
Tử giả trường dĩ hỹ!
Thất trung cánh vô nhân, Duy hữu nhũ hạ tôn
Trang 20Lão ẩu lực tuy suy, Thỉnh tòng lại dạ quy.”
(Chiều tối chạy vào thôn Thạch Hào,
Có viên lại bắt người ban đêm
Ông lão vọt tường tẩu thoát
Bà già ra cửa nhòm
Viên lại hò hét sao mà dữ dằn thế!
Bà lão kêu van sao mà khổ thế!
Lắng nghe bà lão tiến lên thưa:
"Ba con trai đều đi thú ở Nghiệp Thành, Một con trai vừa gửi thư cho biết:
Hai con trai vừa chết trận
Đứa còn sống qua ngày Đứa chết thế là hết!
Trong nhà quả không còn người, Chỉ còn đứa cháu đang ấp vú
Vì có cháu nên mẹ cháu chưa đi,
Ra vào không có lấy một manh quần lành
Bà lão này tuy sức đã yếu Cũng xin theo về ngay đêm nay)
(Thạch Hào lại)
Cảnh chia li tan tác, vợ xa chồng, con xa cha, anh em thất lạc, gia đình li tán…trong chiến tranh thường trực trong thơ ông Đó là hình ảnh người vợ, người mẹ cô
đơn, sầu não, khắc khoải vì nhớ chồng, thương con như bài thơ Nguyệt dạ:
“Kim dạ Phu Châu nguyệt, Khuê trung chỉ độc khan
Dao liên tiểu nhi nữ,
Vị giải ức Trường An”
(Vầng trăng ở Phu Châu đêm nay Trong phòng khuê chỉ một người đứng nhìn
Ở xa thương cho con gái bé bỏng Chưa hiểu nỗi nhớ Trường An)
(Nguyệt dạ)
Trang 21Hay trong bài thơ Tân hôn đường, đôi vợ chồng trẻ vừa mới thành hôn, chưa kịp
đón nhận hạnh phúc lứa đôi đã phải vội vàng xa nhau vì chiến tranh, để rồi người
ra đi phải bồi hồi, luyến tiếc, kẻ ở lại thì ngậm ngùi, xót xa:
“Kết phát vi quân thê, Tịch bất noãn quân sàng
Mộ hôn thần cáo biệt,
Vô nãi thái thông mang!”
(Vấn tóc về làm vợ anh Giường của anh, em nằm chưa ấm chiếu Chập tối đưa dâu, sớm mai từ biệt
Há chẳng là quá đỗi vội vàng!)
(Tân hôn đường)
Ngoài ra, người dân còn trở thành công cụ, lực lượng của chiến tranh phi nghĩa.Những con người mệnh yếu không thể định đoạt được cuộc sống của mình Cáccuộc bắt lính đã trở thành những bài thơ mang giá trị hiện thực nhất trong thơ Đỗ
Phủ Ví dụ dưới đây nằm trong bài Tân An lại là một minh chứng cụ thể:
“Khách hành Tân An đạo Huyện hô ao điểm binh
Tá vấn Tân An lại Huyện tiểu cánh vô đinh Phủ thiếp tạc dạ há Thứ tuyển trung nam hành Trung nam tuyệt đoản tiểu
- Rằng huyện nhỏ hết cả trai tráng Đêm qua quan phủ lại hạ trát Bắt tuyển xuống hạng trung nam
- Trung nam thấp bé quá Giữ sao nổi thành nhà vua?
Trang 22(Tân An lại)
3.1.2 Bộ mặt của giai cấp thống trị trong thơ Đỗ Phủ:
Thơ Đỗ Phủ một mặt khắc họa đời sống khổ cực của nhân dân lao động, một mặtvạch trần tội ác của tầng lớp vua quan Trong sự mâu thuẫn của hai tầng lớp này,
Đỗ Phủ, với bút pháp hiện thực đã dựng lên một bức chân dung chi tiết và cụ thể
về lối sống và sự cai trị tàn ác của tầng lớp thống trị
Tội ác của tầng lớp trên thể hiện rõ qua số phận tầng lớp dưới, một minh chứngkhông thể chối cãi Đối lập với thực trạng dân chúng chết chóc và tha hương vìnghèo khổ, đói rét là cảnh tượng ở chốn triều đình khiến con người phẫn uất:
“Dao Trì khí uất luật
Vũ lâm tương ma kết
Quân thần lưu hoan ngu, Nhạc động ân dao cát
Tứ dục giai trường anh,
Dữ yến phi đoản hạt”
(Ở cung Dao Trì không khí nồng nã, Quân Vũ Lâm gươm giáo loảng xoảng
Vua tôi cùng họp nhau vui chơi, Tiếng đàn sáo vang lên rộn rã
Được vua cho tắm toàn là [quan to] giải mũ dài, Được dự tiệc chẳng phải [người nghèo] áo ngắn)
(Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự)
Vua, quan lại hết sức coi thường tính mạng của người dân:
“Chu môn nhiệm khuynh đoạt, Xích tộc điệt la ương
Quốc mã kiệt túc dậu, Quan kê thâu đạo lương”
(Cửa son mặc chèn ép cướp đoạt nhau, Rồi lần lượt bị giết cả ba họ!
Trang 23Ngựa vua ăn nhẵn thóc đậu,
Gà quan thu hết nếp kê)
(Tráng du)
Lòng tham mở mang bờ cõi, lấy tư tưởng xưng danh xưng bá để cai trị, vua quan gián tiếp (nhưng là trực tiếp cốt yếu nhất) cướp đi xương máu của bao con người:
“Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ Hoàng khai biên ý vị dĩ”
(Ở biên thuỳ máu chảy thành sông thành biển
Ý muốn mở mang bờ cõi của Vũ Hoàng vẫn chưa ngưng)
(Ai ngờ thế giặc khôn lường Quân rút về các trại tản mát Muốn tiện lương, phải đóng gần luỹ cũ
Để luyện quân lính phải dựa kinh xưa Đào hào không đào đến nước
Chăn ngựa cũng là việc nhẹ nhàng Huống chi quân nhà vua là chính nghĩa
An ủi, nuôi dưỡng rất phân minh Buổi tiễn đưa đừng khóc lóc thảm thiết nữa
Có quan bộc dịch chẳng khác gì cha anh!)
Trang 243.1.3 Sự đối lập giữa hai tầng lớp:
Sự cơ cực, khốn cùng của con người được khắc họa rõ nét trong khung cảnh đốilập giữa tầng lớp trên với tầng lớp nông dân (tầng lớp bị trị với tầng lớp thống trị)
Điều đó được thể hiện rõ nét qua Tuế án hành, Tự kinh phó Phụng Tiên huyện hoài vịnh ngũ bách tự, Lệ nhân hành…những hình ảnh đối lập được thể hiện qua:
“Quan lớn trong triều ngấy rượu thịt,Bọn dân mảnh vải tấm tranh không.”
(Các ngài đêu ngất ngưởng ngồi nơi đài, sảnhRiêng thầy quảng văn một chức quan lạnh Dinh các ngài thì tấp nập, chán thịt, no xôiNhà thầy quảng văn thì bũa ăn không đủ)
(Túy thi ca)
Và đặc biệt trong bài Lệ nhân hành tác giả đã miêu tả một cách chân thực sự ăn
chơi, hưởng lạc tầng lớp trên:
“Ngày mồng ba tháng ba tươi đẹp,Gái Tràng An rộn rịp bên sông
Tần Quốc, Quách Quốc trên đời trứ danh!
Bướu lạc đà nồi xanh nấu sẩn,Mâm thủy tinh cá trắng bày ra
Đũa tê chẳng gắp vì no,Dao đeo chuông nhạc, thái mà uổng công!”
(Lệ nhân hành)