1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế công cộng đề tài y tế

11 7,3K 68

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Y tế
Tác giả Trần Hữu Quyết, Dương Thế Duy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Ngãi
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế - Luật
Chuyên ngành Kinh tế công cộng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 588,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương đã được đầu tư nâng cấp về trang thiết bị, trình độ chuyên môn và tay nghề của cán bộ y t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐH KINH TẾ - LUẬT

Tiểu Luận môn Kinh tế Công cộng

Đề tài:

Y TẾ

GVHD: TS Nguyễn Văn Ngãi

NHVTH: Trần Hữu Quyết

Dương Thế Duy Lớp: Kinh tế học – Cao học khóa 10

Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 07 Năm 2011

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống y tế ở nước ta đã nhanh chóng phát triển, phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Trong những năm gần đây các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương đã được đầu tư nâng cấp về trang thiết bị, trình độ chuyên môn và tay nghề của cán bộ y tế được tiếp tục nâng cao, Tuy nhiên, hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân Phải chăng là có sự bất cập trong đầu tư, trong phân bổ nguồn lực cũng như trong các lĩnh vực dịch vụ y tế mà nhà nước và tư nhân đang làm hiện nay? Như vậy thì nhà nước cần phải làm gì để giải quyết những vấn đề trên, nhà nước có nên ôm đồm tất cả các lĩnh vực trong các dịch vụ y tế hay chỉ nên nắm một số các dịch vụ y tế mang tính lan tỏa, mang tính cộng đồng xã hội phần còn lại nên tạo điều kiện cho tư nhân tham gia?

Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách nhằm thể hiện sự quan tâm, khuyến khích đối với sự phát triển của y tế tư nhân Từ một hệ thống cung ứng dịch vụ hoàn toàn thuộc sở hữu Nhà nước, chuyển sang hệ thống cung ứng dịch vụ công tư hỗn hợp, trong đó y tế công giữ vai trò chủ đạo Vấn đề đặt ra là có nên tạo điều kiện để y

tế tư nhân nên phát triển theo cơ chế thị trưòng hay chỉ giới hạn đến mức nào đó trong hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh chung?

Để giải quyết vần đề trên, cần xem xét khả năng thực tế và vai trò của y tế tư nhân đối với mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển của hệ thống y tế Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế nếu y tế tư nhân chăm sóc sức khỏe nhân dân có hiệu quả hơn y tế công lập thì cần phát triển mạnh mẽ y tế tư nhân để đáp ứng mục tiêu hiệu quả của hệ thống y tế Việt Nam Vì thực tế hiện nay lĩnh vực y tế đang rất khát vốn, ngân sách nhà nước mỗi năm đều đầu tư cho lĩnh vực y tế nhưng vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân, hầu hết các cơ sở vật chất đã cũ không đáp ứng được yêu cầu của người dân

Một vấn đề nữa là tại sao phải tư nhân hóa ngành y tế Việt Nam và tại sao lại không tư nhân hóa toàn bộ mà chỉ tư nhân hóa một phần, phân còn lại nhà nước vẫn phải làm Như vậy, đây có phải là sự thất bại của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên nhà nước phải can thiệp?

II CƠ SỞ LÝ LUẬN

II.1 Hiệu quả Pareto:

Hiệu quả Pareto là không thể làm cho ai lợi hơn mà không gây hại cho người khác

Ví dụ: Để tránh tình trạng nhiều người xếp hàng để nộp tiền phí giao thông trong giờ cao điểm người ta đã tăng phí để trả lương cho số nhân viên tăng thêm Rõ ràng hành động này làm lợi cho những người ít thời gian và nhiều tiền nhưng nó cũng làm hại cho người có nhiều thời gian nhưng ít tiền

II.2 Thông tin bất cân xứng:

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một bên khác

Ví dụ: Khi người mua không có những thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa, hậu quả là người bán không có động lực để sản xuất hoặc cung cấp những hàng hóa có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường

Trang 3

II.3 Ngoại tác:

Ngoại tác tích cực: Hành động của người này làm lợi cho người khác

Ví dụ: Người này tiêm phòng thì sẽ không gây bệnh cho người khác

Ngoại tác tiêu cực: Hành động của người này gây tổn thất cho người khác

Ví dụ: Người hút thuốc lá thì sẽ làm cho những người xung quanh khó chịu và có thể bị mắc các căn bệnh liên quan đến thuốc lá

II.4 Hàng hóa công cộng, hàng hóa tư nhân:

Hàng hóa công cộng là hàng hóa không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ trong quá trình sử sụng còn hàng hóa tư nhân thì ngược lại nó mang đầy đủ hai tính chất trên

Ví dụ: Công viên, sóng truyền hình, quốc phòng người này sử dụng không ảnh hưởng và không loại trừ người khác

Hàng hóa công cộng thuần túy và không thuần túy: Hàng hóa công cộng thuần túy mang đầy đủ hai tính chất là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ trong quá trình

sử dụng còn hàng hóa công cộng không thuần túy chỉ đạt được một trong hai tính chất trên

Ví dụ: Thỏ trên rừng, cá dưới nước có tính loại trừ nhưng không có tính cạnh tranh

II.5 Những điểm khác nhau giữa thị trường cạnh tranh thuần và thị trường y tế:

Thị trường cạnh tranh thuần Thị trường y tế

Nhiều người bán Chỉ có một số ít bệnh viện(trừ một số

thành phố lớn) Các hãng tăng tối đa lợi nhuận Hầu hết các bệnh viện không vì lợi

nhuận Hàng hóa đồng nhất Hàng hóa không đồng nhất

Người mua được thông tin tốt nhất Người mua được thông tin kém

Người tiêu dùng thanh toán trực tiếp Bệnh nhân chỉ trang trãi được một

phần chi phí

III SỰ THẤT BẠI CỦA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ

SỰ CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC

Y tế là dịch vụ tư vì chúng có tính loại trừ và tính cạnh tranh, nhưng nó thuộc nhiều sở hữu khác nhau như: sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và cổ phần Nó là hàng hóa tư và vì vậy nó hoạt động theo cơ chế thị trường Tuy nhiên, do sự thất bại của thị trường đối với dịch vụ cham sóc sức khỏe này nên nhà nước cần phải can thiệp để giải quyết sự thất bại

Trang 4

đó và mang lại sự công bằng, tạo điều kiện cho mọi người đều có thể được khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của mình

III.1 Sự thất bại của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Sự thất bại của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe bởi những nguyên nhân sau:

-Thông tin không hoàn hảo: Bệnh nhân khó có thể đáng giá được chất lượng của bác sĩ và nhà thuốc Mặc dù có nhiều cơ sở để đánh giá được khả năng của bác sĩ và chất lượng thuốc thông qua quảng cáo, giới thiệu của người khác, kinh nghiệm nhưng người bệnh cũng khó có thể đánh giá một cách chính xác bởi đây là một lĩnh vực rất khó mà không phải ai cũng biết được Do đó, người bệnh đành “nhắm mắt xuôi tay” phó mạc cho bác sĩ

và thầy thuốc

-Hàng hóa không đồng nhất: Bác sĩ không đồng nhất về chất lượng và do hạn chế trong quảng cáo nên người bệnh rất khó khăn trong việc so sánh giá và chất lượng Có phải giá cao là bác sĩ giỏi và giá thấp là trình độ của bác sĩ kém? Và trong thực tế thì trường hợp ngược lại là rất nhiều Điều này đã gây khó khăn và thiệt hại cho người bệnh rất nhiều -Bệnh nhân ít có sự lựa chọn: Khi đi khám bệnh hoặc có vấn đề nghiêm trọng đến sức khỏe, bệnh nhân phải đi bệnh viện nhưng bệnh viện ở trong vùng hay tại địa phương không đủ hoặc không có khả năng chữa bệnh thì bệnh nhân sẽ được bác sĩ giới thiệu lên tuyến trên hoặc bệnh viện khác Như vậy, rõ ràng là bệnh nhân không còn lựa chọn nào khác mà thường phải theo sự hướng dẫn của bác sĩ

-Sai sót trong chữa bệnh: Trong dịch vụ y tế có khả năng sai sót rất cao, chẳng hạn như chuẩn đoán bệnh sai, điều trị sai phương pháp, để quên thiết bị mổ ở trong cơ thể bệnh nhân và điều này gây thiệt hại cho người bệnh, nhẹ thì điều trị lại gây tốn kém, nặng thì

có thể gây nghiêm trọng đến tính mạng Vì vậy, cần phải có hệ thống pháp luật trong lĩnh vựa này để bảo đàm an toàn và tránh gây tổ thất cho bệnh nhân

-Khả năng chi trả của người nghèo: Đây là khoản chi phí cao và thường không có kế hoạch trước cho nên nó gây khó khăn cho người nghèo vì người nghèo thường có thu nhập thấp, không có nguồn thu lớn và thường không có tích lũy

III.2 Sự can thiệp của nhà nước

Hệ thống y tế Việt Nam đang hướng tới các mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển Đây cũng là mong muốn của nhiều quốc gia Tuy nhiên, đây là mục tiêu không hề dễ dàng đạt được Có rất nhiều câu hỏi phức tạp cả về lý luận và thực tiễn đang được đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách Đó là làm thế nào để thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, khi chênh lệch giàu - nghèo, chênh lệch giữa các vùng miền đang có xu hướng gia tăng? Làm thế nào hình thành được một cơ chế tài chính y tế công bằng, hiệu

Trang 5

quả và bền vững trong điều kiện đất nước còn nghèo và >60% nguồn tài chính cho các dịch vụ y tế hiện nay là từ các khoản thanh toán bằng tiền túi của người dân khi họ sử dụng dịch vụ? Làm thế nào để củng cố và nâng cao hiệu quả của hệ thống cung ứng dịch

vụ y tế nhà nước, đồng thời mở rộng và phát huy khu vực y tế tư nhân? Làm thế nào để ngành y tế, nền y học phát triển, không bị tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Làm thế nào để tăng cường tính chiến lược trong công tác chỉ đạo, xây dựng chính sách, kế hoạch và giám sát hệ thống y tế, cùng với việc giảm sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước vào công việc hàng ngày của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế?

Để khắc phục được những thất bại của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đạt được những mục tiêu mong muốn của bộ y tế và chính phủ thì cần có sự can thiệp của nhà nước

Và phần tiếp theo sẽ nói về thực trạng của ngành y tế và một số giải pháp để nói lên mức

độ can thiệp của nhà nước và mức độ phát triển của y tế tư nhân như thế nào

IV THỰC TRẠNG NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY

IV.1 Tình trạnh quá tải:

Tình trạng quá tải tại TP.HCM

TP.HCM là đô thị đông dân Kết quả điều tra mới nhất (năm 2009) cho biết, dân số TP.HCM trên 7,3 triệu người, mật độ 3.419 người/km² Mật độ dân số quá cao ở các quận trung tâm cộng với sự bùng phát tệ nạn xã hội (mại dâm, ma túy) và ô nhiễm môi trường

đã làm gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe Trong khi đó, hệ thống y tế của TP.HCM vốn quá tải nhiều năm qua Tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân của TP.HCM hiện là 41, toàn thành phố có khoảng 60 bệnh viện, 320 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh, nhưng phân bổ không hợp lý, tập trung chủ yếu ở nội thành Ngoài hệ thống y tế công, TP.HCM còn có hơn 2.300 cơ sở

y tế tư nhân và gần 1.500 cơ sở dược tư nhân, dù giảm tải được một phần cho các bệnh viện lớn nhưng chủ yếu là các bệnh viện ở khu vực trung tâm Vì vậy, ngành y tế chưa công bằng với mọi đối tượng thụ hưởng, khiến người dân ngoại thành bị thiệt thòi

TP HCM đề ra chỉ tiêu đến cuối năm 2015, đạt tỷ lệ 15 bác sĩ/10.000 dân Tuy nhiên để đặt được mục tiêu tỷ lệ 15 bác sĩ/10.000 dân vào cuối năm 2015 là khó khả thi Lý do, vào năm 2002, tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân của TP.HCM là 7,31; đến năm 2005, tỷ lệ này giảm còn 5,45 Hiện nay, tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân của TP.HCM là 10 Như vậy, theo chu kỳ 5 năm, tỷ

lệ trên sẽ biến động trái chiều Thêm nữa, hiện tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân của cả nước khá thấp, chỉ là 7 Như vậy, chúng ta nên hạ chỉ tiêu về tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân xuống dưới 15,

để sát với tình hình vừa dễ thực hiện và theo quyết định của sở y tế TP HCM thống nhất

là phấn đấu đến năm 2015 đạt tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân là 12

Tình trạng quá tải tại Phú Thọ

Mạng lưới y tế công lập trên địa bàn tỉnh hiện có 14 đơn vị, sự nghiệp y tế tuyến tỉnh, 23 đơn vị y tế tuyến huyện, 277 trạm y tế xã, phường, thị trấn, 13 trung tâm DS-KHHGĐ huyện, thành, thị và gần chục đơn vị y tế trực thuộc các ngành Tổng số cán bộ, viên chức

y tế công lập có 3.765 người (bình quân đạt 28,6 cán bộ y tế/1 vạn dân)

Trang 6

Tuy nhiên, xét theo nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thì nguồn nhân lực ngành Y tế của Phú Thọ hiện nay, đặc biệt là đội ngũ bác sĩ, dược sĩ đại học, các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực điều trị (nhất là ở tuyến huyện) đang ở tình trạng thiếu hụt Điều này tạo nên một sức ép lớn đối với cả thầy thuốc và người bệnh Theo quy định chuyên môn, một bác sĩ chỉ có thể khám tối đa từ 30-40 bệnh nhân/ngày, nhưng thực tế, hiện nay, con số này

là từ 90-100 bệnh nhân Sự “quá tải” đó đã tạo nên áp lực công việc đối với bác sĩ và nỗi bức xúc đối với người bệnh

Theo thống kê cua Sở Y tế, hiện nay, tại các cơ sở công lập có 876 bác sĩ (đạt tỷ lệ 6,6 bác sĩ/1vạn dân); 30 dược sĩ đại học (đạt tỷ lệ 0,22 dược sĩ đại học/1 vạn dân) Tình trạng thiếu bác sĩ, dược sĩ đại học diễn ra ở cả 3 tuyến tỉnh, huyện và xã

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ - Bệnh viện đa khoa hạng I tuyến tỉnh có quy mô 1.000 giường bệnh Bệnh viện có 35 khoa, phòng trực thuộc, với 168 bác sĩ, 4 dược sĩ đại học

So với quy mô giường bệnh và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thì bệnh viện thiếu khoảng 122 bác sĩ và 20 dược sĩ đại học Tình trạng thiếu bác sĩ, dược sĩ đại học đã tạo nên những sức ép lớn đối với bệnh viện, ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân

Hiện tại, trung bình một ngày bệnh viện tỉnh có khoảng 800-900 bệnh nhân đến khám Đặc biệt trong những ngày nắng nóng, số người đến khám và nhập viện tăng đột biến, đặc biệt

là trẻ nhỏ Vào thời điểm những đợt nắng nóng kéo dài, mỗi ngày khoa phải tiếp đón từ 70-80 trẻ, trong đó khoảng 20-25 trẻ phải nhập viện và số bệnh nhân điều trị tại khoa trung bình từ 100-110 trẻ Người đến khám nhiều, người điều trị cũng đông, trong khi cả khoa mới chỉ có 8 bác sĩ, nên công việc rất vất vả

Cùng với thiếu hụt đội ngũ bác sĩ thì việc thiếu dược sĩ đại học cũng là một thực trạng diễn

ra tại bệnh viện tỉnh Mặc dù đã được sự quan tâm của Sở Y tế, nhưng đến nay bệnh viện cũng chỉ có 4 dược sĩ đại học Do nhân lực “mỏng” nên chỉ có thể triển khai tốt nhiệm vụ chính của khoa là quản lý và cung ứng thuốc, còn việc triển khai công tác dược lâm sàng, thông tin thuốc tuy đã có kết quả bước đầu song vẫn chưa phát huy hiệu quả cao như mong muốn

Ở tuyến huyện, sự thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ cao cũng gây nên nhiều hệ lụy Bệnh viện đa khoa huyện Yên Lập hiện có 6 khoa phòng, với chỉ tiêu 100 giường bệnh như hiện nay thì cần phải có tới 30 bác sĩ, nhưng thực tế chỉ có 8 bác sĩ Trung bình một bác sĩ phải khám cho 80 lượt bệnh nhân/ngày Như vậy, sức ép công việc khám, chữa bệnh

và trực chuyên môn là rất lớn Một nan giải nữa là hiện nay bệnh viện vẫn chưa có dược sĩ đại học

Lâu nay trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, người ta hay nhắc tới việc “thừa thầy thiếu thợ”, nhưng riêng trong ngành Y tế, tình trạng “thiếu thầy” lại đang khá phổ biến, trong khi đó rất nhiều sinh viên các trường cao đẳng y tế, cao đẳng dược ra trường vẫn “nằm dài” vì chưa tìm được việc

Qua hai ví dụ về tình trạng quá tải trong việc chăm sóc sức khỏe ở TP.HCM và Phú Thọ

đã cho thấy tình trạng quá tải không chỉ tập trung ở các thành phố lớn mà nó còn xảy ra ở khắp các tỉnh và thành phố trong cả nước

Trang 7

IV.2 Nguồn vốn hạn hẹp:

Theo Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế, nhu cầu đầu tư cho 225 bệnh viện tuyến tỉnh ước khoảng 45.000 tỉ đồng Còn để phát triển y tế chuyên sâu cần khoảng 10.000 tỉ đồng; nâng cấp các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh khoảng 100.000 tỉ đồng; phát triển đội y bác sỹ cần 5.000-10.000 tỉ đồng Trong khi đó, vốn đầu tư phát triển được chính phủ cân đối hằng năm cho toàn ngành y tế chỉ chiếm khoảng 5-6% GDP Con số này không thể đủ cho việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất Thực tế cho thấy, trong những năm vừa qua, việc chính phủ chi cho lĩnh vực y tế ngày càng nhiều hơn nhưng vẫn rất khiêm tốn so với chung mặt bằng xã hội

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

Đơn vị

tính

(%)

3,17 3,24 3,14 2,96 2,81 2,90 3,74 4,11 4,03 4,13

Đơn vị

tính

(tỷ đồng) 3453 4211 4656 5372 6009 7608 11528 16426 19918 23360

(Tổng cục thông kê và mạng Internet)

Theo qui hoạch thì đến hết năm 2011, dự kiến là cứ với 10 triệu người dân thì phải có 30.000 giường bệnh Như vậy chúng ta phải phát triển thêm 12.000 giường bệnh Tính bình quân để phát triển một giường bệnh cần khoảng 1 tỉ đồng Hệ thống y tế công sẽ không đủ năng lực để bảo đảm phát triển được 12.000 giường bệnh trong ba năm (cần 12.000 tỉ đồng)

IV.3 Vai trò của bảo hiểm y tế:

Trong những năm qua mô hình khám chữa bệnh BHYT cũng đã góp phần cho ngành y tế Việt Nam Nó khuyến khích người dân sử dụng nhiều dịch vụ y tế hơn và ít quan tâm đến chi phí chăm sức khỏe, vì người dân chỉ trả một phần chí phí khá nhỏ Nhưng bên cạnh đó bảo hiểm BHYT tế vẫn còn nhiều hạn chế như: Đa số bộ phận người dân ở nông thôn đang phải chịu nghịch lý: nhu cầu khám chữa bệnh lớn nhưng lại khó tiếp cận các dịch vụ y tế

so với các nhóm đối tượng khác Hiện nay, các hộ nghèo ở địa phương chỉ có thể được miễn giảm một phần viện phí khi đi khám chữa bệnh trong địa bàn tỉnh, thành phố Còn khi phải điều trị ở tuyến trung ương, ngoại tỉnh thì các dạng ưu tiên, miễn giảm không còn giá trị thanh toán, 40% người bệnh không được điều trị Đặc biệt, số lượt sử dụng dịch vụ

y tế ngoại trú bình quân của một người nghèo trong một năm thấp hơn rõ rệt so với người không nghèo Không những vậy, chất lượng các dịch vụ y tế được người nghèo sử dụng cũng thấp hơn so với người không nghèo Người nghèo chủ yếu đến khám bệnh ở tuyến y

tế cơ sở, trong khi đó người không nghèo chủ yếu khám bệnh ở tuyến trên Cụ thể, tỷ lệ người nghèo khi bị ốm đến khám bệnh tại tuyến xã chiếm tới 70%, cao gấp đôi tỷ lệ này ở nhóm người có kinh tế khá Người dân hiện được hưởng phí dịch vụ viện phí tại các bệnh viện công thấp hơn với bệnh viện tư và quốc tế (Bởi vì 15 năm qua, giá viện phí ở các bệnh viện công lập không thay đổi)

Việc bệnh viện tư tham gia khám chữa bệnh bằng BHYT sẽ góp phần giảm tải cho các bệnh viện công lập và giúp người dân có thêm nhiều lựa chọn Tại TP Hồ Chí Minh, có khoảng 70-80% bệnh nhân tham gia khám chữa bệnh theo diện BHYT Trên thực tế, nhiều bệnh nhân phải ngán ngẩm chen chân chờ đợi khám chữa bệnh tại các bệnh viện công lập, bất bình trước tinh thần phục vụ của nhân viên y tế đối với bệnh nhân tham gia khám chữa

Trang 8

bệnh BHYT Trước tình hình trên cùng với Luật Bảo hiểm y tế mới được áp dụng và nhằm hướng tới BHYT toàn dân thì các bệnh viện tư nhân tham gia BHYT lại đang thu hút một

số lượng lớn bệnh nhân có thẻ BHYT tới khám chữa bệnh

Mô hình các bệnh viện tư nhân tham gia khám chữa bệnh BHYT đã được triển khai từ năm 2006 nhưng ban đầu các bệnh viện tư vẫn chưa mặn mà với mô hình này Theo thống

kê của Bảo hiểm y tế TP Hồ Chí Minh, hiện TP Hồ Chí Minh có gần 77 cơ sở y tế tư nhân tham gia nhận khám chữa bệnh BHYT Trong tổng số hơn 4 triệu người tham gia BHYT tại TP Hồ Chí Minh thì số bệnh nhân tham gia BHYT tới khám tại các bệnh viện y

tế tư nhân chiếm khoảng 10% và con số này sẽ không chỉ dừng tại đây

- Mặt trái của BHYT

Giá

P

BH 80%

C D

BN20%

O

Ngoài tác dụng của BHYT là chia sẻ rủi ro, tức là nhiều người đóng nhưng chỉ có một số người bệnh thì mặt trái của BHYT là nó khuyến khích chi tiêu cho dịch vụ khám chữa bệnh hơn mức cần thiết và nó gây tổn thất cho xã hội

Đồ thị trên cho thấy khi không có BHYT thì mức tiêu dùng cho dịch vụ y tế là Qo ở mức này người sử dụng dịch vụ y tế phải chi trả 100%, còn khi có BHYT thì mức tiêu dùng cho dịch vụ y tế là Q1 ở mức này thì người sử dụng dịch vụ chỉ trả 20% còn BHYT trả 80%,

và nếu BHYT chi trả 100% thì lượng sử dụng dịch vụ y tế là Q2 ở mức này thì người sử không phải trả một đồng nào

Và chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự tổn thất xã hội do sử dụng dịch vụ y tế quá mức cần thiết là hình tam giác ABC

VI.4 Vai trò của y tế công lập:

Trang 9

Trong bối cảnh hiện nay, mô hình phát triển y tế công và tư là đã góp phần giải quyết rất nhiều mặt, vì thế chúng ta không thể chối bỏ vai trò của y tế tư nhân Nhưng bên cạnh đó

vẫn cho thấy y tế công lập vẫn giữa vai trò chủ đạo Thứ nhất, y tế công lập sẽ giải quyết

các vấn đề y tế mang tính cộng đồng như tiêm ngừa Vác xin, các bệnh lây truyền nhiễm trong đại bộ phận dân cư mà đặc biệt là đại bộ phận người dân nghèo sống ở nông thôn, điều này y tế tư nhân không thể gánh nổi vì y tế tư nhân vẫn chú trọng đến lợi nhuận nhiều

hơn Thứ hai, do dù hiện nay y tế công do dù là quá tải, cơ sở vật chất lạc hậu so với y tế

tư nhân như nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong y tế Việt Nam Nó vẫn giữ vai trò trong việc điều phối giá thuốc trên thị trường, góp phần tạo điều kiện cho người dân nghèo được hưởng các chế độ y tế giá rẻ từ các dịch vụ y tế tư nhân khác

IV.5 Một số hạn chế của bệnh viện tư nhân:

Thực chất của xã hội hoá là mời người dân tham gia đầu tư (dĩ nhiên là cũng tham gia quản lý) cùng với Nhà nước Tuy nhiên, nếu tư nhân đầu tư thì phải nghĩ đến lợi nhuận, như thế lại dẫn đến mâu thuẫn là y tế không còn là một hình thức dịch vụ công mà mọi người đều được hưởng như nhau, giàu cũng như nghèo Nhưng dù nói gì thì việc chuyển đổi mô hình hoạt động của BV công cần phải được đặt ra, bởi hoạt động theo kiểu xin -cho như hiện nay là hoàn toàn không ổn

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống y tế tư nhân ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt vấn đề đạo đức nghề nghiệp chưa được chú trọng đúng mức Chẳng hạn như: yêu cầu bệnh nhân tiến hành những bước xét nghiệm không cần thiết, móc ngoặc với các nhà thuốc tư nhân bán thuốc đắt tiền cho bệnh nhân…Bên cạnh đó, vấn đề đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho các bác sĩ hoạt động trong ngành y tế tư nhân cũng chưa được quan tâm, chú ý tới

V KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

- Thực tế, nhu cầu đầu tư trong ngành y tế hiện nay là rất lớn và không thể mãi trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước, nhà nước không thể cung cấp toàn bộ các dịch vụ công do hạn chế về nguồn lực và ngành y tế cần phải huy động mọi nguồn vốn đầu tư để nâng cao

chất lượng phục vụ Trong những năm qua, y tế tư nhân chia lửa cho các bệnh viện công,

bệnh viện công vẫn đang quá tải, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân quá nhiều nên hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân giúp giảm tải cho bệnh viện công Bởi vì, trong hợp tác công - tư, tư nhân có vai trò và ý nghĩa quan trọng để chia sẻ gánh nặng tài chính và tăng cường sự sẵn có của dịch vụ y tế góp phần triển chất lượng dịch vụ y tế

- Trong những năm qua, nhờ chủ trương xã hội hóa mà hệ thống y tế tư nhân phát triển Điều này thúc đẩy các bệnh viện công xuất hiện đa dạng các mô hình xã hội hóa: khám chữa bệnh ngoài giờ, giường dịch vụ, phẫu thuật theo yêu cầu, huy động từ cán bộ nhân viên để mua sắm máy móc, liên doanh, liên kết với các công ty để cạnh tranh với các bệnh viện tư nhân

V.1 Tạo điều kiện tư nhân tham gia khám chữ bệnh BHYT

Tăng quyền lựa chọn cho người tham gia BHYT Bệnh viện tư nhân tham gia khám chữa bệnh BHYT là hình thức cạnh tranh lành mạnh giữa bệnh viện công lập và tư nhân nói chung cũng như các bệnh viện tư nhân nói riêng Việc bệnh viện tư nhân tham gia khám chữ bệnh BHYT góp phần tăng quyền lựa chọn cho người tham gia BHYT, vì hiện nay

Trang 10

các cơ sở tư nhân khi tham gia đăng ký BHYT phải chấp nhận mặt bằng về giá thanh toán theo quy định không khác gì so với bệnh viện công Ngoài viện phí thì giá thuốc được thanh toán cũng phải theo giá gốc mua vào có hóa đơn nhưng không được cao hơn giá trúng thầu của bệnh viện công Vì vậy, người tham gia BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại các bệnh viện, phòng khám ngoài công lập, cơ sở y tế tự chủ tài chính sẽ được hưởng quyền lợi BHYT theo quy định hiện hành đang áp dụng tại các cơ sở công lập Ngoại trừ, nếu nằm điều trị thì phí tiền giường có thể cao hơn bệnh viện công

V.2 Kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài:

Để có thể huy động được nhiều nguồn lực kinh tế khác nhau mà các chuyên gia kinh tế, y

tế đề xuất nên tính tới áp dụng mô hình công - tư Mặc dù còn những lo ngại khi tư nhân tham gia lĩnh vực y tế sẽ ảnh hưởng đến chi phí vì mục đích lợi nhuận, nhưng đóng góp của tư nhân vào lĩnh vực y tế là không thể chối bỏ Trên thực tế, nhiều quốc gia đã cho phép và phát triển mô hình y tế tư nhân bên cạnh y tế công Ở nước ta, các bệnh viện tư nhân đã đóng góp 6.210 giường bệnh, bằng 3,7% tổng số giường bệnh viện công lập, đạt 0,7% giường bệnh cho 10.000 dân

Để thu hút các nhà đầu tư, các chuyên gia khuyến cáo Chính phủ Việt Nam tiếp tục có cơ chế khuyến khích để hệ thống y tế tư nhân phát triển trong thời gian tới, đặc biệt quan tâm nhiều hơn đến các ưu đãi, chính sách pháp lý về thuế, đất đai, cơ chế hoạt động, sự tự chủ… và đặc biệt tránh sự phân biệt công tư trong hành nghề

V.3 Cổ phần hóa bệnh viện công:

Trước tình trạng quá tải và thiếu phát triển về cơ sở vật chất do thiếu đầu tư từ Nhà nước,

đề nghị nên cổ phần hóa bệnh viện công Đề nghị này được nhiều người quan tâm, bởi vì nói cho cùng y tế là dịch vụ liên quan trực tiếp đến người dân và phúc lợi xã hội Mức độ phát triển của hai dịch vụ này cũng chính là thước đo phát triển xã hội của một quốc gia

Cổ phần hóa là một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, và là một giải pháp để tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vào việc nâng cao cơ sở vật chất y tế nước nhà nếu không cổ phần hóa thì làm sao có thể nâng cao chất lượng y tế Vấn đề chất lượng y tế quả là vấn đề nhức nhối và được mọi người quan tâm hiện nay Nhưng cho rằng phải cổ phần hóa để nâng cao chất lượng có nghĩa là giả định rằng bệnh viện tư nhân có chất lượng cao hơn bệnh viện công

Cổ phần hóa sẽ làm giảm bớt gánh nặng bao cấp; tăng cường hơn nữa tính tự chủ và trách nhiệm; tăng thu nhập và tự chủ chuyên môn cho các bệnh viện công Cổ phần hóa chính là một bước trong quá trình đổi mới bệnh viện công được gắn liền với đổi mới hệ thống

chính sách, cơ chế quản lý và tài chính "Trong số các lựa chọn đổi mới, cổ phần hóa bệnh

viện chưa phải là một lựa chọn tốt nhất, càng không phải là duy nhất nhưng hoàn toàn có

thể được coi là một thử nghiệm trong điều kiện thực tế Việt Nam"

Tài liệu tham khảo

1 Kinh tế công cộng, Joseph E Stiglitz

2 Tổng cục thống kê

Ngày đăng: 06/01/2014, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w