Quan hệthương mại giữa các nước này ngày càng được thúc đẩy, việc năm 2002 lãnh đạo cácnước ASEAN và Trung Quốc ký kết Hiệp định khung thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
Trang 1ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA SAU ĐẠI HỌCNGÀNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
- -TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài:
Liên kết ACFTA và giải pháp để Việt Nam hội nhập thành công
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Quang Minh Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Liễu
Trang 2Hà Nội – 2011
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I LIÊN KẾT KHU VỰC ACFTA 3
1 Giới thiệu chung về liên kết ACFTA 3
2 Nội dung hợp tác 4
3 Lộ trình tự do hóa thương mại 7
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT TRONG KHUÔN KHỔ ACFTA 10
1 Tỷ trọng thương mại trong khu vực ACFTA tăng mạnh 10
2 Việt Nam nhập siêu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc 11
III GIẢI PHÁP GIÚP VIỆT NAM HỘI NHẬP LIÊN KẾT KHU VỰC ACFTA THÀNH CÔNG 14
1 Thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế
15
2 Các doanh nghiệp cần chủ động trên thị trường 15
3 Tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam 16
4 Phát huy lợi thế tuyệt đối về vị trí địa lý để phát triển dịch vụ vận tải 16
a) Nâng cao hiệu quả của ngành vận tải nước ta 17
b) Xây dựng các chương trình, kế hoạch chung phát triển hệ thống giao thông vận tải giữa hai quốc gia 17
c) Mở rộng và liên kết quốc tế các loại hình dịch vụ vận tải: 17
d) Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại qua biên giới 18
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay toàn cầu hóa đang là một vấn đề rất được quan tâm trên thế giới, tuyvậy song song với tiến trình toàn cầu hóa, từ những năm 90 của thế kỷ trước, chủ nghĩakhu vực đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất Điều đó thể hiện ở sựxuất hiện ngày càng nhiều Khu vực mậu dịch tự do (Free trade area), phổ biến hơn làcác Hiệp định thương mại tự do (Free trade agreement) Toàn cầu hóa bao giờ cũng điliền với cơ hội và rủi ro Môi trường hội nhập là một môi trường cạnh tranh đầy khốcliệt, nếu có đủ năng lực thì vươn lên nhanh chóng, không thì sẽ tụt hậu, yếu thế vàthậm chí là bị đào thải Do đó để cạnh tranh được với các khu vực khác trên thế giới,một xu hướng tất yếu là sẽ có nhiều nước liên kết nhau lại, các khu vực mậu dịch tự donhư NAFTA, ACFTA, AKFTA,…ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình vớicác nước thành viên và với kinh tế toàn cầu
Trung Quốc và các nước ASEAN vốn là những nước láng giềng Quan hệthương mại giữa các nước này ngày càng được thúc đẩy, việc năm 2002 lãnh đạo cácnước ASEAN và Trung Quốc ký kết Hiệp định khung thành lập Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA: ASEAN – China free trade area) cũng là một vấn
đề tất yếu Sau gần 10 năm nhìn lại, chúng ta thấy việc đánh giá những tác động là cầnthiết để rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam có thể hội nhập thành công trongkhuôn khổ ACFTA
Từ lý do trên em đã quyết định chọn “Liên kết ACFTA và giải pháp để ViệtNam hội nhập thành công”làm đề tài cho bài tiểu luận của mình
Trang 5I LIÊN KẾT KHU VỰC ACFTA
1 Giới thiệu chung về liên kết ACFTA
Ý tưởng về việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa Trung Quốc vàASEAN xuất phát từ đề xuất của Cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ tại Hộinghị thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ 4 tổ chức vào tháng 11/2000.Trong năm này, Trung Quốc còn thoả thuận sẽ tăng cường hợp tác và đưa ra nhữnghạng mục hợp tác cụ thể như khai thác sông Mekong, xây dựng tuyến đường sắt xuyênÁ…
Đến năm 2001, những thoả thuận này giữa Trung Quốc và ASEAN đã cónhững bước tiến mới Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của ASEAN thiết lập khu vực không
có vũ khí hạt nhân, xem xét ký kết Hiệp định hợp tác hữu nghị Đông Nam Á, cam kếtđầu tư 5 triệu USD để nạo vét sông Mekong và tài trợ 1/3 chi phí xây dựng tuyếnđường cao tốc Bankok - Côn Minh Đặc biệt, tại Hội nghị giữa những nhà lãnh đạoASEAN - Trung Quốc tổ chức vào ngày 6/11/2001 tại Banda Seri Begawan (Brunei),các nhà lãnh đạo Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã đi đến nhất trí về việc thành lậpKhu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong vòng 10 năm, đồng thờichính thức uỷ quyền cho các bộ trưởng và quan chức của hai bên đàm phán về vấn đềnày
Từ sau khi đạt được thỏa thuận thành lập ACFTA, hai bên đã nỗ lực xúc tiếncác công tác thúc đẩy tiến trình ra đời của ACFTA Các tổ chức như Uỷ ban đàm phánthương mại ASEAN - Trung Quốc (TNC - Trade Negotiation Committee) và Hộiđồng thương mại ASEAN - Trung Quốc đã được thành lập Đồng thời các cuộc gặpgiữa các nhà lãnh đạo hai bên để đàm phán về phát triển hợp tác kinh tế thương mại đãdiễn ra liên tục trong năm qua như: Cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cao cấpASEAN - Trung Quốc (SEOM - Senior Economic Officials Meeting) lần thứ 3 hồitháng 5/2002 tại Bắc Kinh, Hội thảo quốc tế về hợp tác trong thương mại, đầu tư vàphát triển ASEAN - Trung Quốc diễn ra vào tháng 6 tại Côn Minh Trung Quốc, Diễn
Trang 6đàn về hợp tác ASEAN - Trung Quốc vào tháng 8 tại Kuala Lumpur (Malaysia), Hộinghị bộ trưởng kinh tế ASEAN - Trung Quốc lần thứ nhất vào tháng 9 tại Brunei, cuộcgặp giữa các quan chức kinh tế cấp cao của hai bên vào tháng 10 tại Singapore, …Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo cũng như củacác nhóm khảo sát của hai bên đến cả Trung Quốc và ASEAN để tìm hiểu tình hìnhthị trường và tìm kiếm cơ hội hợp tác
Với những nỗ lực của cả hai bên, ngày 4/11/2002, tại Hội nghị thượng đỉnhASEAN lần thứ 8 diễn ra ở thủ đô Phnompenh (Campuchia), các nhà lãnh đạoASEAN và Trung Quốc đã chính thức ký bản hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàndiện ASEAN - Trung Quốc (Framework Agreement on Asean–China ComprehensiveEconomic Cooperation - FAACCEC), mở đường cho việc thiết lập Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong 10 năm tới Đây là một sự kiện quantrọng, đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong thế kỷnày
Các bên nhất trí từng bước tự do hoá thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ
và tạo lập môi trường minh bạch, tự do hơn cho các luồng đầu tư trong và ngoài khuvực, thúc đẩy hơn nữa hiệu quả cạnh tranh của khu vực trên thị trường thế giới Cácbên cũng thừa nhận sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các thành viênASEAN và nhất trí dành cho các nước thành viên mới của ASEAN gồm Việt Nam,Lào, Campuchia và Myanma (CLMV) sự đối xử đặc biệt, khác biệt và linh hoạt trongmọi hoạt động hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc
a) Về thương mại hàng hoá:
Trang 7Hai bên sẽ tiến hành đàm phán để thiết lập Khu vực mậu dịch tự do đối với hànghóa vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ của ASEAN (ASEAN-6) và TrungQuốc và năm 2015 đối với 4 nước thành viên mới của ASEAN Đàm phán bắt đầu từđầu năm 2003 và sẽ kết thúc trước 30/6/2003 Việc đàm phán cắt giảm thuế quan sẽđược định hướng bởi các nguyên tắc chính sau:
- Các mặt hàng là đối tượng cắt giảm thuế được chia thành hai danh mục chủyếu: Danh mục thông thường và Danh mục nhạy cảm
- Đối với hàng hoá thuộc Danh mục thông thường, ASEAN-6 và Trung Quốc sẽcắt giảm và loại bỏ thuế quan theo lộ trình từ 1/1/2005 đến năm 2010 Đối với cácnước thành viên mới của ASEAN, lộ trình cắt giảm thuế sẽ dài hơn 5 năm, bắt đầu từ1/1/2005 và kết thúc vào năm 2015 Cách thức cắt giảm thuế sẽ được đàm phán xácđịnh sau
- Đối với hàng hoá thuộc Danh mục nhạy cảm, sẽ có cơ chế cắt giảm thuế linhhoạt hơn, với thời hạn kết thúc, thuế suất cuối cùng và số lượng giới hạn mặt hàng sẽđược đàm phán sau
- Các bên có quyền áp dụng các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệgiá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ, bảo vệ đạo đức xã hội, sức khỏe và cuộc sống củacon người và động thực vật, phù hợp với Điều XX của Hiệp định GATT
Ngoài ra, Hiệp định khung cũng xác định thêm những vấn đề sẽ được tiếp tụcđàm phán bao gồm:
- Các quy tắc chi tiết điều chỉnh việc cắt giảm thuế, gồm cả quy tắc có đi có lại;
- Qui tắc xuất xứ hàng hoá;
- Quy tắc xử lý đối với hạn ngạch thuế quan;
- Sửa đổi cam kết;
- Các biện pháp phi thuế quan;
- Các quy tắc điều chỉnh các biện pháp tự vệ, trợ cấp và chống trợ cấp; chốngbán phá giá;
- Các biện pháp tạo thuận lợi và thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có hiệuquả
Trang 8b) Về thương mại dịch vụ và đầu tư:
Do vấn đề tự do hoá thương mại dịch vụ và đầu tư là rất phức tạp, cần có thờigian để xem xét và đàm phán, Hiệp định khung chỉ nêu những mục tiêu và nguyên tắc
cơ sở để các nước tiếp tục đàm phán và chi tiết hoá trong thời gian tới
c) Về Chương trình thu hoạch sớm
Với mục tiêu sớm hiện thực hoá hiệu quả hợp tác của các bên, ASEAN vàTrung Quốc nhất trí về một Chương trình Thu hoạch sớm với việc cắt giảm thuế nhanhđối với một số mặt hàng và tiến hành ngay các chương trình hợp tác trong một số lĩnhvực
Về việc cắt giảm thuế, các nước ASEAN và Trung Quốc sẽ cùng cắt giảm thuếnhanh đối với các mặt hàng nông sản từ Chương 1 đến 8 của Biểu thuế nhập khẩu, trừmột số mặt hàng mà mỗi nước có thể chủ động tạm thời không tham gia Nếu một nướcloại trừ một mặt hàng cụ thể khỏi Chương trình Thu hoạch sớm sẽ không được hưởngcác ưu đãi của các nước khác đối với mặt hàng đó Ngoài ra, từng nước ASEAN có thểthỏa thuận song phương với Trung Quốc cắt giảm thuế nhanh với một số mặt hàng cụthể nằm ngoài Chương 1- 8
Đối với ASEAN-6 và Trung Quốc, việc cắt giảm thuế xuống 0% sẽ được thựchiện trong giai đoạn từ 1/1/2004 đến 1/1/2006 Các nước thành viên mới của ASEANđược hưởng đối xử đặc biệt và khác biệt nên có lịch trình cắt giảm dài hơn, cụ thể:
Đối với Việt Nam: từ 1/1/2004 đến 1/1/2008
Đối với Lào, Myanmar: từ 1/1/2006 đến 1/1/2009
Đối với Campuchia: từ 1/1/2006 đến 1/1/2010
Nước ta cũng đã cam kết tham gia Chương trình Thu hoạch sớm với hầu hết cáccác mặt hàng trong Chương 1-8, chỉ loại trừ 15 dòng thuế của các nhóm mặt hàng gồmthịt gia cầm các loại, trứng gà vịt, một số loại hoa quả có múi
d) Các lĩnh vực hợp tác kinh tế
ASEAN và Trung Quốc thống nhất trước mắt sẽ tăng cường hợp tác trong 4 lĩnhvực ưu tiên là nông nghiệp, công nghệ thông tin, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư vàthúc đẩy sáng kiến hợp tác phát triển lưu vực sông Mêkông Sau này hợp tác sẽ được
Trang 9mở rộng sang các lĩnh vực khác như ngân hàng, tài chính, du lịch, công nghiệp, vận tải,
vô tuyến viễn thông, sở hữu trí tuệ, xí nghiệp vừa và nhỏ, môi trường, công nghệ sinhhọc, thủy sản, lâm nghiệp, khai khoáng, năng lượng, tiểu vùng phát triển, …
Một phần quan trọng của lĩnh vực hợp tác kinh tế là ưu đãi dành cho các nướcthành viên mới của ASEAN thông qua các chương trình và hỗ trợ kỹ thuật khác nhằmgiúp đỡ các nước này trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển thương mại và đầu tưvới Trung Quốc (Điều 7.4)
Hợp tác kinh tế còn được qui định một phần trong Chương trình Thu hoạchsớm, chủ yếu nhằm xúc tiến các dự án đang được triển khai trong khuôn khổ hợp táctrước đây giữa ASEAN và Trung Quốc (được chi tiết tại Phụ lục 5) Đáng lưu ý là cáchợp tác này dành ưu tiên cho một số dự án mà Việt Nam đang tham gia ví dụ như Kếhoạch phát triển tổng thể trong khu vực Tiểu vùng Sông Mêkông mở rộng hay cácchương trình hỗ trợ kỹ thuật cho các nước ASEAN mới xây dựng năng lực hội nhậpkhu vực và thúc đẩy quá trình gia nhập WTO
3 Lộ trình tự do hóa thương mại
Tự do hóa thương mại khu vực Asean và Trung Quốc được thực hiện thông qua
lộ trình cắt giảm thuế trong chương trình chương trình thu hoạch sớm
Đối với Trung Quốc và các nước ASEAN 6: Chương trình Thu hoạch sớm đượcthực hiện trong vòng 3 năm Do đó việc cắt giảm thuế sẽ bắt đầu từ 1/1/2004 và hoànthành không muộn hơn 1/1/2006( mức thuế suất vào thời điểm hoàn thành chươngtrình là 0%)
Đối với các nước thành viên mới của ASEAN thời gian cắt giảm thuế sẽ chậmhơn với cách thức giảm thuế linh hoạt hơn Trong đó Việt Nam bắt đầu thực hiện cắtgiảm thuế từ 1/1/2004 nhưng hoàn thành không muộn hơn 1/1/2008
Bảng 2 – Lịch trình giảm thuế của Trung Quốc và ASEAN 6
Nhóm mặt hàng Không chậm hơn
1/1/2004
Không chậmhơn
1/1/2005
Không chậmhơn
1/1/20061( các dòng thuế có thuế có 10% 5% 0%
Trang 10thuế suất trên 15%)
Nguồn: Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc
Lịch trình giảm thuế đối với nhóm 1 của các nước CLMV
Bảng 3 – Nhóm 1: các mặt hàng có thuế suất cao hơn 30%
Quốc gia Không
chậmhơn1/1/2004
Khôngchậmhơn1/1/2005
Khôngchậmhơn1/1/2006
Khôngchậmhơn1/1/2007
Khôngchậmhơn1/1/2008
Khôngchậmhơn1/1/2009
Khôngchậmhơn1/1/2010
Khôngchậmhơn1/1/2005
Khôngchậmhơn1/1/2006
Khôngchậmhơn1/1/2007
Khôngchậmhơn1/1/2008
Khôngchậmhơn1/1/2009
Khôngchậm hơn1/1/2010
Trang 11Bảng 5 – Nhóm 3: Các mặt hàng có thuế suất dưới 15%
Quốc gia Không
chậm hơn1/1/2004
Khôngchậmhơn1/1/2005
Khôngchậmhơn1/1/2006
Khôngchậmhơn1/1/2007
Khôngchậmhơn1/1/2008
Khôngchậmhơn1/1/2009
Khôngchậmhơn1/1/2010
Nguồn: Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc
Có thể nhận thấy tuỳ theo mức thuế nhập khẩu hiện hành, các sản phẩm thuộcChương 01 đến Chương 08 sẽ bắt đầu việc thực hiện cắt giảm thuế xuống 0% từ1/1/2004 và kết thúc vào thời điểm 01/01/2010
Riêng với Việt Nam, thực hiện Chương trình Thu hoạch sớm, từ 1/1/2004, nước
ta sẽ cắt giảm dần 88 dòng thuế nhập khẩu từ Trung Quốc xuống còn 0% trước1/1/2008 Trong 7 chương đưa vào danh mục thu hoạch sớm từ I-VII, các sản phẩm từđộng vật, rau quả, hạt đặc biệt rau quả tươi được chúng ta chú ý nhất Ngay từ 1/1/2004phía Trung Quốc đã cắt giảm dần 206 dòng thuế nhập khẩu từ Việt Nam xuống thuếsuất 0% trước ngày 1/1/2006 Do đó, năm 2004, các nhóm mặt hàng nhập khẩu từ ViệtNam vào Trung Quốc có thuế suất hơn 15% sẽ được giảm xuống 10%, nhóm 5-10%xuống 5% và nhóm dưới 5% được hưởng thuế suất 0%
Đối với các mặt hàng cắt giảm theo lộ trình thông thường, Việt Nam sẽ hoànthành cắt giảm thuế xuống 0% vào năm 2015 Trong khi đó, từ 1-1-2010 Trung Quốc
đã hoàn thành việc loại bỏ thuế quan với trên 90% danh mục hàng hoá nhập khẩu từASEAN (ngoại trừ một số ít mặt hàng nhạy cảm) Như vậy, giai đoạn từ nay tới năm
2015 là cơ hội cho xuất khẩu của Việt Nam khi hàng xuất khẩu của ta không phải chịuhàng rào thuế quan trong khi chúng ta vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định cho thịtrường trong nước Từ năm 2013, Việt Nam bắt đầu cắt giảm sâu hàng rào bảo hộ thuếquan để tiến tới loại bỏ thuế với khoảng 90% danh mục hàng hoá vào năm 2015 Đây
Trang 12sẽ là giai đoạn thách thức cho các doanh nghiệp trong nước nếu chúng ta không tândụng được các cơ hội ACFTA đang mở ra hiện nay.
Tham gia EHP chính là một bước tập dượt để các nước ASEAN và Trung Quốcxây dựng khu vực mậu dịch tự do, nhưng là bước tập dượt rất quan trọng, là tiền đề chonhững thành công của việc hợp tác tốt sau này Đồng thời, việc xây dựng được một khuvực mậu dịch tự do lớn mạnh sẽ giúp các nước khai thác được các thế mạnh thươngmại, tăng cường quan hệ ngoại giao trong khu vực, sẽ góp phần đưa nước ta hội nhậpsâu hơn, vững chắc hơn vào kinh tế thế giới
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT TRONG KHUÔN KHỔ ACFTA
1 Tỷ trọng thương mại trong khu vực ACFTA tăng mạnh
Với gần 2 tỉ người tiêu dùng, ACFTA là thị trường có quy mô lớn nhất thế giới
Về GDP, với 2.000 tỷ đôla Mỹ, khu vực mậu dịch tự do này còn kém Khu vực mậudịch tự do Bắc Mỹ, Liên hiệp châu Âu Liên tục từ năm 1992, ASEAN là bạn hàng lớnthứ năm của Trung Quốc Kim ngạch thương mại hai khối đạt tốc độ tăng trưởng trungbình trên 20% mỗi năm Nếu năm 2003, (thời điểm trước khi thực hiện Chương trìnhThu hoạch sớm) tổng kim ngạch ASEAN-Trung Quốc là 78,2 tỉ đôla Mỹ, thì năm 2008con số này đã đạt trên 192 tỉ ASEAN cũng đồng thời là một nhà đầu tư quan trọng vàothị trường Trung Quốc với trên 40 tỉ đôla Mỹ vốn đăng ký
Với Việt Nam, cả ASEAN và Trung Quốc hiện đang là các đối tác thương mạihàng đầu Tổng giá trị thương mại với các nước này chiếm tới 35% tổng kim ngạchthương mại của nước ta với thế giới
Trị giá và tỷ trọng thương mại của Việt Nam với ASEAN và Trung Quốc trongtổng kim ngạch thương mại với thế giới (năm 2008)
Đơn vị: triệu USD
Nhập khẩu 19.476,8 24,5% 15.652,1 19,7%