Đề bài: Hãy phân tích những đặc trưng chủ yếu, những ưu điểm, nhược điểm của trường phái quản trị hành vi, những bài học rút ra khi nghiên cứu trường phái này trong công tác quản trị ở n
Trang 1Đề bài: Hãy phân tích những đặc trưng chủ yếu, những ưu điểm, nhược điểm của trường phái quản trị hành vi, những bài học rút ra khi nghiên cứu trường phái này trong công tác quản trị ở nước ta hiện nay
1 Đặt vấn đề
Trong suốt những năm 1920, 1930 của thế kỷ XX, các nước công nghiệp phát triển đã trải qua những thay đổi sâu sắc về văn hoá và xã hội Phương pháp sản xuất hàng loạt đã tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai và đã làm cho
xã hội phương Tây thành những xã hội định hướng vào tiêu dùng Mức sống của người dân tại nhiều quốc gia được nâng cao, điều kiện làm việc trong nhiều ngành được cải thiện Tại các nhà máy năng suất lao động tăng, thời gian làm việc giảm xuống dưới mức 50 giờ/tuần, giới lãnh đạo cố gắng khuyến khích công nhân bằng những điều kiện thuê mướn hấp dẫn hơn
Khác với trường phái quản trị cổ điển là tập trung vào tổ chức và các công việc từ khía cạnh của các kỹ sư và những phương pháp quản trị theo các tư tưởng
cổ điển gặp phải nhiều trở ngại bởi sự can thiệp của chính phủ, sự phản đối của nghiệp đoàn lao động, của công nhân Những điều kiện này đã thúc đẩy sự ra đời của trường phái quản trị hành vi
Những người chủ trương phương pháp tiếp cận này trong quản trị vạch ra rằng phải đặt con người vào trọng tâm chú ý trong các hoạt động của tổ chức Qua những nghiên cứu thực nghiệm, các nhà nghiên cứu nhận thức rằng việc quản trị thành công tuỳ thuộc phần lớn vào khả năng hiểu biết của nhà quản trị về tri thức, nhu cầu, nhận thức và những nguyện vọng của cấp dưới Bước phát triển từ những nhận thức về mối quan hệ của con người thành những hoạt động quản trị hiện đại trong tổ chức thể hiện sự tác động của lý thuyết quản trị hành vi Các tác giả thuộc trường phái này gồm có Mary Parker Follett, Elton Mayo và Douglas McGregor
Trang 2Để hiểu rõ hơn về trường phái quản trị hành vi, em sẽ đi sâu phân tích những đặc trưng, ưu điểm và hạn chế của trường phái Rồi từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản trị của nước ta hiện nay
2 Những nguyên lý cơ bản của trường phái quản trị hành vi
2.1 Những đóng góp của Follett (1868 – 1933)
Mary Parker Follett nhận thấy, quản trị là một dòng chảy, một tiến trình liên tục và rất năng động Bà cho rằng, nếu một vấn đề được giải quyết, thì trong quá trình các nhà quản trị giải quyết vấn đề đó sẽ làm nảy sinh những vấn đề mới Bà cũng nhấn mạnh đến hai khía cạnh
1) Phải quan tâm đến những người lao động trong quá trình giải quyết vấn đề
2) Các nhà quản trị phải năng động, thay vì áp dụng các nguyên tắc cứng nhắc
Thông qua việc quan sát, nghiên cứu cách thức giải quyết công việc của các nhà quản trị, Follett thấy rõ sự phối hợp giữ vai trò quyết định với các hoạt động quản trị, bà đưa ra 4 nguyên lý về phối hợp như sau:
1) Sự phối hợp sẽ được thực hiện hữu hiệu nhất khi những người chịu trách nhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc trực tiếp
2) Sự phối hợp giữ vai trò rất quan trọng suốt giai đoạn đầu của hoạch định
và thực hiện các dự án
3) Sự phối hợp cần nhắm đến tất cả các yếu tố trong mỗi tình huống cụ thể 4) Sự phối hợp phải được tiến hành liên tục
Follett cho rằng:
1) Chính những nhà quản trị cấp tổ chức thực hiện sẽ là người có thể đưa ra những quyết định tốt nhất Bởi vậy, theo bà các nhà quản trị cấp cơ sở là
Trang 3những người có địa vị thích hợp nhất để phối hợp các vụ sản xuất, bởi họ
có khả năng gia tăng sự truyền thông với các đồng nghiệp, với công nhân
sẽ có được những thông tin xác thực nhất, phục vụ việc ra quyết định Mặt khác, họ có thể vừa hoạch định, phối hợp và liên kết công nhân trong quá trình sản xuất
2) Công việc của nhà quản trị ở tất tất cả các cấp còn là thiết lập những mối quan hệ tốt với cấp dưới của họ, tuy quá trình này sẽ gặp một số khó khăn về mặt tâm lý và xã hội Các nhà quản trị cần tìm cách giải quyết những xung đột trong nội bộ bộ phận do họ phụ trách và có lẽ tốt nhất là
họ nên tích cực tiếp xúc và truyền thông trực tiếp với công nhân và các đồng nghiệp Trong quá trình này sẽ tạo ra sự hiểu biết giữa tất cả các bên
2.2 Những đóng góp của Elton Mayo (1880 – 1949)
Quan điểm về quản trị hành vi được nghiên cứu và thực hiện trong khoảng thời gian từ 1924 đến năm 1933 tại nhà máy Hawthorne thuộc công ty điện lực miền Tây, nằm tại Chicago - Hoa Kỳ
Trong khoảng thời gian từ 1924 – 1933 Mayo đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu khác nhau và đã ghi nhận được nhiều khám phá quan trọng:
1) Trong những năm đầu, các cuộc thử nghiệm đã cho Mayo thấy ánh sáng nơi làm việc không ảnh hưởng đến năng suất của công nhân
2) Trong các cuộc thử nghiệm thứ 2, Mayo và các đồng nghiệp lại thấy các điều kiện làm việc không có hoặc có ít quan hệ với năng suất
3) Trong cuộc thử nghiệm thứ 3 để đi đến kết luận, Mayo kết luận rằng sự gia tăng năng suất không phụ thuộc vào các nguyên nhân vật chất, mà do một tập hợp những phản ứng tâm lý rất phức tạp Ông nhận định rằng:
"khi những công nhân có sự chú ý đặc biệt thì năng suất sẽ tăng lên bất
Trang 4kể điều kiện làm việc có thay đổi hay không Hiện tượng này gọi là hiệu ứng Hawthorne.
Ông cũng phỏng vấn nhiều công nhân và phát hiện ra rằng, chính các nhóm không chính thức đã tạo ra sự gia tăng năng suất Bởi nhiều công nhân cho rằng
cuộc sống bên trong và bên ngoài nhà máy là buồn tẻ và thiếu ý nghĩa và bạn bè tại nơi làm việc đã đem lại cho cuộc sống làm việc của họ nhiều ý nghĩa hơn Bởi vậy, chính sự thúc đẩy của các đồng nghiệp đã tác động mạnh nhất đến năng suất của công nhân
Những kết quả nghiên cứu này đã giúp Mayo và các cộng sự đưa ra lý thuyết quản trị hành vi, được thể hiện trong cuốn sách nhan đề: "Những vấn đề con người của nền văn minh công nghiệp" vào năm 1993
2.3 Thuyết X – Thuyết Y của Mc.Gregor (1906 – 1964)
Năm 1960, trong cuốn sách nhan đề "Khía cạnh con người của tổ chức kinh doanh", Mc.Gregor đã đưa ra một tập hợp những nhận định rất lạc quan về bản chất
của con người Ông cho rằng mỗi nhân viên đều là những cá nhân sáng tạo và đầy nghị lực, họ có thể hoàn thành những công việc vĩ đại nếu có thời cơ Lý thuyết lạc quan về con người của Mc.Gregor được gọi là thuyết Y, và Học thuyết X đưa ra giả thiết có thiên hướng tiêu cực về con người
2.3.1 Học Thuyết X
Học thuyết X được Douglas Mc Gregor đưa ra vào những năm 1960 Đó là kết quả của việc tổng hợp các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí nghiệp
ở phương Tây lúc bấy giờ Học thuyết X đưa ra giả thiết có thiên hướng tiêu cực về con người như sau:
1) Hầu hết mọi người đều không thích làm việc và họ sẽ lảng tránh công việc khi hoàn cảnh cho phép
2) Đa số mọi người phải bị ép buộc, đe dọa bằng hình phạt và khi họ làm việc phải giám sát chặt chẽ
Trang 53) Hầu hết mọi người đều muốn bị điều khiển Họ luôn tìm cách trốn tránh trách nhiệm, có rất ít khát vọng và chỉ thích được yên ổn
Khi nhận xét về học thuyết X ta thấy rằng đây là học thuyết có cái nhìn mang thiên hướng tiêu cực về con người và là một lý thuyết có phần máy móc Theo học thuyết này, các nhà quản trị lúc bấy giờ chưa hiểu hết về các mức nhu cầu của con người Họ chỉ hiểu đơn giản rằng người lao động có nhu cầu về tiền hay chỉ nhìn phiến diện và chưa đầy đủ về người lao động nói riêng cũng như bản chất con người nói chung Chính vì thế, những nhà quản trị theo học thuyết X này thường không tin tưởng vào bất kỳ ai Họ chỉ tin vào hệ thống những quy định của
tổ chức và sức mạnh của kỷ luật Khi có một vấn đề nào đó xảy ra, họ thường cố quy trách nhiệm cho một cá nhân cụ thể để kỷ luật hoặc khen thưởng
Tuy có những hạn chế như trên nhưng chúng ta không thể kết luận rẳng học thuyết X là học thuyết sai hoàn toàn Những thiếu sót của học thuyết X xuất phát từ thực tế lúc bấy giờ - đó là sự hiểu biết về quản trị còn đang trong quá trình hoàn chỉnh Như vậy, việc nhìn ra những thiếu sót của học thuyết X lại là tiền đề để cho
ra đời những lý thuyết quản trị tiến bộ hơn Từ khi xuất hiện cho đến nay, học thuyết X vẫn có ý nghĩa và được ứng dụng nhiều nhất là trong các ngành sản xuất
và dịch vụ Học thuyết X giúp các nhà quản trị nhìn nhận lại bản thân để chỉnh sửa hành vi cho phù hợp và nó cũng trở thành học thuyết quản trị nhân lực kinh điển không thể bỏ qua để giảng dạy trong các khối kinh tế
2.3.2 Học thuyết Y
Học thuyết Y cũng được Douglas Mc Gregor đưa ra vào những năm 1960
Có thể coi học thuyết Y là sự “sửa sai” hay tiến bộ hơn về lý thuyết quản trị nhân lực Xuất phát từ việc nhìn nhận được những chỗ sai lầm trong học thuyết X, học thuyết Y đã đưa ra những giả thiết tích cực hơn về bản chất con người, đó là:
1) Làm việc là một hoạt động bản năng, tương tự như nghỉ ngơi và giải trí
Trang 62) Mỗi người đều có năng lực tự điều khiển và tự kiểm soát bản thân nếu người ta được uỷ nhiệm
3) Người ta sẽ trở nên gắn bó với các mục tiêu của tổ chức hơn, nếu được khen thưởng kịp thời, xứng đáng
4) Một người bình thường có thể đảm nhận những trọng trách và dám chịu trách nhiệm
5) Nhiều người bình thường có óc tưởng tượng phong phú, khéo léo và sáng tạo
Như vậy, từ nội dung của học thuyết Y, ta thấy học thuyết này có phần tích cực và tiến bộ hơn học thuyết X ở chỗ nó nhìn đúng bản chất con người hơn Nó phát hiện ra rằng, con người không phải là những cỗ máy, sự khích lệ đối với con người nằm trong chính bản thân họ Nhà quản trị cần cung cấp cho họ một môi trường làm việc tốt thì nhà quản trị phải khéo léo kết hợp mục tiêu của cá nhân vào mục tiêu tổ chức Tức là làm cho nhân viên hiểu rằng để thỏa mãn mục tiêu của mình thì mình cần phải thực hiện tốt mục tiêu của tổ chức Việc đánh giá nhân viên theo học thuyết Y này hết sức linh động, các nhà quản trị để cho nhân viên tự đặt
ra mục tiêu, tự đánh giá thành tích công việc của mình, khiến cho nhân viên cảm thấy cảm thấy họ thực sự được tham gia vào hoạt động của tổ chức từ đó họ có trách nhiệm và nhiệt tình hơn
Tuy có những điểm tiến bộ như trên, học thuyết Y cũng có những hạn chế
đó là việc tuân theo học thuyết Y có thể dẫn đến sự buông lỏng trong quản lý hoặc trình độ của tổ chức chưa phù hợp để áp dụng học thuyết này Vì vậy, học thuyết Y chỉ có thể được phát huy tốt trong các tổ chức có trình độ phát triển cao và yêu cầu
sự sáng tạo
Hai thuyết này đưa ra những nhận định trái ngược nhau về bản chất của con người Thuyết Y là một quan điểm hiện đại, cho rằng bản chất của con người là tốt
Trang 7và các nhà quản trị cần tạo điều kiện cho họ phát huy những mặt tốt đó Trái lại, thuyết X cho rằng bản chất của con người là xấu, nhà quản trị cần kiểm soát chặt chẽ và phải có những hình phạt, biện pháp thích hợp để ngăn chặn những mặt xấu đó
2.4 Thuyết hành vi tổ chức
Thuyết hành vi có tổ chức là một phương pháp tiếp cận hiện đại trong khoa học quản trị Mục đích của thuyết này nhằm cố gắng xác định các nguyên nhân thúc đẩy con người làm việc và biến những kết quả nghiên cứu đó thành các kỹ năng quản trị hiệu quả
Các nhà hành vi học này đã vay mượn sự phân loại về lý thuyết và các kỹ thuật nghiên cứu tâm lý học, xã hội học, văn hoá học và áp dụng đối với những người đang làm việc trong các tổ chức kinh doanh hiện đại
Những ảnh hưởng của lý thuyết hành vi có tổ chức rất quan trọng đối với những tư tưởng quản trị hiện đại bởi nó đã giải thích được nguyên nhân tại sao người nhân viên hành động như họ đã làm Do đó, hành vi có tổ chức đã trở thành một phạm trù khoa học về các mối liên hệ của con người
Vai trò của thuyết hành vi có tổ chức:
1) Có vai trò quan trọng trong việc tạo sự gắn kết giữa người lao động và tổ chức trên cơ sở đảm bảo mục tiêu và các giá trị theo đuổi của tổ chức, sự tôn trọng, đảm bảo các giá trị và lợi ích cá nhân của người lao động 2) Giúp cho các nhà quản lý có được cách nhìn đầy đủ và toàn diện về người lao động để đưa ra được các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích đổi mới, sáng tạo và tạo động lực cho người lao động 3) Giúp các nhà quản lý tạo lập môi trường làm việc hiệu quả trong tổ chức, trên cơ sở sự chia sẻ trách nhiệm và hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong tổ chức
Trang 84) Có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự cân bằng, tin tưởng và gắn kết người lao động với tổ chức nói chung và lãnh đạo tổ chức nói riêng
3 Những ưu điểm của trường phái quản trị hành vi
Các lý thuyết thuộc trường phái Tâm lý xã hội đã đóng góp to lớn vào sự nghiên cứu và thực hành quản trị:
Thứ nhất, nhận rõ sự ảnh hưởng của tác phong lãnh đạo của nhà quản trị Thứ hai, Vai trò của tổ chức không chính thức đối với thái độ lao động và
năng suất lao động
Thứ ba, Sự ảnh hưởng của tập thể đối với thái độ cá nhân.
Thứ tư, Mối quan hệ giữa các đồng nghiệp, mối quan hệ nhân sự trong công
việc
Thứ năm, Giúp cho các nhà quản trị hiểu rõ hơn về sự vận động viên con
người, quan tâm hơn đối với nhân viên, đối với việc sử dụng quyền hành và thông đạt của tổ chức
Thứ sáu, khảo hướng nghiên cứu cứu về hành vi có tổ chức của con người là
một lý thuyết mới hứa hẹn sẽ bổ sung và làm phong phú hơn những kết quả nghiên cứu về các mối quan hệ của con người trong tổ chức
4 Những hạn chế của trường phái quản trị hành vi
Thứ nhất, quá chú ý đến yếu tố xã hội của con người khiến trở thành thiên
lệch Khái niệm “con người xã hội” chỉ có thể bổ sung cho khái niệm “con người thuần lý - kinh tế”
Thứ hai, không có bất cứ lúc nào, đối với bất cứ con người nào khi được
thoả mãn đều cho năng suất lao động cao
Thứ ba, xem con người trong tổ chức với tư cách là phần tử của hệ thống
khép kín Bỏ qua sự tác động các yếu tố bên ngoài như: Chính trị, kinh tế, xã hội
Trang 95 Những bài học kinh nghiệm cho công tác quản trị ở nước ta
Thứ nhất, Mỗi nhà quản trị cần biết cách tạo dựng môi trường văn hóa lành
mạnh trong công ty Con người và văn hóa sống động sẽ giữ chân những nhân viên tài năng Nhiệm vụ của những nhà quản trị là thiết lập, củng cố môi trường ấy
Thứ hai, luôn quan tâm theo sát nhân viên để đảm bảo hỗ trợ ngay khi họ
cần, lắng nghe nguyện vọng, mong muốn phát triển của nhân viên Đánh giá năng lực và chất lượng nhân viên từng kỳ nhằm liên tục cải thiện năng lực và kỹ năng cho nhân viên, để họ mang đến những hiệu quả công việc đột phá
Thứ ba, các tổ chức nên tổ chức cho nhân viên thêm các buổi giao lưu,du
lịch ngoài lúc làm việc, nhằm gắn bó tình cảm, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ nhau trong công việc
Thứ tư, nên biết lắng nghe sáng kiến của nhân viên, để nhân viên thực hiện
công việc của mình một cách sáng tạo Tuy nhiên, sáng kiến đó vẫn phải đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu của nhà quản trị,
Thứ năm, thực hiện phân công, phân cấp công việc một cách hợp lý Nhà
quản trị phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhân viên trên cơ sở khích lệ, động viên và khen thưởng kịp thời đối với các nhân viên hoàn thành công việc một cách xuất sắc
Thứ sáu, các nhà quản trị phải luôn trau dồi kỹ năng quản trị, nghiên cứu
những mô hình mới, cách thức làm việc mới nhằm phát huy tối đa nguồn lực của tổ chức Tìm hiểu và rút ra bài học từ các học thuyết quản trị kinh điển để có cách nhìn quản trị tổng quan hơn Biến tổ chức thành một bộ máy tinh gọn nhưng hiệu quả Biết đặt con người trong đúng môi trường, hoàn cảnh và năng lực của họ
Thứ bảy, xây dựng văn hoá công ty theo khảo hướng mới Ngày nay, văn
hoá công ty trở thành một phần rất quan trọng trong định hướng phong cách lãnh đạo, phong cách làm việc và đó là đặc trưng trong lãnh đạo của các nhà quản trị
Trang 10Bởi vậy, các nhà quản trị cần xây dựng được văn hoá công ty để nâng cao năng lực
và hiệu quả công công ty
Thứ tám, đặt nhân viên trong một môi trường tổ chức mở rộng Phải chú ý
tới tất cả các nhu cầu của nhân viên để họ thoả mãn và chuyên tâm làm việc Khi
họ chuyên tâm làm việc năng suất sẽ cao hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn cho tổ chức
Thứ chín, ngày nay trong điều kiện khoa học phát triển, các nhà quản trị nên
kết hợp giữa khoa học công nghệ và lý thuyết quản trị để có thể giảm thiểu thời gian nhưng vẫn đạt hiệu quả Thực hiện phân công, phân cấp trong kiểm tra bằng báo cáo khoa học, nắm bắt được số liệu cụ thể để có thể cải thiện hiệu quả của tổ chức
6 Kết luận
Qua việc nghiên cứu lý thuyết và phân tích những đặc trưng, ưu điểm và hạn chế của trường phái quản trị hành vi Có thể thấy trường phái quản trị hành vi ra đời giải quyết được rất nhiều vấn đề về quản trị cho tổ chức, đặc biệt là trong vấn
đề con người Tuy có những hạn chế do tiếp cận chưa đúng hoặc đặt con người trong một hệ thống khép kín Nhưng vẫn có nhiều ưu điểm có thể chọn lọc và áp dụng vào thực tiễn của từng tổ chức
Qua việc tìm ra những ưu điểm và phát hiện ra những hạn chế Em cũng đã rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản trị của nước ta hiện nay Em mong rằng những bài học kinh nghiệm đó có thể góp phần vào việc hoạch định chính sách của các nhà quản trị trong bối cảnh hiện nay và trong tương lai