1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

37 2,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Pháp Nghiên Cứu Địa Lý Tự Nhiên
Tác giả Nguyễn Thị Phượng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Địa Lý Tự Nhiên
Thể loại Đề cương ôn tập
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 499 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP

Chuyên đề: NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA ĐỊA HÓA HỌC CẢNH QUAN VÀ

ĐỊA VẬT LÝ CẢNH QUAN

ĐỊA HÓA HỌC CẢNH QUAN

Câu 1: Địa hóa học cảnh quan là gì? Nhiệm vụ và các phương pháp nghiên cứu? Khả năng vận dụng các phương pháp của địa hóa học trong nghiên cứu cảnh quan một khu vực cụ thể.

1 Khái niệm

Các bồn chia nước, các sườn, thung lung, các bồn chứa nước không phải làcác bộ phận lãnh thổ rời rạc mà là những bộ phận liên hệ với nhau, phụ thuộc vàonhau của một thể thống nhất, hòa chỉnh mà B.B.Polunov gọi là cảnh quan địa hóa

Cảnh quan địa hóa cũng có thể được định nghĩa như một sự tập hợp về mặtphát sinh của các cảnh quan sơ đẳng lien kết được lien hệ với nhau bởi sự di độngcủa các nguyên tố

2 Nhiệm vụ

Địa hóa học cảnh quan là một trong những cơ sở lí luận của các phươngpháp địa hóa về tìm kiếm khoáng sản Sau đây là một số nhiệm vụ cơ bản của địaháo học cảnh quan:

- Nghiên cứu tính chất địa hóa đặc trưng cho tất cả hay là phần lớn các cảnhquan

- Tiến hành phân loại cảnh quan về mặt địa hóa

Trang 2

- Tìm ra quy luật phân bố cảu cảnh quan theo không gian về mặt địa hóa

- Tìm hiểu lịch sử địa hóa cảnh quan

- Nghiên cứu lịch sử các nguyên tố háo học và quá trình di động của chúng,

3 Các phương pháp nghiên cứu và khả năng vận dụng của các phương pháp.

Khi nghiên cứu cảnh quan về phương diện địa hóa học cần phái nghiên cứu

sự di động của một số nguyên tố ( ít nhất cũng phải nghiên cứu các nguyên tố của

Như chúng ta đã biết những tài liệu về thành phần của nước sông và đá đãđược nêu ra trong công trình nghiên cứu của Klark Việc so sánh các tài liệu nàycho phép B.B Polunov rút ra kết luận về khả năng di động của các nguyên tố haylớp vỏ phong hóa, đề xuất được trình tự di động có ý nghĩa to lớn cho địa hóa họccảnh quan

Giai đoạn đầu của việc nghiên cứu cảnh quan bao gồm việc so sánh thànhphần của đá và thành phần hóa học của nước sông chảy qua đá thông qua hệ số diđộng và trình tự di động của nước trong cảnh quan

Trang 3

VD: khi xác định trong cảnh quan oxit silic có khả năng di động lớn, ta cóthể kết luận nó thuộc về kiểu cảnh quan nhiệt đới ẩm; nếu thấy sắt có khả năng diđộng cao thì đó là cảnh quan đầm lầy, …

Giai đoạn thứ 2 bao gồm công tác nghiên cứu tỉ mỉ cảnh quan tự lập – phântích các đá, thổ nhưỡng, thực vật, trong đó có phân tích tro

Việc nghiên cứu tỉ mỉ cảnh quan tự lập cũng cần phát hiện được các nguyên

tố thiếu và nguyên tố thừa VD cảnh quan tự lập đầm lầy nhiệt đới có công thức:

H+, Fe2+ H O

Ca K P N O

2

,

, , , ,

Đồng thời cũng phải nghiên cứu chi tiết các cảnh quan trên nước và dướinước, nghiên cứu các thành phần hóa học của sinh vật, thổ nhưỡng, nước ngầm vànước trên mặt để xác định được đặc điểm của tuần hòa sinh vật tại các cảnh quanphụ thuộc, thành lập được công thức địa hóa cho các cảnh quan đó Đối chiếu đặctrưng địa hóa của các cảnh quan tự lập và phụ thuộc cho phép rút ra kết luận về sựtương phản của địa hóa cảnh quan, nghĩa là về mức độ khác nhau về mặt địa hóagiữa các cảnh quan tự lập và phụ thuộc Có các cảnh quan địa hóa trong đó thànhphần hóa học của thực vật, nước, thổ nhưỡng của cảnh quan tự lập không khác biệtnhiều với các cảnh quan phụ thuộc (cảnh quan đài nguyên ) => mức độ tương phảnđịa hóa thấp Cũng có những cảnh quan có độ tương phản địa hóa trung bình vàcao

=> Như vậy, các phương pháp nghiên cứu địa hóa học cảnh quan không phải

là sự thu thập đơn thuần các tài liệu thực tế về thành phần hóa học của thực vật, thổnhưỡng, đá, nước và các bộ phận khác của cảnh quan, mà là một sự đối chiếu giữacác tài liệu thu thập được khi nghiên cứu các thành phần một cách đồng thời và có

Trang 4

mục đích của một cảnh quan cụ thể Đó là con đường đi tới sự hiểu biết về các đặctrưng địa hóa của cảnh quan, đi tới phát hiện ra các quy luật cơ bản của sự di độnghipecgen của các nguyên tố.

Câu 2: Cảnh quan sơ đẳng là gì? Hình thái và các kiểu cảnh quan sơ đẳng cơ bản?

1 Khái niệm cảnh quan sơ đẳng

Theo B.B.Pôlưnôv : “Cảnh quan sơ đẳng trong sự biểu hiện điển hình của

nó, phải tiêu biểu cho một yếu tố địa hình nhất định cấu tạo bởi một loại đá gốchay bồi tụ và trong mỗi thời điểm tồ tại được bao phủ bởi một quần xã thực vậtnhất định Tất cả các điều kiện đó đã hình thành nên một biến chủng thổ nhưỡngnhất định vàn chứng minh rằng trên khắp phạm vi của cảnh quan sơ đẳng có mộtquá trình phát triển đồng nhất của mối quan hệ giữa đá và sinh vật”

2 Hình thái của cảnh quan sở đẳng

- Đối với mỗi kiểu cảnh quan sơ đẳng có thể xác định được diện tích nhỏnhất trên đó, biểu hiện sự không đồng nhất của cảnh quan: cảnh quan sơ đẳng cangphức tạp thì sự di chuyển của các nguyên tố hóa học cảng mạnh, số lượng loại câycàng phong phú thì diện tích biểu hiện càng rộng Vì thế, diện tích biểu hiện nhỏnhất là đặc trưng của các cảnh quan sa mạc không có thực vật thượng đẳng; ngượclại diện tích biểu hiện rộng nhất là đặc điểm cho cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm với

số lượng loài rất phong phú

- Chiều dày của cảnh quan sơ đẳn, nghĩa là khoảng cách từ giới hạn trên đếngiới hạn dưới Giới hạn trên nằm trong tầng đối lưu, có chim muông và côn trùng

Trang 5

sinh sống Giới hạn dưới trong nhiều trường hợp là lớp chứa nước ngầm đầu tiên từtrên măt xuống.

- Sự phân hóa theo chiều thẳng đứng cũng đặc trưng cho từng thể tự nhiênriêng biệt

VD: Trong cùng một thổ nhưỡng, các tầng trên phản ứng chua chiếm ưu thế,các tầng dưới là phản ứng kiềm

3 Các kiểu cảnh quan sơ đẳng dựa vào các điều kiện di động của vật chất

Theo điều kiện do dộng của các nguyên tố hóa học, B.B Pôlưnôv chia ra 3dạng cảnh quan cơ bản Tàn tích

Trên nước

Dưới nước

- Bề mặt tàn tích: là bề mặt cảu vùng chia nước bằng phẳng, đặc trưng là lớpnước ngầm sâu ảnh hưởng đến thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật Trong trường hợpnày vật chất và năng lượng xâm nhập vào cảnh quan từ khí quyển, thổ nhưỡng có

sự tích tụ một phần vật chất hòa tan xuống một độ sâu nào đó trong phạm vi thổnhưỡng tầng tích tụ

- Dưới nước: sự tích tụ các nguyên tố dễ di động nhất Các sinh vật của cảnhquan dưới nước được cung cấp đầy đủ về nước và nhiều khi được cung cấp đầy đủthức ăn khoáng vật hơn các sinh vật của cảnh quan tự lập Đôi chỗ trong các vùngchứa nước xảy ra tình trạng thừa hợp chất khoáng hòa tan và sinh vật bắt buộc phảiđấu tranh chống lại chúng như chống lại các phần tử có hại

Trang 6

- Các bề mặt trên nước: thuộc về phạm trù cảnh quan sơ đẳng thứ 3 mà đặcđiểm có lớp nước ngầm nông Nước ngầm ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan vìcùng với nó là các vật chất rửa trôi từ lớp vỏ phong hóa và thổ nhưỡng của cácvùng chia nước tham gia vào cảnh quan Các cảnh quan trên nước có khả năng tích

tụ nhiều nguyên tố hóa học, chủ yếu là các nguyên tố có sự di động mạnh mẽ

VD: Các cảnh quan đất xonlonxac có tích tụ sunfat, clorua, nitrat và các loạimuối khác

Các sản phẩm của quá trình phong hóa và quá trình hình thành thổ nhưỡngcủa cảnh quan tự lập tham gia vào các yếu tố bên dưới của địa hình qua dòng chảytrên mặt và dưới đất có ảnh hưởng đến sự hình thành các cảnh quan trên nước vàdưới nước Vì thế, các cảnh quan trên nước và dưới nước có thể gọi là “cảnh quanphụ thuộc” vì đặc điểm của chúng ở mức độ lớn bị phụ thuộc vào cảnh quan ở cácvùng trên nước Các cảnh quan vùng chia nước, trái lại ít phụ thuộc vào cảnh quantrên nước và dưới nước hơn vì chúng không nhận được các nguyên tố hóa học từcảnh quan đó qua dòng rắn và dòng lỏng Chính vì thế mà người ta gọi các cảnhquan chia nước là các cảnh quan tự lập

=> Cảnh quan địa hóa là các vùng chia nước, các sườn, thung lung, các bồnchứa nước không phải là các bộ phận lãnh thổ rời rạc mà là những bộ phận lien hệvới nhau, phụ thuộc với nhau của một thể thống nhất, hoàn chỉnh

Như vậy, cảnh quan giống như một hệ thống tự nhiên độc đáo có đặc điểmkết hợp với các loại vật chất không đồng nhất, các phần tử sơ đẳng tự do qua cácnguyên tử ion, các hợp chất hóa học để tạo nên các vật thể phức tạp và đa dạng củasinh vật sống

Trang 7

Câu 3: Trình bày sự di động theo nước của các nguyên tố hóa học trong cảnh quan: hệ số di động, trình tự di động, cường độ di động?

Nước tự nhiên là một bộ phận cấu thành quan trọng của cảnh quan, là môitrường trong đó xảy ra phần lớn các phản ứng hóa học; nước tự nhiên là đườnggiao thồn vận tải quan trọng giữa các nguyên tố hóa học di động trong cảnh quancũng như giữa các cảnh quan khác nhau

Nước tự nhiên có đa số các nguyên tố hóa học của hệ tuần hòa Thành phầnquan trọng nhất của các khí tự nhiên là nước hòa tan, đặc biệt là khí O2, CO2, H2S

đã ảnh hưởng rất lớn đến tính chất hóa học của nước và khả năng hòa tan của nước

Phần lớn các chất hòa tan trong nước đều tồn tại dưới dạng ion và thế thànhphần hóa học của nước cũng biểu hiện dưới dạng ion Đối với đa số các cảnh quan,nước có đặc điểm là chứa 6 ion sau với trữ lượng lớn: Ca2+, Mg2+ , Na+ và cácanion: Cl-, SO42-, HCO3- Tất cả các loại nước đề chứa ion H+ và OH- …, vai trò củacác ion này trong cảnh quan vô cùng lớn mặc dù hàm lượng của chúng rất nhỏ.Ngoài các ion, các vật chất hòa tan còn tồn tại dưới dạng phân tử và keo

Hệ số di động theo nước, trình tự di động và cường độ di động:

Hàm lượng của một nguyên tố háo học trong nước không đặc trưng đượccường độ di động theo nước của nó

VD: Trong nước của một con sông mà chúng ta khảo sát có 10-2g/l silic và5.10-5 g/l kẽm Từ đó ta có thể cho rằng silic có khả năng di động cao hơn kẽmtrong cảnh quan đó hay không? Tất nhiên là không thể KL như vậy vì ta chưa tínhđến hàm lượng của silic và kẽm trong đá mà con sông đó chảy qua Nếu xét theo

Trang 8

hàm lượng trong nước thì silic có một khả năng di động lớn hơn, nhưng mặt khác,silic tồn tại trong đá và thổ nhưỡng từ đó silic đi vào nước nhiều hơn rất nhiều.

B.B.Polunov đã xây dựng phương pháp đánh giá định lượng của cường độ diđộng theo nước của các nguyên tố trong lớp vỏ cảnh quan bằng cách so sánh thànhphần của nước sông với thành phần của các đá mà con sông cùng với phụ lưu của

nó chảy qua Từ đó, các tác giả đã đưa ra hệ số di động theo nước (Kx)

Trong đó: a – tổng số các chất hòa tan trong nước (g/l)

Kx: hệ số di động theo nước của nguyên tố x

mx: hàm lượng nguyên tố x theo x (g/l)

nx: hàm lượng nguyên tố x trong đá (%)

K càng lớn thì nguyên tố đó càng bị rửa trôi khỏi đá và cường độ di độngcủa nó trong dung dịch càng lớn Dùng hệ số này so sánh với cường độ di động củacác nguyên tố hóa học có chỉ số Klart thật khác nhau Kx của bất cứ một nguyên tốnào cũng có thể tính toán được mà không cần biết đến tính chất di động của nó và

có thể biểu hiện bằng các địa lượng tuyệt đối chứ không phải bằng các đại lượngtương đối Đó là điều mà các phương pháp trước đây không thể đạt được

VD: Kẽm và silic trong ví dụ trước Ta coi hai nguyên tố đều có trong đá củalưu vực sông theo chỉ số Klart ( 29,5 và 8,3.10-3 % ) Sau đó dung công thức trên

để tính ta có kết quả sau:

Trang 9

= 0,07

= 1,2

Như vậy, kẽm bị cuốn trôi bởi lớp vỏ phong hóa mạnh hơn silic mặc dù silic

có trong nước nhiều hơn kẽm

- Để biểu thị lưu lượng trung bình năm của dòng trên mặt đất hay dòng nướcngầm ta có công thức

Bx: tổng nguyên tử của nguyên tố x Bx = nx * M, trong đó M là khối lượngtổng cộng của đá mà dòng chảy đi qua, nx: hàm lượng trung bình của nguyên tố xtrong đá

dBx: số lượng nguyên tử chuyển sang trạng thái di động

phương trình cường độ di động:

Vì đại lượng Q và M chung cho tất cả các nguyên tố nên ta có:

Trang 10

hệ với nhau giống như cường độ của chúng.

Để đánh giá cường độ di động theo nước, có thể dung thang 4 bậc sau đây:

Chất di động dễ dàng n – n.10 (n<2)

Chất di động yếu và không di động 0,0n – và thấp hơn

Câu 4: Các nguyên tắc và hệ thống các cấp phân loại cảnh quan địa hóa của A.I.Perelman? ( cấp nào trong 7 cấp là rõ nhất )

* Nguyên tắc phân loại cảnh quan của A.I Perelman

Trang 11

- Thứ nhât: Phân loại cảnh quan phải dựa trên những đặc tính di động của các nguyên tố hóa học trong cảnh quan.

Nước như là máu của cảnh quan Giữa tự nhiên, sinh vật, đá và khí quyển cónhững mối quan hệ rất phức tạp Vật chất sống, trên một mức độ lớn được cấu tạo

từ nước Trên 70% trọng lượng cơ thể là được cấu tạo từ nước

VD 2: Cảnh quan rừng taiga về mùa đông, sự di động diễn ra yếu và trong

nhiều quá trình lại giống như ở miền băng của Bắc cực do nhiệt độ xuống thấp nênnước đóng băng và ở thể rắn … Ngược lại, vào mùa hè, sự di động diễn ra mạnh

mẽ, khác nhiều so với cảnh quan bắc cực

Từ ví dụ trên đã cho thấy khi phân loại cảnh quan của rừng taiga trước hếtcần chú ý tới các cảnh quan mùa hè Đây là mùa mà sự di động của các nguyên tốhóa học trong cảnh quan taiga diễn ra mạnh mẽ nhất, nó tạo nên những đặc trưngcho cảnh quan taiga khác với những loại cảnh quan khác trên thế giới Khi nghiêncứu cảnh quan thảo nguyên cần chú ý tơi thành phần sunfat và hàm lượng các kimloại khác có trong cảnh quan

Tương tự như vậy, khi phân loại miền thảo nguyên cận nhiệt cần chú ý đếnthời kỳ ẩm của mùa xuân khi thực vật sống ngắn ngày và phát triển mạnh mẽ Tráilại, mùa hè không phải không có ý nghĩa quan trọng vì các cảnh quan này khôngkhác lắm so với cảnh quan sa mạc bên cạnh

- Thứ 2: Phân loại cảnh quan cần phân biệt những dấu hiệu hệ thống hóa và không hệ thống ( cá thể ).

Trên mặt đất không có hai cảnh quan hoàn toàn giống nhau Các cá thể cảnhquan không lặp lại cũng như không có hai con vật, hai cây, hai khoáng chất hoàn

Trang 12

toàn giống nhau Các cá thể cảnh quan có thể ở hàng khác nhau, vùng, miền, xứ,đại lục … Khác nhau

VD1: Ở Taiga hay sa mạc cát ta cảm thấy các cảnh quan như đơn điệu

nhưng quan sát kỹ bao giờ cũng phát hiện ra nơi này so với nơi khác có sườn dốchơn một chút, dòng suối chảy nhanh hơn … Sự khác nhau của các cảnh quan đãgây nên rất nhiều khó khăn cho việc phân loại

Các bộ phận lãnh thổ rất xa nhau nhưng lại giống nhau về điều kiện tự nhiênthì được gọi là cùng một hệ thống hay nói cách khác là giống nhau về mặt hệ thống

và được xếp vào một kiểu cảnh quan nhất định

VD: Những sa mạc cát ở Mông Cổ, Tây Trung Quốc và Kazacztan, các cảnh

quan này đều có những đặc điểm giống nhau về điều kiện tự nhiên là rất khô nóng.Lượng mưa ít … nhưng chúng lại ở những vị trí xa nhau chứ không gần nhau liêntục

Trong việc đặt tên cá thể, bên cạnh những danh từ hệ thống hóa ( loại, hạng,kiểu … ) thì cần thêm vùng phân bố địa mạo của cá thể đó nữa

VD: Cảnh quan rừng lầy là đơn vị hệ thống hóa, còn cảnh quan rừng lầy

miền đất thấp Mesera là cá thể cụ thể Tương tự như vậy, thảo nguyên đất

secnozom của miền cao Trung Nga, các cảnh quan thảo nguyên rừng Nam Uran,cảnh quan đài nguyên Pai – Hoa … cũng là những cảnh quan cá thể

- Thứ 3: Phân loại cảnh quan phải chú ý đến các cảnh quan phổ biến và cảnh quan hiếm.

Hiện nay người ta mới chỉ cơ bản chú ý đến các cảnh quan điển hình phân

bố rộng rãi Nhưng cũng cần phải nghiên cứu cả những cảnh quan hiếm và không

Trang 13

điển hình, đồng thời nghiên cứu những khoáng vật hiếm, các loài thực vật và độngvật ít ỏi Việc nghiên cứu đó có tầm quan trọng đối với thực tế vì trong số các cảnhquan không điển hình ( cảnh quan hiếm ) đó có cả mỏ khoáng sản có ích và nhữngnguồn nước khoáng chữa bệnh…

VD: Với quan điểm hệ thống hóa địa hóa thuộc mộtkiểu cảnh quan taiga

thuộc vào cùng một mức độ phân vị là những cảnh quan taiga chưa phổ biến chiếmmột diện tích lớn cảu đới taiga và những cảnh quan hiếm chưa axit sunfuric pháttriển trên khu vực có đá bị pirit hóa và mạch mỏ sunfua

* Hệ thống các cấp phân loại cảnh quan địa hóa

I Hàng cảnh quan Dạng vận động vật chất mà sự di động của các

nguyên tố trong cảnh quan có quan hệ

II Nhóm cảnh quan Tuần hoàn sinh vật của các nguyên tố di động

thuộc không khí: mối tương quan giữa khối vậtchất sống và sản phẩm hàng năm, các kiểu sinhvật thực hiện vòng tuần hoàn

III Kiểu cảnh quan Tuần hoàn sinh vật của các nguyên tố di động

thuộc không khí: sản phẩm hang năm của vậtchất sống, tốc độ phân huỷ của xác hữu cơ

IV Thứ cảnh quan Sản phẩm vật chất sống trong phạm vi của một

Trang 14

1 Hàng cảnh quan

Những đặc điểm địa hóa của các cảnh quan sinh vật do tuần hoàn sinh vậtcảu các nguyên tử quyết định Việc hình thành cảnh quan đài nguyên, taiga, thảonguyên, … đều tùy thuộc vào vòng tuần hoàn sinh vật diễn ra như thế nào, vàolượng vật chất hữu cơ hình thành trong cảnh quan có bao nhiêu thành phần, tốc độphân hủy của chúng như thế nào Vì thế, những đặc điểm tuần hoàn sinh vật cầnđược đặt làm cơ sở cho sự phân loại địa hóa của các cảnh quan đó

2 Nhóm cảnh quan

- Tiêu chuẩn để phân chia các cảnh quan thuộc nhóm cảnh quan này là sựtuần hoàn sinh vật của các nguyên tố di động thuộc không khí: mối tương phảngiữa khối vật chất sống và sản phẩm hàng năm, các kiểu sinh vật thực hiện vòngtuần hoàn

Các kiểu cảnh quan phân chia trong địa lí tự nhiên được đặc trưng bằngnhững điều kiện rất khác nhau của vòng tuần hoàn các phần tử di động thuộckhông khí, đặc biệt là của 3 phần tử CO2, H2O và O2

CO2 trong đất một cách rõ rệt, cường độ tuần hoàn CO2 thấp Ở sa mạc thì tìnhhình ngược lại, O2 nhiều nhưng H2O lại thiếu và hậu quả là cường độ tuần hoàn

CO2 yếu Trong khi ở nhiệt đới ẩm thì C lại di động rất mạnh

Người ta đã chia thành 4 nhóm cảnh quan tương ứng với các kiểu tuần hoànsinh vật của các phân tử di động thuộc không khí đó là: nhóm các cảnh quan rừng,nhóm cảnh quan đồng cỏ và thảo nguyên, nhóm cảnh quan đài nguyên và nhómcảnh quan hoang mạc – sơ khai

Trang 15

3 Kiểu cảnh quan

Trong kiểu cảnh quan tùy theo đặc điểm của vòng tuần hoàn sinh vật của cácphần tử di động thuộc không khí ( chủ yếu C, H, O ) mà có thể chia ra các kiểucảnh quan khác nhau Khối lượng sinh vật, thành phần hóa học của chúng, sảnphẩm và sự rơi rụng hàng năm là cơ sở cho việc phân chia này

Dựa vào tuần hoàn sinh vật có thể phân chia thành các kiểu cảnh quan:

- Nhóm cảnh quan rừng có cảnh quan nhiệt đới ẩm, cảnh quan taiga, cảnhquan rừng lá rộng vành đai ôn đới, …

- Thuộc nhóm cảnh quan thứ II có thảo nguyên Secnozom, thảo nguyên cậnnhiệt đồng cỏ anpi,…

4 Các thứ cảnh quan

Trong phạm vi của một kiểu, theo cường độ tuần hoàn của các sinh vật củacác phần tử di động thuộc không khí ( kích thước của sinh khối, sự sinh trưởng vàrơi rụng ) mà chia ra các thứ, các thứ này tương ứng với kiểu phụ theo đới và lớpphủ thực vật của thổ nhưỡng

Một kiểu có bốn hay năm thứ, nhưng nhìn chung số lượng thứ trong kiểu thìkhông nhiều

5 Các lớp cảnh quan

Trong phạm vi thứ, sự khác biệt lớn nhất của các cảnh quan có lien quankhông phải với các phần tử di động thuộc không khí, mà là thuộc nước, tức là sự diđộng của Ca, Mg, Na, Cl, S, …

Trang 16

Trong mỗi thứ có một lớp cảnh quan, nhưng thường có 1 lớp nào đó chiếm

ưu thế

VD: Trong đài nguyên, bên cạnh lớp H – Fe ưu thế, có các cảnh quan lớp Ca

( trến đá vôi ), lớp H ( đài nguyên trên núi ) Ở nhiệt đới ẩm, bên cạnh lớp H ưuthế, có các cảnh quan lớp H- Fe ( rừng đầm lầy ), lớp Na – H2S ( rừng sú vẹt venbiển ), …

Số lượng lớp không nhiều, có lẽ trên 10, những cảnh quan phổ biến nhất chỉthuộc vào 6 – 7 lớp chủ yếu Lớp là đơn vị phân vị tương đối lớn, nó có thể đượcchia ra ít nhất thành hai đơn vị nữa và gọi là hạng và loại cảnh quan

6 Các hạng cảnh quan

Xét hai hạng cảnh quan cơ bản:

- Hạng thứ nhất gồm các cảnh quan với sự di động cơ học của các vật chấtyếu, có nghĩa sự xói mòn yếu, sườn và phân thủy không rõ với bộ phận dưới

- Hạng thứ hai gồm những cảnh quan với sự di động cơ học của vật chất mộtcách đáng kể, có nghĩa là với sự rửa trôi trên mặt mạnh, sự xói mòn mạnh

Trang 17

VD: Các thảo nguyên khô khan phía bắc trên hoàng thổ thuộc về 1 loại,

nhưng trên các đá của thành hệ màu đỏ lại thuộc loại khác ( tuy cùng loại địahình )

Câu 5: Đặc trưng địa hóa của kiểu cảnh quan của rừng nhiệt đới ẩm? Liên hệ với Việt Nam

Rừng mưa nhiệt đới ẩm là những khu rừng với cây cao, khí hậu ấm và rấtnhiều mưa Rừng mưa nhiệt đới là những quần hệ phụ của rừng mưa phân bố ởvùng chí tuyến nóng ẩm, là khu vực rừng có diện tích lớn nhất hiện nay và có tácdụng lớn nhất trong duy trì môi trường sinh tồn của loài người Nó phân bố chủyếu ở các khu vực châu Á, châu Úc, châu Phi, Nam Mỹ, Trung Mỹ và các quầnđảo trên Thái Bình Dương thuộc khu vực chí tuyến

* Những đặc trưng của cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm

- Đặc trưng của kiểu nhiệt đới ẩm

Đặc trưng của nhiệt đới ẩm là cường độ của vòng tuần hoàn sinh vật và sự diđộng theo nước cao nhất

Tuần hoàn sinh vật diễn ra với cường độ cao, lượng sinh khối hình thànhhàng năm lớn (325 tạ/ha), thành phần loài phong phú: ở Java có trên 1500 loài cây,Ghi nê Châu Phi có 3000 và ở Amazôn là 4000 loài cây Cho nên, Uôlex nhận xét:

“Tìm kiếm đại biểu của trăm loài khác nhau dễ hơn là trăm cá thể của một loài”

- Ở rừng nhiệt đới ẩm thực vật sử dụng không gian một cách tối đa

Có nghĩa là tất cả khả năng để di cư và hấp thụ các nguyên tố dinh dưỡng Do

đó mật độ của rừng rất đặc biệt, số lượng cây, dây leo, phụ sinh, … rất nhiều

Trang 18

- Sự phá hoại vật chất hữu cơ diễn ra ở đây rất dữ dội

Nhịp độ phân hủy lớn hơn vài lần so với rừng ôn đới Quá trình tạo khoángxảy ra nhờ động vật và vi sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn và nấm

- Dông tố thường xuyên là đặc điểm nổi bật đối với nhiệt đới ẩm ướt

Hay có bão hay các tai biến thiên nhiên như lũ lụt, sóng thần …

* Các lớp cảnh quan tiêu biểu của kiểu cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm

- Các cảnh quan với lớp chua của sự di động nước

Đây là cảnh quan phổ biến trong kiểu cảnh quan nhiệt đới ẩm, chúng đượcthành tạo trên đá Silicat axít trong điều kiện địa hình thuận lợi cho sự thoát nướctốt Sự rửa trôi mạnh mẽ của của thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hoá do nước mưa đãmang đi những sản phẩm hoà tan của chúng, sau đó được nước ngầm vận chuyển

ra sông, biển như: Ca, Na, Mg,… là những nguyên tố bị chuyển hoá trước tiên

Vỏ phong hoá giàu ôxít sắt ngậm nước có màu đỏ, da cam, vàng Khoáng vậtsét, Fe2O3 và Al2O3 tồn tại ở trạng thái keo nên toàn bộ lớp vỏ phong hoá đều đượccấu tạo từ chất keo này

Trong nhiều loại thổ nhưỡng nhiệt đới mùn bị phủ bởi màu đỏ của Fe2O3, vìthế màu sắc của đất ít khác với tầng tàn tích nằm dưới Cho nên đất ít phì nhiêu,nghèo N, P, K, Ca và nhiều các nguyên tố khác

VD: Chè, loại cây “kị canxi” nổi tiếng, nó chứa rất ít canxi trong chất tro và

tránh những đất giàu vôi

Quá trình bóc mòn cơ học trong nhiệt đới ẩm biểu hiện rất mạnh và ở nhữngvùng đồi núi đạt tới mức độ to lớn

Nước ngầm, nước sông và nước hồ nhiệt đới ẩm đều khoáng hoá yếu

Công thức địa hoá đặc trưng cho cảnh quan tự lập có dạng sau, ở cảnh quanđầm lầy thì nguyên tố loại hình ngoài H+ còn có Fe2+

Ngày đăng: 31/12/2013, 16:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w