độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, là vì Nam Bắc,nớc nào làm chủ nớc đó, không phải bắt chớc nhau"3.Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy, trong thời kỳ này,pháp luật Việt Nam nói
Trang 1lời nhà xuất bản
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc,dân tộc ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong việcxây dựng và hoàn thiện một Nhà nớc độc lập, tự chủ vữngmạnh, để lại cho các thế hệ sau nhiều di sản quý báu về kinhnghiệm quản lý và điều hành đất nớc qua các bớc thăng trầmcủa lịch sử dân tộc Một trong những di sản quý báu đó làthành quả to lớn, đầy tính sáng tạo trong xây dựng nền phápluật độc lập, tự chủ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thểcủa mỗi giai đoạn lịch sử, trong đó, những thành tựu và kinhnghiệm về lập pháp hình sự có vị trí trọng yếu Với t cách làcông cụ có hiệu quả trong công cuộc bảo vệ và duy trì Nhànớc độc lập, tự chủ trớc thế lực xâm lợc tiềm tàng của bênngoài và bảo đảm quản lý có hiệu quả của Nhà nớc trong quátrình xây dựng đất nớc, các Nhà nớc Việt Nam trải qua cáctriều đại lịch sử đã luôn quan tâm ban hành các quy địnhpháp luật hình sự và luôn thể hiện đậm nét bản sắc dântộc trong di sản văn hoá quý báu đó
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nớc Việt Namkiểu mới đợc hình thành, đánh dấu mốc quan trọng tronglịch sử lập pháp hình sự Việt Nam Trải qua trên năm thập kỷxây dựng, Nhà nớc ta đã đạt đợc những thành tựu quantrọng trong việc xây dựng những văn bản pháp luật về hình
sự, nổi bật nhất là đã kế thừa và phát huy vốn di sản lậppháp của cha ông để lại, bên cạnh nhiều nguyên tắc tiến bộ,dân chủ xã hội chủ nghĩa đợc ghi nhận trong pháp luật ViệtNam nói chung, pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng Và vớicông cụ có hiệu quả đó, đã giúp Nhà nớc ta quản lý xã hội đạt
đợc nhiều thắng lợi, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nền
Trang 2kinh tế, văn hoá mới của nớc nhà.
Ngày nay, chúng ta đang bớc vào giai đoạn đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa; chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; xây dựng Nhà
n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân,vì dân, dới sự lãnh đạo của Đảng, đã đặt ra cho chúng tanhiều thách thức mới trong việc xây dựng và hoàn thiện phápluật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng Chính vì vậy,việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử lập pháp hình sự ViệtNam là một trong những việc làm cần thiết, nhằm góp phần
kế thừa, phát huy có hiệu quả kinh nghiệm quý báu của cha
ông ta trong việc tìm giải pháp khả thi trớc yêu cầu và tháchthức nêu trên
Với tinh thần đó, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất
bản cuốn sách Lịch sử luật hình sự Việt Nam.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 12 năm 2002
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Trang 31 Thời kỳ này bắt đầu từ khi hình thành tổ chức Nhà
nớc đầu tiên và kết thúc với cuộc kháng chiến chống quânxâm lợc nhà Tần Đây là một khoảng thời gian rất dài, nhândân ta xây dựng một nền văn hóa vật chất và tinh thần đầysáng tạo, tạo ra những tiền đề kinh tế, xã hội, văn hóa đủ đểphá vỡ chế độ công xã nguyên thủy và xây dựng một chế độxã hội mới cao hơn
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, việc Nhà nớc Văn Langcủa các Vua Hùng ra đời, đã chấm dứt tình trạng sinh hoạt trìtrệ, nguyên thủy, mở ra một kỷ nguyên mới, để lại dấu ấn rất rõvào các mặt sinh hoạt của dân tộc Việt Nam1
Đến thế kỷ thứ III trớc công nguyên, tù trởng bộ lạc Thục –
mà truyền thuyết đặt tên là Thục phán đã đem quân đánh
tù trởng liên bộ lạc, thống nhất cả vùng đồng bằng Bắc Bộ,miền núi Bắc Bộ và Nam Trung Hoa Thục phán xng là An D-
ơng Vơng, đóng đô ở Phong Khê, thành lập Nhà nớc Âu Lạc,
đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của xã hội Việt Nam
2 Về pháp luật trong thời kỳ này, cho đến nay chúng
ta có rất ít tài liệu nghiên cứu Trong bộ hậu Hán th của TrungQuốc đợc biên soạn vào thế kỷ thứ V sau công nguyên, trongquyển 54 với nhan đề "Mã Viện liệt truyện" có đề cập đến
1 Xem: Văn Tân, Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Hng: Thời
đại Hùng Vơng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr 252.
Trang 4pháp luật của thời kỳ này nh sau: "có điều trần tấu về luậtcủa ngời Việt, so sánh với luật Hán hơn mời điều Rồi ban bốphép cũ cho ngời Việt biết để bó buộc dân Việt Từ đó vềsau, dân Lạc Việt phải tuân theo phép cũ của Mã Viện"1.
Ngoài tài liệu trên, chúng ta không có tài liệu nào khác
để làm sáng tỏ 10 điểm khác nhau giữa Việt luật và Hánluật Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu trên, chúng ta có thể rút ramột số kết luận nh sau:
Thứ nhất, cách đây hơn hai mơi thế kỷ, chúng ta đã
có một nền pháp luật đặc thù khác pháp luật Trung Hoaphong kiến
Thứ hai, kỹ thuật lập pháp của cha ông chúng ta thời kỳ
đó đạt trình độ khá so với các nớc láng giềng, nên Mã Việnmới có cái để so sánh 10 điểm khác nhau giữa Việt luật vàHán luật
Thứ ba, pháp luật thời kỳ đó mang tinh thần bình
đẳng, dân chủ, công lý của thời xa, cộng với phép tắc củatín ngỡng cổ truyền, nhng đã thể hiện tính nghiêm khắccủa một chính quyền tập trung; tinh thần pháp luật của thời
đó là tình riêng phụ thuộc vào lễ cả1 Thời kỳ đó, đã hìnhthành pháp luật hình sự cha, chúng ta cha có tài liệu khẳng
1 Xem: Văn Tân, Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Hng:
Thời đại Hùng Vơng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr 65.
Trang 51 Từ đầu thế kỷ thứ II trớc công nguyên, Âu Lạc bị Triệu
Đà, Vua Nam Việt ở Đông Nam Trung Quốc xâm lợc và sápnhập vào Nam Việt, còn từ năm 111 trớc công nguyên trở đi,sau khi Triệu Đà bị nhà Hán đánh bại, là thuộc địa của nớcTrung Hoa phong kiến cho đến đầu thế kỷ thứ X sau côngnguyên Trong khoảng thời gian dài bị thế lực phong kiến ph-
ơng Bắc đô hộ, nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy,
đấu tranh chống quân xâm lợc, nhng phần lớn đều bị đàn
áp, thất bại, trừ một số cuộc khởi nghĩa giành đợc thắng lợi,nhng không duy trì chính quyền đợc lâu Tới đầu thế kỷthứ X, phong trào giải phóng dân tộc do giai cấp phong kiếnViệt Nam lãnh đạo mới giành đợc thắng lợi quyết định1
2 Trong thời kỳ Bắc thuộc, pháp luật của Trung Hoaphong kiến đã đợc áp dụng tại Việt Nam, trong đó có hai bộluật chủ yếu là Bộ luật nhà Hán và Bộ luật nhà Đờng
Bộ luật nhà Hán đợc áp dụng tại nớc ta từ năm 111 trớccông nguyên (TCN) cho đến khi Bộ luật nhà Đờng đợc banhành vào năm 385 Bộ luật này bắt nguồn từ Bộ pháp kinhcủa Lý Khôi đợc biên soạn dới thời Chiến quốc (403-232TCN)
Bộ pháp kinh gồm 6 chơng: 1) Đạo pháp (trộm); 2) Tặc pháp(cớp); 3) Tù pháp (tù); 4) Bộ pháp (thủ tục); 5) Tạp pháp (luậtlinh tinh); 6) Cú pháp (định nghĩa) Dới thời Hán cao tổ (206-194), Tiêu Hà đã sửa đổi, bổ sung bộ luật của Lý Khôi, thêmvào đó 3 chơng nữa, đó là: 1) Hộ luật (kiểm tra dân số, giáthú, gia đình ); 2) Hng luật (thuế khóa, triều cống ); 3)Khái luật (quân đội, chuyên chở, chuồng voi, chuồng ngựa )
Bộ luật nhà Hán có tất cả 9 chơng, nên còn đợc gọi là "Cửuchơng luật"1
1 Xem: Đinh Gia Trinh: Sơ thảo lịch sử nhà nớc và pháp quyền Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1968, t.I, tr 37-38.
1 Xem: Vũ Văn Mẫu: Cổ luật Việt Nam thông khảo và t pháp sử, Sài Gòn, 1974, quyển
Trang 6Bộ luật nhà Đờng là một bộ luật quan trọng trong lịch
sử pháp luật Trung Hoa phong kiến và có ảnh hởng nhất
định tới pháp luật Việt Nam từ đời nhà Lý đến nhà Lê saunày
Bộ luật nhà Đờng với 500 điều, gồm 12 chơng: 1) Danh
lệ (điều luật định nghĩa tổng quát); 2) Vệ cấm (lính nhàvua và các điều cấm kỵ); 3) Chức chế (quan chức); 4) Hộ hôn(kiểm tra dân số, hôn nhân); 5) Khái khố (công khố); 6)Thiện hng (chuồng voi, chuồng ngựa của nhà Vua); 7) Tặc
đạo (trộm cớp); 8) Đấu tụng (đánh nhau); 9) Trá ngụy (giandối); 10) Tạp luật (luật linh tinh); 11) Bộ vong (bắt các tù trốn);12) Đoản ngục (tạm giam) 2
Về các văn bản pháp luật hình sự khác trong thời kỳnày, chúng ta không có nhiều tài liệu để nghiên cứu HậuHán th có ghi lại, để hạn chế sự tham nhũng của quan lại gâythiệt hại đến việc thu thuế và cống nạp cho chính quyềnTrung ơng, nhà Hán đã ban hành 6 điều lệnh dới thời Hán Vũcấm các quan không đợc làm một số việc nh: "dùng thế lựcchiếm đoạt ruộng đất, giết hại dân, vơ vét của cải, giantham " 1
Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật Trung Hoa Phong kiếnvào Việt Nam đã không đem lại kết quả nh th của Hoài Namvơng Lu An gửi lên Hán Vũ Đế có đoạn viết: "Nớc Việt là đấtngoài cõi, là dân cắt tóc xăm mình, không thể lấy pháp độcủa nớc đội mũ mãng mà cai trị đợc Từ đời Tam đại thịnhtrị, ngời Hồ, ngời Việt không chịu theo chính sóc (lịch) của
1 – t I, tr 161
2 Xem: Sđd, tr 184.
1 Xem: Đinh Gia Trinh: Sơ thảo lịch sử nhà nớc và pháp quyền Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1968, t.I, tr 72.
Trang 7Trung Quốc" 2.
III Pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà Ngô, nhà
Đinh và nhà Tiền Lê
1 Thời kỳ này bắt đầu từ năm 939, khi Ngô Quyền
đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành lại độclập hoàn toàn cho đất nớc ta Trong buổi đầu của nềnquân chủ phong kiến tự chủ, để bảo vệ nền thống trị mới
đợc thành lập, trấn áp lực lợng đối địch, gây uy thế chomình, chính quyền phong kiến dân tộc đã sử dụng cácbiện pháp chuyên chính bạo lực với các hình phạt nghiêmkhắc đối với những kẻ chống đối
2 Theo sử sách để lại, việc quy định hành vi nào là
tội phạm và hình phạt đợc áp dụng dới thời Đinh, Lê đều tùy
ý của Vua hay các viên quan đứng đầu khu vực Đinh BộLĩnh đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi và quy
định: "Ngời nào trái phép sẽ bị bỏ vạc dầu hay cho hổ ăn".Không phải không có lý do mà lịch sử nhấn mạnh việc ĐinhTiên Hoàng áp dụng những cách thức thi hành hình phạtkhủng khiếp đối với ngời phạm tội nhằm đe dọa lực lợngchống đối lại nhà Đinh Tội phạm hóa các hành vi đe dọaquyền lực của nhà Đinh là sự tiếp tục và hỗ trợ cho cuộc
đấu tranh quân sự chống tàn d của các lực lợng cát cứ vũtrang đã gây rối loạn trong thời kỳ các sứ quân nhằm ổn
định, thống nhất đất nớc Tuy nhiên, việc ban hành phápluật, trong đó có pháp luật hình sự không làm đợc nhiều d-
ới thời nhà Ngô, nhà Đinh do tình hình chiến tranh và cơ
sở của quyền lực tập trung còn yếu
3 Thời Vua Lê Đại Hành vẫn giữ nguyên các hình phạt
2 Xem: Phan Huy Lê, Trần Quốc Vợng, Hà Văn Tấn, Lơng Ninh: Lịch sử Việt Nam,
Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1971, t.I, tr 313.
Trang 8và cách thức thi hành các hình phạt đó Theo lời sớ củaTống Cảo, thì cách xử tội của Lê Hoàn nh sau: "Tả hữu cólỗi nhỏ cũng giết đi hoặc đánh từ 100 đến 200 roi Bọngiúp việc, ai hơi có điều gì làm phật ý cũng bị đánh từ
30 đến 50 roi, truất làm tên gác cổng, khi hết giận lại gọi
về cho làm chức cũ"1 Thời Vua Lê Long Đĩnh áp dụngnhững cách thức thi hành hình phạt tàn bạo hơn Đại Việt sử
ký toàn th có đoạn viết: "Vua tính hiếu sát, phàm ngời bịhành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào ngời mà đốt,
để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát ngời nớc Tống làLiêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh, để chokhông đợc chết chóng Đi đánh dẹp bắt đợc tù, thì giải
đến bờ sông, khi nớc triều rút, sai ngời làm lao dới nớc, dồncả vào trong ấy, đến khi nớc triều lên, ngập nớc mà chết;hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ,ngời rơi xuống chết"2
Thời kỳ đó có pháp luật thành văn hay không, ta chathể giải đáp đợc một cách chắc chắn Nhng điều có thểkhẳng định đợc là pháp luật thành văn thời đó đã đợc sửdụng tại Trung Hoa phong kiến, cho nên chính quyền phongkiến dân tộc hoàn toàn có điều kiện sử dụng kinh nghiệmlập pháp của họ để áp dụng vào nớc ta So với nhà Ngô, nhà
Đinh, dới thời nhà Lê, hoạt động lập pháp nói chung, lập pháphình sự nói riêng đợc tăng cờng hơn Tuy nhiên, việc sử cũchép lại là Lê Hoàn quy định pháp lệnh, chắc chắn không
có nghĩa là pháp luật thành văn chỉ có dới thời Tiền Lê
IV Pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà Lý
1 Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt
1 Xem: Trơng Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh: Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1977, quyển 1 - t.II, tr 29.
2 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.I, tr 236.
Trang 9niên hiệu là Thuận thiên, lập nên nhà Lý Trong thời kỳ này,quyền thống trị của giai cấp phong kiến đã đợc xác lập, tổchức cai trị có quy củ hơn Tuy nhiên, do quan lại vẫn giữcách làm tùy tiện cũ, nên tình trạng bị xét xử oan sai ngàycàng nhiều Để giải quyết tình trạng này, Lý Công Uẩn đãcho đốt chài lới (ý giải phóng cả chim, muông, tôm cá), banchiếu từ nay ai có việc tranh kiện nhau cho đến triều tâubày, Vua đích thân giải quyết Năm 1040, Lý Thái Tôngxuống chiếu, từ nay về sau phàm nhân dân trong nớc ai cóviệc kiện tụng, thì giao cho thái tử xét xử trớc khi trình lênVua quyết án
2 Để củng cố quyền hành của mình, ổn định tình
hình xã hội, năm 1042, Lý Thái Tông sai trung th sảnh sửa
định luật lệ, chia môn loại, biên ra điều khoản lập ra Hình
th Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nớc ta, nhng rất tiếc
bộ luật đó hiện nay không còn nữa, nên chúng ta không biết
rõ các điều luật có nội dung nh thế nào Theo Lịch triềuhiến chơng loại chí của Phan Huy Chú, thì trong thời kỳnhà Minh đô hộ nớc ta (1407-1427), họ đã thu nhiều sáchquý của nớc ta, trong đó Bộ Hình th đem về Kim Lăng,Trung Quốc 1
Hiện nay, sử sách chỉ ghi lại đợc một số chiếu do cácVua Lý ban trong thời gian trị vì đất nớc Nghiên cứu cácchiếu này, có thể thấy pháp luật hình sự thời kỳ này có một
số đặc điểm nh sau:
Thứ nhất, bảo vệ hoàng cung, triều đình nhà Lý.
Năm 1150, Lý Anh Tông xuống chiếu: "cấm bọn hoạnquan không đợc tự tiện vào trong cung, ai phạm thì bị tội
1 Xem: Vũ Văn Mẫu: Cổ luật Việt Nam thông khảo và t pháp sử, Sài Gòn, 1974, quyển
1, t.I, tr 188.
Trang 10chết Nếu canh giữ không cẩn thận để cho ngời khác vàocung cũng bị tội nh thế.
Cấm các quan trong triều không đợc đi lại nhà các
v-ơng hầu, ở trong cung cấm không đợc hội họp nhau năm, bangời bàn luận, chê bai, ai phạm thì trị tội Kẻ nào phạm việcqua lại bên ngoài phía đầu hành lang chứa khí giới của đôphụng quốc vệ thì xử 80 trợng, tội đồ; nếu vào trong hànhlang ấy thì xử tử Lính phụng quốc vệ ở trong hành lang ấy
có chiếu chỉ mới đợc cầm khí giới, không có chiếu chỉ mà tựtiện mang khí giới đi quá ra ngoài phía đầu hành lang thị
bị xử tử" 2
Cách thức thi hành hình phạt đối với những ngời chống
đối nhà Lý rất khủng khiếp Ngời phạm tội hoặc bị cắt thịt,róc xơng ở chợ, hoặc bị đa lên "ngựa gồ", tức là bị đóngvào một tấm ván đa đi bêu chợ, sau đó mới đem tùng xẻo,hoặc bị chặt hết chân tay Những biện pháp xử lý nàynhằm củng cố uy quyền của Nhà nớc phong kiến
Thứ hai, bảo vệ nguồn bóc lột của giai cấp thống trị.
Thần dân là một nguồn bóc lột chủ yếu của nhà Lý.Nhà nớc bắt lính, lấy sức lao dịch, lấy thuế, v.v, đều ở thầndân Do đó, bảo đảm số lợng thần dân để phục dịch choNhà nớc là điều hết sức cần thiết
Năm 1043, Lý Thái Tông đã ban chiếu: "Kẻ nào đem bánhoàng nam trong dân làm gia nô cho ngời ta, đã bán rồi thì
đánh 100 trợng, thích vào mặt 20 chữ; cha bán mà đã làmviệc cho ngời, thì cũng đánh trợng nh thế, thích vào mặt 10chữ Ngời nào biết chuyện mà cũng mua thì xử giảm mộtbậc" 1
2 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.I, tr 319.
1 Xem: Sđd, tr 264.
Trang 11Thứ ba, bảo vệ sản xuất nông nghiệp.
Thời kỳ đó, trâu bò không nhiều, muốn phát triển sảnxuất nông nghiệp, Nhà nớc phong kiến phải quan tâm bảo
vệ số lợng trâu bò cày cần thiết Năm 1042, Lý Thái Tôngxuống chiếu: "Kẻ nào ăn trộm trâu của công thì bị xử 100 tr-ợng, 1 con phạt thành 2 con"2 Năm 1117, Lý Nhân Tông xuốngchiếu định rõ lệnh cấm giết trâu: "Gần đây ở kinh thành,hơng ấp có nhiều ngời trốn tránh, lấy việc ăn trộm trâu làmnghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một contrâu Trớc đây, ta đã từng nói đến việc Nhà nớc đã có lệnhcấm Nay giết trâu lại nhiều hơn trớc Bây giờ Vua xuốngchiếu kẻ nào mổ trộm trâu thì xử 80 trợng, đồ làm khaogiáp, vợ xử 80 trợng, đồ làm tang thất phụ (ngời chăn tằm) vàbồi thờng trâu, láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 tr-ợng"1 Năm 1123, nhà Vua lại xuống chiếu nhắc lại quy địnhtrên: "Trâu là một vật quan trọng cho việc cày cấy, lợi cho ng-
ời không ít Từ nay về sau, ba nhà làm một bảo, không đợcgiết trâu ăn thịt, ai làm trái thì trị tội theo hình luật"2
Để bảo vệ mùa màng, tài sản của nhân dân, nhà Lýcòn quy định: "cấm không đợc đốn cây trong lúc mùaxuân"; "kẻ nào ăn trộm lúa giống, đồ vật, nếu lấy đợc rồi,thì phạt 100 trợng, nếu cha lấy đợc mà đánh ngời thành th-
ơng, thì bị tội lu" hoặc "kẻ nào lừa trộm trâu của quan, thì
bị phạt 100 trợng và bị phạt gấp đôi số trâu lừa trộm"3
Để khuyến khích ngời dân tận dụng đất vào sản xuấtnông nghiệp, nhà Lý quy định: " Phàm ruộng bỏ hoang, đã
có ngời cày cấy, ngời chủ chỉ có quyền đòi lại trong hạn một
Trang 12năm Trái lệnh này sẽ bị phạt 80 trợng"1.
Thứ t, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con ngời.
Năm 1142, Lý Anh Tông xuống chiếu: "Nếu tranh nhauruộng ao, mà lấy đồ binh khí nhọn sắc đánh chết hay làm
bị thơng ngời thì đánh 80 trợng, xử tội đồ, đem ruộng ao
ấy trả cho ngời chết hay bị thơng" Có thể nói, hình phạt
đối với tội giết ngời quá nhẹ, nên sử thần Ngô Sĩ Liên đãbình luận: "Giết ngời thì phải xử tội chết, đó là phép của
đời xa Nay tội giết ngời cũng xử nh tội khác thực là khôngphân biệt mức độ, mất sự cân nhắc nặng nhẹ"2
Thứ năm, bảo vệ trật tự pháp luật
Năm 1042, Lý Thái Tông xuống chiếu: "Các quan chức
đô, ai bỏ trốn thì phạt 100 trợng, thích vào mặt 50 chữ và
xử tội đồ Các quân sĩ trớc bị tội đồ nếu trốn vào rừng
đồng nội cớp của ngời thì xử 100 trợng, thích vào mặt 30chữ Ngời coi trấn trại mà bỏ trốn cũng phải tội thế"1
Năm 1044, Lý Thái Tông xuống chiếu: "Các quan bỏ trốn
xử tội theo ba bậc lu Cấm quan coi ngục không đợc sai tù làmviệc riêng, ai phạm thì xử 80 trợng, thích chữ vào mặt vàgiam vào lao"2
Thứ sáu, quy định về tha miễn hình phạt.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam,dới thời kỳ nhà Lý đã có quy định về tha miễn hình phạt
Năm 1129, Lý Thần Tông xuống chiếu tha cho nhữngngời phạm tội trong nớc Sử thần Ngô Sĩ Liên bình luận:
1 Xem: Vũ Văn Mẫu: Cổ luật Việt Nam thông khảo và t pháp sử, Sài Gòn, 1974,
quyển 1, t.I, tr 204- 205.
2 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.I, tr 314.
1 Xem: Sđd, tr 262.
2 Xem: Sđd, tr 267.
Trang 13"Nhân Tông thờng nhân việc mở hội mà tha cho ngời có tội,
là không phải lẽ, nhng mà còn mợn tiếng hội Phật Còn nh Vua(Thần Tông) thì không có việc gì mà cũng tha bổng Phàmngời có tội phạm pháp, có kẻ nặng ngời nhẹ, năm bậc hìnhphạt, có trên có dới sau lại tha bổng đợc"3
Năm 1042, Lý Thái Tông xuống chiếu cho "những ngời
từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15tuổi trở xuống và những ngời ốm yếu cho đến các thânthuộc nhà Vua từ hạng Đại công trở lên phạm tội thì cho chuộcbằng tiền, nếu phạm tội thập ác thì không đợc theo lệ này"1.Theo các tác giả Trơng Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, dớithời nhà Lý, các tội thập ác là: 1 Mu phản; 2 Mu đại nghịch:phá hủy cung, lăng, miếu; 3 Mu loạn, theo giặc; 4 ác nghịch:
đánh giết ông bà, cha mẹ; 5 Bất đạo: giết ngời vô tội; 6 Đạibất kính: lấy trộm đồ dùng của Vua, làm giả ấn tín; 7 Bấthiếu: chửi mắng ông bà, cha mẹ; 8 Bất mục: mu giết ngờihay bán ngời thân; 9 Bất nghĩa: giết trởng quan, thầy học;
10 Nổi loạn: thông dâm với ngời họ2
V Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Trần
1 Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhờng ngôi cho Trần Cảnh
và đợc sự ủng hộ của Trần Thủ Độ, ông đã lên ngôi hoàng đế,lập nên triều đại nhà Trần
Dới triều Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, nhândân ta đã tiến hành ba cuộc kháng chiến anh hùng chốngquân Mông- Nguyên xâm lợc Trong các cuộc kháng chiến
đó, động lực chủ yếu là nhân dân lao động, song sự lãnh
đạo của nhà Trần cũng đóng một vai trò rất quan trọng,
3 Xem: Sđd, tr 302.
1 Xem: Sđd, tr 263.
2 Xem: Trơng Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh: Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1977, quyển 1 - t.II, tr 5.
Trang 14xứng đáng đợc lịch sử ghi nhận.
2 Về mặt lập pháp, dới triều Trần, có hai bộ luật đợc
ban hành dới đời vua Trần Thái Tông và Trần Dụ Tông
Trần Thái Tông (1225-1258), ông Vua đầu tiên của nhàTrần, sau khi lên ngôi đã nghĩ ngay đến việc lập pháp Năm
1230, nhà Vua cho khảo định lại những luật lệ của các triềuvua trớc, sửa đổi hình luật, lễ nghi, soạn thành Quốc triềuthông chế gồm 20 quyển Trong cuốn Lịch triều hiến chơngloại chí của Phan Huy Chú, Quốc triều thông chế còn có tênkhác là Quốc triều hình luật Về bộ luật này, ngày nay chỉcòn một đoạn đợc ghi lại trong cuốn Lịch triều hiến chơngloại chí, quyển thứ ba mơi ba, chơng hình luật chí: "Nămthứ 6, niên hiệu Kiến Trung đời Vua Thái Tông nhà Trần, làmsách Quốc triều hình luật, khảo xét những luật lệ đời trớclàm ra Lại định luật về tội đồ; tội nặng vừa thì phải đồlàm điền hoành giả và phải thích vào mặt 6 chữ, đến ở xãQuả; cày cấy ruộng công 3 mẫu, mỗi năm nộp 300 cân thóc.Những kẻ phải đồ làm lính ở Lao Thành, thì phải thích vàotrán 4 chữ, bắt làm quân Tứ Sơng, cắt cỏ ở Thăng Long vàPhợng Thành Lại định lệ câu tụng, chiếu rằng những viêngiám câu, giám tụng đợc lấy tiền hành lý, tính theo đờng
xa gần"1
Bộ luật thứ hai của triều Trần đợc ban hành dới đời VuaTrần Dụ Tông (1341-1369) Năm 1341, Trần Dụ Tông "sai Tr-
ơng Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều
đại điển và khảo soạn bộ hình th để ban hành"1
Trang 15đã bị mất, cho nên, chúng ta không thể biết về từng điềukhoản của hai bộ luật đó.
Tuy nhiên, nghiên cứu các chiếu do các vua Trần banhành, chúng ta có thể nêu một số đặc điểm của pháp luậthình sự thời kỳ này nh sau:
Thứ nhất, bảo vệ vơng triều nhà Trần.
Giống nh pháp luật hình sự dới thời nhà Lý, pháp luậthình sự dới thời nhà Trần cũng quy định các tội thập ác.Trong các tội thập ác, tội mu phản chịu hình phạt nặng nhất,
bị giết hết thân tộc Ví dụ: năm 1283, Trần Lão ngời họ vua,
đợc phong thợng vị hầu, vì viết th nặc danh bài xích việcnớc, nên bị tội Trần Lão phải nộp 1000 quan tiền để chuộctội chết và bị đầy đi làm lính, gia nô của Trần Lão làKhoảnh thì bị tùng xẻo ở chợ Đông
Thứ hai, chế tài hình sự dới thời kỳ nhà Trần nghiêm
khắc hơn nhiều so với thời kỳ nhà Lý "Sách "Cố sự sao ngôn"nói, hình pháp nhà Trần rất nghiêm khắc, tội ăn trộm và đitrốn thì phải chặt ngón chân tay hay là cho voi dầy chết"1
Thứ ba, để bảo vệ lễ giáo, đạo lý phong kiến, năm
1315, Vua Trần Minh Tông xuống chiếu "cấm cha con, vợchồng và gia nô không đợc tố cáo lẫn nhau"2 Quy địnhmang tính nhân văn này còn đợc ghi nhận trong bộ luật saunày của nớc ta
Thứ t, pháp luật hình sự có tính độc lập cao, không
sao chép một cách máy móc pháp luật Trung Hoa phong kiến
Điều này đợc thể hiện trong chiếu của Vua Trần Nghệ Tôngvào năm 1370: "Triều trớc dựng nớc, có luật pháp riêng, chế
1 Xem: Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chơng loại chí, Nhà in Bảo Vinh, Sài Gòn,
1957, tr 527.
2 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.II, tr 100.
Trang 16độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, là vì Nam Bắc,nớc nào làm chủ nớc đó, không phải bắt chớc nhau"3.
Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy, trong thời kỳ này,pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật hình sự Việt Nam nóiriêng đã từng bớc đợc hình thành và phát triển Đặc biệt, mặc
dù trong một thời gian dài bị Trung Hoa phong kiến xâm lợc,nhng pháp luật hình sự Việt Nam vẫn giữ đợc những bản sắcriêng có của mình
3 Xem: Sđd, tr 151.
Trang 17Chơng II
Lịch sử luật hình sự Việt nam
từ thời kỳ nhà hồ đến thời kỳ
nhà lê sơ
I Pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà Hồ
1 Vào cuối thế kỷ thứ XIV, đất nớc ở trong tình trạng
rối ren, vơng triều Trần đã trở nên ruỗng nát, bị lung lay tậngốc Nắm những chức vụ cao về quân sự, chính trị, Hồ Quý
Ly có uy thế lớn và dần dần lấn át quyền lực của Vua, quý tộc
họ Trần và cuối cùng cớp ngôi nhà Trần vào năm 1400
Từ khi giữ những địa vị quan trọng (1387), cho đếnkhi cớp ngôi nhà Trần và bảy năm trên ngôi Vua, Hồ Quý Ly đãthi hành một số biện pháp cải cách về chính trị, kinh tế,pháp luật có những tác dụng nhất định, nhng không cảithiện đợc tình hình suy đồi của xã hội phong kiến bấy giờ
Cấm tuyệt tiền đồng, không đợc chứa lén, tiêu vụng,tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ
Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội nh làm tiền giả"2 Năm 1399,
1 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.II, tr 202.
2 Xem: Sđd, tr 189.
Trang 18Hồ Quý Ly sai "Trần Ninh đốc xuất ngời phủ Thanh Hóa trồngtre gai ở phía Tây thành, phía Nam từ Đốn Sơn, phía Bắc từ
An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía Tây từ chợ Khả Lăng ởVực Sơn đến sông Lỗi Giang, vây quanh làm tòa thành lớnbọc phía ngoài Dân chúng ai lấy trộm măng bị xử tử"3 Việcthi hành hình phạt tử hình cũng đợc thi hành bằng nhiềuhình thức khác nhau nh: chém đầu (năm 1402, Hồ Quý Lysai chém Nguyễn Bẩm, vì cho rằng, ông này chỉ trích Vua;năm 1403, Lu Quang Đình khi đi sứ Trung Quốc có quan hệvới Trần Thiêm Bình, nên cũng bị chém)1; chôn sống, dìmxuống nớc (năm 1399, sau khi vụ mu sát Hồ Quý Ly bị bại lộ,
"bọn tôn thất Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, tớng quân Trần KhátChân, Phạm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, LơngNguyên Bu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngu Tất và các liêu thuộc,thân thích gồm 370 ngời đều bị giết cả, tịch thu gia sản,con gái bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên hoặc bị chônsống, hoặc bị dìm nớc"2); lăng trì (năm 1403, Trần Đức Huyhành nghề mê tín dị đoan, bị xử lăng trì; năm 1406, TrầnThiêm Bình mạo nhận là con cháu nhà Trần để cầu viện nhàMinh cũng bị xử lăng trì )
II Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ
1 Tháng 6 năm 1407, sau khi đánh bại đợc quân củanhà Hồ, bắt đợc cha con Hồ Quý Ly, nhà Minh đã chia nớc ta
ra làm 17 phủ, 5 châu, bổ nhiệm quan cai trị Quân xâm
l-ợc nhà Minh đã thi hành một chính sách khủng bố tàn bạohòng đè bẹp tinh thần, ý chí đấu tranh của nhân dân ta.Chúng quy định: tất cả vũ khí đều bị tịch thu, đóng chiến
3 Xem: Sđd, tr 198.
1 Xem: Trơng Thị Hòa, Thể chế chính trị, hành chính và pháp quyền trong cải
cách Hồ Quý Ly, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 129.
2 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.II, tr 196.
Trang 19thuyền và chế tạo vũ khí đều bị ghép vào tội phản nghịch
và không ngần ngại dùng những thủ đoạn khủng bố man rợnhất nh: "chất thây ngời làm núi, hoặc rút ruột ngời quấnvào cây, hoặc rán thịt ngời lấy mỡ hoặc dùng nhục hình bàolạc để mua vui"1 Đáng chú ý là chúng đã đốt, phá hủy hoặcmang về Trung Quốc rất nhiều sách, hiện vật quý hiếm, trong
1428, đã đánh đuổi đợc quân xâm lợc, giành lại độc lậpcho Tổ quốc
Vấn đề xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật hình
sự nói riêng đã đợc nhà Lê quan tâm
Ngay trong những năm kháng chiến chống quân Minh,
Lê Lợi đã ban hành Dụ cấm tà đạo trong đó quy định: "aidùng những phép tà ma giả dối, đánh lừa ngời khác thì phảitội"2
Năm 1428, sau khi lên ngôi vua, Lê Thái Tổ đã hạ lệnhcho các tớng hiệu và các quan rằng: "Từ xa tới nay, trị nớcphải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn Cho nên,học tập đời xa đặt ra pháp luật là để dạy các tớng hiệu,quan lại, dới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện,
là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ
1 Xem: Trơng Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh: Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1977, quyển 1 - t.II, tr 233.
2 Xem: Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam thông khảo và t pháp sử, quyển 1 – t.I, Sài Gòn,
1974, tr 229.
Trang 20để đến nỗi phạm pháp"1
Nhằm bảo đảm trật tự công cộng, phát triển sảnxuất, năm 1429, nhà vua ra lệnh chỉ cho các quan rằng: "kẻnào du thử du thực, đánh cờ đánh bạc thì quan ty và quândân bắt nộp để trị tội Đánh bạc thì chặt 5 ngón tay,
đánh cờ thì chặt 1 phân ngón tay, những kẻ không phải làviệc quan mà vô cớ tụ họp uống rợu thì xử phạt 100 trợng,ngời chứa chấp bị tội kém một bậc"2 Thời vua Lê Thái Tông,xây dựng thêm một số quy tắc xét xử các vụ kiện cáo vàmột số quy định nghiêm cấm nạn hối lộ Đáng chú ý, hoạt
động lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng củanhà Lê đợc tiến hành thành công nhất dới thời Vua Lê ThánhTông Chính triều đại Lê Thánh Tông đã cho ra đời Quốctriều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức nổi tiếngvào năm 1483 và Hồng Đức thiện chính th - một văn bảnpháp luật có chứa đựng một số quy phạm pháp luật hình
sự
So với Bộ luật nhà Đờng, Bộ luật Hồng Đức có nhiều
điểm khác biệt về cả hình thức và nội dung
Về hình thức, nếu nh Bộ luật nhà Đờng gồm có 500
điều, đợc chia làm 12 thiên, thì Bộ luật Hồng Đức đợc chialàm 6 quyển với 13 chơng với 722 điều
Về nội dung, Bộ luật Hồng Đức có rất nhiều quy định
mà Bộ luật nhà Đờng không có
Nghiên cứu Bộ luật Hồng Đức và Hồng Đức thiện chính
th, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của pháp luậthình sự thời kỳ này nh sau:
1 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, t.II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr 291.
2 Xem: Sđd, tr 298.
Trang 21Thứ nhất, về tội phạm
a) Cả hai bộ luật này đều không ghi nhận định nghĩapháp lý của khái niệm tội phạm, mà chỉ quy định nhữnghành vi nguy hiểm cho chế độ phong kiến là tội phạm vàphải chịu hình phạt Một số hành vi mà ngày nay chúng tagọi là vi phạm đạo đức, thì thời kỳ đó cũng bị coi là tộiphạm, thậm chí thuộc nhóm tội thập ác nh tội bất hiếu: "tốcáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo; nuôinấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vuichơi ăn mặc nh thờng; nghe thấy tang ông bà, cha mẹ màgiấu, không cử ai (tổ chức tang lễ); nói dối là ông bà, cha mẹchết"1
b) Pháp luật hình sự thời kỳ này có đề cập đến haihình thức lỗi cố ý và vô ý, trong đó quy định trách nhiệmhình sự đối với lỗi cố ý nặng hơn so với lỗi vô ý Ví dụ: Điều
479 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Đánh chết ngời thì xử tộigiảo, đánh chết không phải bằng mũi nhọn và không phải cố
ý giết ngời thì xử tội lu đi châu xa"
c) Ngoài việc quy định trách nhiệm hình sự đối với cánhân ngời phạm tội, đối với một số loại tội phạm nh mu phản,
mu đại nghịch, mu chống đối, v.v., pháp luật hình sự thời kỳnhà Lê sơ đã quy định trách nhiệm hình sự tập thể, nóicách khác trong những trờng hợp này, tất cả mọi ngời thânthuộc đều chịu trách nhiệm hình sự cùng với ngời phạm tội
Điều 412 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Những kẻ mu phản nớctheo giặc thì xử chém; nếu đã hành động thì xử tội bêu
đầu; kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội; vợ con, điền sản
đều bị tịch thu làm của công"; Điều 307 Hồng Đức thiệnchính th quy định: "Ngầm ráp mu gian, ăn cớp châu báu,
1 Xem: Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 37.
Trang 22định khép vào tội chết, cha mẹ, vợ con và điền sản tịchthu sung công, chiếu luật mà thi hành"1.
d) Định nghĩa pháp lý về khái niệm các giai đoạn thựchiện tội phạm không đợc ghi nhận trong pháp luật hình sựthời kỳ nhà Lê sơ, nhng trách nhiệm hình sự đối với các tội
mu phản, mu đại nghịch, mu chống đối là ba tội thuộc nhómtội thập ác, đợc quy định ở thời điểm biểu lộ ý định phạmtội, tức là sớm hơn giai đoạn chuẩn bị phạm tội, tại Điều 411,
412 Bộ luật Hồng Đức: "Những kẻ mu làm phản, mu làm đạinghịch thì xử tội chém bêu đầu" và "những kẻ mu phản nớctheo giặc thì xử chém"1
Trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn phạm tội cha đạt
đợc quy định nhẹ hơn so với phạm tội hoàn thành nh tại Điều
416 Bộ luật Hồng Đức: "làm cho bị thơng, thì tội nhẹ hơnmột bậc, đã giết chết, thì bị khép tội theo luật cố sát"
đ) Vấn đề đồng phạm đã đợc Bộ luật Hồng Đức đề
cập tại các Điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469, 539 Bộ luậtkhông quy định khái niệm về đồng phạm Tính đồng phạmmới đợc thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm: "Nhiều ng-
ời cùng phạm một tội thì lấy ngời khởi xớng làm đầu, ngời atòng đợc giảm một bậc Nếu tất cả ngời trong một nhà cùngphạm tội, chỉ bắt tội ngời tôn trởng" (Điều 36 Bộ luật Hồng
Đức) Phạm vi đồng phạm không những bao gồm ngời khởi ớng, kẻ chủ mu, ngời a tòng, thủ phạm, tòng phạm, kẻ đồng m-
x-u, kẻ xúi giục mà còn bao gồm cả những ngời thuộc phạm trùliên quan đến tội phạm nh quy định tại Điều 412 Bộ luật này:
"Những kẻ mu phản nớc theo giặc thì xử chém, nếu đã hành
1 Xem: Hồng Đức thiện chính th, Nam Hà ấn quán, Sài Gòn, 1959, tr 139.
1 Xem: Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 153; TSKH Lê Cảm (chủ biên): Giáo trình luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, 2001, tr 28.
Trang 23động thì xử tội bêu đầu, kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội".Một trong những đặc sắc của pháp luật hình sự thời kỳ nhà
Lê sơ là đã ghi nhận trờng hợp xúi giục thực hiện tội phạm
"Những kẻ xúi giục cho ngời ta không biết mà phạm pháp, hay
là ngời biết phép, mà cứ xúi giục họ làm trái phép, rồi bắthay tố cáo, hay để ngời khác bắt, hay tố cáo, chủ ý để lấythởng, hay vì hiềm khích mà xúi giục để cho ngời ta phạmtội, thì cũng bị xử tội nh ngời phạm pháp"
e) Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ cho phép ngờitrong gia đình đợc che chở lẫn nhau, nên cấm sự tố cáo
Điều 504 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Con cháu tố cáo ông
bà, cha mẹ, nô tỳ tố cáo chủ có tội lỗi gì, đều xử tội lu đichâu xa; vợ tố cáo chồng cũng bị tội trên Tố cáo ông bà ngoại,cha mẹ và ông bà, cha mẹ về bậc tôn trởng vào hàng cơthân của chồng, cùng là nô tỳ tố cáo ngời vào bậc cơ thâncủa chủ, dẫu việc có thật, cũng phải tội biếm hay tội đồ;nếu là tội mu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế màgiết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ thì cho phép tố cáo"
g) Những trờng hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành
vi đợc quy định bằng nhiều quy phạm sau đây của Bộ luậtHồng Đức, Hồng Đức thiện chính th: 1) Kẻ ban đêm xông vàonhà ngời, không phải định ăn trộm, là định thông gian,quyết khép vào tội đồ Nếu chủ nhà đánh chết tại chỗ,
Trang 24không phải tội" (Điều 303 Hồng Đức thiện chính th)1; 2) "Bắtgian phu trong đêm tối, nếu cha phân phải trái mà lỡ đánhchết ngay tại chỗ, thì không phải tội" (Điều 410 Bộ luật Hồng
Đức); 3) "Những ngời đi hộ tống các đồ đạc của công mà
đánh h hỏng mất mát vì gặp lụt, cháy, hay trộm cớp, sứckhông chống nổi thì đợc miễn tội" (Điều 634 Bộ luật Hồng
Đức); 4) "Đi bắt tội nhân mà tội nhân chống cự bị ngời đibắt đánh chết, hay vì tội nhân bỏ chạy, đuổi mà đánhchết, hay là tội nhân cùng quẫn quá mà tự sát, thì ngời đibắt đều đợc miễn tội" (Điều 646 Bộ luật Hồng Đức)
Thứ hai, hệ thống hình phạt bao gồm 5 hình phạt
chính nh pháp luật hình sự Trung Hoa phong kiến, nhng đã
đợc cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nớc ta
Loại hình phạt thứ nhất: xuy hình (đánh roi) có 5 bậc:
10 roi, 20 roi, 30 roi, 40 roi, 50 roi Kèm theo hình phạt này,
có thể có các hình phạt bổ sung nh phạt tiền, biếm chức
Loại hình phạt thứ hai: trợng hình (đánh trợng) có 5
bậc: 60 trợng, 70 trợng, 80 trợng, 90 trợng, 100 trợng Loại hìnhphạt này chỉ áp dụng đối với đàn ông Kèm theo hình phạtnày, ngời phạm tội có thể phải chịu các hình phạt khác nh
1 Xem: Hồng Đức thiện chính th, Nam Hà ấn quán, Sài Gòn, 1959, tr 137.
Trang 25việc vặt (thứ phụ) hoặc nặng hơn, làm công việc chăn nuôitằm (tang thất phụ)
2 Đàn ông phải làm tợng phờng binh, nghĩa là línhquét dọn trong chuồng voi, đàn bà phải làm xuy thất tỳ,nghĩa là phục dịch ở nhà bếp
3 Đàn ông phải làm chủng điền binh, nghĩa là khaithác đồn điền ở biên giới; đàn bà phải làm thung thất tỳ,nghĩa là phục dịch xay lúa, giã gạo
Pháp luật hình sự Trung Hoa phong kiến chia hìnhphạt này làm 5 bậc: 1 năm, 1 năm rỡi, 2 năm, 2 năm rỡi, 3 năm.Mỗi bậc ngời phạm tội còn bị đánh thêm từ 60 đến 100 tr-ợng1
Loại hình phạt thứ t: lu hình (đi đày) có ba bậc:
1 Châu gần: ngời phạm tội là đàn ông bị đánh 90 ợng, thích vào mặt 6 chữ, đeo xiềng, đày đi làm việc ởNghệ An, Hà Hoa Ngời phạm tội là phụ nữ bị đánh 50 roi,thích vào mặt 6 chữ, không phải đeo xiềng, bắt phải làmviệc
tr-2 Châu ngoài: ngời phạm tội bị đánh 90 trợng, thíchvào mặt 8 chữ, đeo xiềng hai vòng, đày đi làm việc ởQuảng Bình
3 Châu xa: ngời phạm tội bị đánh 100 trợng, thích vàomặt 10 chữ, đeo xiềng ba vòng, đày đi làm việc ở các xứCao Bằng
Loại hình phạt thứ năm: tử hình có ba bậc:
1 Thắt cổ, chém
1 Xem: Vũ Văn Mẫu: Cổ luật Việt Nam thông khảo và t pháp sử, Sài Gòn, 1974, quyển
1 – t.I, tr 123, Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 33-34.
Trang 26và biếm chức (hay còn gọi là hạ trật) Khi bị phạt biếm chức,ngời phạm tội có thể chuộc bằng tiền; số tiền chuộc cho mỗitrật thay đổi tùy theo phẩm (năm 1471, Vua Lê Thánh Tôngquy định từ bạch đinh, nghĩa là dân thờng đến Quốc công
có 24 t hay còn gọi là 24 trật: Quốc công: 24 t, Quận công: 23
t, Hầu: 22 t, bá: 21 t tùng cửu phẩm: 1 t, dân thờng: vô t,tức là không có t nào) Ví dụ: quan nhất phẩm phải chuộc
100 quan tiền cho mỗi trật, quan nhị phẩm 75 quan, quantam phẩm 50 quan thờng dân phải chuộc 10 quan tiền1
Thứ ba, quyết định hình phạt.
Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ quy định việcquyết định hình phạt phải căn cứ vào nhân thân ngời phạmtội Điều 3 Bộ luật Hồng Đức quy định tám điều đợc nghị xétgiảm tội (bát nghị): 1) Nghị thân; 2) Nghị cố; 3) Nghị hiền;4) Nghị năng; 5) Nghị công; 6) Nghị quý; 7) Nghị cần; 8)Nghị tân Đối với những ngời thuộc diện bát nghị mà phạm tội
có thể bị tử hình, các quan nghị án chỉ đợc xét tội cho
đúng với pháp luật và dâng lên Vua quyết định Nếu phạmtội với loại hình phạt cao nhất là lu hình, thì đợc giảm mộtbậc, trừ trờng hợp phạm tội thập ác (Điều 4 Bộ luật Hồng Đức)
Tự thú, thành thật khai báo đợc quy định là nhữngtình tiết giảm nhẹ đặc biệt Điều 18 Bộ luật Hồng Đức quy
1 Xem: Vũ Văn Mẫu: Cổ luật Việt Nam thông khảo và t pháp sử, Sài Gòn, 1974, quyển
1 – t.I, tr 126.
Trang 27định: "Phàm phạm tội cha bị phát giác mà tự thú trớc, thì
đ-ợc tha tội Phạm tội thập ác và giết ngời thì không theo luậtnày Phạm tội nhẹ đã bị phát giác mà lại thú cả tội nặng nữa,nhân hỏi về tội đơng xét mà thú thêm các tội khác nữa, thì
đợc tha cả mọi tội Phạm tội thập ác và giết ngời thì khôngtheo luật này Còn nhờ ngời thú thay, thì không đợc tha tội
Tự thú mà không thú thật hay thú không hết, thì chỉ chogiảm tội một bậc Về tang vật mà không thú hết, thì theochỗ thú không hết mà xử tội Biết ngời sắp tố giác mình, màmình mới tự thú thì cũng cho giảm một bậc Phạm tội cùng
đi trốn, mà biết bắt nhau đem nộp quan thì cũng đợc thatội"
Những trờng hợp phạm tội với lỗi vô ý hoặc phạm tội ở
độ tuổi từ 70 tuổi trở lên, từ 15 tuổi trở xuống hoặc ngờiphạm tội bị tàn phế mà mức hình phạt từ lu hình trở xuống,thì cho chuộc bằng tiền (Điều 14, 16 Bộ luật Hồng Đức).Những trờng hợp phạm tội ở độ tuổi từ 80 tuổi trở lên, 10tuổi trở xuống và đáng bị tử hình cũng phải tâu lên Vuaxét định, còn ngời từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dẫu
có bị kết án tử hình cũng không đợc hành hình (Điều 16 Bộluật Hồng Đức) Có thể nói, đây là những quy định mangtính nhân đạo cao của pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ
Đối với việc quyết định hình phạt trong trờng hợp
đồng phạm, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ đã quy
định ngời tổ chức, cầm đầu phải chịu hình phạt nặnghơn với ngời đồng phạm với vai trò thực hành, giúp sức Điều
35 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Nhiều ngời cùng phạm mộttội, thì lấy ngời khởi xớng làm đầu, ngời a tòng đợc giảmmột bậc"
Thứ t, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê bảo vệ quyền
Trang 28thống trị của Nhà nớc phong kiến tập quyền, vì vậy, đã quy
định mời tội ác (thập ác) là các tội phạm xâm hại đến cácquan hệ xã hội quan trọng nhất của chế độ phong kiến; chếtài hình sự nghiêm khắc nhất đối với các tội này và không
đợc ân giảm đối với bất cứ tầng lớp nào Đó là các tội đợc quy
định tại Điều 2 Bộ luật Hồng Đức: 1) Mu phản, là mu mô làmnguy đến xã tắc; 2) Mu đại nghịch, là mu phá hủy tôngmiếu, lăng tẩm và cung điện nhà Vua; 3) Mu chống đối, là
mu phản nớc theo giặc; 4) ác nghịch; 5) Bất đạo; 6) Đại bấtkính; 7) Bất hiếu; 8) Bất mục; 9) Bất nghĩa; 10) Nội loạn1
Tiêu biểu cho Nhà nớc phong kiến là nhà Vua Pháp luậthình sự thời kỳ nhà Lê đã dành riêng chơng Vệ cấm (canhgiữ bảo vệ) gồm 47 điều với chế tài hết sức nghiêm khắc
để bảo vệ hoàng thành, cung điện và thân thể nhà Vua.Chỉ cần "ngời không có chức phận gì mà tự tiện vào xungquanh thái miếu (nơi thờ các vua triều trớc) và vào cửa sơnlăng triệu vực (mộ Vua) thì phải tội đồ làm khao đinh" (Điều
50 Bộ luật Hồng Đức); "ngời trèo qua tờng điện bị xử tộichém; trèo qua tờng cấm xử tội giảo; trèo qua hoàng thànhphải đày đi châu xa; trèo qua kinh thành xử tội đồ làm khao
đinh" (Điều 52 Bộ luật Hồng Đức); "những ngời vào trongcung điện làm việc hết giờ mà không ra khỏi khu vực ngoại
điện thì xử tội lu, ở trong cung bị xử tội giảo, ở lại nơi Vuanằm thì xử tội chém" (Điều 55 Bộ luật Hồng Đức)
Bảo vệ Nhà nớc phong kiến còn có nghĩa là bảo vệ cácloại ruộng đất công thuộc sở hữu nhà nớc – một nguồn thu tôthuế chủ yếu Nhiều điều luật trong chơng Điền sản đã quy
định các hành vi xâm lấn, chiếm đoạt ruộng công, khôngnộp thuế do canh tác ruộng công là tội phạm Điều 342 Bộ
1 Xem: Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 36-37; Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1960, t.II, tr 161.
Trang 29luật Hồng Đức quy định: "Chiếm ruộng đất công quá số hạn
định, từ một mẫu thì xử phạt 80 trợng, mời mẫu thì biếmmột t, tội chỉ đến biếm ba t là cùng; đòi lại tiền hoa lợi ruộng
đất nộp vào làm của công Nếu khai khẩn những nơi ruộng
đất hoang thì không phải tội" hoặc Điều 345 quy định:
"Giấu số ruộng đất đầm ao của công (không nộp thuế), từmột mẫu trở lên thì xử tội biếm, từ 10 mẫu trở lên thì xử tội
đồ, từ 50 mẫu trở lên thì xử tội lu, tội chỉ đến lu đi châu
xa là cùng và phải bồi thờng gấp ba tiền thuế nộp vào kho"
Thứ năm, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê bảo vệ trật tự
xã hội phong kiến
Tầng lớp địa chủ phong kiến, quý tộc quan liêu lànhững đẳng cấp cao nhất trong xã hội, đợc hởng nhiều đặcquyền, đặc lợi Ngay cả quần áo, nhà cửa, đồ dùng cũng cónhững quy định phân biệt với dân thờng Trái lại, nô tỳ làtầng lớp bị coi là thấp kém, đê hèn nhất trong xã hội1 Nô tỳkhi phạm tội thì bị chế tài hình sự nặng hơn dân thờng
Điều 480 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Nô tỳ đánh chủ nhàthì xử tội giảo; đánh què, bị thơng thì phải tội chém"
Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ còn chú ý bảo vệchế độ gia tộc phụ quyền và các nguyên tắc về luân lý đạo
đức phong kiến Các tội: ác nghịch (đánh và mu giết ông
bà, cha mẹ, bác, chú thím, cô, anh, chị, em, ông bà ngoại,
ông bà cha mẹ chồng); bất hiếu; bất mục (giết hay đem bánnhững ngời trong họ từ hàng phải để tang 3 tháng trở lên,
đánh đập và tố cáo chồng, cùng những họ hàng từ tiểu côngtrở lên); bất nghĩa (giết quan bản phủ và các quan đơngchức tại nhiệm; giết thầy học; nghe thấy tin chồng chết
1 Xem: Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1960, t.II, tr 162.
Trang 30không cử ai lại vui chơi ăn mặc nh thờng, cùng là cải giá) bịcoi thuộc nhóm tội thập ác và bị trừng phạt nặng nhất.
Thứ sáu, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ đã quy
định các tội phạm về chức vụ, trong đó có các tội phạm thamnhũng
Để bảo đảm hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nớcphong kiến, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ đã quy địnhcác tội phạm về chức vụ tại Điều 137 Bộ luật Hồng Đức:
"Những kẻ đến cầu cạnh với quan chủ ty việc trái pháp luật và
kẻ vì ngời khác mà đến cầu cạnh thay, đều xử tội biếm hayphạt; quan chủ ty nghe theo thì phải ghép vào tội làm tráipháp luật, việc cha thi hành thì xử tội biếm hay phạt" Tộinhận hối lộ đợc quy định tại Điều 138 với khung hình phạthết sức nghiêm khắc: "Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối
lộ từ 1 quan đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức; từ 10quan đến 19 quan thì xử tội đồ hay lu, từ 20 quan trở lênthì xử tội chém Những bậc công thần quý thần cùng nhữngngời có tài đợc dự vào hạng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 quan trởlên đến 9 quan thì xử phạt tiền 50 quan, từ 10 quan đến 19quan thì phạt tiền từ 60 quan đến 100 quan; từ 20 quan trởlên thì xử tội đồ, những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộpvào kho"
Tội đa hối lộ đợc quy định tại Điều 140 Bộ luật Hồng
Đức: "Những ngời đa hối lộ mà xét ra việc của họ có trái lẽ,thì theo việc của họ mà định tội Còn ngời nào thật oan khổvì muốn cho khỏi tội mà hối lộ thì đợc giảm tội Ngời khôngphải việc mình mà đi hối lộ thay ngời khác thì xử tội nhẹhơn ngời ăn hối lộ hai bậc"
Thứ bảy, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ đã quy
định các tội xâm phạm hoạt động t pháp
Trang 31Các tội xâm phạm hoạt động t pháp đã đợc quy địnhtrong chơng Đoán ngục (xử án) Bộ luật Hồng Đức gồm 65
điều Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự ngời có tội đợcquy định tại Điều 674 Bộ luật Hồng Đức: "Các ngục quan xét
án thấy có việc liên can đến quan chức hay nhà quyền thế,nhng chiếu luật đáng xử tội, mà che chở, không khép vàotội, thì sẽ xử tội nh kẻ phạm tội kia mà cho giảm hai bậc"; tộitruy cứu trách nhiệm hình sự ngời không có tội hoặc cố ýlàm sai lệch vụ án đợc quy định tại Điều 686 Bộ luật Hồng
Đức: "Các ngục quan, ngục lại khi xét án mà cố ý thêm bớt tộicho ngời, nếu là việc tha hẳn kẻ có tội hay phạt kẻ vô tội, thì
sẽ bị khép vào tội đã thả hay đã buộc (nghĩa là: vốn là kẻ vôtội mà cố buộc vào tội, vốn là kẻ có tội mà cố gỡ mà thabổng)" Đáng chú ý tội khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai
sự thật đã đợc quy định tại Điều 546 Bộ luật Hồng Đức: "Kẻlàm chứng không nói thật, ngời phiên dịch nói sai, hay giả dối(nh ngời dân tộc thiểu số có tội, mà ngời phiên dịch khôngdịch đúng lời họ nói, lại nói sai đi) để cho án xử nặng haynhẹ, phạt hay tha không đúng tội, thì ngời làm chứng xửnhẹ hơn ngời có tội hai bậc, ngời phiên dịch cùng một tội vớingời có tội"
Từ sự phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận là phápluật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ vừa khá hoàn chỉnh, vừa phản
ánh đợc những đặc điểm của xã hội đơng thời Điều đó đãthể hiện sự độc lập và sáng tạo của các nhà lập pháp thuộcgiai cấp phong kiến nớc ta trong thời kỳ chế độ phong kiến
đang phát triển và phồn thịnh trên cơ sở tham khảo phápluật hình sự của Trung Hoa phong kiến
Trang 32Chơng III
Lịch sử luật hình sự Việt nam
từ thế kỷ XVI, XVII, XVIII đến thời kỳ nhà nguyễn
I Pháp luật hình sự Việt Nam trong thế kỷ XVI, XVII,XVIII
1 Thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của quốc gia phong
kiến tập quyền trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Bớcsang thế kỷ XVI, những mâu thuẫn bên trong của chế độ nhà
Lê bắt đầu bộc lộ gay gắt, dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấpquyết liệt và những cuộc xung đột giữa các tập đoàn phongkiến đối lập Từ đời Lê Uy Mục (1505 – 1509) và Lê Tơng Dục(1510 – 1516), tầng lớp thống trị nhà Lê ngày càng xa hoa, đồitrụy, tàn ác Lê Uy Mục "giết hại sinh dân, không biết đâu chothỏa; dùng ngón ngầm để vét vơ tiền của, càng mặc sứctham lam Bốn biển đã khốn cùng, muôn dân đều sầu oán"1
2 Lê Tơng Dục lên ngôi năm 1510 và năm 1511 đã ban
hành Trị binh bảo phạm gồm 50 điều, trong đó có một sốquy phạm pháp luật hình sự:
Thứ nhất, quy định: "bề tôi không đợc a dua phụ họa,
mong đợc yên thân, ăn hại bổng lộc, cầu may giữ chức, tâuxin việc riêng, bán quan tớc, buôn ngục hình, đến nỗi làmphơng hại tới đạo trị nớc Kẻ nào vi phạm sẽ bị tội nặng"
Thứ hai, quy định: "không đợc dung nạp kẻ gian ra vào,
ức hiếp, lấy lạm ruộng đất của dân, để cho dân mọn bịthất nghiệp Phải dạy dỗ con cháu, răn bảo nô tỳ, cho chúnghiểu biết lễ phép, không đợc cậy thế kiêu ngạo, đánh đậpdân mọn, không đợc phép phóng ngựa ngoài đờng phố, làmthơng tổn mạng ngời, không đợc chắn ngang đờng sá, cớp
1 Xem: Đại Việt sử ký toàn th, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.III, tr 48.
Trang 33bóc của dân Kẻ nào vi phạm, thì cho ngời bị hại cùng ngờitrông thấy tố cáo lên quan khoa, đài, hiến ty và phủ, huyện,châu, để làm bản tâu lên giao cho bộ Hình trị tội".
Thứ ba, quy định: "Lại bộ phải kính giữ công bằng,
cân nhắc bổ dùng ngời, phải thận trọng dè dặt khi trao quantớc, giữ trong sạch quan trờng Ai dám hối lộ và riêng t, tuyển
bổ không có thứ tự, thì cho quan đô, đài kiểm xét tâu lên,theo luật trị tội Quan đô, đài không biết kiểm xét tâu lêncũng bị nhất loạt trị tội"1
Song ngoài việc làm trên, Lê Tơng Dục không có biệnpháp gì để khắc phục tình trạng đất nớc ngày càng trở nênhỗn loạn, trái lại còn lao vào con đờng ăn chơi trụy lạc, nên đã
bị Trịnh Duy Sản sai ngời đâm chết, đem thiêu xác Các
đời vua Lê Chiêu Tông (1516 – 1522), Lê Cung Hoàng (1522 –1527) cũng không cải thiện đợc tình hình nêu trên và không
đóng góp đợc gì đáng kể cho hoạt động lập pháp nóichung, lập pháp hình sự nói riêng
Sau khi vơng triều Lê bị suy yếu, cuộc tranh giànhgiữa các phe phái phong kiến đã dẫn đến sự thiết lập haichính quyền phong kiến thù địch: chính quyền họ Mạc ởphía Bắc, đóng đô ở Thăng Long và chính quyền nhà Lê ởvùng Thanh Hóa trở vào (thực quyền lúc đầu trong tayNguyễn Kim rồi chuyển sang Trịnh Kiểm và các con cháu họTrịnh)
Cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc (Nam triều và Bắc triều)bắt đầu xảy ra từ năm 1537, ngày càng trở nên khốc liệt,kéo dài đến năm 1592 mới kết thúc Năm 1592, nhà Mạc bịlật đổ, tình trạng phân chia Nam - Bắc triều chấm dứt, nh-
ng chẳng đợc bao lâu, nhân dân ta lại bị xô đẩy vào cảnh
1 Xem: Sđd, tr 59-60.
Trang 34sống tang thơng do cuộc nội chiến mới giữa hai tập đoànTrịnh – Nguyễn gây ra Ngót nửa thế kỷ đánh nhau, nhngkhông thôn tính đợc nhau, hai bên Trịnh, Nguyễn phải tạmthời ngng chiến, lấy sông Gianh làm chiến tuyến, chia đôi
đất nớc, thờng gọi là Đàng ngoài và Đàng trong1
ở Đàng ngoài, pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê sơ vềcơ bản vẫn đợc áp dụng với một số sửa đổi, bổ sung cầnthiết
Năm 1663, Vua Lê Huyền Tông đã cấm thi hành luậtchuộc tội: "Đến nay hạ lệnh cho các quan xét hình ngục ởtrong kinh ngoài các đạo: những phạm nhân nào không đợc
dự vào bát nghị, đều phải theo hình luật đã luận tội nặnghay nhẹ mà thi hành, không đợc phép chuộc tội"2 Năm 1664,nhà Vua hạ lệnh cho phạm nhân nào trớc kia trốn tránh nay tự
ra thú, sẽ đợc giảm nhẹ hoặc tha bổng: "Lúc ấy, những tùphạm tội phần nhiều đi trốn, nên cho phép đều đợc tự rathú, sẽ xét ngời phạm tội nặng cho giảm nhẹ, ngời phạm tộinhẹ đợc tha bổng"3
Trớc tình hình tệ nạn cờ bạc, rợu chè phát triển, năm
1698, Vua Lê Hy Tông hạ lệnh cho viên đề lãnh dò xét: "ngờichứa gá và ngời đánh bạc đều bị phạt nặng, số tiền phạtnhiều hay ít tùy theo thứ bậc phẩm trật của từng ngời"4; năm
1718, Vua Lê Dụ Tông định rõ lệnh cấm uống rợu: "Ngời nàokhông có duyên cớ gì mà tụ họp, hoặc ở hàng chợ họp nhauuống rợu, sẽ bắt giải lên quan trị tội; ngời đứng tố cáo sẽ đợcthởng Quan địa phơng nếu không xem xét cấm ngăn sẽ bị
1 Xem: Nguyễn Phan Quang, Trơng Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh: Lịch sử Việt
Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1977, quyển 2 – t.I, tr 79.
2 Xem: Việt sử thông giám cơng mục, Nxb Văn - Sử - Địa, Hà Nội, t.XVI, tr 5
3 Xem: Sđd, tr 13.
4 Xem: Sđd, tr 68.
Trang 35luận vào tội theo tình riêng dung túng"1 Năm 1721, Vua Lê
Dụ Tông cũng đã sửa đổi hình phạt chặt tay: "phạm nhânphải luận vào tội chặt hai tay và lu đi viễn châu, nay đổilàm tội đồ c tác chung thân; phạm nhân phải luận vào tộichặt một tay và lu đi ngoại châu, nay đổi làm tội đồ c tác
12 năm Những ngời phạm tội trộm, cớp không theo lệ này"2
Đáng chú ý, vua chúa Đàng ngoài coi việc ngời dân theo
đạo Thiên chúa là hành vi nguy hại cho Nhà nớc phong kiến vànhiều lần ra lệnh cấm và trừng trị vào những năm 1663,
1712, 1754, 1773 Lệnh cấm năm 1712 quy định ngời theo
đạo phải chịu hình phạt cắt tóc trên đỉnh đầu và thích vàomặt 4 chữ "học Hoa Lang đạo"3
ở Đàng trong, chính quyền nhà Nguyễn vẫn áp dụngpháp luật hình sự thời kỳ Lê sơ, nhng những vấn đề đã đợcsửa đổi, bổ sung trong thời kỳ này, cho đến nay, ta có rất
ít tài liệu để nghiên cứu
Từ năm 1771, phong trào khởi nghĩa Tây Sơn do baanh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, lãnh đạo đãnhanh chóng phát triển, cuối cùng tiêu diệt ba tập đoànphong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn; đánh thắng quân xâm lợcXiêm, Thanh, thống nhất đất nớc
Về mặt lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng,ngay từ năm 1788, Quang Trung đã có chủ trơng biên soạnmột bộ luật cho triều đại mới Các giáo sĩ phơng Tây có mặt
ở nớc ta lúc bấy giờ đã ghi chép trong Nhật ký của Giáo hội
Đàng ngoài Chiếu chỉ của Quang Trung trong những ngàychuẩn bị lên ngôi hoàng đế nh sau: "Từ trớc tới nay, các vua
1 Xem: Sđd, tr 98.
2 Xem: Sđd, tr 106.
3 Xem: Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lịch sử nhà nớc và pháp quyền Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1968, t.1, tr 225.
Trang 36chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hòabình, nên ta cũng nêu gơng các vị tiền bối mà đánh dấungày khởi đầu của triều đại ta bằng cách soạn ra một bộ luật
để dân chúng sống trên đất ta nghiêm ngặt tuân theo Vìthế, ta đã giao cho các quan t pháp và tham chính việnnhiệm vụ hoàn thành bộ luật đó trong một hai tháng"1 Cho
đến nay, chúng ta không rõ bộ luật mà Quang Trung chủ
tr-ơng biên soạn có đợc hoàn thành không, nhng có thể do phảilao vào cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lợc và nhất
là thời gian trị vì quá ngắn ngủi, nên Hoàng đế QuangTrung cha kịp hoàn thành ớc nguyện này Sau khi QuangTrung mất, Quang Toản nối ngôi lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh.Cảnh Thịnh Hoàng đế đã giao cho thợng th bộ hình Lê CôngMiễn soạn Bộ hình th Bộ luật này gồm ba quyển đã đợc biênsoạn xong, cha kịp thi hành, thì Lê Công Miễn bị bệnh mất
Bộ hình th triều Tây Sơn không còn nữa, nhng giaphả họ Lê ghi lời nhận xét của Lê Đại Cang cho biết "Bộ hình
th đợc biên soạn trên cơ sở tham chớc luật nhà Thanh và Bộluật Hồng Đức, nhằm khắc phục tình trạng chính sự bấtnhất"1
Nh vậy, mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn,nhng triều đại Tây Sơn đã để lại một dấu ấn đậm néttrong lịch sử dân tộc, lịch sử lập pháp nói chung và lịch sửlập pháp hình sự nói riêng
II Pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà Nguyễn
1 Năm 1802, sau khi đánh bại hoàn toàn lực lợng của
triều đại Tây Sơn, Nguyễn ánh lên ngôi vua, lấy hiệu Gia
1 Phan Huy Lê: Có một bộ luật thời Tây Sơn, trong sách Góp phần tìm hiểu phong
trào Tây Sơn Nguyễn Huệ, Sở Văn hóa thông tin Nghĩa Bình, 1983, tr 190.
1 Xem: Sđd, tr 188.
Trang 37Long, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay).
Về mặt lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng,sau khi lên ngôi hoàng đế, Vua Gia Long giao cho Tiền quânBắc thành tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757 – 1817) làTổng tài soạn thảo Bộ luật có tên Hoàng Việt luật lệ (Bộ luậtGia Long) Dới quyền của Nguyễn Văn Thành là hai vị: VũTrinh (1769 –1828) và Trần Hựu Bộ luật đợc biên soạn trongmột thời gian dài, đến năm 1811 thì hoàn tất và năm 1812
đợc khắc in lần đầu ở Trung Quốc, có hiệu lực từ năm 1813trên phạm vi toàn quốc1
2 Về hình thức, Hoàng Việt luật lệ gồm hai phần, 22
quyển với 398 điều Vì bắt chớc nhà Thanh, cho nên Bộ luậtcủa nhà Nguyễn không gọi là hình th hay hình luật nh các
bộ luật của các triều trớc, mà gọi là Hoàng Việt luật lệ (nhàThanh gọi luật của họ là Đại Thanh luật lệ)
Về nội dung, trong phần thứ nhất, trừ ba quyển đầuliên quan đến các vấn đề tổng quát và các danh lệ (45
điều), các quyển sau liên quan đến ba bộ: Lại, Hộ, Lễ Phầnthứ hai liên quan đến ba bộ: Binh, Hình, Công Quyển thứ 22
có nhan đề dẫn 30 điều luật so sánh, trong đó quy địnhnếu trong luật không chính điều, thì căn cứ vào điều luậtkhác tơng tự mà xét xử
Nghiên cứu các quy phạm pháp luật hình sự trongHoàng Việt luật lệ, có thể rút ra một số đặc điểm của phápluật hình sự thời kỳ này nh sau:
Thứ nhất, về tội phạm.
a) Tơng tự nh pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê, phápluật hình sự thời kỳ này không ghi nhận định nghĩa pháp
1 Xem: Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994, t.I, tr 11.
Trang 38lý của khái niệm tội phạm, mà chỉ quy định những hành
vi nguy hiểm cho chế độ phong kiến là tội phạm và phảichịu hình phạt Cũng nh Bộ luật Hồng Đức của nhà Lê và
Đại Thanh luật lệ (Trung Quốc), một số hành vi vi phạm đạo
đức, luân lý nh bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nổi loạn
đ-ợc đặt ngang hàng với các tội chống chính quyền nh muphản, mu đại nghịch, phản bội Đáng chú ý, Điều 351 -những việc không nên làm – Hoàng Việt luật lệ quy định:
"Phàm không nên làm mà làm thì phạt 50 roi, sự lý nặngthì phạt 80 roi"1 Với quy định này, có thể nói việc thựchiện bất kể hành vi nào thuộc phạm trù đạo đức, luân lýkhông nên làm, đều bị coi là tội phạm đối với các nhà làmluật thời kỳ nhà Nguyễn
b) Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Nguyễn đề cập cácloại tội với lỗi cố ý và các loại tội với lỗi vô ý, trong đó tráchnhiệm hình sự đối với các loại tội với lỗi cố ý đợc quy địnhnặng hơn đối với các loại tội với lỗi vô ý Ví dụ: Điều 251 – Âm
mu giết ngời - Hoàng Việt luật lệ quy định: "Phàm có nhiềusuy tính cùng nhiều ngời lập mu với sự cố ý giết ngời thì xửchém giam chờ"1 Điều 265 – Xe, ngựa làm ngời bị thơng,chết ngời - Hoàng Việt luật lệ quy định: "Phàm vô cớ không
đợc cho xe, ngựa chạy nhanh tha hồ nơi tiệm buôn, phố chợ.Nhân đó làm cho ngời ta bị thơng thì giảm 1 bực theo th-ờng nhân đánh lộn có thơng tích Nếu nhân đó chết ngời,phạt 100 trợng, lu 3.000 dặm"2
c) Tơng tự nh pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê, phápluật hình sự thời kỳ nhà Nguyễn ngoài việc quy định tráchnhiệm hình sự đối với cá nhân ngời phạm tội, còn quy định
1 Xem: Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994, t.V, tr 931.
1 Xem: Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994, t.IV, tr 666.
2 Xem: Sđd, tr 716-717.
Trang 39trách nhiệm hình sự tập thể đối với một số loại tội phạmxâm hại tới sự tồn tại của chế độ phong kiến; điều khác biệt
so với pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê là chế tài hình sựtrong những trờng hợp này mang tính chất tàn ác hơn nhiều
Điều 223 – Mu phản đại nghịch - Hoàng Việt luật lệ quy
định: "Phàm kẻ mu phản không làm lợi cho đất nớc, mu hại xãtắc và đại nghịch không có lợi đối với Vua, mu phá hủy tônmiếu, sơn lăng và cung quyết
Chỉ nhúng tay vào âm mu mà không chia cầm đầuhay tòng phạm đã, hay cha làm đều bị xử tử bằng lăng trì
Ông nội, cha con, cháu, anh em và ngời cùng ở trong mộtnhà, nh trong tộc, không để tang thân thuộc, bà ngoại cha
vợ, rể, không chia khác nhau theo họ, chánh phạm hay mớiquen
Chú bác, con của anh em không hạn đã hay cha ở riêng,quê quán khác nhau Nam từ 16 tuổi trở lên, không kể là bịnhnặng, tàn phế, đều đem chém hết
Con trai từ 15 tuổi trở xuống và mẹ của chánh phạm,con gái, thê thiếp, chị em, bao nhiêu thê thiếp ấy đem phátcho làm nô lệ cho các bực đại công thần Của cải của chínhphạm, cho vào nhà quan"1
d) Định nghĩa pháp lý về khái niệm các giai đoạn thựchiện tội phạm không đợc ghi nhận trong pháp luật hình sựthời kỳ nhà Nguyễn, nhng trách nhiệm hình sự đối với cáctội, mu phản đại nghịch, mu phản, đợc quy định ở thời
điểm biểu lộ ý định phạm tội tại Điều 223, 224 Hoàng Việtluật lệ Ví dụ, Điều 224 – Mu phản – Hoàng Việt luật lệ quy
định: "Phàm kẻ mu phản gài mu trong nớc nghe lịnh nớc
1 Xem: Sđd, tr 555
Trang 40ngoài Chỉ là cùng mu thì cũng không chia cầm đầu haytòng phạm mà đem chém hết ráo"2 Đối với một số tội phạm
cụ thể, nhà làm luật đã phân biệt đợc các giai đoạn thựchiện tội phạm cố ý nh quy định tại Điều 251 – Âm mu giếtngời – Hoàng Việt luật lệ: "Về sự cố ý đợc biết qua ba hạng:
đã giết, đã làm bị thơng, đã thực hiện"1
đ) Mặc dù chịu ảnh hởng của Đại Thanh luật lệ củaTrung Quốc khá nặng nề, nhng vấn đề đồng phạm trongHoàng Việt luật lệ vẫn đợc quy định trên cơ sở tiếp thunhững giá trị lập pháp về đồng phạm của Bộ luật Hồng Đức.Tính đồng phạm mới chỉ đợc thể hiện ở nguyên tắc nh quy
định tại Điều 29 – Cùng phạm tội nhng chia thủ, tùng - HoàngViệt luật lệ: "Phàm cùng phạm tội thì lấy ngời tạo ý đầu tiênlàm thủ, những ngời tùy tùng giảm một bậc Nếu mọi ngờitrong một nhà cùng phạm tội thì buộc tội một mình tôn tr-ởng"2 Những quy định về ngời tổ chức, ngời xúi giục, ngờigiúp sức, ngời thực hành trong Hoàng Việt luật lệ tơng tự nhtrong Bộ luật Hồng Đức thời Lê Về ngời xúi giục, tuy cha đa
ra khái niệm về ngời đồng phạm này, nhng Điều 21 – Nhậngiá chuộc đối với ngời già, trẻ em, ngời tàn phế - Hoàng Việtluật lệ đã đề cập: "90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dù cóphạm tội chết cũng không chịu hình phạt nào Có ai xúi giụcthì bắt tội ngời ấy"3
e) Một trong các hình thức của chế định nhiều tộiphạm là phạm nhiều tội đã đợc ghi nhận trong Hoàng Việtluật lệ Đây có thể nói là một trong những thành tựu về kỹthuật lập pháp hình sự thời kỳ nhà Nguyễn Điều 25 – Phát
2 Xem: Sđd, tr 560.
1 Xem: Sđd, tr 666.
2 Xem: Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994, t.II, tr 181.
3 Xem: Sđd, tr 151.