MỤC LỤC 1 Mô hình quan điểm về tố tụng hình sự theo Hiến pháp năm 2013 3 Nguyên tắc suy đoán vô tội – Nguyên tắc hiến định quan trọng đối với việc đổi mới tố tụng hình sự Việt Nam 5 Hiến
Trang 1LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC
& KỸ THUẬT VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHU VỰC IV
KỶ YẾU HỘI THẢO
“Hiến pháp 2013 và vấn đề đổi mới
Trang 2MỤC LỤC
1 Mô hình quan điểm về tố tụng hình sự theo Hiến pháp năm 2013
3 Nguyên tắc suy đoán vô tội – Nguyên tắc hiến định quan trọng đối với
việc đổi mới tố tụng hình sự Việt Nam
5 Hiến pháp 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con
người và định hướng sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự
TS Nguyễn Văn Thuận
9 Những vấn đề đặt ra đối với việc thực thi các bảo đảm tố tụng với bị can,
bị cáo theo Hiến pháp năm 2013
12 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự
2003 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và bị hại tại phiên
tòa hình sự theo tinh thần Hiến pháp 2013
TS Trương Hồ Hải -Lê Thị Oanh
87
13 Góp ý sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự nhằm đảm bảo nguyên tắc tranh
tụng và suy đoán vô tội theo tinh thần Hiến pháp 2013– góc nhìn từ thực
tiễn vụ án hình sự
TS Trương Hồ Hải - Lê Thị Oanh
96
Trang 314 Phòng, chống oan, sai trong tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải
cách tư pháp và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013
TS Trịnh Tiến Việt
109
15 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội và quyền bảo vệ lợi ích
của đương sự trong vụ án hình sự
TS Lương Mỹ Quỳnh
131
16 Những đổi mới phát triển quan trọng về “quyền con người, quyền và
nghĩa vụ của công dân” trong bản Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp
1992
ThS Nguyễn Tiến Dũng -Cử nhân Nguyễn Ngọc Quy
144
17 Hoàn thiện luật tố tụng hình sự Việt Nam theo hướng các cơ quan tiến
hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng quyền con người – sự thể chế hóa
quyền con người trong Hiến pháp năm 2013
Trương Vĩnh Xuân - Phùng Thị Thanh Liêm
151
18 Hiến định quyền con người và luận bàn về tính khả thi ở Việt Nam
Trương Vĩnh Xuân
157
19 Bảo đảm quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013 và trong việc
hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Phùng Thị Thanh Liêm
163
20 Trách nhiệm của nhà nước trong việc thể chế hóa một số điểm mới của
Hiến pháp 2013 về quyền của con người và định hướng sửa đổi Bộ luật
25 Tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về danh dự,
nhân phẩm và phòng chống tra tấn theo Hiến pháp 2013: Những vấn đề lý
luận và thực tiễn
ThS Hà Thị Thùy Dương
206
Trang 426 Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về phòng, chống tra tấn
Nguyễn Thùy Dương
212
27 Cấm tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục
theo quan điểm của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc
Nguyễn Thùy Dương
223
28 Định hướng sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam nhằm đảm bảo các
quy định về công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong Hiến
pháp 2013
ThS Trịnh Xuân Thắng
230
29 Mô hình quan điểm về tố tụng hình sự theo Hiến pháp 2013
ThS Nguyễn Yến Nhi - ThS Nguyễn Thành Trung
238
30 Hiến pháp 2013 về quyền con người và một số định hướng sửa đổi Bộ
luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
32 Nguyên tắc suy đoán vô tội – Nguyên tắc quan trọng đối với việc đổi mới
Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
ThS Nguyễn Thành Trung
260
33 Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự theo
Hiến pháp Việt Nam năm 2013
ThS Hoàng Thị Quyên
266
34 Thể chế hóa nguyên tắc suy đoán vô tộ trong Bộ luật Tố tụng Hình sự
Việt Nam theo Hiến pháp 2013 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Ths Nguyễn Thị Bích Thúy
278
35 Bàn thêm về nguyên tắc suy đoán vô tội và một số kiến nghị sửa đổi, bổ
sung Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện nay
37 Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng – nguyên tắc hiến định quan trọng trong
việc đổi mới Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
La Hồng
296
38 Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo và bảo vệ lợi ích hợp pháp
của đương sự trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 5Ths Đào Lộc Bình
40 Quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong các bản Hiến pháp của Nước
CHXHCN Việt Nam và một số giải pháp đảm bảo thực hiện quyền bào
42 Bàn về nguyên tắc “phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện
quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp” trong Hiến pháp
năm 2013
Ths Nguyễn Duy Quốc
332
44 Báo cáo tham luận của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh An Giang 345
Trang 6MÔ HÌNH QUAN ĐIỂM VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013
GS.TSKH Đào Trí Úc Chủ tịch Hội đồng Viện Chính sách công và pháp luật
1 Hiến pháp năm 2013 và những giá trị nền tảng của Tố tụng hình sự Việt
Nam
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII
kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1
tháng 1 năm 2014 Là Luật cơ bản của nước CHXHCN Việt Nam và với vị trí pháp lý cao
nhất, bằng cả lời văn và tinh thần của nó, Hiến pháp năm 2013 có sứ mệnh tạo nền tảng
pháp lý vững chắc và động lực mạnh mẽ cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội và sinh
hoạt quốc gia trên nền tảng dân chủ, pháp quyền Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam
phản ảnh nhu cầu bức xúc của sự phát triển mọi mặt của đất nước trên con đường phát
triển và hội nhập, bảo đảm sự phù hợp với các giá trị căn bản của thời đại
Có thể nói rằng, sự khẳng định tôn trọng Hiến pháp đã trở thành một nguyên tắc
xuyên suốt của tư tưởng Nhà nước pháp quyền về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm quyền con người, về sự minh bạch của Nhà nước, khẳng định quyền lực của
nhân dân như là lá chắn cho việc bảo vệ quyền con người
Quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp nhằm
tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắc hơn quan điểm về tôn trọng, bảo
đảm và bảo vệ quyền con người như một định hướng mục tiêu của Nhà nước pháp quyền
XHCN
Về mặt cơ cấu hình thức, vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân đã được chuyển dịch từ vị trí chương V trong Hiến pháp lên vị trí Chương II,
chỉ sau Chương I về chế độ chính trị Nhưng trước hết, quyền con người là nội dung được
bổ sung ngay trong chương I của Hiến pháp Hơn thế nữa, tại rất nhiều chương điều khác,
bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng hiện diện trong nội dung chức
năng và nhiệm vụ của các thiết chế Nhà nước như Quốc hội (Điều 70, khoản 14); Chính
phủ (Điều 96, khoản 6); Tòa án nhân dân (Điều 102, khoản 3); Viện kiểm sát nhân dân
(Điều 107, khoản 3) Đây là những nội dung hoàn toàn mới so với Hiến pháp năm 1992
khi Hiến pháp 2013 trao những chức năng, nhiệm vụ cho các thiết chế, quyền lực nhà
nước tương ứng
Chương II của Hiến pháp ghi nhận quá trình tiếp nhận các giá trị cơ bản của cộng
đồng quốc tế về tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Con người và quyền con người là giá trị quan trọng và trở thành đối tượng ưu tiên
bảo hộ của pháp luật trong Tố tụng hình sự Bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền con
người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ
quan tố tụng là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội Đây là nguyên tắc
“kinh điển” nhất của Tố tụng hình sự được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan
trọng như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, (Điều 11.1); Công ước của
Trang 7Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Khoản 2, Điều 14) Đặc biệt bản Tuyên ngôn nêu trên đã coi nguyên tắc này là “phẩm giá của văn minh nhân loại”
Nội dung cơ bản và quan trọng nhất của nguyên tắc suy đoán vô tội Suy đoán theo gốc Latinh (praesumptio) có nghĩa là giả định thể hiện ở yêu cầu: bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa được chứng minh theo một trình
tự do pháp luật quy định và được xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Yêu cầu đó đã được Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Khoản 1, Điều 31)
Từ nội dung và đòi hỏi cơ bản nêu trên, nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ đặt ra những đòi hỏi cụ thể hơn mà Tố tụng hình sự Việt Nam phải bảo đảm
Đặt ra yêu cầu này, Hiến pháp đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho công dân trong cuộc sống và hoạt động của họ Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966 Theo đó, mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô
cớ Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” (Điều 14.2 Công ước)
Nội dung này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại
sự truy bức tùy tiện Công ước nói trên của Liên hợp quốc khẳng định: “Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định” (Điều 9.1 Công ước)
Khoản 1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định nội dung của nguyên tắc mới về quyền của người bị buộc tội được tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai – một nội dung quan trọng của quyền tiếp cận công lý của công dân
Đáng chú ý, thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp với quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về sứ mệnh và vị trí của các cơ quan tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 2013 đã tạo ra những cơ sở pháp
lý mới cao nhất về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp
Cùng với việc xác định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, sứ mệnh của TAND được xác định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Có thể thấy đây là những điểm mới có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam, khẳng định những nguyên tắc của một nền tư pháp hiện đại như nguyên tắc hai cấp xét xử mà thực chất là một bảo đảm để thúc đẩy quyền của người bị buộc tội được yêu cầu xem xét lại bản án; nguyên tắc về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự; nguyên tắc về sự tham gia xét
xử của Hội thẩm nhân dân Đây là những nguyên tắc phản ánh tính dân chủ và đề cao quyền tiếp cận công lý của người dân Từ góc độ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể thấy Hiến pháp năm 2013 đã làm đậm nét tính pháp quyền của nền tư pháp nước ta
Trang 8Thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam đang đối diện với một số vấn đề lớn mà trước hết là vấn đề tiếp cận công lý, vấn đề oan, sai trong các vụ án hình sự Theo nhận định chung của các chuyên gia cũng như của các cơ quan tư pháp thì các bảo đảm để có thể giải quyết tích cực các vấn đề này trước hết nằm trong việc nhìn nhận lại tính chất và đặc trưng của tố tụng hình sự cũng như sự hoàn chỉnh và đầy đủ các quy định của pháp luật mà trung tâm là pháp luật tố tụng hình sự Cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam đã được phát động từ năm 2005 từ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2.6.2005 của Bộ Chính trị BCHTW ĐCS Việt Nam “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và đã gặt hái được những kết quả nhất định về nhận thức và về tổ chức thực hiện Tuy vậy, pháp luật tố tụng hình sự, trải qua những lần sửa đổi, bổ sung cần thiết, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, trong số đó có các vấn đề về những cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội Từ những chủ trương đúng đắn của chính sách hình sự và cải cách
tư pháp hình sự cho đến thực tiễn tố tụng hình sự vẫn còn một khoảng cách lớn, trước hết
là các vấn đề về chủ trương áp dụng rộng rãi việc tranh tụng tại phiên hòa xét xử hình sự, chủ trương tạo đầy đủ các điều kiện cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa; bảo đảm tính dân chủ, công khai và giám sát các hoạt động tố tụng, tăng cường trách nhiệm rong việc đó từ phía các cơ quan tố tụng
Theo quan điểm của chúng tôi, vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự Sở dĩ như vậy là vì, tố tụng hình sự phản ánh những mối liên hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các mối liên hệ Tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi, nhưng lại vừa phải làm thế nào
để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ
Tố tụng hình sự thực chất là mối quan hệ quyền lực, trong đó bên có quyền lực áp dụng các biện pháp cưỡng chế là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị tình nghi, bị can, bị cáo là những người thuộc phía yếu thế Yếu thế, bởi vì, trong quan hệ này, quyền lực nhằm vào họ, họ phải đối mặt với cả bộ máy các cơ quan nhà nước buộc tội họ với đội ngũ cán bộ được trả lương và cung cấp các trang thiết bị cần thiết, có các kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ
và kiến thức pháp luật Người bị buộc tội có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn và khó có khả năng bình đẳng với bên buộc tội trong việc chứng minh, thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ; không dễ dàng gì trong việc sử dụng quyền tiếp cận công lý như thuê luật sư, tìm và hiểu các quy định của pháp luật, các thủ tục tố tụng Có thể nêu dẫn chứng
về những con số sau đây: khoảng 40% bị cáo trước khi bị đưa ra xét xử đã từng bị tạm giam, đa số trong số đó đã bị tạm giữ Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định là không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không qua 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Việc tạm giam đó còn có thể được gia hạn tương ứng là một lần không quá một tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai lần đối với tội phạm nghiêm trọng theo công thức không quá 2 tháng trong lần thức nhất, không qua 1 tháng trong lần thứ hai, có nghĩa tối đa là 3 tháng; mức độ tương ứng tiếp theo là 3 tháng + 2 tháng = 5 tháng; 3 lần x 4 tháng = 12 tháng Nói khác đi, trong một khoảng thời gian dài bị cáo đã phải đối diện song phương với điều tra viên và vì vậy số phận, việc bảo đảm quyền và lợi ích của họ hoàn toàn phụ thuộc vào Điều tra viên, chưa nói đến tính bí mật khép kín của hoạt động
Trang 9điều tra Giai đoạn được coi là công bằng, công khai nhất là giai đoạn xét xử thì trừ những vụ án phức tạp, có nhiều bị cáo thông thường chỉ diễn ra từ 1 – 2 ngày
Chính vì vậy, mặc dù không thể coi nhẹ việc bảo đảm quyền con người, mà trước hết là danh dự nhân phẩm, tính mạng và tài sản của tất cả các bên và những con người trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, tâm điểm chú ý của pháp luật quốc tế và của pháp luật quốc gia, của cải cách tư pháp vẫn là việc bảo đảm quyền con người đối với
“phía” người bị buộc tội tại tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, tức là bảo đảm để bảo
vệ các quyền do sự cáo buộc phạm tội có thể gây ra
Trong lịch sử của tư pháp hình sự, tố tụng hình sự ra đời với tính cách là một sự thỏa mãn nhu cầu của những người có liên quan về sự can thiệp của bên thứ ba: Nhà nước, các thiết chế tố tụng Đó là điều phổ quát đối với cả hai trường hợp: cả khi tố tụng được quan niệm như là con đường đi tìm sự thật khách quan của vụ án và trên cơ sở đó Tòa án ra phán quyết về kết cục của vụ án, cả trong trường hợp tố tụng được coi như một
vụ kiện thông thường và nó sẽ dừng lại khi các bên tìm ra giải pháp chung, cùng thỏa mãn với giải pháp đó Trong cả hai trường hợp, sự hiện diện của “bên thứ ba công minh” – cơ quan điều tra, cơ quan công tố, Tòa án-đều là điểm hy vọng của cả hai phía, là chỗ dựa về tâm lý và pháp lý của họ Xuyên suốt các yếu tố đó là tinh thần và đòi hỏi về công bằng, sự vô tư và khách quan Mọi thứ chân lý, khi nó được hiểu là chân lý khách quan và
cả khi nó là chân lý pháp lý; mọi lẽ công bằng, khi nó đạt được bằng nỗ lực tìm kiếm không mệt mỏi của cả hai phía và khi nó là yếu tố tâm lý sau sự thỏa thuận, sự cùng thỏa mãn như đã nêu ở trên, thì đều chỉ có thể được xác lập trên tinh thần công bằng, không có độc quyền chân lý vì thiếu công bằng thì con đường dẫn đến chân lý luôn luôn rất dài và mạo hiểm, độc quyền chân lý sẽ là mầm mống của một nửa chân lý hoặc đó là sự thật được ngụy tạo Nói khác đi, điều cần được quan tâm nhất là những đảm bảo để vừa đạt được sự thật, vừa để không được có cái không phải là sự thật
Với lô-gic đó, các bảo đảm để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự luôn gắn với yêu cầu về thủ tục pháp lý chặt chẽ (“Due process of law”), về tố tụng công bằng
Đó là yêu cầu không thể thiếu được đối với tiến trình pháp lý nhằm xác lập sự cân bằng cần thiết giữa các bên khi thực hiện các nỗ lực để bảo vệ quan điểm, quyền và lợi ích của mình Yếu tố “công bằng”, “công minh” vì thế là biểu tượng chung, bao trùm của một nền tư pháp, là bản tính của nền tư pháp Theo đó, công bằng được hiểu trên hai bình diện Ở bình diện thứ nhất đó là yêu cầu về sự công bằng của các thủ tục tố tụng, của việc tiến hành các thủ tục tố tụng Ở bình diện thứ hai, đó là yêu cầu về sự đối xử công bằng,
có vị trí pháp lý, có các cơ hội pháp lý công bằng giữa các bên trong tố tụng
2 Những điểm mấu chốt của mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam đổi mới
a Về mục đích và nhiệm vụ của Tố tụng hình sự
Để làm rõ tính chất và đặc điểm của TTHS Việt Nam thông qua phạm trù “mục
đích” của TTHS, có lẽ cần lấy thêm một yếu tố khác là thực chất của TTHS, nói khác đi,
cần bắt đầu từ câu hỏi: Vì sao cần đến TTHS? Hoặc “Từ khi nào nảy sinh một vụ án hình
sự và nó phải kết thúc khi nào và bằng cách nào?”
Nếu nhìn nhận TTHS từ góc độ một vụ kiện thì sẽ thấy TTHS thực chất là sự tranh chấp hình sự về vấn đề có tội hay vô tội, tội nặng hay tội nhẹ giữa Nhà nước - người đưa ra điều cấm và bị can, bị cáo - người bị coi là vi phạm điều cấm đó Lịch sử của nhân loại đã chứng kiến nhiều kiểu giải quyết tranh chấp đó bằng những cách không dính dáng
Trang 10gì đến tố tụng như đền nợ máu, hòa giải các bên trong vụ kiện, kiểu hành xử của chủ nô đối với nô lệ, chặt chân tay của kẻ trộm, cạo trọc bôi vôi với kẻ chửa hoang v.v… Khi con người đã trở nên văn minh hơn, sự tranh chấp như trên đã được giải quyết bằng con đường tố tụng và vì vậy phương thức giải quyết phải có điểm dừng nhất định Điểm dừng thứ nhất: hoặc là các bên tìm ra giải pháp chung và đều thỏa mãn với nó hoặc là bên này thừa nhận đòi hỏi của bên kia Điểm dừng thứ hai: đó là việc tìm ra chân lý, sự thật đã xảy ra, các bên buộc phải tìm ra chân lý, sự thật của vụ án Tố tụng hình sự Việt Nam chọn con đường thứ hai
Mục đích hoạt động của các cơ quan tố tụng hiện nay đều xuất phát từ quyền lực của Nhà nước để “phát hiện”, “xử lý”, để “không để lọt tội phạm” và “không làm oan người vô tội”; để bảo vệ chế độ XHCN, các lợi ích của Nhà nước, “trật tự pháp luật”,
“quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức” Theo Điều 10 của Bộ luật TTHS Việt Nam, các mục đích nêu trên đã được cụ thể hóa hơn nữa thông qua việc quy định
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải “xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”, trong đó có trách nhiệm “làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” Như vậy là, trách nhiệm đó chỉ thuộc về
Nhà nước
Những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạng thái tạo ra
sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án hình sự Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân
lý, sự chủ quan là không tránh khỏi
Các mục đích được đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng nặng về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hình sự Bộ luật TTHS chỉ nhắc đến mục đích “bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” một cách chung chung mà không chỉ rõ
là bảo vệ quyền và lợi ích của những nguời ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máy công quyền hiện diện trong TTHS, vả lại, cũng chỉ được nhắc đến sau cùng, cần tạo cho bị can, bị cáo, người bào chữa của họ có được khả năng và vị thế ngang với khả năng
và vị thế của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc đi tìm sự thật cũng như chống lại những gì phi sự thật, phản sự thật Cách duy nhất để thỏa mãn được yêu cầu đó là đổi mới cách nhìn về mục đích của TTHS theo hướng bình đẳng đối với các giá trị, lợi ích cần đạt được của TTHS, lợi ích của trật tự pháp luật và lợi ích của
cá nhân những con nguời nằm trong vòng tố tụng
Trên thế giới có hai quan điểm chủ yếu về mục đích của tố tụng hình sự: mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án và mục đích công nhận sự thật pháp lý theo cách diễn đạt của các luật gia La Mã “quod non est in actua non in mundo” (“Cái không có trong hồ sơ là cái không tồn tại”) Mục đích nào sẽ đặt ra các nguyên tắc ấy Nếu vì mục đích thứ nhất, Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của mô hình tố tụng thẩm vấn, theo đó mục đích của tố tụng hình sự là đấu tranh chống tội phạm, Tố tụng hình sự thiên về hướng sử dụng quyền lực và uy thế của các cơ quan Nhà nước; coi trọng vai trò chứng minh của Tòa án, nguyên tắc bắt buộc khởi tố và xử lý vụ án hình sự Nếu vì mục đích thứ hai, Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự tranh tụng, theo đó, Tố tụng hình sự không được coi chủ yếu hoạt động quyền lực mà được hình dung như sự giải quyết tranh chấp giữa một bên là Nhà nước - người đặt ra các điều
Trang 11cấm và một bên khác là bị can, bị cáo đã vi phạm các điều cấm đó Đồng thời, ở đây điều đáng quan tâm nhất không phải là áp dụng luật nội dung mà là thủ tục pháp lý (“due process of law”), thủ tục tố tụng hình sự Nói khác đi, mục đích của Tố tụng tranh tụng đặt ra các nguyên tắc đòi hỏi có vị trí bình đẳng của các bên tranh tụng, xác định trách nhiệm và khả năng chứng minh trong vụ án hình sự, khuyến khích cả hai phía: người buộc tội và bị cáo tìm kiếm những hình thức và khả năng khác nhau để giải quyết vụ án, việc xác định mục đích cần đạt được của TTHS sẽ là điểm mấu chốt cho việc cải tổ hệ thống TTHS, chúng tôi cho rằng, bàn về đổi mới và hoàn thiện TTHS Việt Nam cần bắt đầu từ vấn đề mục đích của Tố tụng hình sự
b Về các nguyên tắc của Tố tụng hình sự Cùng với các thành tựu đổi mới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế-xã hội theo hướng cải cách và hội nhập, Tố tụng hình sự Việt Nam cũng đã từng bước đổi mới và hoàn thiện, nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tư pháp hình sự nói chung và của Tố tụng hình sự nói riêng đã có nhiều chuyển biến và theo đó là sự nhận thức lại về
hệ thống các nguyên tắc của Tố tụng hình sự
Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự vào năm 2003 đã ghi nhận những chuyển biến đó Trong số các sửa đổi, bổ sung căn bản nội dung các quy phạm và chế định của
Tố tụng hình sự thì sự thay đổi, bổ sung các nguyên tắc của Tố tụng hình sự đã cho thấy
sự chuyển hướng về chất của Tố tụng hình sự nước ta Điều đó, chắc chắn đã bắt nguồn
từ những thay đổi quan trọng trong nhận thức về vai trò, tính chất, mục đích và các chức năng của Tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Có thể thấy rằng, một hệ thống Tố tụng hình sự muốn có được hiệu quả cao là một
hệ thống có khả năng phản ánh và ghi nhận sự giao thoa của các nguyên tắc với sự bắt nhịp nhạy bén với khuynh hướng của nhận thức xã hội tiến bộ, phản ánh tính trội của những nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ và tiến bộ của Tố tụng hình sự hiện đại Tư tưởng về sự tôn trọng quyền và tự do của các bên, về tranh tụng trong Tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội phản ánh sự triệt để tôn trọng quyền con người là những tư tưởng nhân văn lớn và có tính pháp quyền cao phải được coi là những điểm trội trong hệ thống các nguyên tắc của Tố tụng hình sự tiến bộ
Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và tính pháp quyền của nó, TTHS VN cần lấy các nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội làm hai nguyên tắc trụ cột Nguyên tắc tranh tụng dẫn đến sự hình thành các bên trên cơ sở xác định vị trí của các lợi ích tố tụng, từ đó tạo nên sự bình đẳng của các bên trong vị trí tố tụng Nguyên tắc suy đoán về tội taoij ra bảo đảm cần thiết cho việc bảo vệ quyền con người, là lá chắn quan trọng để khắc phục tình trạng án oan, sai trong TTHS
c Về các chức năng trong Tố tụng hình sự Trong bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra bởi tính chất của tố tụng là: truy tố tội phạm và người phạm tội; bào chữa của bị can, bị cáo
và luật sư của họ; hoạt động xét xử của tòa án Từ đó, ba chức năng: buộc tội, bào chữa
và xét xử luôn luôn tồn tại trong bất kỳ một loại TTHS nào Do đó, nói chức năng tố tụng
là nói đến những định hướng hoạt động trong quá trình TTHS
Trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành không tồn tại việc khu biệt ba chức năng tố tụng cho từng chủ thể tố tụng Nếu có, thì đó cũng chỉ là sự phân biệt tương đối
Trang 12Ngoài ra, Điều 13 của Bộ luật TTHS Việt Nam còn quy định rõ: “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiêm khởi tố vụ án hình sự và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý nguời pham tội” Theo quy định này, không chỉ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà Tòa án cũng có chức năng khởi tố vụ án hình sự! Điều này được bổ sung bởi một số quy định khác trong Bộ luật TTHS, chẳng hạn như quy định Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án khi tại phiên tòa, nếu sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn (Điều 195); quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS
đã truy tố (Điều 196)
Việc không phân biệt thật rõ ràng mục đích của các chủ thể tố tụng dẫn đến sự không rõ ràng chức năng của các chủ thể đó và trong tổng thể điều đó không tạo ra được động cơ và động lực thúc đẩy hiệu quả của tố tụng hình sự, nếu xét tiêu chí của hiệu quả
là xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của công dân Cần từ bỏ cách chia các chủ thể quan hệ tố tụng thành
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Tất cả phải đều là chủ thể các quan hệ tố tụng và trên cơ sở xác định rõ rang mục đích và lợi ích của
các chủ thể đó mà hình thành các bên trong quan hệ tố tụng Các bên cần được quyền
ngang nhau về khả năng đưa ra chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra, tăng cường giám sát hoạt động điều tra theo hướng gắn công tố với điều tra như các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã xác địnhi
d Về chứng minh trong Tố tụng hình sự Theo quy định pháp luật hiện hành (Điều 10 Bộ luật TTHS), chủ thể có quyền chủ động hoàn toàn trong TTHS Việt Nam trong toàn bộ quá trình tố tụng nói chung và trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ là các cơ quan tiến hành tố tụng
Bởi vậy, bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, cơ quan điều tra “lập ra hồ sợ vụ án hình sự” (Điều 35 Bộ luật TTHS); khi kết thúc điều tra thì hồ sơ đó được chuyển sang VKS để quyết định truy tố (nếu phát hiện tội phạm và người phạm tội); từ khi có quyết định truy
tố của VKS thì hồ sơ đó được chuyển đến Tòa án để xét xử Và vì mục đích đi tìm sự thật khách quan của vụ án nên việc xét xử ở Tòa án cũng là sự tiếp tục điều tra
Như vậy, hồ sơ là căn cứ duy nhất và hợp pháp để xét xử
Các chứng cứ cũng hoàn toàn thuộc về quyền chủ động của các cơ quan tiến hành
tố tụng, bởi theo quy định của Bộ luật TTHS thì “chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” (Điều 64) Trong toàn bộ quá trình của vụ án, các cơ quan nói trên và chỉ các cơ quan đó
mà thôi mới có quyền thu thập chứng cứ thông qua thẩm quyền triệu tập những người biết
về vụ án và nghe họ trình bày, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án (Điều 65) Các vật chứng phải được đưa vào
hồ sơ vụ án hoặc chụp ảnh, ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án
Trang 13Trong khi đó, từ phía khác, người bào chữa chỉ được quyền thu thập các tài liệu,
đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án và chúng chỉ có thể là chứng cứ khi được nộp cho các
cơ quan tiến hành tố tụng và được các cơ quan này chứng nhận, đưa vào hồ sơ Hơn thế nữa, mặc dù được quyền “đọc, ghi chép, sao chụp” các tài liệu trong hồ sơ vụ án” , nhưng đấy phải chỉ là những tài liệu liên quan đến việc bào chữa mà không phải là toàn bộ những tài liệu của vụ án Bị can, bị cáo, người bào chữa được xác định là những người
“tham gia” tố tụng; nói khác đi, tố tụng không thuộc quyền của họ, họ chỉ tham gia
Như vậy, trong tố tụng hình sự hiện hành của VN, việc xác định chứng cứ cũng như quá trình chứng minh cho thấy vai trò nổi trội và áp đảo của các cơ quan tiến hành tố tụng và vai trò bị động, yếu ớt của bị can, bị cáo, người bào chữa của họ
Cần từ bỏ quy định về việc công nhận giá trị chứng minh của chứng cứ Triệt để thực hiện nguyên tắc: mọi chứng cứ đều có giá trị ngang nhau, bất kể chúng được đưa vào
hồ sơ “một cách chính thức” hay không Bị can, bị cáo, người bào chữa được quyền tìm kiếm chứng cứ bằng bất cứ phương thức hợp pháp nào Chứng cứ và chứng minh chỉ có giá trị sau khi được trình ra và lập luận tại phiên tòa Điều đó có nghĩa là phải song song thừa nhận những chứng cứ có trong hồ sơ và ngoài hồ sơ vụ án Xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phải bảo đảm sự bình đẳng của các bên và khả năng của các bên trong việc trình bày quan điểm, chứng cứ của mình Như vậy, mô hình mới cho TTHS Việt Nam là mô hình kế thừa những yếu tố hợp lý của TTHS hiện nay, kiên quyết loại bỏ những yếu tố phản ánh cơ chế quan liêu, thiếu bình đẳng, công khai, dân chủ trong quan hệ giữa các chủ thể tố tụng, tiếp thu những yếu tố dân chủ phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Mô hình đó cần phản ánh cho được những đặc trưng quan trọng nhất trong
ba yếu tố: buộc tội – bào chữa – xét xử với ba nhóm chủ thể: công tố (VKS) – bị can, bị cáo, người bào chữa – tòa án
Trang 14NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013
VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP
GS TS Trần Ngọc Đường
1 Tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án nhân dân
và Viện kiểm sát nhân dân
Chương VIII Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 2013
có nhiều điểm mới, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp
Trước hết xét về hình thức, Chương về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,
Hiến pháp năm 1992 gồm 15 điều, Hiến pháp năm 2013 chỉ có 8 điều với việc thể hiện
logic, chặt chẽ đi từ vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động đến nhiệm và quyền
hạn của mỗi cơ quan và chỉ quy định những vấn đề nền tảng thuộc tầm hiến định; không
quy định những vấn đề thuộc tầm luật định
Về nội dung, Chương VIII Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có những
điểm mới cơ bản sau đây:
Một là, Tòa án nhân dân không những được quy định là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam như Hiến pháp năm 1992 mà còn khẳng định thực hiện quyền
tư pháp (Điều 102) Quy định mới này, thống nhất với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà
nước ta ghi nhận ở Khoản 3, Điều 2 của Hiến pháp: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước một cách
mạch lạc; đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp; công bằng
và công lý của một quốc gia biểu hiện tập trung nhất ở quyền xét xử của Tòa án Từ đây,
nhân dân sẽ có địa chỉ cụ thể để kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp mà nhân dân đã
giao phó, đã ủy quyền cho Tòa án
Hai là, vai trò và nhiệm vụ của Tòa án cũng như vai trò nhiệm vụ của Viện kiểm
sát nhân dân có sự điều chỉnh, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp Đối với tòa án là
cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Điều 102 Khoản 3 đã đưa lên hàng đầu vai trò và nhiệm
vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân sau đó mới quy định tiếp bảo
vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá
nhân Đối với Viện kiểm sát nhân dân, nhấn mạnh vai trò và nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ
pháp luật là “bảo vệ quyền con người, quyền công dân” sau đó mới quy định: “bảo vệ
chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Khoản
3 Điều 107) Trong lúc đó, Hiến pháp năm 1992 không phân biệt có sự khác nhau giữa
vai trò và nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát, cả hai thiết chế đều giống nhau và quy
định chung vào một điều: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp
chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của công dân, bảo vệ tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126) So sánh với quy định của hai bản Hiến
pháp, có thể thấy Hiến pháp sửa đổi đã có một nhận thức mới về vai trò và nhiệm vụ của
hai thiết chế Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân; hoàn toàn phù hợp với tư duy
Trang 15xây dựng nhà nước pháp quyền là đề cao quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, coi con người là chủ thể là nguồn lực chủ yếu và là mục đích của sự phát triển;
Ba là, Hiến pháp năm 2013 đã quy định những nguyên tắc, nền tảng về tổ chức và
hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Các nguyên tắc này được quy định trong một điều (Điều 103) gồm 7 khoản (7 nguyên tắc) với sự thể hiện chính xác, súc tích với những tư duy mới
Cụ thể, Khoản 1 quy định: Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Cũng nguyên tắc này Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm trong nội dung của nguyên tắc này Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán Đây là quy định mở để tiếp tục cải cách chế định hội
thẩm nhân dân, bảo đảm cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử một cách phù hợp, khắc phục những hạn chế của chế định Hội thẩm nhân dân hiện hành
Khoản 5 quy định Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo là một
nguyên tắc mới ra đời trong Hiến pháp nước ta, thể chế hóa quan điểm của Đảng ta về cải
cách tư pháp tăng cường tranh tụng trước phiên tòa Nguyên tắc này góp phần rất quan
trọng để tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tư pháp nước ta là một nền tư pháp dân chủ, công bằng và công lý
Khoản 6 quy định Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo vừa thể hiện
xét xử hai cấp được đảm bảo, quyền con người, quyền công dân được pháp luật bảo vệ và bảo đảm vừa đề cao trách nhiệm của Tòa án trong xét xử
Bốn là, tuy không quy định ở chương VIII, nhưng ở chương V – Quốc hội, Hiến pháp (sửa đổi) có một quy định rất mới, đó là trong thẩm quyền của QH ở Điều 70, khoản
7 có quy định: Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Quy định mới này nhằm nâng cao vị thế và trách nhiệm của Tòa án
nhân dân tối cao nói chung, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nói riêng trong việc thực hiện quyền tư pháp Đồng thời là cơ sở để đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, xứng đáng là cơ quan cao nhất thực hiện quyền tư pháp của một Nhà nước dân chủ và pháp quyền
2 Về nguyên tắc Hiến định “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (điều 103
khoản 5 Hiến pháp năm 2013)
Tranh tụng trong xét xử có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện quyền
tư pháp Trước hết, tranh tụng không chỉ là phương tiện, là cách thức để tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật khách quan; tranh tụng còn là cách thức nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong quan hệ tố tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử nâng cao năng lực, trình độ hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng chống tội phạm Điều đó là đặc biệt cần thiết trong hoạt động xét
xử của Tòa án, qua tranh tụng tại phiên tòa, các chứng cứ sẽ có điều kiện được kiểm định lại và làm sáng tỏ thêm, những người có thẩm quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa, có điều kiện trình bày, chứng minh, phản biện một cách dân chủ, công khai, minh bạch; chủ tọa phiên tòa sẽ có điều kiện đánh giá một cách khách quan hơn so với tố tụng chỉ thiên
về xét hỏi Như vậy, tranh tụng trong xét xử góp phần rất quan trọng để Tòa án phán xét đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tư pháp của nước nhà là biểu hiện điển hình của công bằng và công lý Tranh tụng trong xét
Trang 16xử là nguyên tắc phổ quát trong tố tụng tư pháp của hầu hết các nhà nước dân chủ và pháp quyền Đó là một giá trị và là một tiêu chí để đánh giá một nền tư pháp có dân chủ
và pháp quyền hay không? Chính vì thế trong định hướng về cải cách tư pháp Đảng ta đã nhấn mạnh phải tăng cường tranh tụng tại phiên tòa và Hiến pháp năm 2013 đã quy định
thành nguyên tắc: Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Khoản 5, Điều 103)
Ở nước ta mô hình tố tụng là xét hỏi, mặc dù chủ trương cải cách tư pháp đã
đề ra tăng cường tranh tụng tại phiên tòa, nhưng cho đến nay tranh tụng vẫn chưa có sự chuyển biến gì đáng kể, cả về nhận thức lẫn trong các hoạt động thực tiễn về xây dựng pháp luật và xét xử tại phiên tòa Sở dĩ như vậy, theo tôi do các nguyên nhân sau đây:
- Một là, về nhận thức, trong tư duy của những chức danh tư pháp có thẩm
quyền trong các quan hệ tố tụng từ điều tra viên đến kiểm sát viên và thẩm phán đều tự cho mình có quyền năng cao hơn, đứng trên các chủ thể khác không những là bị cáo, các đương sự mà cả đối với luật sư, người trợ giúp pháp lý cho thân chủ Quan hệ thiếu bình đẳng đó, làm sao có thể tạo ra được bầu không khí thật sự dân chủ? quan tâm, chú ý lắng nghe ý kiến của người khác? Có thể nói quyền uy nhà nước vẫn còn giữ ưu thế trong các mối quan hệ tố tụng tư pháp đặc biệt là tố tụng hình sự Những vụ án oan sai gần đây được đưa ra công luận cho thấy rằng còn có tình trạng mớm cung, bức cung, không chú ý lắng nghe ý kiến của luật sư, tiếng kêu oan của những người vô tội Suy cho cùng những biểu hiện đó là do nhận thức thiếu bình đẳng trong quan hệ tố tụng tư pháp Mệnh lệnh quyền uy trong các quan hệ hành chính nhà nước được đem vào trong các quan hệ tố tụng
tự pháp hay nói ngắn gọn là hành chính hóa các quan hệ tố tụng trong tư pháp Mô hình
tố tụng xét hỏi là mô hình mà một bên có quyền hỏi và bên kia phải có nghĩa vụ trả lời
Vì thế rất dễ tạo ra cho các chức danh tư pháp quyền uy, mệnh lệnh, thiếu dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ tố tụng tư pháp Để tranh tụng hình thành, điều trước tiên là phải thay đổi nhận thức, trước hết là thay đổi nhận thức của các chức danh tư pháp (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán) tạo lập môi trường và mối quan hệ dân chủ, bình đẳng, xóa bỏ yếu tố quyền uy mệnh lệnh hành chính trong các quan hệ tố tụng tư pháp
- Hai là, về pháp luật tố tụng hiện hành ở nước ta chưa phân định được rạch
ròi, minh bạch chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Ví dụ như viện kiểm sát vừa thực hành chức năng buộc tội (là một bên trong quan hệ tranh tụng) lại vừa thực hiện chức năng kiểm sát và tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng (mà đều là các chủ thể tranh tụng với mình) Nếu nhận thức không đúng, Viện kiểm sát khó có sự bình đẳng, dân chủ trong tranh tụng Còn tòa án,
trong quan hệ tố tụng tại phiên tòa đáng ra là người trọng tài “ngọa sơn quan hổ đấu” để
xem cuộc tranh tụng giữa một bên là Viện kiểm sát và các bên khác trong quan hệ tố tụng, nhưng pháp luật lại quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, có quyền trả
hồ sơ để điều tra bổ sung, có trách nhiệm chứng minh tội phạm… Chính vì thế, việc tranh tụng tại phiên tòa khó được thực hiện, phiên tòa không có điều kiện diễn ra trong không khí dân chủ và tôn trọng tiếng nói của các bên tham gia tố tụng Chất lượng tranh tụng giữa kiểm sát viên, người giữ quyền công tố và luật sư còn rất hạn chế, còn mang tính hình thức, không xem tranh tụng là trách nhiệm là nghĩa vụ của mình, là phương tiện, là cách thức tìm ra chân lý Hội đồng xét xử nhiều lúc làm thay chức năng của bên buộc tội (công tố), dành thời gian xét hỏi nhiều hơn là ngồi nghe hai bên tranh tụng
- Pháp luật tố tụng tư pháp chưa làm rõ vị trí, vai trò, chức năng của Tòa án là người trọng tài, người phán quyết Do vậy, Tòa án được quan niệm như là một cơ quan
Trang 17tiến hành tố tụng giống như các cơ quan tiến hành tố tụng khác (cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát) Ví dụ điều 13 Bộ Luật tố tụng Hình sự quy định: “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình
sự quy định để xác định tội phạm” Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”; Điều 63: “Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải chứng minh có hành vi phạm tội… ai là người phạm tội…”; Điều 65: “Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền triệu tập…”; Điều 179: “Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án, khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác” Từ các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự nêu trên có thể thấy rằng Tòa án không khác gì cơ quan điều tra, cơ quan truy tố Tòa án cũng có trách nhiệm chứng minh và có quyền thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, đồng nhất trách nhiệm Tòa án với trách nhiệm của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát
- Trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa, pháp luật tố tụng hình sự quy định nặng
về hỏi đáp của Hội đồng xét xử làm cho cơ quan buộc tội không chủ động, tích cực trong
tranh luận Ví dụ điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước, rồi đến hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa…” Để tranh
tụng thì đáng ra Viện kiểm sát là cơ quan buộc tội phải chủ động trình bày quan điểm chứng cứ buộc tội của mình, trên cơ sở đó bên gỡ tội chứng minh quan điểm gỡ tội của mình Hội đồng xét xử chứng kiến, xem xét đánh giá cuộc tranh tụng đó; chứ không phải
là người “lãnh đạo” tại phiên tòa, là một bên tranh tụng
Từ thực trạng nói trên, để thực hiện nguyên tắc hiến định tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm, theo chúng tôi cần có những đổi mới căn bản sau đây:
- Một là, Hiến pháp năm 2013 đã có quy định:
“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp” (Khoản 1 điều 102) và “nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm” (Khoản 5 điều 103) Đây là hai quy định mới thể hiện quan điểm đổi
mới của Đảng và Nhà nước ta đối với tổ chức và hoạt động tư pháp Vì thế cần có nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn các quy định này của Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp sửa đổi lần này quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp điều đó có nghĩa là công bằng và công
lý của một quốc gia, trước hết và chủ yếu biểu hiện điển hình và tập trung nhất ở việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Theo đó, bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng để công bằng và công lý của một quốc gia được thể hiện
Có thể nói thực hiện quyền tư pháp và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo
có quan hệ chặt chẽ với nhau như hình với bóng, Không thể thực hiện quyền tư pháp nếu thiếu tranh tụng trong hoạt động xét xử Ngược lại, chỉ có tranh tụng được đảm bảo thì quyền tư pháp mới được thể hiện Nếu thừa nhận mối quan hệ hữu cơ như vậy thì phải có một sự đổi mới về tư duy và nhận thức; phải coi trọng tranh tụng; tạo lập cho được môi trường thật sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa Ở đó, Hội đồng xét xử là những trọng tài chủ tọa cuộc tranh tụng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết
Trang 18- Hai là, thể chế hóa nguyên tắc hiến định “tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tố
tụng hình sự, và các luật có liên quan Theo đó, cần phải thể chế một số nội dung sau đây:
+ Tòa án thực hiện quyền tư pháp tức là thực hiện quyền xét xử Những gì không thuộc quyền xét xử không nên giao cho Tòa án như quyền khởi tố vụ án hình sự;
có trách nhiệm chứng minh tội phạm và trong trường hợp Viện kiểm sát thì Hội đồng xét
xử vẫn phải nghị án…;
+ Về Viện kiểm sát phải quy định rõ tại phiên tòa Viện kiểm sát có chức năng buộc tội Kiểm sát việc xét xử của Tòa án tại phiên tòa chủ yếu được thực hiện thông qua việc buộc tội (thực hành quyền công tố)
+ Coi trọng quyền chứng minh của người bị buộc tội; không nên xem đây là nghĩa vụ của họ Vì vậy, pháp luật phải tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, bình đẳng hơn nữa cho Luật sư, người trợ giúp pháp lý tham gia vào hoạt động tố tụng
Để thi hành Hiến pháp năm 2013, theo Nghị quyết số 64/2013/QH13 ngày 28.11.2013 của QH thì một trong những nhiệm vụ hàng đầu là phải rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành trước ngày Hiến pháp (sửa đổi) có hiệu lực cho phù hợp với Hiến pháp mới Theo đó, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó có dự án Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân (sửa đổi) và dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) phải được trình QH xem xét, thông qua chậm nhất là vào Kỳ họp thứ Mười, tháng 10.2015
Nắm vững tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân như đã nêu ở trên để thể chế hóa một cách đầy đủ, đúng đắn, kịp thời vào dự án Luật Tổ chức Tòa án, dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng như các luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính là một yêu cầu bắt buộc trong việc sửa đổi, bổ sung lần này Theo đó, đặt ra một số vấn đề cần phải làm rõ để bảo đảm sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đúng với tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013
Một là, thế nào là thực hiện quyền tư pháp? Quyền tư pháp có đồng nhất với quyền xét xử hay không? Hay có nội dung rộng hơn? Theo nghĩa Hán Việt, tư là giữ gìn, bảo vệ, pháp là pháp luật Tư pháp là giữ gìn, bảo vệ pháp luật Thực hiện quyền tư pháp
là thực hiện việc giữ gìn, bảo vệ pháp luật có đúng không? Và nếu như vậy thì có phải chỉ
có Tòa án thực hiện quyền tư pháp hay còn các cơ quan khác nữa? Có làm rõ khái niệm
Thực hiện quyền tư pháp mới cụ thể hóa được trong các luật về tổ chức Trong mối quan
hệ đó, với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát có kiểm sát hoạt động xét
xử tại phiên tòa của Tòa án hay chỉ thực hiện chức năng công tố và với quyền kháng nghị hay không kháng nghị bản án của Tòa án thì Viện kiểm sát đã thực hành kiểm soát hoạt động xét xử tại phiên tòa Theo chúng tôi, chỉ có duy nhất tòa án được Hiến pháp giao thực hiện quyền tư pháp Quyền tư pháp đồng nhất với quyền xét xử, nhân danh công bằng và công lý của một quốc gia để phán xét Các hoạt động như công tố của Viện kiểm sát nhân dân hay hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra không phải là hoạt động thực hiện quyền tư pháp
Hai là, Hiến pháp năm 2013 xác định nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án là Bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì về tổ chức và hoạt động của Tòa án
có gì mới so với trước không? Cũng như vậy, Viện kiểm sát có nhiệm vụ Bảo vệ pháp
Trang 19luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì có điều gì khác với Tòa án từ nhận thức
đến tổ chức và hoạt động? Hiến pháp năm 2013 có sự điều chỉnh về nhiệm vụ thì tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cũng phải có sự điều chỉnh tương ứng
Ba là, với nguyên tắc mới tranh tụng trong xét xử được đảm bảo đặt ra vấn đề
phải chuyển từ thủ tục tố tụng theo mô hình xét hỏi sang thủ tục tố tụng tranh tụng hay vẫn là theo mô hình tố tụng xét hỏi như hiện nay mà chỉ tăng cường thêm tranh tụng? Và nếu như vậy thì phải quy định trong Luật tổ chức Tòa án, Luật tổ chức Viện kiểm sát
cũng như Luật Tố tụng hình sự như thế nào để tranh tụng trong xét xử được đảm bảo? Có
mô hình tố tụng vừa xét hỏi vừa tranh tụng được không? Hay chỉ có hai mô hình: tranh
tụng và xét hỏi?
Bốn là, với nguyên tắc việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, khác với quy định trước đây khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán Có sự đổi mới gì về chế định hội thẩm nhân dân trong Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân hay không? Số lượng hội thẩm nhân dân so với thẩm phán trong các phiên tòa sơ thẩm quy định như thế nào? Số lượng hội thẩm nhân dân có nhiều hơn số lượng thẩm phán trong phiên tòa sơ thẩm như hiện nay hay không? Làm thế nào để hội thẩm nhân dân tham gia xét xử một cách thực chất không hình thức như hiện nay?
Năm là, với việc Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao sẽ được tổ chức như thế nào? Có
hình thành các Tòa chuyên trách như hiện nay hay không?
Tất cả những vấn đề nêu trên cần được tính đến trong dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) hiện đang được soạn thảo
Trang 20NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI – NGUYÊN TẮC HIẾN ĐỊNH QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VIỆC ĐỔI MỚI TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
GS.TSKH Đào Trí Úc
Con người và quyền con người là giá trị quan trọng và trở thành đối tượng ưu tiên bảo hộ của pháp luật trong Tố tụng hình sự Bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội Đây là nguyên tắc
“kinh điển” nhất của Tố tụng hình sự được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, (Điều 11.1); Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Khoản 2, Điều 14) Đặc biệt bản Tuyên ngôn nêu trên đã coi nguyên tắc này là “phẩm giá của văn minh nhân loại”
Suy đoán, theo gốc Latinh (praesumptio) có nghĩa là giả định, thể hiện ở yêu cầu:
bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và được xác định bởi một bản án của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật
Trước năm 2013, Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Không ai bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Điều 9 của BLTTHS năm 2003 đã cụ thể hóa quy định trên đây của Hiến pháp
1992 và coi nội dung xác định tại điều luật này là một nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự nước ta Có ý kiến cho rằng, đây chính là nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội
Tuy nhiên, nguyên tắc suy đoán vô tội có địa chỉ là người bị buộc tội và sự suy đoán được đặt theo hướng suy diễn về sự vô tội mà không phải là suy diễn về sự có tội
Nguyên tắc suy đoán có tội và nguyên tắc suy đoán vô tội đều là những nguyên tắc của tố tụng hình sự Nhưng nguyên tắc suy đoán có tội là nguyên tắc của Tố tụng thẩm vấn (inquisitorial), còn nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc điển hình của Tố tụng tranh tụng (adversarial)
Tố tụng hình sự thẩm vấn dựa trên nền tảng quan hệ công, và vì vậy các nguyên tắc chủ đạo đặc trưng của nó là nguyên tắc công tố (nguyên tắc về trách nhiệm khởi tố), nguyên tắc pháp chế (hợp pháp), nguyên tắc về xác định sự thật khách quan (xác định chân lý vật chất) và nguyên tắc suy đoán có tội
Tố tụng hình sự tranh tụng dựa trên các nguyên tắc chủ đạo đặc trưng là nguyên tắc tự định đoạt của các bên tố tụng, nguyên tắc hợp lý, nguyên tắc về xác định sự thật hình thức (sự thật của Tòa án) và nguyên tắc suy đoán vô tội
Như vậy, chúng ta có thể thấy rất rõ sự tương phản giữa hai mô hình tố tụng kể trên, theo đó, sự tương phản được xác định qua các cặp phạm trù đối lập:
- Nguyên tắc thẩm vấn – nguyên tắc tranh tụng
- Nguyên tắc công tố (nguyên tắc về trách nhiệm khởi tố) - nguyên tắc tự định đoạt
- Nguyên tắc pháp chế (hợp pháp) – nguyên tắc hợp lý
Trang 21- Nguyên tắc xác định sự thật khách quan (chân lý vật chất) – nguyên tắc xác định sự thật hình thức (sự thật của Tòa án)
- Nguyên tắc suy đoán có tội – nguyên tắc suy đoán vô tội
Như vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc của một loại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; là lá chắn quan trọng và hữu hiệu cho việc tôn trong bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Thực tiễn không chỉ của các hoạt động điều tra, truy tố mà cả của hoạt động xét
xử của Tòa án cho thấy có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi là phạm tội, dù lỗi của họ chưa được chứng minh Trong tâm lý học, khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi đó là “suy đoán có tội”
Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn đề án oan, sai hiện nay
Hiến pháp năm 2013 tại Điều 31 đã xác định chính xác nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Khoản 1, Điều 31 Hiến pháp 2013)
Từ nội dung và đòi hỏi cơ bản nêu trên, nguyên tắc suy đoán vô tội đặt ra những đòi hỏi cụ thể hơn mà Tố tụng hình sự phải bảo đảm Đó là:
a- Bị can, bị cáo phải được coi là vô tội cho tới khi lỗi của bị can, bị cáo đó được chứng minh.Nói khác đi, đây là nguyên tắc “lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với
sự vô tội được chứng minh” Yêu cầu này đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc tội trong toàn bộ quá trình Tố tụng hình sự Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị Theo đó, mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, không ai bị bắt hoặc bị giam giữ
vô cớ Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” (Điều 14.2)
b- Việc truy tố và xét xử một người phải được tiến hành theo một trình tự thủ tục
do pháp luật quy định Nội dung này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện Công ước của Liên hợp quốc khẳng định: “Không ai
bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định” (Điều 9.1)
c- Phải bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Yêu cầu này được quy định tại Điều 10 của Bộ Luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
d- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về người buộc tội
đ- Bị can, bị cáo không có trách nhiệm chứng minh sự vô tội của mình Các cơ quan tiến hành tố tụng không được bắt buộc bị can, bị cáo thực hiện trách nhiệm đó dưới bất kỳ hình thức nào Nội dung chủ yếu của các yêu cầu nêu ở điểm d và điểm đ được quy định tại Điều 10 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003 Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi thì cách xác định tại phần thứ nhất của Điều luật này là chưa thật sự chuẩn xác khi nói:
“trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng” Trong khi
Trang 22đòi hỏi của nguyên tắc này là trách nhiệm đó phải và chỉ thuộc về cơ quan buộc tội, người buộc tội
e- Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình và các hình thức trái pháp luật khác trong quá trình thu thập chứng cứ và thực hiện các hoạt động tố tụng khác Nội dung này được quy định tại Điều 7 của Bộ luật Tố tụng hình sự Nhưng nếu so với nội dung vừa trình bày ở đây thì điều khoản này chưa đầy đủ bởi chỉ quy định nghiên cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình mà không chỉ rõ trong những trường hợp nào của quá trình
tố tụng và không xác định việc nghiêm cấm các hành vi tố tụng bất hợp pháp khác
g- Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (Điều 72, Bộ luật Tố tụng hình sự)
h- Bản án kết tội phải dựa trên các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, chứng minh bị cáo có tội Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng
và những người tham gia tố tụng khác nêu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó Những yêu cầu trên đây được quy định tại các điều 66, 67, 68, 69, 70 của Bộ Luật Tố tụng hình sự nước ta khi nói về chứng cứ, về lời khai của người làm chứng, của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
i- Bị can, bị cáo có quyền không trả lời các câu hỏi của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng Nội dung này bắt nguồn từ quyền không buộc phải chứng minh của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan và người buộc tội
k- Mọi hoài nghi về lỗi của bị can, bị cáo cần được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Điều này thường xảy ra trong thực tiễn của các cơ quan tố tụng, khi có
sự không rõ ràng trong việc xác định căn cứ của trách nhiệm hình sự, các tình tiết liên quan đến lỗi của bị can, bị cáo mà cả quá trình tố tụng và các nỗ lực của có cơ quan tố tụng đã không thể làm rõ, dẫn đến hoài nghi, có mâu thuẫn giữa các hướng giải quyết mà chính các cơ quan đó không thể khắc phục được Những hoài nghi đó nhất thiết phải được giải quyết theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Đây là một nội dung quan trọng và trọng tâm của nguyên tắc suy đoán vô tội, phản ánh bản chất nhân đạo của Tố tụng hình sự dân chủ và pháp quyền
Từ quy định của Hiến pháp cho đến việc nước ta đã tham gia các điều ước quốc tế
có liên quan và sự quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự đã có đủ căn cứ để khẳng định
sự thừa nhận, ghi nhận và áp dụng nguyên tắc đó trong Tố tụng hình sự Việt Nam Mặt khác, để phản ánh đầy đủ các khía cạnh của nguyên tắc hiến định về suy đoán vô tội, cần
bổ sung một số nội dung vừa nêu trên nhằm bảo đảm tính đồng bộ và tính khả thi của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Tố tụng hình sự nước ta
Trang 23QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC SỬA ĐỔI BỘ LUẬT HÌNH SỰ
GS.TS Phạm Hồng Thái Khoa Luật ĐHQG Hà Nội
1 Đặt vấn đề
Quản lý nhà nước được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau, từ góc nhìn của khoa học quản lý thì quản lý là sự tác động thực tế mang tính quyền lực, tổ chức bằng chính sách, kế hoạch, pháp luật tới các đối tượng, khách thể của quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Quản lý nhà nước không đồng nhất với các hoạt động của các cơ quan nhà nước, hoạt động có thể thực hiện nhiều nhưng nếu không làm thay đổi được thực trạng của đời sống nhà nước và xã hội thì mọi hoạt động đó cũng không có ích gì đối với xã hội, đời sống sinh hoạt của xã hội, cộng đồng
Trong quản lý nhà nước, pháp luật luôn được coi là công cụ cơ bản để quản lý các quá trình xã hội, pháp luật ở đây được hiểu với nghĩa đầy đủ nhất của từ này, bao gồm tất cả các quy định thuộc các ngành luật khác nhau Chính vì vậy Hiến pháp 2013 của nước ta khẳng định “ Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” (Điều 8) Quản lý nhà nước là một quá tình tác động thống nhất, dựa trên sự thống nhất của pháp luật, nếu pháp luật không thống nhất tất yếu sẽ dẫn đến những “ lệch pha” của sự tác động quản lý
Pháp luật là sản phẩm trực tiếp của hoạt động sáng tạo pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bên canh việc ban hàh quyết định quy phạm, các cơ quan nhà nước tùy theo thẩm quyền của mình còn ban hành quyết định cá biệt để áp dụng pháp luật Từ góc nhìn của quản lý tất cả những hoạt động này đều là hoạt động quản lý nhà nước
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên tất cả các phương diện, các mặt đời sống quốc tế Một trong những nội dung của xây dựng nhà nước pháp quyền là cải cách hành chính với các nội dung: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách bộ máy hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức; cải cách tài chính công hướng tới xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại, chuyên nghiệp Tất
cả sự thay đổi đó của đời sống nhà nước và xã hội đòi hỏi sự thay đổi các hình thức, phương thức, cách thức quản lý của nhà nước, của bộ máy hành chính nhà nước, chuyển dần từ nền hành chính cai quản sang nền hành chính phục vụ, thực hiện các dịch vụ hành chính và cung ứng, quản lý các dịch vụ công Từ sự thay đổi bản chất của nền hành chính, phương thức, cách thức quản lý dẫn tới sự thay đổi nội dung pháp luật sao cho pháp luật phải phù hợp với các quan hệ xã hội đang vận động phát triển, trong đó có cả pháp luật hình sự Pháp luật tạo
ra khuôn khổ “hàng lang” pháp lý, hay môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động quản
lý của nhà nước, xã hội, cá nhân, tổ chức
Trong hệ thống pháp luật, pháp luật hình sự như là phương tiện “tự vệ cuối cùng” của nhà nước và xã hội đối với những hành vi tội phạm – những vi phạm các quy tắc quản lý của nhà nước Khi môi trường kinh tế - xã hội, đời sống nhà nước, đời sống xã hội, môi
Trang 24trường quốc tế có nhiều thay đổi đòi hỏi có những thay đổi tương ứng của các biện pháp cưỡng chế nhà nước, trong đó có biện pháp cưỡng chế hình sự
Theo cách phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành luật khác nhau, do đó tương ứng với mỗi ngành luật có một loại trách nhiệm pháp lý khác nhau.Tuy vậy, trong các giáo khoa lý luận về nhà nước pháp luật, khi nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý, thường quy trách nhiệm pháp lý về mấy dạng chủ yếu sau đây: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình
sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất và tùy thuộc vào chủ thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm có: trách nhiệm do cơ quan hành chính nhà nước áp dụng,
do Tòa án áp dụng
Trong các biện pháp trách nhiệm pháp lý thì trách nhiệm pháp lý do luật hình sự quy định như là những biện pháp có tính khắc nghiệt nhất Ngày nay khi chuyển sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập, mở cửa, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, môi trường quản lý nhà nước có những thay đổi nhất định (môi trường chính trị trong nước và quốc tế, môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa v.v có nhiều những thay đổi) đã tác động có tính quyết định đến những hành vi tội phạm vì trong lòng xã hội có những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm Tình trạng tội phạm có nhiều diễn biến phức tạp, một số loại tội phạm mới xuất hiện, quy mô, tính chất nghiêm trọng hơn đòi hỏi phải có sửa đổi, bổ sung pháp luật hình sự cho phù hợp Bên cạnh đó thì nền dân chủ
xã hội cũng thay đổi, nhà nước không còn là thiết của của giai cấp này để thống trị giai cấp khác, mà trở thành thiết chế chung của xã hội Mọi hoạt động nhà nước cần hướng tới phục
vụ con người, vì con người Vì vậy, ngay cả các biện pháp hình phạt cũng cần được thay đổi theo hướng nhân văn, nhân đạo, vì con người hơn
Tất cả những vấn đề này đặt ra nhiều vấn đề về quản lý nhà nước và mối quan hệ của quản lý với pháp luật hình sự, nhưng đây là một vấn đề rất lớn, trong tham luận này, tôi chỉ xin bàn tới một số vấn đề sau đây: sự thống nhất của pháp luật quy định về vi phạm hành chính và tôi phạm; quản lý nhà nước và các biện pháp cưỡng chế nhà nước và vấn đề phòng chống tham nhũng và các biện pháp hình phạt về tham nhũng đang là những vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm
2 Về sự thống nhất giữa pháp luật quy định về vi phạm hành chính và tội phạm Trong nhận thức khi bàn về vi phạm pháp luật, trong các giáo trình có tính giáo khoa
ở nước ta đều thừa nhận “ vi phạm pháp luật là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm tới các quan hệ xã hội do đươc pháp luật điều chỉnh, bảo vệ” Vi phạm pháp luật rất đa dạng, tương ứng với mỗi một ngành luật khác nhau (theo cách phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành luật), có một loại vi phạm pháp luật khác nhau Nhưng lại thường được quy về các loại vi phạm chủ yếu đề truy cứu trách nhiệm pháp
lý đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiêm bồi thường vật chất (nhiệm kỷ luật, trách nhiêm bồi thường vật chất cũng là một phần của trách nhiệm hành chính theo nghĩa rộng), trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự
Để phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm thường dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi để phân biệt Tội phạm luôn được xác định là hành vi nguy hiểm cho xã hội Nói như vậy, không có nghĩa là vi phạm hành chính không có tính
Trang 25nguy hiểm cho xã hội Trong một xã hội nếu cộng tất cả “những nguy hiểm” cho xã hội của
vi phạm hành chính so với các nguy hiểm do tội phạm gây nên, theo ước tính của các chuyên gia luật học Liên Xô trước đây thì “ vi phạm hành chính gây đến 70% tổng số nguy hiểm cho xã hội” Như vậy, ở nét chung nhất giữa vi phạm hành chính và tội phạm có điểm chung đều là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng khác nhau ở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, đều sâm phạm tới quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, bảo vệ Nói cách khác đều là những hành vi vi phạm những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước (quản
lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng của từ này) Tuy vậy, nhưng khi định nghĩa về vi phạm hành chính và tội phạm, các nhà lập pháp Việt Nam có cách tiếp cận rất khác nhau
Luật xử lý vi phạm hành chính đã được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 6 năm
2012, tại Điều 2, định nghĩa: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính Với quy định này có thể suy ra mấy điều sau đây:
Năm là, Luật xử lý vi phạm hành chính đã gián tiếp khẳng định rằng, một tổ chức có thể thực hiện hành vi tội phạm Vì theo tinh thần của điều luật nói trên thì vi phạm hành chính và tội phạm chỉ khác nhau ở tính chất, mức độ nguy hại cho xã hội của hành vi, mà không phụ thuộc vào chủ thể thực hiện, với lô gich đó, có thể suy ra rằng, chủ thể của tội phạm có thể là tổ chức và như vậy, tổ chức có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Bộ luật hình sự năm 1999 không đi theo hướng này mà dựa trên cơ sở nhận thức về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm so với vi phạm hành chính, quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (Điều 8 của Bộ luật Hình sự)
Khi đưa ra định nghĩa tội phạm, Bộ luật hình sự đã liệt kê những khách thể - quan hệ
xã hội mà hành vi tội phạm đã xâm hại tới, nhưng liệt kê sẽ là không đủ, nên mới có quy định bổ sung “ xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” Về mặt khoa học sẽ rất khó hiểu là “xâm phạm những lĩnh vực khác” là những lĩnh vực nào? Vì khi liệt kê các khách thể bị xâm hại hoàn toàn không phải là lĩnh vực, và thuật ngữ “trật tự
Trang 26pháp luật xã hội chủ nghĩa” cần được hiểu như thế nào “Trật tự pháp luật là một hệ thống các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, hình thành trong quá trình thực hiện các quy phạm pháp luật, trong đó các hành vi, xử xự của các chủ thể pháp luật là hợp pháp”1 Với cách hiểu như vậy, việc sử dụng thuật ngữ “ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” cũng sẽ rất trừu tượng, không rõ ràng, không rõ ràng cả tập hợp từ “xã hội chủ nghĩa” được gép với “trật
tự pháp luật”, thực chất Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên khó
có thể đã có trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa một cách trừu tượng, không xác định
Thực chất định nghĩa tội phạm trong Bộ luật Hình sự là định nghĩa được mô phỏng theo định nghĩa tội phạm trong Bộ luật hình sự của liên bang Nga thời Xô viết trước đây Và vẫn theo trường phái này, Luật hình sự Việt Nam đi theo hướng cá thể hóa trành nhiệm hình
sự nên không quy định trách nhiệm hình sự của tổ chức (pháp nhân)
Như vậy, giữa quan niệm trong Luật xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật hình sự không có sự thống nhất về cách tiếp cận, quan niệm về vi phạm hành chính và tội phạm Nhiều quốc gia quan niệm rất đơn giản về tội phạm – những hành vi bị xử phạt hình sự, còn việc xâm phạm tới những quan hệ xã hội nào – khách thể lại là vấn đề của khoa học, chứ không đưa những vấn đề khoa học, còn tranh cãi vào luật
Trong thực tiễn có hành vi vi phạm quy tắc quản lý nhà nước chỉ có thể được thực hiện cá nhân (lái xe máy đi vào đường một chiều, gây tai nạn giao thông .) có những trường hợp được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức (gây ô nhiễm môi trường) nhưng có hành vi chỉ có thể thực hiện được bởi một tổ chức (cơ quan, hay doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp) vì vậy về nguyên tắc nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước (hành chính, hay hình sự), tùy theo mức độ nguy hại cho xã hội của hành vi, hay khi áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính ít mang lại kết quả thì áp dụng biện pháp hình sự Ví dụ, đối với hành
vi trốn thuế của doanh nghiệp, nhà nước có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính –
xử phạt hành chính và truy thu thuế, nhưng cũng có thể áp dụng biện pháp xử phạt và truy thu thuế theo thủ tục tư pháp Vì trên thực tiễn một người chỉ có thể thực hiện hành vi trốn thuế riêng của mình, còn hành vi trốn thuế của một tổ chức chắc hẳn phải có sự bàn bạc, thống nhất của bộ máy lãnh đạo các tổ chức đó và được thực hiện bởi nhiều người Trường hợp này khó có thể xác định được lỗi cụ thể của cá nhân (tính theo tỷ lệ nhất định), thực chất
ở đây là lỗi của một tổ chức Vì vậy, nếu chỉ truy cứu trách nhiệm đối với một người nào đó (giám đốc, hay kế toán trưởng trong doanh nghiệp) lại là điều không hợp lý, mặc dù họ có lỗi trong trường hợp này Vì mục đích của họ là trốn thuế lại vì lợi nhuận của doanh nghiệp Hơn nữa nếu chỉ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi trốn thuế của doanh nghiệp thì hiệu quả rất thấp, chính vì vậy, mà những năm qua ở nước ta vô số các doanh nghiệp trốn thuế, hay chậm trễ nộp thuế, mà cơ quan thuế không có bất kỳ biện pháp nào để buộc họ phải nộp thuế, thậm chí có trường hợp họ lại được cơ quan hành chính nhà nước ra quyết định cho “giãn” hay giảm thuế, còn đối với người lãnh đạo, quản lý có chăng chỉ bị “ nhắc nhở”, bị sử lý kỷ luật nội bộ Đây là một nghịch lý trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, cần phải quy định trách nhiệm hình sự đối với tổ chức khi có hành vi trốn thuế Tất nhiên mức độ trốn thuế lớn, hay khi đã bị xử lý hành chính, mà tổ chức đó vẫn tiếp tục có hành vi trốn thuế, hay gian lận về thuế v.v
Trang 27Hay đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường, có thể do cá nhân, hay tổ chức thực hiện Thực tiễn đã minh chứng hành vi gây ô nhiễm môi trường không phải do một cá nhân của doanh nghiệp có thể thực hiện được, mà phải do cả doanh nghiệp – lỗi của cả hệ thống Nhưng cũng có trường hợp việc gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp lại có lỗi của các
cơ quan hành chính nhà nước khi thẩm định dự án xây dựng xí nghiệp đã không tính hết được khả năng gây ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp gây nên Một thực tiễn là khi doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường thì cơ quan hành chính lại chỉ xử lý bằng biện pháp
xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại, đồng thời buộc doanh nghiệp phải có biện pháp khắc phục tình trạng tiếp tục gây ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp gây nên Nhưng tất cả những biện pháp đó được áp dụng
ở nước ta theo con đường hành chính đều không khắc phục được tình trạng gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp và như vậy phải chăng những biện pháp đó được áp dụng theo thủ tục hành chính đều không mang lại kết quả, vậy cần phải tìm con đường khác là truy cứu trách nhiệm của doanh nghiệp theo thủ tục tư pháp
Chính vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất trong quản lý, trước hết cần có sự thống nhất về cách tiếp cận giữa Luật xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật Hình sự, khi quy định
về vi phạm hành chính và tội phạm Bộ luật hình sự cần quy định về trách nhiệm hình sự của tổ chức – pháp nhân đối với những hành vi nhất định mà Luật xử lý vi phạm hành chính
đã quy định – người vi phạm là tổ chức
3.Mối liên hệ giữa vi phạm hành chính và tội phạm
Vi phạm hành chính và tội phạm trong nhiều trường hợp có khách thể chung, nhưng cũng có khi không có khách thể chung, vì vậy tiêu chí đầu tiên mà nhà làm luật thường sử dụng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật, tức là để phân
biệt tội phạm với vi phạm hành chính và với các vi phạm pháp luật khác là tính chất của khách thể và loại khách thể bị xâm hại Ví dụ hành vi vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông
chỉ có thể là vi phạm hành chính, còn hành vi giết người bao giờ cũng là tội phạm
Mặt khác, sự khác biệt chủ yếu giữa tội phạm và vi phạm hành chính là mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cao hơn vi phạm hành chính Điều này được thể hiện ở chỗ: hành vi vi phạm pháp luật chỉ được coi là tội phạm khi hành vi đó đã bị xử phạt hành chính
Ví dụ như hành vi xâm phạm bí mật thư tín, điện tín, điện thoại của người khác nếu đã bị
xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 125 BLHS); đối với những trường hợp tuy chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng gây hậu quả nghiêm trọng thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự; mức độ gây nguy hại cho xã hội, ví
dụ đối với hành vi đánh người gây thương tích tổn hại sức khỏe dưới 11% mà không gây cố tật, thì chỉ là vi phạm hành chính; nếu tổn hại sức khỏe từ 11% trở lên thì là tội phạm
Như vậy, khi sửa đổi, bổ sung Bộ Luật hình sự phải tính tới những điều này căn bản này
để phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm
Nhìn từ góc nhìn của quản lý thì các biện pháp cưỡng chế nhà nước, trong đó có biện pháp trách nhiệm hình sự thực chất là những biện pháp “tự vệ” của nhà nước trước hành vi
vi phạm hành chính và tội phạm Các biện pháp trách nhiệm hình sự thực chất là những biện pháp “tự vệ” cuối cùng của nhà nước đối với hành vi phạm tội
Trang 28“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiệm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội” (Điều 28 BLHS) Như vậy, các biện pháp hình phạt là một bộ phận các biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội nhằm khôi phục lại những quan hệ xã hội bị hành vi phạm tôi xâm hại, đồng thời nó cũng có mục đích trừng phạt đối với người phạm tội
Thực tiễn lịch sử xã hội loài người đã minh chứng rằng tùy theo từng thời kỳ phát triển của mình mà có những biện pháp tự vệ, trừng phạt khác nhau Việc nhà nước quy định các biện pháp hình phạt tùy thuộc vào bản chất nhà nước, tương quan lực lượng chính trị- xã hội, điều kinh tế, truyền thống, văn hóa của dân tộc, trình độ văn minh của xã hội, mức độ dân chủ của xã hội và nhiều yếu tố khác Chính vì vậy mà mức độ khắc nghiệt của các biện pháp hình phạt luôn thay đổi theo xu hướng ngày một nhân đạo và nhân văn hơn khi môi trường chính trị, kinh tế xã hội đã thay đổi Điều này có nghĩa là “các biện pháp tự vệ của nhà nước” luôn thay đổi trước hành vi tội phạm, tùy thuộc vào môi trường chính trị, kinh tế,
xã hội Khi nhà nước bất lực không có khả năng quản lý thì các biện pháp cưỡng chế nhà nước nói chung, các biện pháp cưỡng chế hình sự được áp dụng càng trở nên khắc nghiệt
Xu hướng “ hình sự hóa” cũng luôn tăng lên Nhưng khi đời sống xã hội phát triển, trình độ dân chủ và văn minh càng cao, ý thức xã hội, ý thức pháp luật càng cao, nhà nước mất dần đi
ý nghĩa, vai trò cai trị của mình đối với xã hội và trở thành thể chế chung của xã hội thì các biện pháp cưỡng chế hình sự càng giảm dần tính khắc nghiệt của nó, và xu hướng “ phi hình
sự hóa” sẽ diễn ra Tuy vậy, cũng phải nhận thấy rằng xu hướng “ phi hình sự hóa” và “hình
sự hóa” luôn đan xen với nhau diễn ra trong thực tiễn Điều này thể hiện ở chỗ có những hành vi mà trước đây được coi là tội phạm thì hiện nay không còn được coi là tội phạm, nhưng có những hành vi mới xuất hiện trong xã hội có tính nguy hiểm cho xã hội, mà việc
áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, hay biện pháp khác không mang lại kết quả, buộc phải coi hành vi đó là tội phạm, phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự
Các biện pháp hình phạt chính rất đa dạng: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù trung thân; tử hình Hình phạt bổ sung gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính Trong đó hình phạt phạt tiền được áp dụng chủ yếu đối với những hành vi phạm tội liên quan tới kinh tế (chương XVI các tội sâm phạm trật
tự quản lý kinh tế; các tội phạm về môi trường (chương XVIII); các tội phạm về chức vụ (chương XIX) Việc áp dụng biện pháp phạt tiền, hay tịch thu tài sản thực chất ở đây nhà làm luật đã sử dụng biện pháp kinh tế để khắc phục về mặt kinh tế do tội phạm liên quan tới kinh tế gây nên và trả lại sự công bằng cho xã hội Vì việc áp dụng biện pháp hình phạt chính là phạt tiền nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây nên Phải chăng đối với những tội phạm liên quan tới kinh tế chỉ cần áp dụng biện pháp phạt tiền mà không cần phải
áp dụng biện pháp hình phạt khác là biện pháp hình phạt chính Như vậy, ở đây đã áp dụng biện pháp kinh tế để chống lại hành vi phạm tội liên quan tới kinh tế Trong thực tiễn việc áp dụng biện pháp ví dụ như phạt tù thì biện pháp hình phạt bổ sung là phạt tiền khó có thể được thực hiện trong thực tiễn Khi không được thực hiện trong thực tiễn thì quyết định của quan tòa cũng chỉ tồn tại trên giấy và như vậy mục đích của hình phạt không được thực hiện
Trang 29Trong lịch sử Việt Nam có thể dùng tiền để chuộc tội, hay dùng tiền để bảo lãnh không bị giam cầm Một số quốc gia áp dụng chế độ vẫn áp dụng biện pháp phạt tù có thời hạn đối với các tội phạm kinh tế, nhưng trại giam vẫn tạo điều kiện để người phạm tội có thể tiếp tục hoạt động kinh tế như điều hành (doanh nghiệp) dưới sự giám sát của trại giam để họ có thể vẫn tạo ra các giá trị kinh tế để bồi thường những thiệt hai do hành vi phạm tội của người đó gây ra
Từ những vấn đề nói trên, theo quan niệm của chúng tôi, cần giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm đối với các tội sâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội xâm phạm trật tự quản lý xã hội như buôn lậu, đánh bạc
4 Phòng, chống tham nhũng và các biện pháp hình phạt về tham nhũng
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với quyền lực ở đâu có quyền lực ở
đó có nguy cơ tham nhũng Ngày nay khi nói tới tham nhũng các nhà khoa học đã chỉ ra một
số loại tham nhũng: tham nhũng chính trị, tham nhũng chính sách, tham nhũng kinh tế, tham nhũng trong khu vực công, tham nhũng trong khu vực tư Trong điều kiện hiện nay ở nước
ta khi mà tình trạng tham nhũng vẫn còn là: hiện tượng sẩy ra khá phổ biện ở nhiều cấp, nhiều ngành với những quy mô, tính chất ngày càng phức tạp Nhìn từ góc nhìn của quản lý thì quản lý càng yếu kém càng dễ sẩy ra tham nhũng Vì vậy, nhà nước có nhiều quyết sách khác nhau để tăng cường quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát, ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau đề ra các biện pháp phòng, chống tham nhũng ví dụ như: Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, các văn bản quy định về tính công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước Đây là những văn bản quy phạm pháp luật quy định nhiều biện pháp để phòng, chống tham nhũng, nhưng mới chỉ là những quy định về quản lý nhà nước, nhưng để hỗ trợ cho các biện pháp hành chính trong phòng, chống tham nhũng cần phải có các biện pháp hình sự Vì vậy các văn bản quy định về quản lý nhà nước và các quy định của
Bộ luật hình sự phải thống nhất với nhau ở quy định định nghĩa về tham nhũng, về các hành
vi bị coi là tham nhũng
Tuy vậy, nếu đối chiếu giữ những quy định của Luật phòng, chống tham nhũng và những quy định của Bộ luật hình sự quy định các tội về tham nhũng, còn có những điểm không tương đồng, thống nhất với nhau
Luật phòng, chống tham nhũng quy định: Tham nhũng là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Cán
bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó
Như vậy, hành vi tham nhũng không chỉ diễn ra khi thực hiện công vụ, mà cả khi không thực hiện công vụ của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi Yếu tố hay dấu hiệu bắt buộc bao gồm: hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
Trang 30vụ lợi Khi không thực thi công vụ, người có chức vụ, quyền hạn có thể vẫn dựa vào chức
vụ, quyền hạn của mình để có hành vi vụ lợi
Trong khi đó Điều 277 Bộ luật TTHS quy định: Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định khi thực hiện công vụ Như vậy, ở đây đã hạn chế những hành vi bị coi là tội phạm chức vụ, ở chỗ chỉ coi những hành vi diễn ra trong khi thi hành công vụ Mặt khác việc điều luật nói trên quy định về chủ thể các tội phạm về chức vụ chỉ là những người có chức vụ là không phù hợp với quy định của Luật phòng, chống tham nhũng
Về hành vi tham nhũng: theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng các hành
vi tham nhũng, bao gồm:
Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; Nhũng nhiễu vì vụ lợi; Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi
Trong khi đó Bộ Luật hình sự chỉ quy định 7 hành vi đầu (từ 1 đến 7) là hành vi tội phạm (tùy theo tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi), còn lại 5 hành vi (từ 8 đến 12) không bị coi là tội phạm Quy định như vậy là chưa phù hợp, chưa tính đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi nói trên Vì năm hành vi nêu trên có thể là nguy hiểm cho xã hội
Để bảo đảm sự thống nhất của pháp luật giữa những quy định về quản lý nhà nước và
Bộ luật hình sự cần có những sửa đổi, bổ sung về những hành vi tham nhũng - tội phạm
5 Về nguyên tắc xử lý tham nhũng, Luật phòng, chống tham nhũng quy định:
1 Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh 2 Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.3 Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật
Trong khi đó Bộ luật Hình sự ít quan tâm tới việc thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng; người có hành vi tham nhũng phải bồi thường, bồi hoàn, mà thường nhấn mạnh việc áp dụng biện pháp hình phạt tù có thời hạn Biện pháp phạt tù chỉ có ý nghĩa trừng phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội tham nhũng, cách ly người phạm tội khỏi đời sống cộng đồng, nhưng lại không có tác dụng là phục hồi lại những hậu quả do hành vi tham nhũng gây nên Người ta có thể chấp nhận việc bị phạt tù, nhưng lại không bị mất tài sản, chính điều này khó
có thể có tính răn đe người khác Trong thực tiễn xét xử về các tội tham nhũng ở nước ta trong thời gian qua lại thường ít áp dụng biện pháp phạt tù có thời hạn, mà áp dụng biện pháp cải
Trang 31không giam giữ đối với người thực hiện hành vi phạm tội tham nhũng Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi cần phải tẳng cường việc áp dụng biện pháp phạt tiền, tịch thu tài sản
Như vậy, để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý nhà nước cần có quan điểm, cách tiếp cận thống nhất khi quy định về vi phạm hành chính và tội phạm; cần phải tính đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, có như vậy mới có sự thống nhất của pháp luật; cần phải tính tới cả hai xu hướng hình sự hóa và phi hình sự hóa các vi phạm pháp luật; các biện pháp hình phạt cần được quy định theo hướng nhân đạo hóa; cần có sự thống nhất giữa pháp luật hành chính và pháp luật hình sự khi quy định về công vụ, người thi hành công vụ, về các hành
vi tham nhũng Có như vậy mới tạo được sự thống nhất của pháp luật, sự thống nhất của quản
lý nhà nước
Trang 32
HIẾN PHÁP 2013 VỀ CÔNG NHẬN, TÔN TRỌNG, BẢO VỆ
VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬA ĐỔI BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TS Nguyễn Văn Thuận Viện Chính sách công và Pháp luật
1 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung và đã được Quốc hội khóa XIII,
kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 Tuy chưa thật sự đạt được như mong
muốn, nhưng cũng phải nói rằng trong lần sửa đổi này nhiều nội dung quan trọng đã được
hiến định, trong đó có quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân Hiến pháp đã đổi tên chương từ “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành
“quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, chuyển vị trí từ chương V
lên chương II sau chương I về chế độ chính trị; đồng thời đã bổ sung và làm rõ thêm
nhiều quyền phù hợp với cấc công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội
và văn hóa mà Viêt nam là thành viên Những sửa đổi, bổ sung này không đơn giản chỉ
thuần túy về măt kỹ thuât, mà lớn hơn cả đó là thể hiện bước tiến mới của chúng ta trong
tư duy, nhận thức về quyền con người tiệm cân tới giá trị phổ quát của nhân loại về dân
chủ, nhân quyền
Liên quan đến hoạt động tố tụng hình sự, Hiến pháp cũng đã dành nhiều điều hoặc
trực tiếp hoặc gián tiếp để khẳng định việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
quyền con người Có thể nêu ra một số điều như: quyền sống, quyền được bảo hộ vể tính
mạng (Điều 19); quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình, không bị bắt nếu
không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sat
nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang (Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời
song riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, quyên bảo vệ danh dự, uy tín, quyền bí mật
thư tín, điện thoại, điện tín…(Điều 21); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở…(Điều 22);
quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30); quyền được xét xử kịp thời, công bằng công khai khi
bị buộc tội, quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, nguyên tắc suy
đoán vô tội, không bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 31); nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử (Điều 103).v.v…
2 Những quyền và nguyên tắc hiến định nêu trên là những căn cứ pháp lý quan
trọng chi phối mọi hành xử của tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức và quản trị
đời sống xã hội nói chung và trong hoạt đông tố tụng hình sự nói riêng Hiến pháp 2013
đã có hiệu lực pháp luât Đây là thời điểm mà hệ thống pháp luật nước ta, trong đó có bộ
luật tố tụng hình sự cần được khẩn trương nhiên cứu sửa đổi ,bổ sung cho phù hợp Bên
cạnh những nội dung khác, theo nhận thức của cá nhân, tôi cho rằng, việc sửa đôi bộ luật
tố tụng hình sự cần tập trung vào một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, cần làm rõ và quy định cụ thể, rõ ràng nguyên tắc suy đoán vô tội trong
tất cả giai đoạn ỏ các khâu điều tra, truy tố và xét xử, đặc biệt là việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn… Nghiên cứu các quy dịnh của bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cho
thấy, nguyên tắc này dường như chưa được đề cập mặc dù có quan niệm cho là nguyên
tắc này đã được quy định dưới dạng “ân” bên cạnh các quy định có liên quan Tôi cho
rằng, quan niệm như vậy chưa hoàn toàn thuyết phục, mang tính ngụy biện, vì cho dù nếu
Trang 33thực sự nó đã được quy định dưới dạng “ân” thì một số quy định về chứng cứ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, củng cố chứng cứ…đã tự nó vô hiệu hóa nguyên tắc này Đó là chưa kể đến tư tưởng, thói quen, tuy không phổ biến, là bắt để điều tra, đã dẫn đến tình trạng nhiều trường hợp làm oan người vô tội Vì vậy, đã đến lúc các nhà lý luân, người lầm công tác thực tiễn cần quán triệt, nghiên cứu một cách thấu đáo để luât hóa nguyên tắc hiến định này trong bộ luật tố tụng hình sự theo đúng tinh thần và lời văn của Hiến pháp, đó là “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi dược chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật”, góp phần vào mục tiêu không để lọt tội phạm, nhưng không được làm oan người vô tội
Thứ hai, cần nghiên cứu để xây dựng, hoàn thiện chế định chứng cứ bảo đảm
khoa hoc, hợp lý và công bằng; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa trách nhiêm chứng minh xác định sư thật của vụ án với việc thu thập, xác định chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng Có thể thấy, trong mỗi vụ án hình sự, chứng cứ luôn là yếu tố quan trọng nhất, nếu không muốn nói là yếu tố quyết định để xác định có vụ án xảy ra hay không và một người có phạm tội hay không? Nhìn vào các quy định của bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, điều dễ thấy là việc thu thập, đánh giá chứng dường như là “độc quyền” của các cơ quan tiến hành tố tung (Điều 65 Điều 66) Quy định này xuất phát từ trách nhiêm chứng minh xác định sự thật của vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 10) với quan niệm, Nhà nước muốn truy tố một người ra Tòa án thì phải có trách nhiệm chứng minh người đó phạm tội, mà muốn chứng minh được thì phải có chứng cứ Đây là một vấn đề cần phải cân nhăc, nghiên cứu Tuy trách nhiệm chứng minh và việc thu thập, đánh giá chứng cứ có mỗi quan hệ hữu cơ, biện chứng nhưng nếu xem đó là thẩm quyền riêng có của các cơ quan tiến hành tố tụng thì thiếu căn cứ khoa học, bất hợp
lý và không công bằng Quan niệm như vậy, trước hết là trái với nguyên tắc suy đoán vô tội; bởi vì, trong quá trình thu thập đánh giá chứng cứ, các cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ quan tâm đến những chứng cứ buộc tội, mà còn phải hết sức lưu ý đến những chứng cứ gỡ tội Bên cạnh đó, cũng theo quy định của bô luật tố tụng hình sự, người bào chữa cũng có quyền đưa ra những chứng cứ, nhưng những chứng cứ này chỉ có thể được đưa vào hồ sơ vụ án nếu được các cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý Rõ rang rằng, quy định như vậy là thiếu công băng, bình đẳng, vì về nguyên tắc mọi chứng cứ được người
có thẩm quyền thu thập theo đúng thủ tục, trình tự do luật định phải có giá trị pháp lý và đối xử như nhau; đó là chưa kể đến, việc đối xử thiếu công bằng này còn vi phạm quyền
tự bào chữa, nhờ luât sư hoặc người khác bào chữa của người bị bắt, bi tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Thứ ba, nghiên cứu, xây dựng trình tự, thủ tục tranh tụng khoa học, hợp lý để
thực hiên đúng nguyên tắc hiến định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”(khoản 5 Điều 103 HP) đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Có thể thấy rằng, bộ luật hình sự hiện hành được xây dưng theo mô hình của tố tung thẩm vấn, tuy đã có một số quy định về tranh luận tại phiên tòa (Chương XXI, từ Điều 217 đến Điêu 221), nhưng yếu
tô tranh tụng không có, việc thẩm vấn, tranh luận chủ yếu xoay quanh cáo trạng luận tội của Viện kiểm sát và hồ sơ vụ án mà bản cáo trạng dường như chủ yếu căn cứ vào kết luận của cơ quan điều tra Điều đó dẫn đến dù có cố gắng đến đâu, cả người bào chữa và
bị cáo cũng khó có thể xoay chuyển nổi tình thế; nếu có vấn đề mới phát sinh thì Viện kiểm sát sử dụng quyền rút quyết định truy tô Trong những trường hợp như vậy, nếu bị cáo đang bị tạm giam thi chắc chăn các cơ quan tiến hành tố tụng lại tìm lý do để ra hạn
Trang 34tạm giam Điều đó dẫn đến tình trạng quyền con người bị vi phạm Vì vậy, để thực hiện nguyên tắc hiến định đã nêu, trong lần sửa đổi này, một vấn đề quan trọng đặt ra là chúng
ta xây dựng bộ luât tố tụng hình sự theo mô hình nào? Tiếp tục duy trì mô hình tố tụng thẩm vấn hiện nay? hay xây dựng theo mô hình tố tụng tranh tụng? hay xây dựng mô hình
tố tụng thẩm vấn kết hợp tranh tụng, trong đó yếu tố tranh tụng được ưu tiên hàng đầu? Tôi cho rằng, trong điều kiện hiện nay của nước ta, chưa thể thực hiện được mô hình tố tụng tranh tụng và cũng không thể tiếp tục duy trì mô hình tố tụng thẩm vấn hiện nay mà nên xây dựng mô hình tố tụng thẩm vấn kêt hợp tranh tụng, trong đó yếu tố tranh tụng được ưu tiên
Thứ tư, cần nghiên cứu để có những quy định chặt chẽ, rõ ràng, dân chủ để thực
hiện nghiêm túc, bảo đảm tốt nhât quyền bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa của bị can, bị cáo Một trong những đặc thù cần lưu ý là trong hoạt đông tố tụng hình sự,
bị can, bị cáo luôn một mình đứng trước các cơ quan tiến hành tố tụng với một đội ngũ hùng hậu Tình trạng “lẻ loi”, “cô đơn” này dễ dẫn đến những hậu quả khó lường, vì thế
họ rất cần những trợ giúp , cậy nhờ, kể cả trường hợp không thể làm khác được Vì thế, chế định luật sư, người bào chữa là không thể thiếu trong một quốc gia dân chủ, một nền
tư pháp dân chủ, nhân văn Tiếc rằng cả bộ luật tố tụng hình sự lẫn luật luât sư và trong thực tiễn đang còn quá nhiều “lực cản” đối với hoạt động của luật sư
Trang 35
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN
TRONG HIẾN PHÁP 2013 VÀ VIỆC THỰC THI
TS Vũ Công Giao - ThS Lê Thị Thúy Hương Viện Chính sách công và Pháp luật
Hiến pháp 2013 gồm 11 chương, 120 điều (so với Hiến pháp 1992 giảm 01 chương, 27 điều, chỉ giữ nguyên 7 điều, bổ sung 12 điều mới và sửa đổi 101 điều) Mức
độ sửa đổi như vậy là rất lớn, trong đó chế định về quyền con người, quyền công dân chứa đựng nhiều điểm mới nhất
1 Những nội dung mới về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp
2013
Thứ nhất, lần sửa đổi này đã đổi tên chương là “Quyền con người, quyền và nghĩa
vụ của công dân” và chuyển lên vị trí thứ 2 (so với vị trí thứ 5 trong Hiến pháp 1992) Thay đổi này đã khắc phục tình trạng tên gọi cũ “quyền và nghĩa vụ công dân” không bao quát hết nội dung của chương, và vị trí cũ của chương (thứ 5) trong Hiến pháp 1992 thể hiện sự quan tâm chưa đúng mức với vấn đề quyền con người, quyền công dân
Thứ hai, Hiến pháp 2013 không còn đồng nhất quyền con người và quyền công
dân (như Điều 50 Hiến pháp 1992), mà đã sử dụng tương đối hợp lý hai thuật ngữ này cho các quyền/tự do hiến định Ví dụ, nếu như các quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu tư nhân về tài sản và tư liệu sản xuất; quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó; quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm…trong Hiến pháp 1992 chỉ quy định cho công dân, nhưng trong Hiến pháp
2013 quy định chủ thể quyền là tất cả mọi người Như vậy, với những quyền này, không
chỉ công dân Việt Nam mà tất cả những người nước ngoài có mặt hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam cũng được bảo vệ
Thứ ba, trong khi Hiến pháp 1992 chỉ đề cập đến nghĩa vụ tôn trọng ở Điều 50,
Hiến pháp 2013 đã ghi nhận cả ba nghĩa vụ của nhà nước (tương ứng với các quy định về nghĩa vụ quốc gia theo luật nhân quyền quốc tế), đó là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
quyền con người (trong các Điều 3 và 14) Sự thay đổi này rất quan trọng, vì nó không
chỉ bảo đảm sự hài hòa với luật nhân quyền quốc tế, mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ về quyền con
người, quyền công dân trong thực tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm
Thứ tư, Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc về giới hạn quyền
(Khoản 2 Điều 16) Đây là nguyên tắc đã được nêu trong luật nhân quyền quốc tế và trong hiến pháp của một số quốc gia Việc hiến định nguyên tắc này có ý nghĩa quan
trọng mà sẽ được phân tích riêng ở mục 2 dưới đây
Thứ năm, Hiến pháp 2013 ghi nhận một số quyền mới mà Hiến pháp 1992 và các
hiến pháp trước đó của Việt Nam đều chưa đề cập, bao gồm: bao gồm: Quyền sống (Điều 21); Các quyền về văn hóa (Điều 41); Quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ,
Trang 36lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 43); Quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác (Điều 17 khoản 2); Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); Quyền hưởng an sinh xã hội (Điều 34)… Những quyền mới này đã mở rộng phạm vi bảo vệ của hiến pháp với các quyền con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực dân sự, chính trị (Điều 21, 17, 42) và kinh tế, xã hội, văn hóa (Điều 41, 42, 43,22,34) Chúng đáp ứng những nhu cầu mới về quyền con người nảy sinh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Điều 43,22,34) và hội nhập quốc tế
(Điều 17, 41, 42,22) của nước ta
Thứ sáu, Hiến pháp 2013 đã củng cố hầu hết các quyền đã được ghi nhận trong
Hiến pháp 1992 (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); Cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình (Điều 20 khoản 1); Bảo vệ đời tư và nơi ở (Điều 21, 22); Tiếp cận thông tin (Điều 25); Tham gia quản lý nhà nước
và xã hội (Điều 28); Bình đẳng giới (Điều 26); Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân (Điều 29);
Tố tụng công bằng (Điều 31); Sở hữu tư nhân (Điều 32); Lao động, việc làm (Điều 35) Tuy không phải là những quyền mới, song nhiều sửa đổi, bổ sung này có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể như sau:
- Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16): Trong Hiến pháp 2013, chủ thể của quyền này đã được mở rộng từ “công dân” (trong Hiến pháp 1992) sang ‘tất cả mọi người”,
đồng thời tính chất và phạm vi của sự bình đẳng được xác định rõ ràng, đó là không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Với quy định
sửa đổi này, quyền bình đẳng trước pháp luật sẽ được bảo đảm ở mức độ rộng, chặt chẽ
và phù hợp hơn với luật nhân quyền quốc tế
- Cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình (Điều 20 khoản 1): Hiến pháp 2013 lần
đầu tiên đề cập đến cấm “tra tấn”, đồng thời nhấn mạnh cấm bất kỳ hình thức bạo lực, đối
xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tất cả mọi người Quy định này cụ thể, rõ ràng và rộng hơn rất nhiều (cả về hành vi bị cấm và chủ
thể được bảo vệ) so với quy định cũ ở Điều 71 Hiến pháp 1992 (chỉ cấm truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân) Nó tạo cơ sở hiến định để nội luật hóa và thực thi hiệu quả Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và những sự đối
xử, trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục mà Việt Nam vừa ký kết cuối năm 2013
- Bảo vệ đời tư và nơi ở (Điều 21, 22): Hiến pháp 2013 mở rộng chủ thể được bảo
vệ quyền này từ công dân sang mọi người, đồng thời quy định trong hai điều riêng (Điều
21 bảo vệ quyền về nơi ở, Điều 22 bảo vệ quyền về đời tư) Quyền về đời tư lần đầu tiên
được quy định rõ, bao gồm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, danh dự,
uy tín của cá nhân So với quy định cũ ở Điều 73 Hiến pháp 1992 (chỉ nói đến quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín), Điều 22 Hiến pháp 2013 còn bảo vệ quyền bí mật về các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Tất cả những điểm mới này cho thấy phạm vi bảo vệ quyền về đời tư của Hiến pháp 2013 rộng hơn đáng kể so với Hiến pháp 1992
- Tiếp cận thông tin (Điều 25): Sự điều chỉnh ở đây chỉ là đổi thuật ngữ được (quyền được thông tin trong Hiến pháp 1992) sang tiếp cận (quyền tiếp cận thông tin
trong Hiến pháp 2013) Tuy nhiên, chuyển đổi này có ý nghĩa rất lớn, bởi quyền tiếp cận
thông tin theo luật quốc tế không chỉ bao gồm quyền được [tiếp nhận] thông tin như trong Hiến pháp 1992 mà còn bao gồm hai quyền khác đó là quyền được tìm kiếm/yêu cầu cung cấp thông tin, và quyền được chia sẻ, phổ biến thông tin Với sự chuyển đổi ngắn gọn đó,
quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp 2013 đã tương thích với nội hàm của quyền này
Trang 37theo luật quốc tế Điều này có ý nghĩa rất lớn trong thực tế ở nước ta, bởi lẽ theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền tiếp cận thông tin không chỉ là điều kiện bảo đảm cho việc thực thi dân chủ (thông tin là oxy của dân chủ) mà còn là một “vũ khí quan trọng nhất để phòng, chống tham nhũng”
- Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28): Điểm mới đó là Hiến pháp 2013
không chỉ tái khẳng định quyền này như trong Hiến pháp 1992, mà còn nêu rõ: Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân Quy định bổ sung đã ràng
buộc nghĩa vụ cụ thể của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tham gia quản
lý nhà nước và xã hội của nhân dân, qua đó bảo đảm quyền này sẽ được thực thi trong thực tế chứ không phải là một quyền hình thức, “khẩu hiệu” như trước đây
- Bình đẳng giới (Điều 26): Bằng quy định nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về giới thay cho quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ như nêu ở Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đã thay đổi quan niệm và
cách tiếp cận cũ về bình đẳng giới (nhấn mạnh sự phân biệt đối xử với riêng một giới là phụ nữ) sang quan điểm mới, đó là bình đẳng với cả giới nam và giới nữ Đây là cách tiếp cận phù hợp với thực tế và với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế Nó tạo điều kiện
để thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta lên một bước mới, có tính cân bằng, thực chất và hiệu quả hơn
- Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân (Điều 29): Quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (quy định chung với một số quyền khác trong Điều 55 Hiến pháp 1992) được tách thành một điều riêng (Điều 29) Hiến pháp 2013 Mặc dù nội dung của quyền này không thay đổi lớn (Hiến pháp 2013 chỉ bổ sung quy định về độ tuổi (từ 18 trở lên) của chủ thể quyền), song việc tách thành một quyền riêng khiến cho vị trí, tầm quan trọng của nó được tăng thêm
- Tố tụng công bằng (Điều 31): Nội dung về quyền được tố tụng công bằng trong Điều 72 Hiến pháp 1992 được mở rộng đáng kể so trong Điều 31 Hiến pháp 2013 Nếu như trong Hiến pháp 1992, quyền này chỉ bao gồm các yếu tố: suy đoán vô tội; bồi thường thiệt hại vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan sai trong tố tụng; xử lý nghiêm minh người thi hành tố tụng gây oan sai thì trong Hiến pháp 2013, ngoài những yếu tố đã nêu, còn bao gồm những yếu tố khác như: xét xử kịp thời, công bằng, công khai; không bị kết án hai lần cho cùng một tội phạm; quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa
Không chỉ vậy, nội hàm của một số yếu tố cũng được sửa đổi để quy định rõ ràng
hơn Cụ thể, quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội trong Hiến pháp 1992 (Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật) được diễn đạt lại thành (Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật) Với quy định mới, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ phải cân bằng và khách
quan trong việc tìm chứng cứ Họ sẽ phải tìm kiếm và coi trọng cả chứng cứ buộc tội và
gỡ tội, thay vào việc chỉ tập trung tìm chứng cứ để chứng minh bị can là có tội, nếu không tìm được chứng cứ như vậy thì bị can được coi là vô tội Hướng tiếp cận theo kiểu tập trung tìm chứng cứ buộc tội là nguyên nhân dẫn đến nhiều oan sai trong tố tụng hình sự,
vì khi tiếp cận theo hướng này, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ có xu hướng định kiến, bỏ qua, coi nhẹ những chứng cứ gỡ tội cho bị can Hoặc quy định về việc bồi thường oan sai
Trang 38trong tố tụng hình sự cũng được mở rộng và cụ thể hóa Về chủ thể của quyền đòi bồi
thường, nếu như trong Hiến pháp 1992 đề cập đến người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật thì Hiến pháp 2013 đề cập đến người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật Về nội hàm của quyền được bồi thường, nếu như Hiến pháp 1992 chỉ đề cập đến những thiệt hại về vật chất thì Hiến pháp
2013 quy định cả thiệt hại về tinh thần Tương ứng, các hành vi bị coi là trái pháp luật trong tố tụng hình sự theo Hiến pháp 1992 bao gồm bắt, giam giữ, truy tố, xét xử thì trong Hiến pháp 2013 bao gồm bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây
thiệt hại cho người khác
Những yếu tố mở rộng nêu trên làm tăng thêm đáng kể sự tương thích của pháp luật Việt Nam với quy định về quyền được tố tụng công bằng trong luật nhân quyền quốc
tế Nó phù hợp với thực tế tố tụng hình sự của nước ta và những yêu cầu, mục tiêu về bảo
vệ quyền con người trong chiến lược cải cách tư pháp
- Sở hữu tư nhân (Điều 32): Chủ thể của quyền này đã được mở rộng từ công dân trong Hiến pháp 1992 sang mọi người trong Điều 32 Hiến pháp 2013 Sự mở rộng này phù hợp với thực tế và đáp ứng yêu cầu của việc hội nhập quốc tế, khi mà các thể nhân, pháp nhân nước ngoài có mặt làm ăn, sinh sống ngày càng nhiều ở nước ta Những chủ thể này cũng phải được bảo vệ quyền tư hữu tài sản và tư liệu sản xuất – vì đây là tiền đề
cơ bản nhất để họ có thể làm ăn, sinh sống ở Việt Nam
Bên cạnh sự mở rộng quan trọng về chủ thể, Hiến pháp 2013 nêu rõ: Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường Quy định bổ sung này một lần nữa nhấn mạnh cam kết
tôn trọng quyền sở hữu tư nhân của nhà nước, đồng thời xác lập khuôn khổ hiến định cho
sự can thiệp của nhà nước vào quyền này, qua đó ngăn ngừa những hành động tùy tiện xâm phạm quyền sở hữu tư nhân của các cơ quan, quan chức nhà nước
- Lao động, việc làm (Điều 35): Hiến pháp 2013 đã thay thế những quy định dài dòng, mang tính hô hào, “khẩu hiệu” về lao động, việc làm trong Điều 55,56 Hiến pháp
1992 bằng những quy định hàm xúc, thực chất hơn, đặc biệt là bám sát các điều khoản liên quan trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 Cụ thể, theo Điều 35 Hiến pháp 2013, quyền về lao động, việc làm bao gồm: quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi Thêm vào đó, Điều này cũng quy định nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu
Ngoài những điểm mới mang tính chất trực tiếp nêu trên, Hiến pháp 2013 còn chứa đựng những quy định mới ở một số chương khác mà có ý nghĩa quan trọng đến việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân, tiêu biểu là:
- Các quy định củng cố quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện qua Lời nói đầu (nêu rõ chủ thể xây dựng, thi hành và bảo vệ hiến pháp là nhân dân); Điều 2 (khẳng định nhân dân là chủ nhân của đất nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân); Điều 4 (xác định Đảng Cộng sản nằm dưới sự giám sát của nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình); Điều 6 (xác định cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước là bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện); Điều 70 (bỏ quy
Trang 39định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến); Điều 120 (quy định việc trưng cầu
ý dân về hiến pháp và ràng buộc nghĩa vụ của Ủy ban dự thảo Hiến pháp phải tổ chức lấy
ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội bản dự thảo) Cùng với việc viết hoa từ “Nhân dân”, những quy định mới này cho thấy sự thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của bản hiến pháp như là một đạo luật gốc đơn thuần do nhà nước xây dựng sang một bản khế ước xã hội, trong đó người dân là chủ thể xác lập, trao quyền và đề ra những cơ chế để kiểm soát hoạt động của chính quyền do mình lập ra.1 Những quy định này chưa từng được đề cập hoặc chưa được quy định rõ trong các hiến pháp trước, vì vậy, chúng chuyển tải một thông điệp mới, một động lực mới cho việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy dân chủ XHCN ở nước ta phát triển thêm một bước mới về chất trong những năm tới
- Các quy định về cơ chế bảo đảm các quyền hiến định Hiến pháp 2013 lần đầu tiên nhắc đến cụm từ “cơ chế bảo vệ hiến pháp” và xác định Nhân dân là một trong các chủ thể bảo vệ hiến pháp (Điều 119) Đây là tiền đề để bảo vệ nhân quyền ở cấp cao nhất, bởi xét đến cùng, bảo hiến chính là bảo vệ các quyền hiến định Ngoài ra, một loạt điều khoản sửa đổi khác trong Hiến pháp 2013 cũng có ý nghĩa tăng cường cơ chế bảo vệ nhân quyền, trong đó tiêu biểu là các Điều 94,96 (ấn định nhiệm vụ mới của Chính phủ là bảo
vệ quyền con người, quyền công dân); Điều 102 (ấn định nhiệm vụ mới của TAND bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người); Điều 107 (ấn định nhiệm vụ mới của VKSND là bảo vệ quyền con người, quyền công dân) Những quy định này gắn liền trách nhiệm của các cơ quan hành pháp và tư pháp trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền Điều này có
ý nghĩa rất quan trọng vì trước đó ở Việt Nam, trách nhiệm và bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền thường chỉ được gắn với cơ quan lập pháp – Quốc Hội
2 Về nguyên tắc hạn chế quyền
Giới hạn quyền (limitation of rights) là quy định được ghi nhận trong luật nhân
quyền quốc tế, qua đó cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện/thụ hưởng một số quyền con người nhất định.Cụ thể, Tuyên ngôn toàn thế giới
về nhân quyền (Điều 29 khoản 2), nêu rằng, khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ
Theo luật nhân quyền quốc tế, phần lớn các quyền con người đều có thể bị giới hạn bằng luật, trong những điều kiện nhất định, ngoại trừ một số quyền không bao giờ có
thể bị giới hạn mà được gọi là các quyền tuyệt đối (absolute rights), ví dụ như: quyền sống; quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; quyền không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô dịch; quyền không bị bỏ tù chỉ vì lý do không hoàn thành nghĩa
vụ theo hợp đồng; quyền không bị áp dụng hồi tố trong tố tụng hình sự; quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.2
1
Xem thêm TS Nguyễn Sĩ Dũng (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội: Hiến pháp mới, hy vọng mới, tham luận tại
Tọa đàm “Hiến pháp và vấn đề cải cách thể chế” do Mạng lưới học giả Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 23/01/2013
Trang 40Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp Việt Nam quy định về nguyên tắc
hạn chế quyền Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp sửa đổi 2013 khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Quy định trên cho thấy rõ quyết tâm của Việt Nam không chỉ trong việc thừa nhận, mà còn bảo đảm thực hiện các quyền con người trong thực tế Nó cũng cho thấy việc hiến định các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 đã bám sát các quy định của luật nhân quyền quốc tế và tiếp thu những tiến bộ gần đây trong hiến pháp của một số quốc gia
Đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc hiến định nguyên tắc hạn chế quyền có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ: (i) Nó làm rõ tinh thần của luật nhân quyền quốc tế là các nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người nhưng cũng được đặt ra và áp dụng những giới hạn cho một số quyền, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước là quản lý xã hội, bảo đảm các quyền, lợi ích chung của cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác; (ii) Nó ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực nhà nước để vi phạm nhân quyền, thông qua việc ấn định những điều kiện chặt chẽ với việc giới hạn quyền; (iii) Nó phòng ngừa những suy nghĩ và hành động
cực đoan trong việc hưởng thụ, thực hiện các quyền
Xét ở những khía cạnh chủ chốt, quy định ở khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 đã tương thích với quy định của pháp luật quốc tế về nguyên tắc hạn chế quyền Khía cạnh quan trọng nhất đó là việc hạn chế quyền phải được quy định trong luật – tức là phải do Quốc hội quyết định Điều này có tác dụng phòng ngừa khả năng các viên chức và cơ quan nhà nước khác tùy tiện đặt ra những hạn chế về quyền Khía cạnh thứ hai đó là việc giới hạn chỉ được đặt ra trong trường hợp cần thiết Quy định này nhằm bảo đảm rằng việc hạn chế quyền chỉ được đặt ra khi có lý do khách quan, hợp pháp và hợp lý, trên cơ
sở có sự nghiên cứu, cân nhắc cẩn thận của Quốc hội Khía cạnh thứ ba đó là mục đích của việc hạn chế quyền là để bảo vệ một số lợi ích chính đáng, bao gồm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng – đây cũng là những mục đích được thừa nhận trong luật nhân quyền quốc tế
Trong thực tế, quy định về giới hạn quyền của Hiến pháp 2013 còn có thể mở rộng đến một số mục đích khác mà được nêu trong luật nhân quyền quốc tế, đó là để tôn trọng các quyền và tự do chính đáng, hợp pháp của người khác, hay để bảo đảm phúc lợi của cộng đồng và lợi ích của công lý (trong bối cảnh tố tụng) Tuy nhiên, việc đồng thời xác định rõ những quyền tuyệt đối cũng rất quan trọng, để tránh nhầm lẫn rằng nguyên tắc hạn chế có thể áp dụng cho tất cả mọi quyền
3.Những thuận lợi và thách thức trong việc thực thi chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013
Xét chung, những quy định mới và sửa đổi nêu ở các phần trên đã tăng cường đáng kể mức độ tương thích của chế định quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp nước ta với nội dung của các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên và với chế định về quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp các nước dân chủ