Việc thu thập chứng cứ đối với người bị hại là trẻ em gặp khó khăn hơnnhiều lần so với người bị hại thành niên; việc xác định trẻ em hay không phải là trẻ em cũng có vấn đề về thủ tục ph
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay đốivới trẻ em là các quyền của trẻ em phải được bảo vệ trong mọi trường hợp,quan điểm này được thể hiện trong nhiều văn bản, tài liệu của Đảng và Nhànước ta Ngay trong các văn kiện của Đảng cũng đã khẳng định chính sáchchăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện các quyền của trẻ em, tạođiều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, pháttriển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức; trẻ em mồ côi, bịkhuyết tật, sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cơ hội học tập và vui
chơi [17] Điều 65 Hiến pháp năm 1992, quy định: "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục" Thể chế hóa quan điểm
của Đảng và Nhà nước, các chế định về chăm sóc và bảo vệ trẻ em được thểhiện trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em,
Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân và gia đình… Đặc biệt, trong
Bộ luật hình sự có nhiều điều luật cụ thể quy định hình phạt nghiêm khắc đốivới người phạm tội có hành vi xâm phạm vào những quy định về chăm sóc vàbảo vệ trẻ em như: Điều 112 (Tội hiếp dâm trẻ em), Điều 114 (Tội cưỡng dâmtrẻ em), Điều 115 (Tội giao cấu với trẻ em), Điều 116 (Tội dâm ô với trẻ em)v.v…
Trong những năm gần đây, đã xảy ra một số vụ án hình sự liên quanđến tổ chức và công dân người nước ngoài có hành vi phạm tội xâm hại đếntrẻ em như: hiếp dâm trẻ em, dâm ô với nhiều trẻ em, buôn bán trẻ em v.v…Trẻ em đang là đối tượng bị tội phạm xâm hại cả về thể chất lẫn tinh thần, đã
Trang 2và đang gây ra nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho quá trình học tập vàtrưởng thành của bản thân các em, cũng như tương lai của đất nước Báo cáotổng kết 5 năm thực hiện Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng chống tộiphạm (từ năm 2000 – 2004) của Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an đã nêu rõ:
Tuy nhiên, xét về tổng thể, tình hình tội phạm xâm hại trẻ em vẫn diễn biến phức tạp, loại tội phạm lứa tuổi vị thành niên giảm chưa cơ bản, vững chắc, thậm chí một số tội phạm xâm hại trẻ em như: giết người, cướp tài sản, hiếp dâm trẻ em và trẻ vị thành niên hoạt động theo băng, ổ nhóm gây án nghiêm trọng còn xảy ra nhiều
[12]
Trong thực tế công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, các cơ quantiến hành tố tụng đã tích cực phát hiện, điều tra, xử lý đối với các hành vi xâmphạm vào những quy định về chăm sóc và bảo vệ trẻ em Theo thống kê củacác cơ quan tiến hành tố tụng, mỗi năm có hàng trăm vụ án hình sự được điềutra, truy tố và xét xử về các tội xâm hại trẻ em Tuy nhiên, việc bảo vệ quyềncủa trẻ em là người bị hại trong điều tra truy tố, xét xử vụ án hình sự hiện nayđang gặp những khó khăn nhất định từ giai đoạn điều tra đến truy tố và xét
xử Việc thu thập chứng cứ đối với người bị hại là trẻ em gặp khó khăn hơnnhiều lần so với người bị hại thành niên; việc xác định trẻ em hay không phải
là trẻ em cũng có vấn đề về thủ tục pháp lý khi mà nhiều trẻ em ở vùng sâu,vùng xa không có giấy khai sinh hoặc những tài liệu khác chứng minh về độtuổi; thủ tục giám định y khoa đối với trẻ em cũng còn nhiều bất cập; không ítnhững người tiến hành tố tụng trong vụ án có người bị hại là trẻ em chưa đ-ược trang bị những kiến thức cần thiết về tâm sinh lý của trẻ em; việc mờingười bảo vệ quyền lợi của đương sự (luật sư) để bảo vệ quyền lợi cho người
bị hại là trẻ em trong vụ án hình sự cũng không đơn giản, do nhận thức và cả
Trang 3những khó khăn về tài chính; sự tham gia của gia đình, tổ chức xã hội vào vụ
án hình sự để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em cũng có những vấn đề cần phải giảiquyết, v.v… Tất cả những vấn đề được đề cập trên đây đã gây nên những khókhăn, thiếu sót, tồn tại không nhỏ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự có người bị hại là trẻ em Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: " Nâng
cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự về các tội xâm hại trẻ em" là hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay để góp phần tích cực
bảo vệ các quyền và sự phát triển bình thường của trẻ em
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào nghiên cứu thực trạngtình hình hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố,xét xử vụ án hình sự về các tội xâm hại trẻ em để trên cơ sở đó đưa ra các giảipháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự đối vớicác tội xâm hại trẻ em
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử những vụ án hình sự duy nhất chỉ có người bị hại là trẻ em xảy ra từnăm 2001 đến năm 2005 trong phạm vi toàn quốc, theo 7 tội danh cụ thể đượcquy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam, bao gồm các tội sau đây:
- Tội giết con mới đẻ (Điều 94);
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112);
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114);
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115);
- Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116);
- Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120);
Trang 4- Tội vi phạm qui định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228).
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ những tồn tại, thiếu sóthiện nay của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc giải quyết vụ án hình
sự tại các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự về các tội xâm hạitrẻ em hiện nay; phát hiện những nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, tồntại của hoạt động này trên các phương diện xây dựng pháp luật và áp dụngpháp luật để đưa ra được những đề xuất và giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả
và chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự về các tội xâmhại trẻ em, góp phần vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong lĩnh vựcpháp luật về tư pháp hình sự; đưa ra những ý kiến đề xuất về xây dựng độingũ những người tiến hành tố tụng có đủ năng lực, trình độ chuyên môn,phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay ởnước ta trong giải quyết các vụ án hình sự đối với các tội xâm hại trẻ em
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu cần giải quyếtmột số nhiệm vụ: nghiên cứu pháp luật quy định về trẻ em và thực tế áp dụngpháp luật; nghiên cứu pháp luật quy định về những người tiến hành tố tụng tạicác giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự đối với các vụ án hình sự
về các tội xâm hại trẻ em và thực tế áp dụng pháp luật nhằm phát hiện nhữngbất cập để có đề xuất bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự;nghiên cứu thực trạng tình hình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự về cáctội xâm hại trẻ em để phát hiện những tồn tại, thiếu sót trong quá trình giảiquyết vụ án loại này để đưa ra những nhận định, kết luận liên quan đến đề tài
4 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trang 5Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở hệ thống các quan điểm, đường lốicủa Đảng, pháp luật của Nhà nước về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ ánhình sự; lý luận về khoa học tư pháp hình sự, tội phạm học, khoa học điều trahình sự; khoa học tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự đối vớicác tội xâm hại trẻ em
Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài là kết quả quá trình nghiêncứu các báo cáo tổng kết, sơ kết, báo cáo chuyên đề, hồ sơ vụ án hình sự đãxét xử, trao đổi tọa đàm với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hộithẩm nhân dân, Luật sư là những người trực tiếp tiến hành và tham gia tố tụngnhững vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em và kinh nghiệm thực tiễn củabản thân khi được phân công làm chủ tọa phiên tòa, hoặc tham gia Hội đồngxét xử trực tiếp xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm hại trẻ em tại Tòa ánnhân dân thành phố Hải Phòng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của việc nghiên cứu dựa vào cơ sở phương phápluận của phép biện chứng duy vật và tư tưởng Hồ Chí Minh; lý luận về nhà nước
và pháp luật Việt Nam; quan điểm của Đảng về chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ
em và chính sách hình sự có liên quan; các chế định pháp luật về hình sự;quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp đến năm 2020
Phương pháp nghiên cứu cụ thể chủ yếu là các phương pháp phân tích,tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khảo sát, điều tra xã hội học về những nội dungliên quan đã được trình bày ở phần trên
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 6ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài được thể hiện bằng kết quảnghiên cứu, mong muốn góp phần hoàn thiện lý luận và thực tiễn trên cáckhía cạnh sau đây:
Thứ nhất, góp phần hoàn thiện lý luận về khoa học điều tra, truy tố,
xét xử vụ án hình sự có người bị hại là trẻ em;
Thứ hai, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến
trẻ em, đến tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về các tộixâm hại trẻ em;
Thứ ba, góp phần khắc phục những tồn tại, thiếu sót thường mắc phải
của các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sựđối với các tội xâm hại trẻ em;
Thứ tư, góp phần vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
cho những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải quyết vụ án hình sự
có người bị hại là trẻ em nói chung và các tội xâm hại trẻ em nói riêng tạicác học viện, trường đại học, trung tâm bồi dưỡng chính trị, pháp luật trong
cả nước
7 Những điểm mới của luận văn
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống về vụ án hình sự cóngười bị hại là trẻ em; hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự đối với vụ
án loại này trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay Do vậy, có thể coi nhữngđiểm sau đây là những đóng góp mới cho khoa học tư pháp hình sự Cụ thể:
- Lần đầu tiên vấn đề điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự về các tộixâm hại trẻ em được nghiên cứu một cách toàn diện trong khoa học tư pháp
Trang 7hình sự nên có nhiều vấn đề mới sẽ được đề cập liên quan đến quyền trẻ em,người bị hại là trẻ em trong vụ án hình sự;
- Những giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động tố tụng củanhững người tiến hành tố tụng trong giải quyết các vụ án loại này nhằm bảo
vệ quyền của trẻ em;
- Làm rõ được mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa
án trong giải quyết vụ án hình sự về các tội xâm hại trẻ em
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,được kết cấu thành 3 chương
Trang 8Chương 1 Những vấn đề chung về điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em
1.1 Nhận thức chung về "trẻ em" và "người bị hại là trẻ em" trong pháp luật Việt Nam
1.1.1 Khái niệm "trẻ em" trong pháp luật Việt Nam
Thuật ngữ "trẻ em" được quy định ở mỗi quốc gia không giống nhautùy thuộc vào những đặc điểm riêng về sự phát triển sinh học, cũng như quanđiểm về chăm sóc, bảo vệ và giáo dục đối với trẻ em của mỗi nước Trong hệthống pháp luật Quốc tế liên quan đến trẻ em, đã có nhiều văn bản quy định
về quyền của trẻ em; trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em như:Tuyên bố Giơnevơ 1924; Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em1959; Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về sự sống còn, bảo vệ và phát triển củatrẻ em; Chương trình hành động chống việc bóc lột tình dục trẻ em vì mụcđích thương mại; Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm1989.v.v Liên quan đến khái niệm trẻ em, Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền trẻ em năm 1989 quy định: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn" [16] Như vậy, để xác định một người có phải là trẻ em hay không còn
phụ thuộc vào luật áp dụng của từng quốc gia quy định về độ tuổi trẻ em Cóthể nói, mỗi quốc gia có luật áp dụng khác nhau đều có những quy định về độtuổi xác định là trẻ em khác nhau Ngay trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga
Trang 91996 quy định, trẻ em được hiểu là người chưa thành niên và là người chưa
đủ 18 tuổi
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới phê chuẩnCông ước Quyền trẻ em năm 1989 của Liên Hợp Quốc Pháp luật Việt Nammột mặt thừa nhận, tôn trọng những nguyên tắc và chế định cơ bản của Côngước Quyền trẻ em, mặt khác căn cứ vào các đặc điểm về hoàn cảnh, điều kiện,môi trường sống và các đặc tính riêng biệt của con người Việt Nam để quiđịnh về độ tuổi của trẻ em cho phù hợp Mọi văn bản pháp luật của Việt Namđều quy định người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên
Đối với trẻ em, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam
qui định: "Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" Như vậy khái niệm "trẻ
em" trong pháp luật Việt Nam không đồng nhất với khái niệm "người chưathành niên", trẻ em là người chưa thành niên, nhưng người chưa thành niên cóthể không phải là trẻ em
Nói chung, trẻ em là người chưa phát triển về thể chất, tinh thần, hoặc
là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ Họ là nhữngngười đang trong quá trình trưởng thành nên chưa nhận thức đầy đủ về nhữngkhái niệm thông thường trong cuộc sống hàng ngày, cũng như họ chưa có đầy
đủ khả năng thực hiện và khả năng tự gánh chịu trách nhiệm về hành vi củamình Trên cơ sở giới hạn về độ tuổi, các văn bản pháp luật của Nhà nước tacũng giới hạn về quyền, nghĩa, vụ, trách nhiệm của trẻ em khi tham gia vàocác quan hệ pháp luật Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật hônnhân và gia đình; Bộ luật lao động; Bộ luật dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự; Bộluật hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự và hệ thống các văn bản dưới luật như:Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư v.v đã quy định một cách đầy đủ các quyềncủa trẻ em Có thể chia quyền trẻ em thành 4 nhóm cơ bản phản ánh những
Trang 10đặc trưng riêng về quyền con người là trẻ em một cách thiết thực, gắn vớicuộc sống và sự phát triển của trẻ em, đồng thời cũng thể hiện được sự quantâm đặc biệt của xã hội đối với trẻ em
Thứ nhất, quyền được sống hay quyền sinh tồn, được chăm sóc nuôi
dưỡng; quyền được sống chung với cha mẹ; quyền có họ tên; quyền đượckhai sinh; quyền được mang quốc tịch; quyền được cung cấp hoặc đáp ứngnhững nhu cầu cần thiết để tồn tại như việc chăm sóc sức khỏe, mức sốngdinh dưỡng, quần áo, nhà ở…
Thứ hai, quyền được phát triển: đó là các quyền được học tập; nghỉ
ngơi, vui chơi, tham gia các hoạt động giải trí, các sinh hoạt văn hóa, nghệthuật, thể thao, du lịch; quyền được phát triển năng khiếu; quyền tự do bày tỏ
ý kiến, tiếp cận thông tin; quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo;quyền được tham gia các hoạt động xã hội nhằm tạo điều kiện cho sự pháttriển tốt nhất về nhân cách và tài năng, rèn luyện trau dồi kinh nghiệm và các
kỹ năng xã hội chuẩn bị cho cuộc sống tương lai của trẻ em
Thứ ba, quyền được Nhà nước và xã hội tôn trọng, quyền được pháp
luật bảo vệ: trẻ em có quyền được nhà nước, xã hội và mọi người tôn trọngdanh dự và nhân phẩm, được pháp luật bảo vệ trước mọi hành vi xâm phạm
đến tính mạng, thân thể, danh dự và nhân phẩm Tuy nhiên vì "còn non nớt về thể chất và trí tuệ", nên trẻ em không thể tự bảo vệ mình khỏi những hành vi
xâm hại nói chung và của tội phạm nói riêng, đặc biệt là những hành vi xâmhại được thực hiện bởi người lớn Do vậy, quyền được bảo vệ của trẻ em làmột đòi hỏi hết sức cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của trẻ em để chốnglại tội phạm xâm hại; sự bóc lột về lao động; sự cưỡng bức hay lạm dụng về tìnhdục; sự ép buộc sử dụng trái phép chất ma túy, hoặc các hành vi xâm hại khác
Trẻ em "cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt", vì vậy Bộ luật hình sự quy
Trang 11định phạm tội đối với trẻ em đều là những tội danh cụ thể, những tình tiếtđịnh khung hình phạt, hay tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và phải chịuhình phạt nghiêm khắc Sự bảo vệ của pháp luật không chỉ bó hẹp trong lĩnhvực hình sự, mà còn được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan đếncác lĩnh vực khác như: Dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình
Thứ tư, quyền được có tài sản, quyền thừa kế và được hưởng các chế
độ bảo hiểm: Tài sản riêng của trẻ em được tạo lập từ nguồn tài sản được thừa
kế, quà tặng và từ nguồn thu nhập bằng sức lao động của chính các em Vì các
em là những người chưa thành niên cho nên tài sản của các em phải được cha
mẹ hoặc người đỡ đầu quản lý Việc quản lý cũng như định đoạt tài sản riêngcủa các em phải xuất phát từ lợi ích của đứa trẻ Trẻ em, không phân biệt gáitrai, con trong giá thú hay ngoài giá thú, con riêng hay con nuôi đều có quyềnđược hưởng di sản thừa kế Pháp luật thừa kế một mặt thừa nhận quyền địnhđoạt của người để lại di chúc, nhưng nếu có sự phân biệt và đối xử trái phápluật hay đạo đức xã hội giữa các con, nhất là đối với trẻ em thì pháp luật cóthể điều chỉnh để đảm bảo quyền lợi của trẻ em Trong điều kiện kinh tế củanước ta hiện nay các chế độ bảo hiểm, phúc lợi xã hội nói chung chưa thế đápứng được so với nhu cầu thực tế Nhưng pháp luật cũng ghi nhận để tạo cơ sởpháp lý cho các em được hưởng đầy đủ mọi chế độ bảo hiểm và phúc lợi xãhội khi điều kiện cho phép
Do trẻ em là người đang nằm trong quá trình phát triển ở giai đoạnđầu của người chưa thành niên, họ chưa có đầy đủ khả năng nhận thức và khảnăng điều khiển hành vi của mình trong mọi ứng xử và tình huống của cuộcsống Chính vì vậy, trẻ em là người chưa có năng lực hành vi đầy đủ khi thamgia các quan hệ pháp luật Tùy theo mỗi ngành luật mà năng lực trách nhiệmcủa trẻ em cũng được quy định khác nhau Pháp luật dân sự Việt Nam quy
Trang 12định người chưa đủ sáu tuổi không có hành vi dân sự Giao dịch dân sự củangười chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thựchiện; người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịchdân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằmphục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật cóquy định khác Pháp luật hình sự quy định trẻ em chưa đủ 14 tuổi do thể chất
và trí tuệ chưa phát triển, chưa nhận thức và làm chủ được hết hành vi củamình Vì vậy, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi hành vi nguyhiểm cho xã hội của mình; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổiphải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng; Pháp luật hành chính quy định, trẻ em dưới 12tuổi không có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính
Tóm lại, khái niệm "trẻ em" trong pháp luật Việt Nam được coi làngười chưa đủ 16 tuổi, là đối tượng được pháp luật bảo vệ Tùy thuộc vàoquan hệ pháp luật mà trẻ em tham gia, độ tuổi chịu trách nhiệm của trẻ em cókhác nhau, nhưng pháp luật Việt Nam luôn bảo vệ quyền của trẻ em từ mọihành vi xâm phạm
1.1.2 Khái niệm "người bị hại là trẻ em" trong pháp luật hình sự
và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Người bị hại là trẻ em mang đầy đủ đặc điểm của người bị hại, nhưnggắn liền với trẻ em Điều 51, khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
"Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra." Như vậy, người bị hại phải là một con người cụ thể bị tội phạm gây
nên những thiệt hại nhất định về thể chất, tinh thần, tài sản Khái niệm về
"người bị hại là trẻ em" trong khoa học tư pháp hình sự, một mặt dựa trên
Trang 13khái niệm về trẻ em trong khoa học pháp lý, mặt khác bao gồm tổng hợp cácquyền và nghĩa vụ của trẻ em khi tham gia quan hệ pháp luật hình sự Mọihành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật theo quy định của Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện trực tiếp gây nên thiệthại về thể chất, tinh thần, tài sản cho người dưới 16 tuổi đều bị coi là phạm tộiđối với trẻ em và người bị hại trong trường hợp này được xác định là "người
bị hại là trẻ em" Bên cạnh việc nghiên cứu về nội dung các quyền và nghĩa
vụ của chủ thể, khoa học tư pháp hình sự cũng đi sâu nghiên cứu các điềukiện, đặc điểm của trẻ em để có những chế định tố tụng hình sự (hình thứctham gia quan hệ pháp luật tố tụng) cho phù hợp với địa vị pháp lý của người
bị hại là trẻ em Mặc dù trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam không có điềuluật nào quy định cụ thể về "người bị hại là trẻ em", nhưng trên cơ sở nghiêncứu các khái niệm về trẻ em và người bị hại trong khoa học tư pháp hình sự,
có thể hiểu "người bị hại là trẻ em" là người dưới 16 tuổi bị thiệt hại về thểchất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra
Như vậy, đặc điểm chung nhất của người bị hại là trẻ em phải là người
bị hại có độ tuổi từ dưới 16 tuổi trở xuống Nếu người bị hại có độ tuổi từ đủ
16 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 18 tuổi, thì được gọi là hành vi phạm tội xâmphạm đối với người chưa thành niên Ví dụ: Khoản 4, Điều 111 Bộ luật hình
sự quy định người nào hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm Tương tự như trên, khoản 4 Điều
113 Bộ luật hình sự quy định người nào có hành vi cưỡng dâm người chưathành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
Người bị hại là trẻ em dễ bị tổn thương do hành vi phạm tội gây ra, vìthể chất chưa phát triển một cách đầy đủ Thiệt hại xảy ra do hành vi phạm tội
Trang 14gây nên đối với người bị hại là trẻ em thường lớn hơn so với người lớn Khimới sinh ra, sự tồn tại của đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc củamôi trường xung quanh, chỉ cần một tác động nhỏ cũng có thể gây nên hậuquả làm chết người Trong quá trình phát triển, trẻ em không đủ khả năng tựbảo vệ mình trước những hành vi như hành hạ, đánh đập, hiếp dâm của ngườiphạm tội
Trong thực tế, người bị hại là trẻ em dễ trở thành nạn nhân của tộiphạm Do nhận thức chưa phát triển một cách đầy đủ, trẻ em dễ bị ngườiphạm tội lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc thậm chí trong một số trường hợp, trẻ emvừa là người có hành vi vi phạm pháp luật vừa là nạn nhân của tội phạm
Trong luật hình sự, những tội phạm gây nên thiệt hại cho người bị hại
là trẻ em có thể xảy ra ở nhiều tội phạm khác nhau, như một số tội phạm xâmphạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; một số tội xâmphạm quyền tự do dân chủ của công dân; một số tội xâm phạm sở hữu; một sốtội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; một số tội xâm phạm an toàn côngcộng, trật tự công cộng Tuy nhiên, do tính chất nguy hiểm của từng tội phạm
cụ thể và yêu cầu bảo vệ trẻ em, chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiệntrong pháp luật hình sự là nghiêm trị đối với bất kỳ người nào thực hiện hành viphạm tội đối với trẻ em Chính vì vậy, trong kỹ thuật lập pháp, tình tiết "người bịhại là trẻ em" có thể là tình tiết định tội hoặc có thể là tình tiết định khung tăngnặng đối với tội phạm cụ thể được pháp luật hình sự quy định trong phần các
tội phạm Đối với những tội phạm mà tình tiết người bị hại là trẻ em được coi
là tình tiết định tội, được quy định ở các tội sau đây trong Bộ luật hình sự:
1 Tội giết con mới đẻ (Điều 94 Bộ luật hình sự);
2 Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 Bộ luật hình sự);
Trang 153 Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 Bộ luật hình sự);
4 Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 Bộ luật hình sự);
5 Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116 Bộ luật hình sự);
6 Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120 Bộ luậthình sự);
7 Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228 Bộ luậthình sự)
Đối với những tội phạm mà tình tiết người bị hại là trẻ em được coi làtình tiết định khung hình phạt được quy định ở rất nhiều tội khác nhau trong
Bộ luật hình sự Tùy theo từng tội phạm cụ thể, tình tiết phạm tội đối vớingười bị hại là trẻ em có thể được quy định tại khung tăng nặng, hoặc khungđặc biệt tăng nặng Ví dụ:
- Tội giết người (điểm c, khoản 1, Điều 93 Bộ luật hình sự);
- Tội đe dọa giết người (điểm c, khoản 2, Điều 103 Bộ luật hình sự);
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác(điểm d, khoản 1, Điều 104 Bộ luật hình sự);
- Tội hành hạ người khác (điểm a, khoản 2, Điều 110 Bộ luật hình sự);
- Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộluật hình sự);
- Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạmpháp (điểm c, khoản 2, Điều 252 Bộ luật hình sự);
- Tội chứa mại dâm (điểm a khoản 3, Điều 254 Bộ luật hình sự);
- Tội môi giới mại dâm (điểm a khoản 3, Điều 255 Bộ luật hình sự);
Trang 16- Tội mua dâm người chưa thành niên (điểm b khoản 2 và điểm akhoản 3, Điều 256 Bộ luật hình sự); v.v
Ngoài ra, ở những tội phạm khác mặc dù không quy định tại tình tiếtđịnh khung tăng nặng ở từng tội danh cụ thể, nhưng nếu người phạm tội cóhành vi "phạm tội đối với trẻ em", thì được coi là tình tiết tăng nặng tráchnhiệm hình sự khi quyết định hình phạt, được quy định tại điểm h, khoản 1Điều 48 Bộ luật hình sự Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giớihạn về công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự đối với tội phạm có tìnhtiết "người bị hại là trẻ em" là tình tiết định tội, nên việc phân tích những vấn
đề liên quan đến nhóm người bị hại này chỉ tập trung vào 7 tội danh cụ thểnhư đã nêu trên
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em
1.2.1 Đối tượng chứng minh và phương tiện chứng minh trong vụ
án hình sự mà người bị hại là trẻ em
Khi giải quyết vụ án hình sự nói chung, các cơ quan điều tra, ViệnKiểm sát, Tòa án đều phải đặt ra đối tượng chứng minh (hay còn gọi là nhữngvấn đề cần phải chứng minh) Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sựđược quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự với nội dung, khi điều tra,truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa ánphải chứng minh: "Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành viphạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệmhình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng,tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm
Trang 17về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạmtội gây ra" Tuy nhiên, đối với những vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ emtrong những tội phạm thuộc phạm trù nghiên cứu, ngoài những vấn đề cầnphải chứng minh nói trên, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng còn phải chứng minh thêm những tình tiết cụ thể căn cứ vào những đặcđiểm của tội phạm này
Một trong những vấn đề quan trọng nhất cần phải chứng minh để xácđịnh một vụ án hình sự có tội danh xâm hại trẻ em là trong vụ án hình sự đó,người bị hại bắt buộc phải là trẻ em Do vậy, cần phải có đủ chứng cứ, tài liệuxác định người bị hại là trẻ em (chưa đủ 16 tuổi) Để có được kết luận chínhxác người bị hại là trẻ em, đòi hỏi:
Thứ nhất, phải có một hoặc nhiều loại giấy tờ có nội dung thống nhất
xác định người bị hại là trẻ em như: Giấy khai sinh; giấy chứng sinh (giấychứng nhận đẻ) tại cơ sở y tế; học bạ, sổ hộ khẩu hoặc bất kỳ giấy tờ nào cócăn cứ xác định tuổi của trẻ em chưa đủ 16 tuổi v.v…
Thứ hai, trong trường hợp không có các loại giấy tờ nêu trên, hoặc có
các giấy tờ, nhưng nội dung các giấy tờ này không thống nhất về ngày, tháng,năm sinh, cần thiết phải trưng cầu giám định để xác định tuổi Điểm d, khoản
3, Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự quy định bắt buộc phải trưng cầu giámđịnh trong trường hợp cần phải xác định tuổi của người bị hại, nếu việc đó có
ý nghĩa đối với vụ án vì không có tài liệu khẳng định tuổi của họ, hoặc có sựnghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó
Tuy nhiên, do quy định của cấu thành tội phạm cụ thể ở từng tội phạm
có sự khác nhau, nên ngoài việc xác định người bị hại là trẻ em, còn phảichứng minh những vấn đề quan trọng khác được quy định trong cấu thành của
Trang 18từng tội phạm cụ thể Ví dụ: Đối với tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 94
Bộ luật hình sự, thì người bị hại là đứa trẻ mới được đẻ ra Theo hướng dẫncủa Tòa án nhân dân Tối cao trong Nghị quyết số 04/HĐTP, ngày 29 tháng 11năm 1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định: "conmới đẻ" là đứa trẻ mới được sinh ra từ ngày đầu tiên đến hết ngày thứ 7 (trongvòng 7 ngày tuổi) Do vậy, trong vụ án này cần phải có giấy chứng sinh của
cơ sở y tế về số ngày tuổi của đứa trẻ Theo nội dung của điều luật này thìngười phạm tội lại chính là người mẹ đẻ ra đứa trẻ Việc người mẹ giết conmới đẻ là do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnhkhách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậuquả đưa trẻ chết Như vậy, đối tượng chứng minh quan trọng nhất trong vụ án
về tội giết con mới đẻ phải có những chứng cứ, tài liệu chứng minh được: đứatrẻ bị chết trong vòng 7 ngày tuổi kể từ khi nó được đẻ ra; đứa trẻ bị chết dochính người mẹ đẻ ra nó đã giết nó hoặc vứt bỏ nó, làm cho nó chết; động cơgiết đứa trẻ là do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu, hoặc trong hoàncảnh khách quan đặc biệt Nếu không có chứng cứ, tài liệu chứng minh đượcnhững tình tiết nêu trên như: Hành vi do chính người mẹ đẻ giết đứa trẻ đãquá 7 ngày tuổi, hoặc do người không đẻ ra giết đứa trẻ (mặc dù đứa trẻ nàytrong vòng 7 ngày tuổi) thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội giết người (giết trẻ em) được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 93 Bộluật hình sự, chứ không phải tội giết con mới đẻ quy định tại Điều 94 Bộ luậthình sự
Đối với tội hiếp dâm trẻ em, quy định tại Điều 112 Bộ luật hình sự.Điều111 Bộ luật hình sự quy định về tội hiếp dâm được mô tả ở hành vi củangười nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể
tự vệ được của nạn nhân, hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái
Trang 19ý muốn của họ Như vậy, tội hiếp dâm trẻ em thể hiện ở hành vi được mô tảnhư trên, nhưng nạn nhân phải là trẻ em nữ (người chưa đủ 16 tuổi) Tuynhiên, khoản 4, Điều 112 Bộ luật hình sự có quy định, mọi trường hợp giaocấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em Điều này cónghĩa là, người phạm tội có thể không dùng vũ lực, hoặc không đe dọa dùng
vũ lực hoặc không lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được, hoặc không dùngthủ đoạn khác mà vẫn giao cấu được với người chưa đủ 13 tuổi (được ngườidưới 13 tuổi đồng ý) thì vẫn bị coi là phạm tội hiếp dâm Chủ thể của tộiphạm này thường là nam giới đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Như vậy, đốitượng chứng minh quan trọng nhất trong vụ án về tội phạm này cần phải cóchứng cứ, tài liệu chứng minh được có hay không: hành vi hiếp dâm như đãđược mô tả ở trên đối với người bị hại là trẻ em chưa đủ 16 tuổi; hoặc là cóhành vi giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi, mặc dù không có tình tiết dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực
Tương tự như trên, đối với tội cưỡng dâm trẻ em quy định tại Điều
114 Bộ luật hình sự Theo quy định tại Điều 113 Bộ luật hình sự, tội cưỡngdâm được mô tả ở hành vi của người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệthuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡnggiao cấu Do vậy, đối tượng chứng minh quan trọng nhất trong vụ án về tộiphạm này cần phải có chứng cứ, tài liệu chứng minh được người bị cưỡngdâm là người phụ nữ bị lệ thuộc người phạm tội, hoặc người đang ở trong tìnhtrạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu Người bị hại là trẻ em nữ từ đủ 13tuổi đến chưa đủ 16 tuổi, nếu không phải là người bị lệ thuộc người phạm tội,hoặc là người không ở trong tình trạng quẫn bách mà có hành vi giao cấu, thìngười phạm tội sẽ phạm vào tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 Bộ luật hìnhsự); trong trường hợp nếu người bị hại là trẻ em chưa đủ 13 tuổi, thì người
Trang 20phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112
Bộ luật hình sự) chứ không phải tội cưỡng dâm trẻ em
Đối với tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 Bộ luật hình sự), đối tượngchứng minh quan trọng nhất trong vụ án về tội phạm này cần phải có chứng
cứ, tài liệu chứng minh được hành vi có quan hệ tình dục với người từ đủ 13tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi Nếu quan hệ tình dục đối với người dưới
13 tuổi thì người đó phạm tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 Bộ luật hình sự).Đối với tội dâm ô với trẻ em (Điều 116 Bộ luật hình sự), đối tượng chứngminh quan trọng nhất trong vụ án về tội phạm này là những chứng cứ, tài liệuchứng minh được có hành vi kích thích tình dục đối với trẻ em, nhưng không
có hành vi giao cấu Nếu có hành vi giao cấu thì tùy theo từng tường hợp cụthể có thể phạm vào tội hiếp dâm, cưỡng dâm, hoặc giao cấu với trẻ em
Đối với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều120 Bộluật hình sự), đối tượng cần phải chứng minh trong vụ án về tội phạm này lànhững chứng cứ, tài liệu chứng minh được có hành vi mua bán, đánh tráohoặc chiếm đoạt trẻ em
Đối với tội vi phạm qui định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228 Bộluật hình sự), thì vấn đề cần phải chứng minh chính là những chứng cứ, tài
liệu chứng minh được người phạm tội đã có một trong các hành vi: buộc trẻ
em làm việc quá sức (mức tiêu hao năng lượng lớn hơn 4 kcal/phút, nhịp tim 120/phút); ở tư thế làm việc gò bó, thiếu dinh dưỡng; tiếp xác với hóa chất có khả năng gây biến đổi gien, gây ảnh hưởng xấu đến chuyển hóa tế bào, gây ung thư, gây tác hại sinh sản lâu dài (gây thiểu năng tinh hoàn, thiểu năng buồng trứng), gây bệnh nghề nghiệp và các tác hại khác; tiếp xúc với các yếu
tố gây bệnh truyền nhiễm; tiếp xúc với chất phóng xạ (kể cả các thiết bị phát
Trang 21tia phóng xạ); tiếp xúc với điện từ ở mức quá giới hạn cho phép; trong môi trường có độ rung ồn cao hơn tiêu chuẩn cho phép, nhiệt độ không khí trong nhà xưởng trên 40độ C về mùa hè và trên 35 độ C về mùa đông, hoặc chịu ảnh hưởng của bức xạ cao; nơi có áp suất không khí cao hơn hoặc thấp hơn
áp suất khí quyển; trong lòng đất; nơi cheo leo nguy hiểm; nơi làm việc không phù hợp với thần kinh, tâm lý trẻ em; nơi gây ảnh hưởng xấu tới việc hình thành nhân cách (Thông tư số 09/TT-LB ngày 13 tháng 4 năm 1995 của
Bộ Lao động – Thương binh và xã hội – Y tế quy định các điều kiện lao động
có hại và các công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên)
Ngoài những đối tượng chứng minh nêu trên, trong mỗi tội phạmđược quy định trong từng điều luật còn có các tình tiết định khung tăng nặng
Do vậy, khi giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa
án phải chứng minh về những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của bị can, bị cáo; những đặc điểm về nhân thân của bị can, bịcáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự quy định, chứng cứ là những gì cóthật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không
có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tìnhtiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Chứng cứ được xácđịnh bằng: vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án,người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản vềhoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác Như vậy, để có phươngtiện chứng minh (hay còn gọi là chứng cứ) cần phải thu thập chứng cứ Việc
Trang 22thu thập chứng cứ trong các vụ án hình sự trong phạm vi nghiên cứu màngười bị hại là trẻ em có liên quan trực tiếp đến việc lấy lời khai của trẻ em.
Pháp luật tố tụng hình sự quy định về lấy lời khai người bị hại (Điều 137
Bộ luật tố tụng hình sự) và áp dụng vào việc lấy lời khai người bị hại là trẻ
em, cần tuân thủ các trình tự và thủ tục sau đây: Trước khi tiến hành lấy lờikhai người bị hại là trẻ em phải có giấy triệu tập Giấy triệu tập người bị hại làtrẻ em được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ; khilấy lời khai người bị hại là trẻ em phải mời cha, mẹ hoặc người đại diện hợppháp khác, hoặc thày giáo, cô giáo của người đó tham dự; Điều tra viên, Kiểmsát viên phải giải thích cho những người này biết quyền và nghĩa vụ của họtham gia tố tụng; Biên bản lấy lời khai người bị hại là trẻ em phải có chữ kýcủa cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác, hoặc thày giáo, cô giáo củangười đó tham dự
Điểm đáng chú ý khi lấy lời khai của người bị hại là trẻ em, chứng cứphản ánh trong lời khai cần được kiểm tra, đánh giá, đảm bảo tính xác thực vàphù hợp với thực tế khách quan Do chứng cứ và nội dung những thông tintrong vụ án hình sự có tội danh xâm hại trẻ em thường trong phạm vi hẹp vàrất hạn chế Nội dung chứng cứ do người bị hại là trẻ em cung cấp phụ thuộcnhiều vào các yếu tố liên quan như độ tuổi, môi trường sống và trạng thái tinhthần, sức khỏe của họ Người bị hại là trẻ em có độ tuổi càng lớn, thì càng cókhả năng phản ánh thông tin về vụ án một cách cụ thể, logic hơn, thông quaviệc trình bày diễn đạt về diễn biến các tình tiết vụ án Người bị hại là trẻ emdưới 6 tuổi, tư duy vẫn dựa vào trực giác toàn bộ, chưa biết phân tích, diễn tảchỉ chú ý vào chi tiết hấp dẫn, không phân biệt thực hư "thấy gì nói đấy" Vìvậy, lời khai của họ phản ánh những tình tiết liên quan đến vụ án một cách rời
Trang 23rạc, không liên tục và logic Người bị hại là trẻ em từ 7 tuổi đến dưới 14 tuổi
tư duy bắt đầu tách khỏi cảm giác trực quan, biết suy luận Vì vậy lời khai của
họ đã có sự sắp xếp liên tục và logic hơn về thời gian và diễn biến các tình tiếtcủa vụ án Người bị hại là trẻ em từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nhận thức ngàycàng phát triển, vì vậy lời khai của họ đã có sự sắp đặt, có chủ định, thậm chí
có cả việc hư cấu
Khoản 3, Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự quy định, những trườnghợp phải bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định gồm:
Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động; tình trạng tâm thần của bị can,
bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình
sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng, hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án; tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; chất độc, chất ma tuý, chất phóng xạ, tiền giả".
Như vậy, đối với các vụ án hình sự về tội hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâmtrẻ em, giao cấu với trẻ em, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án bắt buộcphải đưa người bị hại là trẻ em đi trưng cầu giám định để có kết luận giámđịnh nhằm xác định mức độ thương tích, hoặc mức độ tổn hại về sức khỏetrên thân thể của trẻ em Trong trường hợp không có tài liệu xác thực để xácđịnh đúng tuổi của người bị hại, thì Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa áncũng phải bắt buộc đưa người bị hại là trẻ em đi giám định (như đã nêu ở
Trang 24phần trên) Riêng đối với vụ án hình sự về các tội dâm ô với trẻ em, tội muabán, tội đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, hoặc tội vi phạm qui định về sửdụng lao động trẻ em thì tùy theo nhưng trường hợp cụ thể, Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án quyết định có thể trưng cầu giám định hay không Ví
dụ, khi cần xác định ADN của người bị hại là trẻ em để tìm cha, mẹ v.v Việc
áp dụng biện pháp điều tra nào để thu thập chứng cứ vụ án mà người bị hại làtrẻ em tùy thuộc vào diễn biến của từng vụ án cụ thể Tuy nhiên, Cơ quan điềutra, Viện Kiểm sát, Tòa án cần tiến hành một cách thận trọng để tránh gây nênnhững ảnh hưởng về tâm lý và tác động xấu đến quá trình hình thành nhâncách đối với người bị hại là trẻ em
1.2.2 Người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự mà người bị hại
là trẻ em
Người bị hại là trẻ em khi tham gia tố tụng hình sự không nhất thiếtphải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu như của người bị hại đã thành niên theo quyđịnh của pháp luật Trong giai đoạn điều tra, việc tham gia tố tụng của người
bị hại là bắt buộc, nhưng việc tham gia tố tụng của người bị hại trong giaiđoạn quyết định việc truy tố và giai đoạn xét xử chỉ mang tính bắt buộc trongnhững trường hợp cần thiết Khi tham gia tố tụng người bị hại có quyền vàtrách nhiệm cung cấp, phản ánh những thông tin về tội phạm (trong chứngminh tội phạm và làm rõ sự thật khách quan của vụ án); xác định mức độ thiệthại do hành vi phạm tội gây ra (vấn đề yêu cầu bồi thường); đưa ra quan điểmcủa mình trong việc xử lý người phạm tội (đề nghị tăng nặng hay giảm nhẹtrách nhiệm hình sự cho bị cáo) Do trẻ em là người chưa có đầy đủ nhận thức
và năng lực hành vi, nên không thể tự mình đưa ra các yêu cầu về bồi thườngthiệt hại cũng như những quan điểm của mình trong việc xử lý người phạm
Trang 25tội Thông thường sự tham gia tố tụng của người bị hại là trẻ em chỉ chủ yếucung cấp, phản ánh những thông tin về tội phạm giúp cơ quan tiến hành tốtụng chứng minh tội phạm và làm rõ sự thật khách quan của vụ án Trẻ emcàng lớn tuổi thì việc đáp ứng các yêu cầu trên càng đầy đủ hơn Vì vậy,người bị hại là trẻ em khi tham gia tố tụng bắt buộc phải có cha, mẹ, hoặcngười đại diện hợp pháp khác của họ cùng tham gia
Cha, mẹ của người bị hại là trẻ em ở đây được hiểu bao gồm cả cha
mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng Cha
mẹ của người bị hại là trẻ em tham gia tố tụng với tư cách là là người đại diệnhợp pháp của người bị hại trong vụ án hình sự
Người đại diện hợp pháp khác là người đại diện theo quy định củapháp luật, hoặc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định Trongtrường hợp đặc biệt (không có cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, bố dượng, mẹ kế củangười bị hại là trẻ em tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện), để đảmbảo cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của trẻ em, pháp luật quy địnhngười đại diện hợp pháp khác của trẻ em là người giám hộ đối với trẻ emđược giám hộ Giám hộ là một chế định của pháp luật nhằm mục đích đảmbảo việc trông nom, chăm sóc và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên,người không có năng lực hành vi Bộ luật dân sự quy định người có đủ cácđiều kiện sau đây có thể là người giám hộ: Đủ 18 tuổi trở lên; có năng lựchành vi dân sự đầy đủ; có điều kiện cần thiết đảm bảo việc giám hộ Ngườigiám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha mẹ,không xác định được cha mẹ hoặc cả cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân
sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹhoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc giáo dục người
Trang 26chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu được xác định như sau: Trongtrường hợp anh, chị, em ruột không có thỏa thuận khác thì anh cả hoặc chị cả
đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ của em chưa thành niên;nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm giám hộ thì người tiếp theo
đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ; trong trường hợp không
có anh, chị, em ruột hoặc anh, chị, em ruột không có đủ điều kiện làm ngườigiám hộ thì ông, bà nội, ông, bà ngoại có đủ điều kiện phải làm người giámhộ
Cha, mẹ, hoặc người đại diện hợp pháp khác của người bị hại là trẻ
em được tham gia tố tụng, cũng như có các quyền và nghĩa vụ theo luật địnhtrong tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hànhbản án hình sự và chỉ chấm dứt vào đúng thời điểm khi người bị hại là trẻ em
đó đã đủ 18 tuổi
Ngoài ra, Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, khi tham gia tốtụng người bị hại có quyền nhờ người bảo vệ quyền lợi của đương sự bảo vệquyền lợi cho mình Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có thể là luật sư,bào chữa viên nhân dân, người khác được các cơ quan tiến hành tố tụng chấpnhận Người bảo vệ quyền lợi của đương sự được tham gia tố tụng ngay từkhi khởi tố bị can Đối với người bị hại là trẻ em, người bảo vệ quyền lợi củađương sự có quyền có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai củangười mà mình bảo vệ; kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liênquan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ
Khi tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợicủa đương sự của người bị hại là trẻ em có quyền: Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêucầu; được thông báo về kết quả điều tra; đề nghị thay đổi người tiến hành tố
Trang 27tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; đềnghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; tham gia phiên tòa;trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị hại là trẻ em; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa
án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo Trong trườnghợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105của Bộ luật này, thì người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tạiphiên tòa Nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp của người bị hại là trẻ embao gồm: Phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,Tòa án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phảichịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự
Ngoài ra, tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể mà có những người thamgia tố tụng khác theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án như ngườilàm chứng, người giám định, người phiên dịch v.v…
1.2.3 Người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự mà người bị hại
là trẻ em
Trong mỗi cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật quy định những người
có thẩm quyền tiến hành các hành vi tố tụng trong một giai đoạn tố tụng gọi làngười tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng theo quy định tại khoản 2,Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điềutra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;Chánh án, Phó Chánh án Tòa án; Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án
Tiêu chuẩn của những người tiến hành tố tụng được quy định rất cụthể trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh Kiểm sát viên; Pháp
Trang 28lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệmcủa những người tiến hành tố tụng được quy định rất cụ thể tại các điều từĐiều 34, đến Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự Trong các tiêu chuẩn của nhữngngười tiến hành tố tụng không có tiêu chuẩn cụ thể nào liên quan đến giảiquyết vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em Tuy nhiên, tại Điều 302BLTTHS có quy định về điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự mà bị can, bịcáo là người chưa thành niên, nhưng người tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là:
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên.
Do yêu cầu bảo vệ quyền lợi của trẻ em với tư cách là người bị hạitrong vụ án hình sự và để có thể có những thuận lợi trong việc thu thập chứng
cứ chứng minh làm rõ sự thật khách quan vụ án, chúng tôi cho rằng: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng trong vụ án mà người bị hại
là trẻ em cũng phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục liên quan đến trẻ em Mặc dù điều luật không quy định áp dụng
với người bị hại là chưa thành niên nói chung và trẻ em nói riêng, nhưng trên
cơ sở nguyên tắc bình đẳng, để đảm bảo các quyền của mọi trẻ em khi thamgia quan hệ pháp luật hình sự, khi thực hiện các hoạt động tố tụng trong vụ ánhình sự có người bị hại là trẻ em, người tiến hành tố tụng cần thiết cũng phải
là những người hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục, kiến thức xã hội
có liên quan đến trẻ em Những kiến thức về sự phát triển thể chất, nhận thức,tâm lý và quan hệ xã hội của người bị hại là trẻ em sẽ giúp người tiến hành tốtụng trong việc làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể trong vụ án hình sự
Trang 29Trẻ em là người chưa tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hộimột cách độc lập, chưa có tài sản có giá trị Vì vậy khách thể tội phạm xâmhại đến trẻ em thường tập trung ở các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm danh dự con người; một số tội xâm phạm sở hữu; một số tội xâmphạm an toàn công cộng, trật tự công cộng … Trẻ em là người có sinh hoạt ổnđịnh và quan hệ xã hội trong địa bàn hẹp, địa điểm và thời gian xảy ra tộiphạm thường có liên quan đến địa điểm và thời gian sinh hoạt, học tập, vuichơi của các em Do chưa phát triển đầy đủ khả năng nhận thức và năng lựchành vi, họ không có sự cảnh giác cũng như sự hiểu biết về thủ đoạn và hành
vi của người phạm tội Khi bị xâm hại, họ không có điều kiện về sức khỏe,tinh thần và khả năng kháng cự Thiệt hại do tội phạm gây ra cho trẻ emthường lớn hơn so với người thành niên Thông thường hành vi của ngườiphạm tội trong vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em thực hiện do lỗi cố ý.Người phạm tội thường có mối quan hệ nhất định đối với người bị hại là trẻ
em Ví dụ: Người phạm tội hiếp dâm trẻ em dưới 13 tuổi thường là người cóquan hệ họ hàng, quen biết với trẻ em
Những kiến thức về tâm lý, khoa học giáo dục trẻ em sẽ giúp ngườitiến hành tố tụng thực hiện có hiệu quả các hoạt động tố tụng trong vụ án hình
sự Người tiến hành tố tụng biết được đặc điểm tâm lý trẻ em sẽ có nhữngbiện pháp thích hợp như có thái độ thân thiện đồng cảm, tạo sự gần gũi và xóa
bỏ sự sợ hãi, tạo lòng tin và làm cho trẻ tự tin hơn khi giao tiếp, khéo gợi mở
để trẻ em nói ra những nội dung cần phải làm rõ, giữ bí mật những vấn đề cầnthiết, biết sắp xếp, sàng lọc những thông tin khách quan do người bị hại là trẻ
em cung cấp như trong quá trình nghe trình bày lại sự việc, lấy lời khai, nhậndạng… khi thu thập, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật Quá trình giảiquyết vụ án hình sự, sự hiểu biết về thể chất, nhận thức, tâm lý và quan hệ xã
Trang 30hội của người bị hại là trẻ em sẽ giúp người tiến hành tố tụng xác định rõ tưcách và địa vị pháp lý cũng như những yêu cầu đặt ra đối với những ngườitiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.
1.2.4 Những đặc điểm trong khởi tố, điều tra, xét xử vụ án hình sự
mà người bị hại là trẻ em
Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về trách nhiệm khởi tố và
xử lý vụ án hình sự Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có tráchnhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xácđịnh tội phạm và xử lý người phạm tội Như vậy, đối với bất kỳ vụ án hình sựnào, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạn của mình đều có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp cầnthiết để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội ngay khi phát hiện có dấuhiệu tội phạm
Do đặc điểm của những vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em,những thông tin ban đầu về tội phạm phần lớn tập trung chủ yếu từ tố giác củacông dân (trực tiếp là từ cha, mẹ, người giám hộ), hoặc tin báo từ cơ quan, tổchức Trẻ em là người ít có quan hệ xã hội, quan hệ tập trung nhiều ở gia đình,nhà trường Khi bị tội phạm xâm hại, người tiếp nhận thông tin đầu tiên từ trẻ
em thường là những người thân thiết như cha mẹ, anh chị em, họ hàng, thày
cô giáo, bạn bè…của trẻ Đặc điểm các thông tin ban đầu về tội phạm xâm hạitrẻ em phần lớn là thông tin gián tiếp (ít trường hợp trẻ em trực tiếp tố giác tộiphạm), nguồn tin báo tố giác tội phạm chỉ tập trung trong phạm vi nhất định(gia đình, nhà trường, bạn bè ) Do vậy, ngay sau khi tiếp nhận tin báo tố giáctội phạm, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải tiến hành xác minh, thẩm tra
Trang 31ngay, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm xâm hại trẻ em thì phải tiến hànhkhởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định tội phạm và xử
lý người phạm tội
Đối tượng tội phạm tác động đến trong vụ án hình sự có tội danh xâmhại trẻ em thường hay liên quan đến nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm) của trẻ em Vì vậy, khi có tội phạm xảy không chỉ gây căm phẫntrong xã hội, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh hoạt, học tập củacác em tại khu vực sinh sống và trường học, nhất là các em đang trong độ tuổicắp sách đến trường Việc tiến hành các biện pháp điều tra như lấy lời khai,trưng cầu giám định, xem xét dấu vết trên thân thể v.v…bên cạnh yêu cầuđảm bảo tính khẩn trương, khách quan cũng cần thiết phải có sự khéo léo,thận trọng và đặc biệt là việc tiến hành phải được thực hiện một cách nhẹnhàng, tránh gây dư luận "ầm ĩ" trong xã hội, nhất là nơi có người bị hại là trẻ
em đang sinh sống và học tập
Việc phát hiện và thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự có tội danhxâm hại trẻ em thường gặp nhiều khó khăn do nguồn chứng cứ và nội dungthông tin bị hạn chế Khi tiến hành hoạt động điều tra, Điều tra viên, Kiểm sátviên phải trực tiếp đến tại gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương nơingười bị hại là trẻ em sinh hoạt, học tập để thu thập chứng cứ Việc lấy lờikhai của người bị hại là trẻ em gặp nhiều khó khăn hơn so với người bị hại đãthành niên (do trẻ em thường có những biểu cảm nhiều hơn người thành niênkhi trình bày, khai báo với cơ quan tiến hành tố tụng và trạng thái thườnghoảng loạn không muốn tiếp xúc, lo lắng, thiếu tự tin, sợ bị trả thù, do bị tộiphạm trực tiếp xâm hại làm thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản; domối quan hệ với người phạm tội; do tác động của gia đình, bạn bè; do hoàn
Trang 32cảnh và thái độ của người tiến hành tố tụng v.v…) Vì vậy, việc tống đạt giấytriệu tập đối với người bị hại là trẻ em cần phải được giao cho cha, mẹ, hoặcngười đại diện hợp pháp khác của họ, cũng như cần có phương pháp độngviên tạo sự yên tâm để người bị hại là trẻ em có thể cung cấp chứng cứ mộtcách đầy đủ, khách quan khi tiến hành các hành vi tố tụng
Bộ luật tố tụng hình sự quy định khi xét xử, Tòa án phải triệu tậpngười bị hại có mặt để tham gia tố tụng tại phiên tòa Trong vụ án hình sự cótội danh xâm hại trẻ em, việc triệu tập người đại diện theo pháp luật của người
bị hại là trẻ em tham gia tố tụng tại phiên tòa mang tính bắt buộc, còn việctriệu tập người bị hại là trẻ em tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng vụ
án cụ thể Đối với người bị hại là trẻ em quá ít tuổi, hoặc nhất là đối vớinhững tội phạm xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em nữ, thì khôngnhất thiết phải triệu tập họ tham gia tố tụng tại phiên tòa, trừ trường hợp đặcbiệt nếu sự vắng mặt của họ làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Việc triệu tậpngười đại diện theo pháp luật của người bị hại là trẻ em tham gia tố tụng tạiphiên tòa có vai trò hết sức cần thiết và quan trọng Ngoài việc đảm bảoquyền của người bị hại là trẻ em trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, lờikhai và các chứng cứ do người bị hại là trẻ em cung cấp, nếu có sự xác nhậncủa người đại diện theo pháp luật (cha, mẹ, người giám hộ) có mặt tại phiêntòa sẽ đảm bảo tính khách quan, tính pháp lý hơn Việc tham gia tố tụng củangười đại diện theo pháp luật của người bị hại là trẻ em tại phiên tòa còn cóvai trò quan trọng là đưa ra yêu cầu bồi thường, giúp cho Hội đồng xét xửtrong việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải thẩm tra về tuổi của người bị hại,
về tư cách người đại diện theo pháp luật của người bị hại, về lý lịch người
Trang 33phạm tội và giải thích các quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng Tiếnhành điều tra công khai tại phiên tòa để làm rõ về tính chất, hành vi phạm tội;động cơ mục đích phạm tội; hậu quả tác hại do hành vi phạm tội gây ra vànhững vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án, từ đó đối chiếu,kiểm tra với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm làm rõ sự thậtkhách quan của vụ án và áp dụng đúng pháp luật
Trang 34Chương 2 thực trạng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em
2.1 Tình hình tội phạm xâm hại trẻ em từ năm 2000 đến năm 2005
Qua khảo sát hàng năm, số vụ phạm pháp hình sự xâm hại trẻ emkhông có xu hướng giảm, nhưng quy mô, tính chất và mức độ nguy hiểm củatội phạm xâm hại trẻ em ngày càng cao hơn Có thể tham khảo số liệu theobảng thống kê dưới đây về số vụ phạm pháp hình sự đối với các tội phạm xâmhại trẻ em theo từng năm từ năm 2001 đến năm 2005 [12]:
Trang 35em, trong đó có 37% là trẻ em nam và 63% là trẻ em nữ Có thể tham khảobảng thống kê dưới đây về số lượng người bị hại là trẻ em từ năm 2001 đếnnăm 2005 [12]:
xử các vụ án hình sự về những tội phạm này nói riêng đối với các cơ quantiến hành tố tụng hình sự là Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án tại cácđịa phương
Trang 36Phân tích về đối tượng phạm tội có hành vi xâm hại trẻ em đã đượcphát hiện (8.022 vụ với 8.785 người bị hại là trẻ em) cho thấy: Đối tượngphạm tội về tội hiếp dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em và dâm ô với trẻ emchiếm tỷ lệ nhiều nhất trong tổng số vụ Ví dụ: Tội hiếp dâm trẻ em phát hiện3.470 vụ chiếm 39,4% trong tổng số các vụ phạm tội xâm hại trẻ em, với3.915 đối tượng phạm tội, chiếm 36,2% trong tổng số đối tượng phạm tội Tộigiao cấu với trẻ em 775 vụ – chiếm 8,9% với số đối tượng phạm tội là 814 đốitượng, chiếm 7,5% Tội cưỡng dâm trẻ em chiếm tỷ lệ ít nhất với 89 vụ,chiếm 1,1%, với 95 đối tượng phạm tội, chiếm 1% Đặc biệt tội giết trẻ emphát hiện 486 vụ (chiếm 5,5%) với số đối tượng phạm tội là 560 (chiếm5,1%) Đối tượng phạm tội chủ yếu và chiếm đa số là nam giới với 94% với độtuổi dưới 30
Trong thống kê tội phạm, ngoài những vụ phạm pháp hình sự vềnhững tội phạm thuộc phạm trù nghiên cứu kể trên cho thấy, chưa phát hiện,khởi tố và điều tra vụ án hình sự nào về tội "Vi phạm các quy định về sử dụnglao động trẻ em" (Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự) Có một số tội phạm kháccũng xâm hại trẻ em, nhưng những tình tiết xâm hại này nằm trong phạm trùnhững tình tiết định khung tăng nặng như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104); tội hành hạ người khác(Điều 110) v.v Theo thống kê của Bộ Công an từ năm 2001 đến năm 2005
đã phát hiện và điều tra xử lý 3.464 vụ với 4.470 bị can đã xâm hại vào 3.921trẻ em Do phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào các vụ án hình
sự về 6 tội danh như đã nêu trên (tội giết con mới đẻ; tội hiếp dâm trẻ em; tộicưỡng dâm trẻ em; tội giao cấu với trẻ em; tội dâm ô đối với trẻ em; tội muabán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em), nên việc phân tích về số liệu tình hình
Trang 37tội phạm trong các vụ án hình sự chỉ xoay quanh và tập trung vào những tộiphạm này.
Trong tổng số các vụ phạm pháp hình sự về các tội phạm mà người bịhại là trẻ em, chiếm đa số là các tội phạm về tình dục Chỉ tính riêng năm 2005,
Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án đã điều tra, truy tố và đưa ra xét xử 13
bị cáo là người nước ngoài phạm các tội về tình dục xâm hại trẻ em [38] Một số
vụ án điển hình xảy ra như vụ Gary Gliter công dân Anh hiếp dâm trẻ em, dâm ôvới nhiều trẻ em tại tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu Nhiều vụ án đã xác định rõ có sựcâu kết móc nối giữa tội phạm trong nước với các tổ chức và cá nhân tội phạm làngười nước ngoài hình thành nên những đường dây tội phạm xuyên quốc giamua bán trẻ em Việt Nam đưa ra nước ngoài nhằm mục đích mại dâm như đãtừng xảy ra tại Malaixia, Singapore [3] Để hiểu rõ hơn về các tội phạm xâm hạitrẻ em trong phạm trù nghiên cứu có thể tham khảo bảng thống kê dưới đây [12]:
Bảng số 3
Tội
Năm 2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Tổng số
Trang 38với trẻ Số trẻ em bị xâm hại 132 153 133 161 120 773Dâm ô
vùng Bắc Trung Bộ 544 vụ; vùng Tây Nguyên 530 vụ; vùng Tây Bắc 254 vụ.
Riêng 6 tháng đầu năm 2005, số vụ án hình sự về tội hiếp dâm trẻ em xảy ra ởtỉnh Kiên Giang là 21 vụ; Cà Mau 20 vụ; Đắc Lắc 20 vụ; Sóc Trăng 13 vụ;Bạc Liêu 11 vụ… Tội phạm cố ý gây thương tích trẻ em xảy ra 1.279 vụ với1.689 đối tượng, xâm hại 1.387 trẻ em, thường nổi lên ở các vùng: Đồng bằngSông Hồng 1.501 vụ; Bắc Trung Bộ 544 vụ Tội phạm mua bán, bắt cóc trẻ
em xảy ra nhiều ở các vùng Đông Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, đồng bằngsông Cửu Long và Tây Nam Bộ
2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự về các tội xâm hại trẻ em
Từ năm 2000 đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng đã đạt được nhiềukết quả trong điều tra, khám phá xử lý những tội phạm mà người bị hại là trẻ
em Có thể ghi nhận những kết quả này bằng những điểm chính dưới đây:
Trang 39Thứ nhất, Cơ quan điều tra Công an nhiều địa phương và Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã có nhiều hình thức và biện pháp khác nhau để nắm được những thông tin về tội phạm nói chung, trong đó có các tội phạm xâm hại trẻ em, xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Hình thức phổ biến nhất mà Cơ quan điều tra hình sự các cấp tronglực lượng Công an nhân dân thường sử dụng là hòm thư tố giác tội phạm đặt
tại các khu vực công cộng, nơi có nhiều người tập trung sinh sống Chỉ tính
riêng năm 2005 thông qua các "hòm thư tố giác", quần chúng nhân dân đãcung cấp cho lực lượng Công an hơn 4.500 nguồn tin, trong đó có 1.500nguồn tin có giá trị, 250 vụ có dấu hiệu mua bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài[19, tr 17]
Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhậnđầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổchức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến Việnkiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đãtiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền Trong thời hạn haimươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiếnnghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mìnhphải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặcquyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp sự việc
bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tìnhtiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì
Trang 40thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưngkhông quá hai tháng
Ngay khi nhận được tin báo tố giác về tội phạm xâm hại trẻ em, Cơquan điều tra đã phân công Điều tra viên khẩn trương tiến hành ngay các biệnpháp nghiệp vụ, kiểm tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ xác định dấuhiệu tội phạm về hành vi phạm tội được tố giác Việc tiến hành thẩm tra, xácminh được tập trung vào xác định độ tuổi, giới tính của người bị hại; trưngcầu giám định xác định mức độ tổn hại sức khỏe, tài sản của người bị hại làtrẻ em; đối chiếu với các điều luật để xác định đúng tội danh (các dấu hiệucủa tội phạm) Tổ chức các hoạt động điều tra như khám nghiệm hiện trường;khám nghiệm tử thi; giám định y khoa (trong các vụ xâm hại về tình dục trẻem); lấy lời khai nhân chứng v.v Kịp thời ra các quyết định xử lý như:Quyết định khởi tố vụ án hình sự về các tội danh xâm hại trẻ em theo các điềucủa Bộ luật hình sự, đảm bảo về nội dung, hình thức, thủ tục và thời gian theoquy định tại Điều 100 và Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự Trong trường hợpxác định có dấu hiệu tội phạm, các Cơ quan điều tra xác định căn cứ khởi tố;thời điểm khởi tố; khởi tố vụ án hình sự theo tội danh nào; khởi tố ai với tưcách bị can về tội gì Với sự cố gắng không ngừng của Cơ quan điều tra, ViệnKiểm sát các cấp, có thể nói 100% những tin báo, tố giác tội phạm liên quanđến xâm hại trẻ em đều được tiến hành thẩm tra, xác minh để xác định cóhay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi
tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho việc điều tra xử lý theo quy định của phápluật tố tụng hình sự Những kết quả này đã góp phần giữ gìn an ninh, trật tự
xã hội nói chung và đấu tranh phòng chống các tội phạm này nói riêng trênđất nước ta