Thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân dân các cấp tỉnh Nghệ An từ năm 2004-2008 50 Chơng 3: quan điểm
Trang 1Tel: 0511.3738099 Fax: 0511.3738 099
Email: info@fdvn.vn Website: www.fdvn.vn
Mục lục
Trang
Chơng 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma túy của Viện kiểm sát
1
1
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng
pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra các tội phạm ma túy của viện
1
2
Các giai đoạn và nội dung áp dụng pháp luật trong
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các
tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân dân 301
3
Các yếu tố bảo đảm việc áp dụng pháp luật
trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều
tra các tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân
Chơng 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân dân các cấp tỉnh Nghệ an từ năm 2004 - 2008 482
1
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ cấu tổ
chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh
2
2
Thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm
ma túy của Viện kiểm sát nhân dân các cấp
tỉnh Nghệ An từ năm 2004-2008 50
Chơng 3: quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng
pháp luật trong thực hành quyền công tố ở
giai đoạn điều tra các tội phạm ma túy của
viện kiểm sát nhân dân các cấp tỉnh nghệ
Trang 2Tel: 0511.3738099 Fax: 0511.3738 099
Email: info@fdvn.vn Website: www.fdvn.vn
3
1
Dự báo về tội phạm ma túy và quan điểm bảo
đảm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma túy
của Viện kiểm sát nhân dân các cấp tỉnh
3
2
Các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các
tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân dân các
Danh mục các chữ viết tắt
ADPL : áp dụng pháp luật
Trang 3Tel: 0511.3738099 Fax: 0511.3738 099
Email: info@fdvn.vn Website: www.fdvn.vn
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại bớc vào thế kỷ XXI với những thành côngtrong nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ đã đợckhẳng định, con ngời đã từng bớc chinh phục thế giới tựnhiên, phục vụ cho cuộc sống Song có thể nói, hiện nay conngời đang phải đứng trớc một thảm hoạ mang tính toàn cầu,một thách thức cha có lời giải mà cả cộng đồng quốc tế
đang quan tâm, đó là ma tuý đi đôi với đại dịch HIV/AIDS
đang hoành hành hàng ngày, hàng giờ huỷ hoại sức khoẻ, trítuệ của con ngời
Thực tế ở Việt Nam cho thấy tội phạm ma tuý trongnhững năm qua không giảm mà còn diễn biến rất phức tạp,
có chiều hớng gia tăng về số vụ, về tính chất nguy hiểm vàhậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng Trớc sự gia tăng tớimức đáng lo ngại của tội phạm ma tuý, Đảng và Nhà nớc ta đãquan tâm chỉ đạo kiên quyết đấu tranh nhằm từng bớc ngănchặn và đẩy lùi và tiến tới loại trừ loại tội phạm nguy hiểm này
ra khởi đời sống xã hội Các cơ quan t pháp trong đó có cơquan Điều tra (CQĐT), Viện Kiểm sát (VKS) đã kiên quyết xử lýnghiêm minh, đúng pháp lụât các tội phạm ma tuý Tuy nhiên,thực tế cho thấy đấu tranh với loại tội phạm này rất khó khăn,vì ma tuý đem lại lợi nhuận rất cao, khi bị phát hiện bọnchúng chống đối quyết liệt, từ đó gây khó khăn cho côngtác điều tra, truy tố và không phải lúc nào cũng đợc đảmbảo Do vậy, nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý
Trang 5luận và thực tiễn áp dụng pháp luật (ADPL) trong thực hànhquyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý làhết sức cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranhphòng chống tội phạm ma tuý ở Việt Nam hiện nay.
Đáp ứng mục tiêu tổng quát của chiến lợc cải cách tpháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của BộChính trị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng đề ra là “xâydựng nền t pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêmminh, bảo vệ công lý, từng bớc hiện đại, phụng sự Tổ quốcViệt Nam XHCN” Để thực hiện mục tiêu này, nhiệm vụ trớctiên thuộc về các cơ quan t pháp, trong đó có cơ quan ViệnKiểm sát Cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sátnhân dân là một trong những nội dung quan trọng của cảicách bộ máy Nhà nớc nói chung và cải cách t pháp nói riêng.Theo tinh thần Nghị quyết của Đảng về cải cách t pháp, hệthống cơ quan Viện kiểm sát sẽ đợc tổ chức lại cho phù hợp với
hệ thống tổ chức Tòa án Trớc mắt, Viện kiểm sát tiếp tụcthực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động t pháp nhng theo hớng tăng cờng trách nhiệmcông tố trong hoạt động điều tra và xem xét chuyển Việnkiểm sát thành Viện công tố…Vì vậy, việc nghiên cứu nhữngvấn đề liên quan đến mô hình tổ chức bộ máy và chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân,trong đó có thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra làrất cần thiết, nhằm thực hiện một cách đầy đủ, kịp thời cácchủ trơng của Đảng về cải cách t pháp, góp phần hòan thiện
bộ máy Nhà nớc pháp quyền Việt Nam XHCN
Trang 6Nghệ An là một trong những địa bàn trọng điểmphức tạp về ma tuý của toàn quốc Bởi hội đủ các yếu tố vềthẩm lậu ma tuý ở khu vực biên giới, cửa khẩu Trong nhữngnăm qua các cơ quan t pháp ở Nghệ An đã đấu tranh kiênquyết với loại tội phạm này, trong đó VKSND các cấp tỉnhNghệ An đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng,nhiệm vụ của mình, nhất là ADPL trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy, từ đó
đã hạn chế việc bỏ lọt tội phạm và ngời phạm tội, việc khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma túy đợc chuẩnxác hơn, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng,chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng,giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả nguyênnhân chủ quan và khách quan, đã làm cho việc ADPL trongTHQCT của Viện kiểm sát ở giai đoạn điều tra cỏc tội phạm matỳy cũn bộc lộ những yêú kém nh: việc khởi tố, bắt, tạm giữ,tạm giam vẫn còn oan, sai; nhiều trờng hợp phải đình chỉ
điều tra, nhiều vụ án đã không đợc khởi tố kịp thời, hoặc có
vụ án đã đình chỉ nhng phải hủy quyết định đình chỉ
để phục hồi điều tra từ đó đã làm ảnh hởng không nhỏ
đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự nóichung và tội phạm ma tuý nói riêng trên địa bàn tỉnh nhà
Xuất phát từ thực tế nêu trên và từ nhận thức việc ADPLtrong THQC ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý là mộttrong những vấn đề quan trọng, cần có sự quan tâm hơn nữa
kễ cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn nhất là việc ADPL trong
Trang 7THQCT của VKSND các cấp tỉnh Nghệ An Từ đú tỏc gió đó chọn đề
tài " Áp dụng phỏp luật trong thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra
cỏc tội phạm ma tuý của viện kiểm sỏt nhõn dõn cỏc cấp tỉnh Nghệ An "
để nghiên cứu viết luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
ở Việt Nam, trong những năm qua, các nhà khoa học
và các cơ quan chức năng nh ủy ban quốc gia phòng chống
ma túy, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao (viếttắt là VKSNDTC), Tòa án nhân dân Tối cao (viết tắt làTANDTC) đã có nhiều công trình nghiên cứu, trong đó cónhiều công trình liên quan đến các vấn đề: Thực hànhquyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự vàtội phạm ma tuý Có thể phân loại thành hai nhóm sau:
Một là, nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề thực
hành quyền công tố trong đó đáng chú ý là các công trình khoa học sau:
- Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay của
VKSNDTC (năm1999)
- “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các họat động
t pháp trong giai đoạn điều tra”, năm 2005 của TS Lê Hữu
Trang 8địa bàn TP Hà Nội” của Hà Thị Minh Hạnh, Học viện Chính
trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007
Hai là, những công trình nghiên cứu liên quan đến
các tội phạm về ma tuý, đáng chú ý là:
- Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới của GS, TS
Nguyễn Xuân Yêm, TS Trần Văn Luyện (năm 2001)
- Đề tài khoa học cấp bộ "Công tác kiểm sát điều tra
án ma túy" của TS Dơng Thanh Biểu - Phó Viện trởng
VKSNDTC (năm 2001)
- Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện khung pháp luật hình sự đối với tội phạm ma túy" của Nguyễn Minh Đức (năm
2003)
- Luận văn thạc sỹ “áp dụng pháp luật trong giai đoạn
điều tra, truy tố các vụ án ma tuý ở việt nam hiện nay" của
Bùi Mạnh Cờng (năm 2006)
Ngoài ra còn các bài viết của nhiều tác giả đăng trêncác tạp chí chuyên ngành nh Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa
án, Tạp chí Luật học, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chớ Lậpphỏp và nhiều chuyên đề nghiệp vụ nh: " tổng hợp kinhnghiệm trong công tác thực hành quyền công tố, Kiểm sát
điều tra, Kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án ma tuý" năm2007; “Tổng hợp kinh nghiệm thực hành quyền công tố vàkiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án ma túy lớn" của
Vụ 2, VKSNDTC (năm 2004); các tổng kết một năm thực hiện
Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt là BLTTHS) năm 2003 củaViện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) các địa phơng
và Tạp chí kiểm sát
Trang 9Có một số quan điểm lý luận trong cỏc cụng trỡnh núi trờntrong quá trình nghiên cứu luận văn, học viên đó tham khảo đểphục vụ cho quỏ trỡnh nghiờn cứu luận văn của minh.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tợng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn của việc ADPL trong thực hànhquyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý củaVKSND các cấp tỉnh Nghệ An
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này, học viên chỉ nghiên
cứu, khảo sát trong phạm vi ADPL trong thực hành quyềncông tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý ở (hai cấp,tỉnh và huyện) của VKSND tỉnh Nghệ An
Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thựctiển việc ADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn
điều tra các tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dâncác cấp tỉnh Nghệ An, trực tiếp là từ khi khởi tố vụ án hình
sự đến khi VKSND quyết định truy tố bị can ra trớc Toà án
để xét xử, không nghiên cứu những vấn đề ADPL trongTHQCT ở giai đoạn xét xử
Thời gian nghiên cứu, khảo sát trong vòng 5 năm trở lại
đây, từ năm 2004 đến 2008 ADPL trong THQCT ở giai đoạn
điều tra của VKS Quân sự không thuộc phạm vi nghiên cứucủa luận văn này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích
Mục đích của luận văn phõn tớch, làm rõ những vấn đề lýluận về ADPL trong THQCT ở giai đoạn điều tra các tội phạm
Trang 10ma tuý của VKSND Đỏnh giỏ thực trạng và đề xuất cỏc giải phỏp đảmbảo ADPL trong thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra cỏc tội phạm
ma tỳy của VKSND cỏc cấp tỉnh Nghệ An
- Nhiệm vụ
+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ADPL trongTHQCT ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý, nh kháiniệm, đặc điểm, nội dung của ADPL trong THQCT ở giai
đoạn điều tra các tội phạm ma tuý, những yếu tố ảnh hởng
và các điều kiện đảm bảo ADPL trong hoạt động đó
+ Đánh giá thực trạng ADPL trong THQCT ở giai đoạn
điều tra các tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dâncác cấp tỉnh Nghệ An Nờu lờn những thành quả đạt được, những hạnchế và nguyờn nhõn của hạn chế
+ Trỡnh bày cỏc quan điểm, giải pháp nhằm bảm bảoADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tracác tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dân các cấptỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn đợc nghiên cứu dựa trên cơ
sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh vềNhà nớc và pháp luật; các quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta
về tăng cờng pháp chế trong đấu tranh chống tội phạm về
ma túy, xây dựng Nhà nớc pháp quyền của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân, đặc biệt là quan điểm chỉ đạocủa Đảng về cải cách t pháp đợc thể hiện trong Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TWngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
Trang 11- Phơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các
ph-ơng pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin và các khoahọc chuyên ngành khác, trong đó đặc biệt chú trọng đếnphơng pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh kếthợp giữa lý luận và thực tiễn…
6 Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ những khái niệm, đặc điểm và nội dungADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra cáctội phạm ma tuý của VKSND
- Phân tích, đánh giá u điểm, hạn chế và tìm ranguyên nhân của việc ADPL trong thực hành quyền công tố ởgiai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của VKSND các cấptỉnh Nghệ An
- Nêu quan điểm, đề xuất các giải pháp, kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả ADPL trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của VKSND cáccấp tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
7 ý nghĩa của luận văn
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về ADPL trongthực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm
ma tuý của VKSND
- Các giải pháp, kiến nghị mà luận văn đề xuất gópphần nâng cao hiệu quả công tác ADPL trong thực hànhquyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý củaVKSND các cấp tỉnh Nghệ An
Trang 12- Luận văn có thể đợc dùng làm tài liệu tham khảo choviệc nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạochuyên ngành Nhà nớc và pháp luật
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệutham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 7 tiết
Chơng 1 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm
ma tuý của Viện kiểm sát nhân dân
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1 Khái niệm chất ma tuý và tội phạm ma tuý
1.1.1.1 Khái niệm về chất ma tuý
Chất ma tuý và các tiền chất là những chất gõy nghiện nếungười nào tàng trữ, mua bỏn là vi phạm pháp luật về phòng, chống
ma tuý Vây, các chất ma tuý là các tiền chất dùng vào việcxản xuất ma tuý là gi? Hiện nay khái niệm về các chất ma tuý
và tiền chất dùng vào việc xản xuất ma tuý đang tồn tại hai
hệ thống khái niệm, đó là khái niệm dới góc độ khoa học vàkhái niệm pháp lý
Theo quan điểm của các nhà khoa học cũng nh Uỷ bankiểm soát ma tuý quốc tế của Liên Hợp quốc (UNDCP) và theo
từ điển bách khoa Công an nhân dân, thì chất ma tuý đợchiểu là:
Trang 13Các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên hoặcnhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con ngời sẽ có tácdụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ làmcon ngời bị lệ thuộc vào chúng và cuối cùng gây nênnhững tổn thơng cho từng cá nhân và cộng đồng[21, tr.406].
Các chất ma tuý đợc chia thành sáu nhóm sau:
1 Các chất thuốc phiện (Opiates) gồm thuốc phiện,Morphine, Heroine
2 Các chất cần sa (Canabis sativa) gồm thảo mộc cầnsa(Marijuana); nhựa cần sa(Hashish); tinh dầu cần sa(dầuhashish)
3 Các chất coca thuộc họ enthôlon gồm bột coca, caococa và cocain
4 Các chất kích thích(Stimulans)
5 Các chất ức chế (Depresssants)
6 Các chất gây ảo giác (Haluciogens)[2, tr.7]
Nhóm 1: Các chất thuốc phiện (Opiates) gồm thuốc
phiện, Morphine, Heroine
Thuốc phiện là chất lấy từ thân cây và vỏ quả anhtúc, có tên khoa học là Opium, đợc dùng để bào chế thuốcchữa bệnh(mophin, codein), để hút và điều chế ra các chất
ma tuý khác nh bạch phiến (heroin) Nhựa thuốc phiện cónhiều ở quả, trong y học nhựa thuốc phiện đợc dùng làmthuốc giảm đau, chữa ho, trị ỉa chảy dùng thuốc phiệnnhiều lần sẽ gây nghiện do tác động dợc lý của các ancaloittrong nhựa thuốc phiện Có khoảng 40 ancaloit trong nhựa
Trang 14thuốc phiện, trong đó có năm chất cơ bản đó là mocphin 21%, nacotin 2-2,8%, codein 0,7-3%, thebain 0,2-1%,papaverin 0,5-1,3%.
4-ở Việt Nam và các nớc láng giềng nh Trung Quốc,Lào, ngời nghiện thuốc phiện thờng dùng thuốc phiệnbằng cách hút qua tẩu Chất độc từ khói thuốc phiệnqua phổi vào máu ngời nghiện, kích kích hệ thầnkinh, gây đê mê, sảng khoái, tạo ảo giác Khi thèmthuốc phiện, nếu không đợc hút tiếp, ngời nghiện rơivào tình trạng bứt rứt, khó chịu Và nh vậy từ nghiệnthuốc phiện, họ có thể dễ đi vào con đờng phạm tội[21, tr.583]
Mophin, là một trong các chất hữu cơ (ancaloit) cơ bảncủa nhựa thuốc phiện, hàm lợng mophin có trong thuốc phiệncao nhất trong số các hợp chất của thuốc phiện, đồng thờimophin là chất chính dùng để chế ra heroin Mophin đợc cácnhà khoa học Đức chiết xuất ra từ thuốc phiện vào cuối thế
kỷ 19, mophin thờng đợc sử dụng dới dạng bột kết tinh, bộtmophin không mùi, có vị đắng, thờng có các màu trắng,xám, cà phê Mophin có tác dụng giảm đau, gây ngủ, đợc sửdụng liểu nhỏ trong y tế dới dạng thuốc tiêm, thuốc uống đểgiảm đau, đặc biệt là đau mãn tính hoặc chuẩn bị gây
mê Do có tác dụng trực tiếp đến thần kinh trung ơng nênmophin dễ gây nghiện cho ngời sử dụng, bởi mophin là chất
ma tuý mạnh
Heroin (còn gọi là diaxêtin mophin hay bạch phiến,thuốc phiện trắng), chế phẩm từ mophin đợc tinh chế từthuốc phiện, heroin có dạng bột tinh chế màu trắng, tan đợc
Trang 15trong nớc và heroin đợc các nhà khoa học Đức chiết xuất ra từnăm 1899 để làm thuốc giảm đau Heroin có tác dụng giảm
đau mạnh hơn mophin, nhng độc hại hơn nhiều lần và cókhả năng gây nghiện nhanh, thờng chỉ sau vài lần sử dụng.Ngời nghiện heroin bị suy sụp nhanh cả về thể xác lẫn tinhthần Nếu sử dụng heroin liều cao sẽ gây ngộ độc, làm têliệt hệ thần kinh trung ơng
Nhóm 2: Các chất cần sa (canabis sativa) gồm thảo
mộc cần sa (Maijuana); nhựa cần sa (hashish); tinh dầu cần
sa (dầu hashish)
Cây cần sa là cây thân thảo mộc, thuộc họcanabinaceae, cao từ 2-3 mét, thân mọc thẳng, đờng kínhthân cây từ 3-6 cm, có nhiều nhánh, quả hình tròn, nhọn,
có màu xám trơn
Thảo mộc cần sa: Đây là loại cõy có hàm lợng chất gâynghiện từ 0,5-5%, chất gõy nghiện đợc sản xuất từ lá, hoa và hạtcần sa, sau khi thu hoạch đợc ép thành bánh với khối lợng vàhình dáng khác nhau, thờng đợc đóng thành bánh có trọng l-ợng 2-10 kg
Nhựa cần sa: Loại này đợc chiết xuất từ thân, lá, hoa
và hạt cần sa, sau khi phơi khô đợc đem chng cất hoặc éplấy nhựa
Tinh dầu cần sa: Loại này đợc chiết xuất từ thảo mộccần sa hoặc nhựa cần sa, chứa hàm lợng chất gây nghiệnrất cao từ 10-30%
Ngày nay các chất đợc chiết xuất từ cần sa đợcdùng trong y học hiện đại làm thuốc an thần, thuốc
Trang 16trị các bệnh ho, giảm đau Cần sa dùng nhiều sẽ gâynghiện, làm tổn hại tới sinh lý và thể lực, do có tác
động lên thần kinh trung ơng, gây kích thích và ảogiác cho ngời sử dụng [21, tr.81]
Nhóm 3: Các chất coca thuộc họ Erithrxylaceae, là cây
thân gỗ, lá đơn, tròn to hình bầu dục, mọc so le, cuốngngắn kèm hai lá nhỏ biến đổi thành gai Lá đợc phơi rồi sấykhô nghiền bột, dùng để chế cocain, từ xa xa ngời dân Nam
Mỹ đã dùng lá coca nhai với vôi nh một thứ thuốc kích thíchgiúp tinh thần thêm sảng khoái, không còn cảm giác đói, làmviệc khỏe hơn và dùng coca sau một thời gian sẽ bị nghiện
Cocain: Là hợp chất (ancaloit) chính trong lá cây coca
có dạng bột tinh thể màu trắng, ít tan trong nớc nhng tan đợctrong êtanon và ête, cocain có tác dụng gây tê tại chổ, tác
động lên dây thần kinh trung ơng, gây cảm giác hoang ởng, kích thích, hng phấn Cocain là loại ma tuý nguy hiểm,thờng đợc dùng dới dạng thuốc tiêm hoặc thuốc hút, tuỳ thóiquen sử dụng của ngời nghiện
t-Nhóm 4: Các chất kích thích(Stimulants).
Nhóm chất kích thích chủ yếu là các chất ma tuýtổng hợp đợc sản xuất trong phòng thí nghiệm cũng có tácdụng an thần, kích thích và gây ảo giác nh các chất ma tuý
tự nhiên Nhóm chất kích thích chủ yếu là chất Amphetamin
và các chất dẫn xuất của nó, sau khi dùng ngời nghiện rơi vàotrạng thái có thể sẵn sàng phạm tội trong vô thức, do tácdụng kích thích, tạo cảm giác sảng khoái giả tạo của thuốc
Trang 17Nhóm 5: Các chất an thần (Barbiturat, Diazepan hay
Selusen)
Các chất an thần này, trong y tế đợc dùng làm thuốcngủ, dùng lâu sẽ gây nghiện, dùng quá liều sẽ dễ bị mất trínhớ, nói ngọng, ảo giác, với liều cao sẽ gây ngộ độc và dẩn tới
tử vong
Nhóm 6: Các chất gây ảo giác (Haluciogens).
Các chất gây ảo giác chủ yếu là chất ma tuý tổng hợp,trong y học chất này dùng để điều trị bệnh rối loạn thầnkinh Có tác dụng tác động lên thần kinh trung ơng, đặcbiệt là giác thị, khiến ngời nghiện nhìn sự vật bị sai lệch,khuếch đại hoặc méo mó
1.1.1.2 Khái niệm tội phạm về ma tuý
Cũng nh các tội phạm khác, tội phạm về ma tuý là:
“những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đợc quy định trongBLHS, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiệnmột cách cố ý ’’(khoản 1, điều 8 BLHS 1999) Hay nói mộtcách khác, tội phạm về ma tuý cũng là ‚“ hành vi nguy hiểmcho xã hội, có lỗi trái pháp luật hình sự và phải chịu hìnhphạt’’ Các tội phạm về ma tuý đợc Nhà nớc ta xác định làmột loại tội phạm nghiêm trọng [45, tr.493]
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tình hình nghiệnhút và buôn lậu ma túy diễn ra hết sức nghiêm trọng, đã trởthành thảm họa chung của toàn nhân loại Con ngời khi sửdụng một vài lần các chất ma túy sẽ có nhu cầu đợc cung cấpthờng xuyên với liều lợng ngày càng cao hơn Chất ma túy vào
Trang 18cơ thể sẽ gây ra sự rối loạn về tâm sinh lý và tàn phá, hủyhoại sức khỏe; khi không đáp ứng đợc nhu cầu họ sẽ lên cơnvật vã, đau đớn về thể xác và có thể làm tất cả những gì
kể cả tội ác để giải tỏa cơn nghiện Nạn nghiện hút, tiêmchích ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe conngời mà còn làm khánh kiệt kinh tế gia đình và xã hội, lànguyên nhân xô đẩy ngời lơng thiện vào con đờng phạmtội Vì vậy, Nhà nớc phải độc quyền và thống nhất quản lýcác chất ma túy với những qui định rất nghiêm ngặt Vi phạmcác qui định về chế độ quản lý các chất ma túy không chỉgây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nớc
mà còn tạo ra một lớp ngời nghiện, làm suy thoái nòi giống,phẩm giá con ngời, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh h-ởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và an ninh quốc gia Dotác hại lâu dài và nhiều mặt của việc vi phạm các quy định
về chế độ quản lý chất ma túy nh vậy nên mọi hành vi viphạm ở bất kỳ khâu nào của quá trình quản lý chất ma túy
đều bị quy định là tội phạm Căn cứ vào các điều luật vềtội phạm ma túy trong BLHS năm 1999, tội phạm ma túy đợchiểu là "hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất matúy của Nhà nớc" [47, tr.490]
BLHS năm 1999 qui định 10 điều luật về tội phạm matúy gồm: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác
có chứa chất ma túy (Điều 192); Tội sản xuất trái phép chất
ma túy (Điều 193); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán tráiphép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194); Tội tàng trữ,
Trang 19vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vàoviệc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195); Tội sản xuất,tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phơng tiện, dụng cụ dùngvào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều196); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197);Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198);Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199); Tội cỡng bức, lôikéo ngời khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200); Tội viphạm qui định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặccác chất ma túy khác (Điều 201).
Tội phạm ma túy cũng có những đặc điểm chung nhcác tội phạm khác về tính nguy hiểm cho xã hội, tính tráipháp luật hình sự, tính có lỗi và tính chịu hình phạt Tuynhiên tội phạm ma túy cũng có những đặc điểm riêng so vớicác loại tội phạm khác nh:
- Có tính nguy hiểm cao cho xã hội: Đợc biểu hiện ở
chỗ, các tội phạm về ma túy đều trực tiếp, hoặc gián tiếpliên quan đến ma túy, xâm phạm tới sự độc quyền quản lýchất ma túy của Nhà nớc, để cho ma túy xâm nhập vào cộng
đồng làm gia tăng số ngời nghiện, gây tác động xấu vềnhiều mặt nh kinh tế, chính trị, văn hóa và trật tự an toànxã hội; xâm hại nghiêm trọng tới tính mạng, sức khỏe của conngời; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác
- Có tính chống đối pháp luật rất cao: Các đối tợng
phạm tội ma túy thờng có nhân thân xấu, khi bị phát hiệnthờng chống trã hết sức quyết liệt bằng vũ khí Khi một mắt
Trang 20xích trong đờng dây tội phạm ma tỳy bị lộ, để bảo đảm antoàn cho hoạt động phạm tội của mình, bọn tội phạm sẵnsàng thủ tiêu đồng phạm.
- Tính bí mật, khép kín, cắt đoạn và kéo dài của hoạt động phạm tội: "Đặc tính hình sự nổi bật của tội phạm
ma tuý là tính “cắt đoạn” và tính “trờng diễn”, hoạt độngtheo đờng dây chặt chẽ thờng là các thành viên trong gia
đình họ hàng, chất ma tuý gọn nhẹ, lãi xuất cao” [47, tr.39]
Nh vậy, để bảo đảm tuyệt đối bí mật cho hoạt độngphạm tội, bọn tội phạm ma túy thờng hình thành các đờngdây chìm, khép kín từ ngời mua đến ngời vận chuyển vàngời bán, khép kín trong một nhóm đối tợng và thờng lànhững ngời thân nh: vợ chồng, con cái, anh chị em…; đặcbiệt là tính cắt đoạn, ngời nào biết việc ngời ấy, không biếttới ngời thứ ba thể hiện tính chia cắt rất nghiêm ngặt Tínhliên hoàn đó là một chuỗi hành vi phạm tội, từ sản xuất, tàngtrữ, vận chuyển, mua bán đến ngời sử dụng; đặc biệt dotính chất siêu lợi nhuận của mua bán ma túy mang lại, nênkhông dễ gì khi đã bớc vào con đờng phạm tội mà tự dứt bỏ
ra đợc; mặt khác, đã tham gia đờng dây mua bán ma túy lớnnếu tự ý rút khỏi đờng dây cũng rất dễ bị đồng bọn thủtiêu Vì vậy các hành vi phạm tội thờng kéo dài nhiều nămliền
Vì vậy, BLHS qui định về tội phạm ma túy có tínhnguy hiểm cho xã hội cao hơn so với các tội phạm khác (trừcác tội xâm phạm an ninh quốc gia), nên trong 10 điều luật
Trang 21qui định về tội phạm ma túy, có 3 điều qui định tội cómức cao nhất của khung hình phạt là tử hình (khoản 4
Điều 193, khoản 4 Điều 194, khoản 4 Điều 197), 3 điều qui
định tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tù chungthân (khoản 4 Điều 195, khoản 4 Điều 200, khoản 4 Điều201); 12 trờng hợp là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, 8 tr-ờng hợp là tội phạm rất nghiêm trọng, 10 trờng hợp là tộiphạm nghiêm trọng và chỉ có 2 trờng hợp là tội ít nghiêmtrọng Xuất phát từ đặc điểm này mà việc ADPL đối vớingời phạm tội về ma túy thờng nghiêm khắc hơn so với cáctội phạm khác
Đối với các vụ án mua bán, vận chuyển trái phép chất
ma túy với qui mô lớn thờng đợc ngời phạm tội tổ chức rấtchặt chẽ thành những đờng dây xuyên quốc gia, nhng lạikhông giống nh tổ chức của các vụ án có tính chất tổ chứckhác, ngời chỉ huy, phân công, điều hành không lộ diện, có
vụ có rất đông ngời tham gia vào đờng dây vận chuyển,mua bán ma túy nhng thông thờng chỉ ngời thứ nhất biết ng-
ời thứ hai chứ không biết ngời thứ ba Cũng chính vì đặc
điểm này mà hoạt động điều tra, khám phá các đờng dây
ma túy rất khó khăn, không ít những vụ án sau khi xét xử mớiphát hiện trong đờng dây vận chuyển, mua bán ma túy còn
có những ngời phạm tội khác, cá biệt có trờng hợp trớc khi thihành án tử hình, ngời bị kết án tử hình mới khai ra đồngphạm
Đối với những hành vi mua bán ma túy có tính chất tiêu
Trang 22thụ, ngời phạm tội thờng chia ma túy thành những gói nhỏ(tép, chỉ…) để bán cho các con nghiện Việc tổ chức tiêuthụ ma túy rất tinh vi, ngời phạm tội thờng sử dụng những
địa điểm thuận lợi, có phân công ngời canh gác, khi các lựclợng chống ma túy phát hiện thì chúng tẩu thoát dễ dàng
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy,ngời phạm tội chủ yếu là những ngời bán lẻ ma túy cho connghiện, sau đó cho họ mợn luôn địa điểm, dụng cụ để họhút, chích ma túy, ít có trờng hợp ngời phạm tội đứng ra tổchức nh kiểu tổ chức đánh bạc
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về matúy thời gian qua còn cho thấy, ngời có hành vi vận chuyển,mua bán trái phép chất ma túy ít khi bị bắt quả tang, nếu
có bị bắt quả tang thì cũng chỉ bị bắt với trọng lợng ma túy
ít, còn chủ yếu là bắt đợc ngời mua ma túy để sử dụng và
từ lời khai của ngời sử dụng ma túy CQĐT mới xác minh, truytìm ngời bán ma túy Khi ngời mua ma túy để sử dụng bịbắt thì lập tức ngời bán ma túy đã kịp tẩu tán hoặc bỏ trốnnếu có nguy cơ bị lộ Trờng hợp ngời mua chất ma túy khai rangời bán chất ma túy cho mình, nhng nếu chỉ có lời khaicủa ngời mua chất ma túy mà không có các nguồn chứng cứkhác mà ngời bán ma túy không nhận tội thì cũng rất khó xửlý
Nắm chắc những đặc điểm của tội phạm về ma túy
sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng và ngời tiến hành tốtụng có những phơng pháp phù hợp trong việc áp dụng các qui
Trang 23định của BLHS và BLTTHS vào việc điều tra, truy tố các vụ
án về ma túy
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dân
“Công tố’’ là từ ghép Hán-Việt, đợc hình thành bởi hai
từ đơn “công’’ và “tố’’ Theo đại từ điển tiếng việt, “công’’
có nghĩa là “thuộc về Nhà nuớc, tập thể, trái với t’’, còn “tố’’
có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của ngời khác một cách công khai trớc ngời có thẩm quyền hoặc trớc nhiều ngời;
“Công tố’’ có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trớc Toà án’’ [47, tr.453, 459, 1660].
Nh vây, công tố là một khái niệm rộng, bao gồm cácnội dung: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phátbiểu ý kiến trớc Toà án Trong công tố, ngời thực hiện sự buộctội là Nhà nớc, đối tợng bị Nhà nớc cáo buộc là các chủ thể có
hành vi vi phạm pháp luật Công tố, vì thế đợc hiểu là “ sự cáo buộc của Nhà nớc đối với ngời đã có hành vi vi phạm pháp
Trang 24luật trớc Toà án ’’[10, tr.14].
ở Việt Nam, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đợcthành lập ngày 26 tháng 7 năm 1960 với chức năng chủ yếukhi đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảotính thống nhất của pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 1980 và Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, khái niệm
“quyền công tố’’ và “thực hành quyền công tố’’ lần đầu tiên
đợc xuất hiện bên cạnh khái niệm truyền thống" kiểm sátviệc tuân theo pháp luật" Từ đó đến nay, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu đề cập đến khái niệm này, song vẫn cònnhiều quan điểm khác nhau về QCT Có thể khái quát một sốquan điểm chính sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, mọi hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là việc thực hành quyền công
tố (THQCT) Những ngời theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm QCT với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND Theo họ, công tố không phải là chức năng
độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [27,
tr.85-87]
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền
của Nhà nớc giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thựchiện sự buộc tội tại phiên Toà [35, tr.19] Theo họ, quyền công
tố chỉ có trong tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ diễn ra
ở giai đoạn xét xử sơ thẩm(tức là chỉ có truy tố và buộc tộitại phiên Toà)
Trang 25Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền
đại diện cho Nhà nớc đa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, bảo
vệ trật tự pháp luật Đây là quan điểm chính thống của ngành Kiểm sát giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985, và đ-
ợc đa vào chơng trình giảng dạy chính thức của Trờng Cao
đăng Kiểm sát Hà Nội, và thờng xuyên nhắc đến trong các văn bản hớng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề tổng kết thực tiển của ngành Kiểm sát [27, tr.84-87].
Quan điểm thứ t cho răng, quyền công tố là quyền
của Nhà nớc giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trongviệc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội [35,tr.10] Theo quan điểm này, không chỉ VKS mà các cơ quantiến hành tố tụng khác nh Cơ quan điều tra (CQĐT), Toà án
đều đợc thực hiện quyền công tố, và quyền công tố đợcthực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng, từ khi khởi tố, điềutra, truy tố, xét xử
Quan điểm thứ năm cho rằng, công tố là sự cáo buộc
của Nhà nớc đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạmpháp luật hành chính, dân sự, kinh tế và luật hình sự [35,tr.11] Theo quan điểm này, QCT chỉ thuộc Nhà nớc Nhà nớc
là ngời ban hành pháp luật, nên Nhà nớc phải có trách nhiệmbảo vệ pháp luật Quyền công tố của Nhà nớc không chỉ đợcthực hiện trong tố tụng hình sự mà còn đợc thực hiện trong
tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và hành chính
Trên đây là một số quan điểm khác nhau tồn tại kháphổ biến hiện nay về khái niệm quyền công tố Tuy nhiên,
Trang 26mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý riêng, nhngnhìn chung các quan điểm này vẫn không tránh khỏi nhữngbất cập nhất định, nhìn từ mọi khía cạnh: pháp luật thực
định, khoa học và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tpháp (CQTP) Do cha xác định đúng đối tợng, nội dung vàphạm vi QCT trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật,nên các quan điểm trên hoặc thu hẹp hoặc mở rộng phạm vicủa QCT vợt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự, dẫn đến việcxem nhẹ bản chất của QCT nh là một hoạt động độc lậpnhân danh quyền lực công của VKS
Theo chúng tôi, để làm rỏ khái niệm quyền công tố,cần xuất phát từ những cơ sở có tính nguyên tắc dới đây:
Một là, quyền công tố là quyền của Nhà nớc, xuất hiện
cùng với sự ra đời của Nhà nớc và thay đổi theo bản chất củaNhà nớc Duy trì các xung đột xã hội trong vòng trật tự là nhucầu tự thân của Nhà nớc, là trách nhiệm xã hội của Nhà nớcchứ không phải trách nhiệm của cá nhân hay một nhóm ngời,vì đó là môi trờng tồn tại của Nhà nớc, nó bảo đảm và bảo
vệ trớc hết lợi ích của Nhà nớc (đại diện là giai cấp thống trịtrong xã hội) cũng nh các lợi ích chung có liên quan Vì thế,cần phải làm rõ yếu tố lợi ích chung của Nhà nớc với tính cách
là đối tợng bảo vệ của quyền công tố
Hai là, quyền công tố luôn luôn gắn liền với quyền tài phán của Toà án Đó là quyền đa vụ án ra Toà án và “buộc tội’’ ngời phạm pháp tại Toà án Tuy vậy, cũng cần nhận thức
rằng, không có nghĩa cứ đa vụ án ra Toà án mới là thực
Trang 27hành quyền công tố Trên thực tế, quyền công tố có thể bịtriệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tợng tác động củaquyền công tố có đủ căn cứ để quyết tụng Chẳng hạn,các trờng hợp đình chỉ vụ án và đình chỉ bị can theoquy định tại điều 164, 169 Bộ luật tố tụng Hình sự năm
2003 Đơng nhiên, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì thựchành quyền công tố cũng chấm dứt
Ba là, về mặt nguyên tắc, QCT chỉ do một cơ quan
thực hiện và phải độc lập với quyền tài phán của Toà án, ở nớc
ta thực hiện quyền này là VKS Quyền công tố phải đợc thựchiện ở nội dung cụ thể của nó trong tất cả các giai đoạn tốtụng, từ khởi tố, điều tra đến đa vụ án ra Toà án để xét xử
và buộc tội trớc Toà án chỉ là những nội dung hoạt động cụthể của QCT Vì vậy, hoàn toàn không thể đồng tình với cácquan điểm cho rằng, việc pháp luật giao cho CQĐT, Toà án vàcác cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra nh quyền khởi tố vụ án, bị can, cũng nhquyền áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngănchặn, thì các cơ quan này cũng là những cơ quan thựchành quyền công tố
Chúng tôi đông tình với quan điểm cho rằng, “ Quyềncông tố nh một sợi dây quyện chặt vào suốt quá trình tốtụng về vụ án mà nòng cốt là việc đa vụ án ra Toà Việc chiacắt hay lấy một vài quyền năng thuộc nội dung quyền công
tố và cho rằng có nhiều cơ quan thực hành quyền công tố làsai lầm không thể chấp nhận đợc, không phải chủ thể nào có
Trang 28quyền khởi tố vụ án hình sự, cũng đều là chủ thể thựchành quyền công tố mà phải xác định chủ thể nào đợc giaonhiệm vụ đa vụ án ra Toà, thì chủ thể ấy chính là cơ quanthực hành quyền công tố’’ [10, tr.27]
Từ những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng, quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nớc giao cho Viện kiểm sát nhân danh Nhà nớc thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội ra trớc Toà án để thực hiện việc xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên Toà nhằm
đảm bảo việc truy tố đúng ngời, đúng tội và đúng pháp luật.
- Đối tợng, nội dung và phạm vi quyền công tố
+ Đối tợng của quyền công tố đợc hiểu là cái mà quyềncông tố tác động vào nhằm đạt đợc mục đích cụ thể nào
đó Hiện nay, do đang còn nhiều quan điểm khác nhau vềkhái niệm quyền công tố, nên nhận thc về đối tợng củaquyền công tố cũng khác nhau, ứng với mỗi quan điểm vềkhái niệm quyền công tố, cũng có một quan niệm khác nhau
về đối tơng, nội dung và phạm vi quyền công tố Chẳng hạn,quan điểm đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sátviệc tuân theo pháp luật cho rằng, đối tợng của quyền công
tố là sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tốtụng, ngời tiến hành tố tụng và ngời tham gia tố tụng; quan
điểm coi quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nớc để
đa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử
để bảo vệ lợi ích của Nhà nớc, bảo vệ trật tự pháp luật vàquan điểm coi quyền công tố là quyền của Nhà nớc cáo buộc
Trang 29đối với cá nhân, tổ chức xã hội đã vi phạm pháp luật quanniệm:
Đối tợng của quyền công tố là các hành vi vi phạmpháp luật; quan điểm coi quyền công tố là quyền củaNhà nớc nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với ngời có hành vi phạm tội hoặc ngời có hành vi viphạm pháp luật liên quan đến lợi ích chung quan niệm,
đối tợng của quyền công tố là tội phạm và những vụviệc xâm hại lợi ích chung trong lĩnh vực dân sự, hànhchính [35, tr.19]
Với nhận thức quyền công tố nh đã nêu ở phần trên,chúng tôi cho rằng, đối tợng của quyền công tố chỉ là tộiphạm và ngời phạm tội Bởi vì, trong bất kỳ xã hội nào cũngvậy, tội phạm luôn là hành vi nguy hiểm nhất của xã hội, xâmphạm hoặc đe doạ xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức, lợi ích Nhà nớc, đến an ninh chung của xã hội.Khi có tội phạm xảy ra, nhà nớc (thông qua các cơ quan tiếnhành tố tụng) thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử đối vớingời phạm tội, buộc họ phải gánh những hậu quả bất lợi do cácchế tài luật hình sự đặt ra Đây là những tế tài nghiêmkhắc nhằm trừng trị ngời phạm tội, giáo dục họ và những ng-
ời khác ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi íchhợp pháp của ngời khác cũng nh lợi ích chung của xã hội, bởivậy đối tợng quyền công tố chính là tội phạm và ngời phạmtội Quyền công tố luôn mang tính cụ thể, chỉ phát sinh khi
có tội phạm xảy ra và đối với ngời thực hiện tội phạm đó
+ Nội dung quyền công tố:
Trang 30Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về nội dungquyền công tố, nhng xuất phát bản chất của quyền công tố,
chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với ngời đã thực hiện tội phạm Còn việc tiến hành những biện pháp gì và cơ quan nào đợc giao thực hiện các biện pháp ấy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội là nội dung của thực hành quyền công tố[10, tr.36]
+ Phạm vi quyền công tố:
Quan niệm phạm vi quyền công tố hiện cũng có nhiều
ý kiến khác nhau, qua tổng hợp nghiên cứu thấy nổi lên một
số loại ý kiến sau:
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, QCT không những cótrong lĩnh vực TTHS mà còn trong các lĩnh vực tố tụng t phápkhác nh tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
Theo ý kiến này, phạm vi QCT là quá rộng và khôngphân định đợc bản chất của QCT, từ đó dẫn đến sự nhầmlẫn giữa quyền công tố và chức năng khác của VKS
Loại ý kiến thứ hai cho rằng, QCT có trong tố tụng hình
sự, song phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi có quyết
định truy tố và kết thúc ở phiên Toà sơ thẩm Nh vây, tráivới quan điểm thứ nhất, ý kiến này thu hẹp phạm vi QCT.Mặt khác, nó còn làm khó khăn trong việc xác định một sốhoạt động trong TTHS, có liên quan đến QCT; nh hoạt độngkhởi tố vụ án, khởi tố bị can, kháng nghị vụ án
Loại ý kiến thứ ba cho rằng, phạm vi quyền công tố bắt
Trang 31đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi ngời phạm tộichấp hành bản án [35, tr.23] Theo ý kiến này, QCT là truycứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với ngời phạm tội.
Theo tác giả luận văn, ngay khi bản án có hiệu lực phápluật, không bị kháng nghị thì việc kết tội kết thúc QCT vớinghĩa là quyền đại diện cho Nhà nớc để truy tố và buộc tội
đối với ngời phạm tội tại phiên Toà không còn nữa Vì vậy,không thể quan niệm QCT kéo dài đến giai đoạn thi hành
án Vì vậy luận văn đồng tình với quan điểm cho rằng“phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm đợc thựchiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật’’[35, tr.23]
* Thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
Thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra là một bộ phận cấuthành hoạt động THQCT của Viện KSND Bởi vậy, để đi đến khỏi niệm thốngnhất về THQCT ở giai đoạn điều tra của Viện KSND, làm rừ đối tượng, nộidung và phạm vi của hoạt động này, trước hết cần làm rừ một số vấn đề vềTHQCT núi chung, đú là khỏi niệm, đối tượng, nội dung và phạm vi của thựchành quyền cụng tố
- Khỏi niệm thực hành quyền cụng tố:
Trong cụng cuộc cải cỏch tư phỏp hiện nay ở nước ta, một trongnhững vấn đề cú ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của khoa học phỏp lý
là việc xỏc định QCT và theo đú là THQCT của Viện KSND, bởi đõy lànhững vấn đề liờn quan trực tiếp đến việc xỏc định vị trớ, vai trũ của VKStrong hệ thống cơ quan nhà nước núi chung và trong mối quan hệ với cỏcCQTP núi riờng, cũng như chức năng, nhiệm vụ của VKS, đặc biệt là trong tốtụng hỡnh sự
Trang 32Tuy nhiên, ở nước ta từ trước đến nay, trong giới khoa học pháp lýmới chỉ chú trọng đến những vấn đề liên quan đến QCT, trong khi đó việcnghiên cứu để làm rõ khái niệm, nội dung, phạm vi thực hành quyền công tố,mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với việc thực hiện chức năng kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập Vì lẽ
đó, trong nhận thức của không ít người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn
ở trong cũng như ngoài ngành Kiểm sát vẫn nhầm lẫn giữa QCT và THQCTtrên các phương diện như đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố vàthực hành quyền công tố Họ luôn gắn quyền công tố chỉ với VKS, coi đó làquyền của Viện kiểm sát Do đó đã không lý giải được nhiều vấn đề như việcCQĐT, Tòa án sử dụng các quyền năng pháp luật quy định để khởi tố vụ án,
bị can, ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn thì có phải các cơ quan này cũng thực hành quyền công tố hay không?
Như chúng tôi đã phân tích ở phần trên, quyền công tố là quyền củaNhà nước, gắn liền với bản chất từng kiểu nhà nước và chỉ có trong lĩnh vực
tố tụng hình sự Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra
và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc khi có một trong nhữngcăn cứ làm triệt tiêu quyền công tố theo quy định của pháp luật Đối tượng tácđộng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Để bảo đảm thực hiệnquyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm, Nhà nước ban hànhpháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Và
cơ quan nào được Nhà nước giao thực hiện các quyền năng pháp lý này đểphát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tộiđược gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố Ở nước ta, đó là
hệ thống cơ quan Viện kiểm sát
Từ nhận thức trên, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng:
"Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý
Trang 33thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử" [35, tr.27].
- Phạm vi thực hành quyền công tố: Theo quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố ởtất cả các giai đoạn tố tụng, từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử (baogồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)
Để xác định được chính xác phạm vi thực hành quyền công tố, cầnxem xét đến phạm vi của quyền công tố, bởi QCT là cơ sở, nền tảng để thựchành quyền công tố Như đã đề cập ở phần trên, QCT phát sinh ngay khi cótội phạm xảy ra, bởi mục đích của TTHS là nhằm bảo đảm mọi tội phạm xảy
ra đều phải được phát hiện và xử lý trước pháp luật Do đó, về mặt nguyêntắc, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi QCT phải được phát động Song, để có
cơ sở phát động quyền công tố phải có một giai đoạn chuẩn bị để thu thập tàiliệu, chứng cứ về tội phạm xảy ra như: tiếp nhận, xác minh tin báo, tố giác vềtội phạm, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu trước khi khởi tố vụ ánnhư: khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai của những người có liên quanhoặc những người biết về vụ việc Còn THQCT chỉ phát sinh khi có quyếtđịnh khởi tố vụ án Trên thực tế, có không ít tội phạm xảy ra nhưng khôngđược phát hiện để khởi tố (Khoa học tội phạm học gọi chúng là tội phạm ẩn).Yêu cầu phát hiện kịp thời và khởi tố điều tra mọi hành vi phạm tội đươngnhiên là vấn đề có tính nguyên tắc Bởi vì, Nhà nước có trách nhiệm nhândanh xã hội truy cứu TNHS đối với mọi người phạm tội Quyền công tố luôn
"treo trên đầu" đối với tất cả những người đã thực hiện hành vi phạm tộinhưng chưa bị phát hiện để khởi tố điều tra Điều này có nghĩa là, phạm viQCT bao giờ cũng rộng hơn phạm vi thực hành quyền công tố Về mặtnguyên tắc, phạm vi QCT bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra (vì lúc đó đã xuấthiện mối quan hệ giữa Nhà nước với người phạm tội) và kết thúc khi bản án
Trang 34có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị (quyền truy cứu trách nhiệm hình
sự đã đạt được thông qua bản án có hiệu lực pháp luật) Trên thực tế, khôngphải trường hợp nào QCT cũng kéo dài đến khi bản án có hiệu lực pháp luật
mà quyền này có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy địnhcủa pháp luật, đó là các trường hợp Cơ quan điều tra hoặc VKS đình chỉ vụ
án, bị can Khi quyền công tố chấm dứt thì thực hành quyền công tố cũngchấm dứt
Như vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ
án và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc khi vụ án được đìnhchỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự [35, tr.31]
- Nội dung thực hành quyền công tố:
Nội dung thực hành quyền công tố là những biện pháp được pháp luậtquy định mà VKS sử dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội Tuyvậy, thực tế vẫn còn tình trạng nhầm lẫn giữa chức năng thực hành quyềncông tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (HĐTP) của Viện kiểmsát Cần phải thống nhất nhận thức rằng, "Những quyền năng pháp lý màVKS trực tiếp quyết định và liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo thì đó
là những quyền năng thuộc nội dung THQCT; những quyền năng pháp lý màVKS sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của cơ quantiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là những quyền năng thuộc chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật" [10, tr.45]
Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, nội dung thực hành quyền công tố củaViện kiểm sát nhân dân bao gồm:
+ Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những biện pháp phát động quyềncông tố, mở đầu quá trình điều tra xử lý TNHS đối với tội phạm và ngườithực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, phát động quyền công tố không phải là
Trang 35quyền năng riêng có của Viện kiểm sát Theo quy định của Bộ luật Tố tụngHình sự (Điều 104), các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, bị can baogồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan khác được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội Biên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển Trên thực tế, việc khởi tố vụ án,khởi tố bị can chủ yếu do CQĐT các cấp tiến hành, số vụ án VKS trực tiếpkhởi tố hầu như không đáng kể Tuy vậy, Viện kiểm sát vẫn là cơ quan duynhất được quyền khởi tố vụ án hình sự một cách độc lập, không chịu sự ràngbuộc về mặt cơ chế tố tụng của bất kỳ một cơ quan Nhà nước nào.
Viện kiểm sát cũng có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án,
bị can để xử lý trước pháp luật; có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố hoặcquyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra và các cơ quan khácđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Đồng thời, Việnkiểm sát cũng có quyền kháng nghị đối với những quyết định khởi tố vụ ánkhông có căn cứ của Tòa án các cấp
Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra và các cơ quan khácđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi ngaycho Viện kiểm sát để xem xét phê chuẩn trong thời hạn 24 giờ, kể từ thờiđiểm ra quyết định khởi tố Viện kiểm sát sẽ xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏquyết định khởi tố nếu quyết định khởi tố đó không có căn cứ và trái phápluật trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can vàcác tài liệu liên quan đến việc khởi tố của Cơ quan điều tra
+ Những biện pháp áp dụng TNHS đối với người phạm tội gồm có:
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạmgiam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn cácquyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của Cơquan điều tra theo quy định của pháp luật;
Trang 36- Phê chuẩn lệnh khám xét của Cơ quan điều tra.
+ Những biện pháp xử lý vụ án gồm:
- Quyết định truy tố bị can ra Tòa để thực hiện việc xét xử;
- Quyết định đình chỉ vụ án, bị can theo quy định của pháp luật
Cơ quan điều tra cũng có quyền đình chỉ điều tra vụ án, bị can nhưngphải luôn được đặt dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát Qua kiểm sát, nếuViện kiểm sát phát hiện việc đình chỉ đó không có căn cứ và trái pháp luật thìViện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ để phục hồi điều trahoặc ra quyết định hủy bỏ và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra
+ Những hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát tạiphiên tòa, gồm có: đọc cáo trạng, thẩm vấn, luận tội tại phiên tòa sơ thẩm;phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của bị cáo cókháng cáo, kháng nghị tại các phiên tòa xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩmhoặc tái thẩm
Như vậy, theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát có rất nhiều quyềnnăng pháp lý cụ thể để thực hành quyền công tố Trong số đó, trừ quyền truy tố bịcan ra tòa là quyền duy nhất chỉ có ở Viện kiểm sát, các quyền khác thì Cơ quanđiều tra, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra cũng có quyền thực hiện Chính vì vậy, hiện vẫn tồn tại nhiều quanđiểm cho rằng, các cơ quan trên cũng thực hành quyền công tố
Ở đây đã có sự nhầm lẫn giữa quyền năng tố tụng với quyền của
cơ quan công tố Chỉ có cơ quan nào sử dụng tất cả các quyền năngpháp lý cần thiết để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạmtội mới là cơ quan thực hành quyền công tố Ở nước ta chỉ có Viện kiểmsát là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố, Cơ quan điều tra chỉ làngười hỗ trợ Viện kiểm sát đưa vụ án ra tòa, Tòa án chỉ xét xử những tộiphạm và người phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố [10, tr.46]
Với những phân tích trên có thể quan niệm, nội dung thực hành quyền
Trang 37cụng tố là việc Viện kiểm sỏt sử dụng cỏc quyền năng tố tụng độc lập do phỏpluật quy định nhằm truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự đối với người phạm tội,khụng để lọt người, lọt tội, khụng làm oan người vụ tội, được thực hiện ngay
từ khi khởi tố vụ ỏn và trong suốt quỏ trỡnh tố tụng
Từ những vấn đề đó được trỡnh bày ở trờn về khỏi nhiệm, phạm vi vànội dung của thực hành quyền cụng tố, cú thể đi đến kết luận về khỏi niệm,phạm vi và nội dung của thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra củaViện KSND như sau:
Thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sỏt nhõn dõn là việc Viện kiểm sỏt sử dụng tổng hợp cỏc quyền năng phỏp lý thuộc nội dung quyền cụng tố để truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố vụ ỏn và kết thỳc khi Viện kiểm sỏt quyết định truy tố bị can ra trước Tũa ỏn để xột xử hoặc khi vụ ỏn được đỡnh chỉ theo quy định của phỏp luật tố tụng hỡnh sự.
1.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của Viện kiểm sát nhân dân
+ Khái niệm ADPL trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của VKSND
ADPL trong thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra các tộiphạm ma tuý của VKSND là một dạng của ỏp dụng phỏp luật núi chung.ADPL trong thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra của viện kiểm sỏtnhõn dõn đối với tội phạm ma tuý thuộc trường hợp ỏp dụng phỏp luật: KhiNhà nước thấy cần thiết phải tham gia bằng hỡnh thức giỏm sỏt hoạt động củacỏc chủ thể trong cỏc quan hệ điều tra các tội phạm ma tuý Cơ sở phỏt sinhhoạt động ỏp dụng phỏp luật của Viện kiểm sỏt nhõn dõn đú là cỏc quyết địnhcủa cơ quan điều tra, cỏc hành vi của những người tiến hành tố tụng tronghoạt động TTHS Cỏc quyết định và cỏc hành vi đú cú thể được ban hành,thực hiện theo đỳng hoặc khụng đỳng quy định của phỏp luật Khi đú Nhà
Trang 38nước thụng qua hệ thống cơ quan VKSND hoạt động kiểm sỏt việc tuõntheo phỏp luật của các CQĐT, và các đơng sự, cá nhân có liênquan nhằm phỏt hiện những sai phạm, những lệch lạc Trên cơ sở đóVKSND đã dựa vào pháp luật để ra các quyết định, nhquyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc kiếnnghị đối với các chủ thể trong quá trình điều tra các vụ ánhình sự, khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, sai phạm
đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án hình sự đợc tuânthủ theo các quy định của pháp luật
Từ khỏi niệm về ỏp dụng phỏp luật núi chung và từ sự phântích về hoạt động ADPL thực hành quyền công tố của VKS ởgiai đoạn điều tra các tội phạm ma túy, chỳng ta cú thể rút rakhỏi niệm về ỏp dụng phỏp luật trong thực hành quyền cụng tố ở giai đoạnđiều tra các tội phạm ma tuý của viện kiểm nhõn dõn là hoạt động mangtính tổ chức, tính quyền lực Nhà nớc, trong đó Nhà nớcthông qua các cơ quan VKSND có thẩm quyền căn cứ vào cácquy định pháp luật hình sự, TTHS và các quy định phápluật khác để ra các quyết định cá biệt(văn bản ADPL) làmphát sinh thay đổi, chấm dứt các quan hệ xã hội trong giai
đoạn điều tra các tội phạm ma túy đợc nghiêm minh, đúngpháp luật
+ Đặc điểm áp dụng pháp luật thực thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của VKSND
Hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyềncụng tố ở giai đoạn điều tra các tội phạm ma tuý của viện kiểmnhân dân có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra nói chung cũng nh đối với các tội phạm
Trang 39ma tuý chỉ do viện kiểm sát nhân dân tiến hành theo phápluật quy định.
Ở Việt Nam, VKS là cơ quan duy nhất thực hiện chứcnăng công tố và Kiểm sát các HĐTP Quyền công tố, nh đãphân tích ở trên là quyền của Nhà nớc truy cứu TNHS đối vớingời phạm tội, đợc thực hiện từ khi có tội phạm xảy ra và kếtthúc khi có bản án có hiệu lực của Toà án Để thực hiện chứcnăng công tố, pháp luật trao cho ngành Kiểm sát một hệthống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó có nhữngquyền chỉ VKS mới đợc thực hiện nh quyền truy tố bị can raToà để xét xử; bên cạnh đó có những quyền CQĐT đợc thựchiện nh khởi tố vụ án, bị can, ra lệnh bắt, tạm giữ, tạmgiam…đối với các tội phạm ma tuý, chủ yếu do CQĐT tiếnhành, hàng năm số vụ án về ma tuý rất nhiều Tuy nhiên, VKSvẫn là cơ quan duy nhất đợc thực hiện quyền công tố độclập Tất cả các lệnh, quyết định của CQĐT liên quan đến vụ
án, bị can đều phải đợc đặt dới sự kiểm sát của VKS, trong
đó có một số lệnh, quyết định phải đợc sự phê chuẩn trớccủa VKS mới có giá trị pháp lý nh quyết định khởi tố bị can,lệnh gia hạn tạm giữ, tạm giam… trong điều tra, VKS khôngtrực tiếp điều tra vụ án, và cũng không phải là cơ quan giữvai trò chính trong việc khởi tố vụ án, bị can cũng nh ra cácquyết định, nhng không vì thế mà vai trò của VKS bị giảmsút Với t cách là cơ quan duy nhất đợc pháp luật trao thựchành quyền công tố, VKS đợc sử dụng mọi quyền năng pháp
lý do pháp luật quy định để truy cứu TNHS đối với ngờiphạm tội Mọi quyết định ADPL trong giai đoạn điều tra
đều tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của đối
Trang 40tuợng bị áp dụng Vì vậy, đòi hỏi VKS phải thận trọng, kháchquan trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ, tài liệu do CQĐTcung cấp trớc khi quyết định áp dụng pháp luật.
Thứ hai, áp dụng pháp luật trong thực hành quyền cụng
tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với tộiphạm nói chung cũng nh đối với tội phạm ma tuý nói riêng, đợctiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy địnhchặt chẽ nhằm cá biệt hoá các quy định pháp luật hình sự
và TTHS vào các trờng hợp cụ thể
Trong hoạt động điều tra, khỏm phỏ cỏc vụ ỏn hỡnh sự của cơ quan điềutra, trong thực hành quyền cụng tố và kiểm sỏt cỏc hoạt động tư phỏp của việnkiểm sỏt nhõn dõn, đú là một quỏ trỡnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai cơquan Cụng an và viện kiểm sỏt Đõy là những hoạt động rất quan trọng cú tớnhquyết định trong quỏ trỡnh giải quyết những vụ ỏn hỡnh sự Chớnh vỡ vậy nờn phỏpluật núi chung và phỏp luật tố tụng hiện hành núi riờng đó quy định rất chặt chẽviệc ỏp dụng phỏp luật trong thực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra củaViện kiểm nhõn dõn đối với tội phạm ma tuý Phỏp luật TTHS quy định chặt chẽtrỡnh tự, thủ tục của cỏc hoạt động điều tra, hoạt động giỏm sỏt như: từ việc khởi tố
vụ ỏn, khởi tố bị can, cỏc biện phỏp điều tra, cỏc biện phỏp ngăn chặn, nhập, tỏch
vụ ỏn, đỡnh chỉ, tạm đỡnh chỉ vụ ỏn, thời hiệu điều tra, thời hạn điều tra … Túm lại,Tất cả cỏc bước trong quỏ trỡnh điều tra cỏc vụ ỏn hỡnh sự, hoạt động ADPL trongthực hành quyền cụng tố ở giai đoạn điều tra của viện kiểm nhõn dõn đối với tộiphạm hình sự nói chung và tội phạm ma tuý đều được quy định chặtchẽ theo cỏc trỡnh tự thủ tục do phỏp luật TTHS hiện hành quy định
Thứ ba, áp dụng pháp luật thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra của VKSND nói chung cũng nh đốivới tội phạm ma tuý, là hoạt động ADPL cá biệt do VKS thựchiện đối với tội phạm ma tuý