Những kết quả đạt được trong hoạt động điều tra, truy tố, xét

Một phần của tài liệu Cac toi xam pham tre em (Trang 38 - 51)

Từ năm 2000 đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng đã đạt được nhiều kết quả trong điều tra, khám phá xử lý những tội phạm mà người bị hại là trẻ em. Có thể ghi nhận những kết quả này bằng những điểm chính dưới đây:

Thứ nhất, Cơ quan điều tra Công an nhiều địa phương và Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã có nhiều hình thức và biện pháp khác nhau để nắm được những thông tin về tội phạm nói chung, trong đó có các tội phạm xâm hại trẻ em, xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Hình thức phổ biến nhất mà Cơ quan điều tra hình sự các cấp trong lực lượng Công an nhân dân thường sử dụng là hòm thư tố giác tội phạm đặt tại các khu vực công cộng, nơi có nhiều người tập trung sinh sống. Chỉ tính riêng năm 2005 thông qua các "hòm thư tố giác", quần chúng nhân dân đã cung cấp cho lực lượng Công an hơn 4.500 nguồn tin, trong đó có 1.500 nguồn tin có giá trị, 250 vụ có dấu hiệu mua bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài [19, tr. 17].

Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì

thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

Ngay khi nhận được tin báo tố giác về tội phạm xâm hại trẻ em, Cơ quan điều tra đã phân công Điều tra viên khẩn trương tiến hành ngay các biện pháp nghiệp vụ, kiểm tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ xác định dấu hiệu tội phạm về hành vi phạm tội được tố giác. Việc tiến hành thẩm tra, xác minh được tập trung vào xác định độ tuổi, giới tính của người bị hại; trưng cầu giám định xác định mức độ tổn hại sức khỏe, tài sản của người bị hại là trẻ em; đối chiếu với các điều luật để xác định đúng tội danh (các dấu hiệu của tội phạm). Tổ chức các hoạt động điều tra như khám nghiệm hiện trường;

khám nghiệm tử thi; giám định y khoa (trong các vụ xâm hại về tình dục trẻ em); lấy lời khai nhân chứng v.v... Kịp thời ra các quyết định xử lý như:

Quyết định khởi tố vụ án hình sự về các tội danh xâm hại trẻ em theo các điều của Bộ luật hình sự, đảm bảo về nội dung, hình thức, thủ tục và thời gian theo quy định tại Điều 100 và Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm, các Cơ quan điều tra xác định căn cứ khởi tố;

thời điểm khởi tố; khởi tố vụ án hình sự theo tội danh nào; khởi tố ai với tư cách bị can về tội gì. Với sự cố gắng không ngừng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát các cấp, có thể nói 100% những tin báo, tố giác tội phạm liên quan đến xâm hại trẻ em đều được tiến hành thẩm tra, xác minh để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho việc điều tra xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Những kết quả này đã góp phần giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nói chung và đấu tranh phòng chống các tội phạm này nói riêng trên đất nước ta.

Thứ hai, Cơ quan điều tra thuộc lực lượng Công an nhân dân các cấp đã tổ chức phát hiện tương đối kịp thời mỗi khi có tội phạm xâm hại trẻ em xảy ra trong phạm vi toàn quốc.

Theo thống kê trong báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm từ năm 2000 đến 6 tháng đầu năm 2005 của Bộ Công an, số lượng các vụ phạm pháp hình sự về các tội phạm xâm hại đến trẻ em được phát hiện là 8.022 vụ với 8.785 người bị hại là trẻ em và số đối tượng phạm tội là 9.967 tên [12]. Nhiều vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng được Cơ quan điều tra có thẩm quyền tổ chức điều tra làm rõ tội phạm, góp phần ổn định tình hình xã hội và dư luận trong nhân dân.

Ví dụ: Ngày 17. 4. 2004 tên Lê Quang Trường 21 tuổi trú tại xã Thượng Niên- Như Xuân -Thanh Hóa đã hiếp dâm và giết chết cháu Lê Thị Thành 13 tuổi trú tại xã Thượng Niên – Như Xuân – Thanh Hóa sau đó vứt xác vào hang đá nhằm phi tang. Ngày 11.6.2004 quần chúng nhân dân mới phát hiện xác cháu Thành báo cho chính quyền sở tại. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã khẩn trương tổ chức điều tra và tiến hành bắt tên Trường, hoàn thành hồ sơ đề nghị truy tố.

Ngày 03.3.2005 Trần Huy Giang, sinh năm 1986, trú tại thị xã Hà Giang đi chơi ở gần bờ sông Miện, thấy cháu Seo Thị Hòa sinh năm 1992 (dưới 13 tuổi), trú tại Quang Trung – thị xã Hà Giang đang chơi một mình.

Giang đã thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Hòa, sau đó kéo cháu Hòa dìm xuống sông và lấy gạch đá đè lên cổ làm cháu Hòa chết. Vụ án được Cơ quan điều tra tỉnh Hà Giang tiến hành điều tra, ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần

Huy Giang và hoàn thành hồ sơ chuyển Viện Kiểm sát đề nghị truy tố theo theo pháp luật.

Trong thời gian qua các Cơ quan Cảnh sát điều tra trong lược lượng Công an nhân dân đã có nhiều cố gắng tích cực đấu tranh với các loại tội phạm xâm hại trẻ em. Nhìn chung các vụ phạm tội xâm hại trẻ em đều được phát hiện, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo Báo cáo của Bộ Công an, tùy thuộc vào tính chất, mức độ phạm tội của từng tội phạm trong từng vụ án cụ thể, đều được Cơ quan điều tra thuộc Công an các cấp phân loại và xử lý. 71,4% trong tổng số vụ phạm pháp hình sự về tội phạm này được khởi tố và tiến hành điều tra, 26,6% số vụ còn lại được xử lý bằng biện pháp hành chính. Có thể tham khảo về kết quả xử lý của Cơ quan điều tra các cấp về các tội phạm loại này như sau [12]:

Bảng số 4

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 T. số

Tổng số vụ giải quyết 1598 1741 1567 1486 1630 8022 Kết quả

xử lý

Hình sự Vụ 1193 1230 1145 1089 2.582 7139

Đối tượng 1301 1389 1352 1261 2.601 7904 Số vụ còn lại xử lý hành chính

(Nguồn: Bộ Công an – Ban chủ nhiệm đề án 4, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm).

Trong các vụ án hình sự xâm hại đến trẻ em, các Cơ quan điều tra đã tổ chức tốt hoạt động điều tra, thể hiện trong việc định hướng điều tra; xác định nội dung và trình tự giải quyết những nội dung đó trong các giai đoạn điều tra; tổ chức các lực lượng, phương tiện cũng như tính toán hợp lý các hoạt động điều tra và các hoạt động bổ trợ một cách kịp thời, đầy đủ, khách

quan, phù hợp với quy định của pháp luật. Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu phân tích và hệ thống các tài liệu, các dấu vết đã thu thập được đối chiếu với các đặc điểm riêng của từng loại tội phạm xâm hại đối với trẻ em, Điều tra viên đã xây dựng giả thuyết điều tra, đưa ra những giả định, phán đoán tương đối logic về sự biến, về sự kiện phạm tội, về người phạm tội và các tình tiết liên quan đến vụ án để xây dựng kế hoạch điều tra. Mặt khác, khi tiến hành hoạt động điều tra vụ án hình sự mà người bị hại là trẻ em, Điều tra viên đã quan tâm đến các yêu cầu của tố tụng hình sự như: Xác định tư cách đại diện theo pháp luật của người bị hại là trẻ em; các thủ tục tố tụng, quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng; tiến hành các biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch điều tra về vụ án hay đối với một hoạt động điều tra cụ thể, sử dụng linh hoạt các biện pháp điều tra, phương pháp điều tra, chiến thuật điều tra nhằm kiểm tra các giả thuyết điều tra và làm rõ sự thật khách quan vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trẻ em; củng cố và hoàn chỉnh hồ sơ vụ án đề nghị Viện kiểm sát nhân dân truy tố bị can trước Tòa án.

Theo báo cáo của Cơ quan điều tra, trong tổng số vụ phạm pháp hình sự về các tội phạm xâm phạm trẻ em, Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án hình sự: 7.139 vụ với 7.904 bị can. Cơ quan điều tra đã hoàn thành việc điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân các cấp 5.359 vụ (chiếm 75% tổng số vụ) với 6013 bị can (chiếm 85% tổng số bị can). Có thể tham khảo bảng thống kê dưới đây về kết quả điều tra của Cơ quan điều tra các cấp trong điều tra, xử lý các tội phạm xâm hại trẻ em từ năm 2001 đến 2005 [38]:

Bảng số 5

Tội danh Tổng số Kết quả hoạt động điều tra Số tạm

đình chỉ Còn lại

Vụ Số vụ Số bị can

Bị

can Số

vụ Số

bị can

Số vụ Số bị

can CQ

ĐT đề nghị truy tố

CQĐT đình

chỉ điều

tra

Tổng số

Số bị can đề

nghị truy tố

Số bị can đình

chỉ điều tra

Tổng số bị can

Giết con mới đẻ 28 27 22 2 24 24 1 25 3 1 1 1

Hiếp dâm trẻ em 4485 5034 3379 78 3457 3839 73 3912 183 151 845 971

Cưỡng dâm trẻ em 25 24 18 0 18 18 0 18 3 3 4 3

Giao cấu với trẻ

em 1689 1748 1233 33 1266 1301 33 1334 107 80 316 334

Dâm ô với trẻ em 683 706 555 11 566 581 9 590 35 33 82 83

M/bán...trẻ em 229 365 152 4 156 250 7 257 16 23 57 85

Tổng số 7139 7904 5359 128 5487 6013 123 6136 347 291 1305 1477

(Nguồn: Cục thống kê tội phạm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

Trong quá trình điều tra, Viện Kiểm sát đã thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật, đồng thời còn thể hiện sự phối hợp nhịp nhàng giữa Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát. Chất lượng hoạt động điều tra đã góp phần không nhỏ vào kết quả hoạt động truy tố của Viện kiểm sát và kết quả xét xử của các cấp Tòa án. Nhiều vụ phạm tội được phát hiện khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử kịp thời đã đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và góp phần phục vụ yêu cầu chính trị của địa phương.

Một số ví dụ: Ngày 15/9/2002, tên Nguyễn Văn Mở sinh năm 1988 trú tại xóm Ngoài – xã Tiên Lục – huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang đã rủ cháu Hoàng Thị Vui sinh năm 1991 (12 tuổi) trú tại xóm Giữa cùng xã ra cánh đồng chơi và thực hiện hành vi hiếp dâm. Qua đấu tranh tên Mở đã khai nhận ngoài việc hiếp dâm cháu Vui, Y còn thực hiện 4 vụ hiếp dâm trẻ em khác tại địa bàn huyện Lạng Giang. Cơ quan điều tra tỉnh Bắc Giang đã điều tra nhanh chóng và lập hồ sơ hồ sơ đề nghị truy tố.

Vụ tên Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1964 trú tại Kim Bôi- Hòa Bình đã dụ dỗ lừa cháu Bùi Thị Thơ sinh ăm 1990 trú tại Đông Lại- Tân Lạc- Hòa Bình đưa sang Trung Quốc bán cho Lê Thị Tiến (tức Quỳnh) sinh năm 1958 người ở xã Hồng Phong-Đông Triều- Quảng Ninh đã sang Trung Quốc. Tại đây Tiến đã ép cháu Thơ phải bán trinh cho khách và hành nghề mại dâm.

Ngày 22/5/2003 Công an Quảng Ninh đã phối hợp với Công an Trung Quốc bắt 2 đối tượng trên lập hồ sơ đề nghị truy tố.

Thứ ba, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ công tố đối với các vụ án hình sự về các tội phạm xâm hại trẻ em theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Theo quy định tại Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn quyết định truy tố, trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây: truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Do vậy, ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra về những tội phạm xâm hại trẻ em, Viện Kiểm sát tiến hành ngay những công việc cần thiết đảm bảo việc truy tố là có căn cứ và hợp pháp. Theo báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, trong 5 năm từ năm 2001 đến 2005, Viện Kiểm sát đã nhận hồ sơ 5.643 vụ án với 6.366 bị can về các tội phạm xâm hại trẻ em.

Trong thời hạn luật định, Viện Kiểm sát các cấp đã nghiên cứu hồ sơ và ra quyết định truy tố chuyển hồ sơ cho Tòa án các cấp 5.345 vụ với 5.993 bị can, chiếm khoảng 94% về số vụ và 93% số bị can. Đáng chú ý trong tổng số các

tội xâm hại trẻ em, Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố nhiều nhất về tội hiếp dâm trẻ em với 3.386 vụ, 3.848 bị can; sau đó đến tội giao cấu với trẻ em với 1225 vụ, 1.292 bị can.

Trong quá trình thực hiện việc truy tố, Viện Kiểm sát thường xuyên phố hợp với Cơ quan điều tra để thu thập bổ sung những chứng cứ cần thiết trước khi ra quyết định truy tố. Vì vậy, những hồ sơ vụ án về các tội phạm xâm hại trẻ em và Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đều được đánh giá là đảm bảo các yêu cầu trong việc truy tố, có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Thực hành quyền công tố tại Tòa án chính là việc Viện kiểm sát cử đại diện là Kiểm sát viên tham gia phiên tòa với tư cách duy trì quyền công tố. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã kết phối hợp chặt chẽ với Hội đồng xét xử trong việc tiến hành xét hỏi (bị cáo, nhân chứng, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án); tranh luận với người bào chữa (luật sư, người đại diện theo pháp luật của bị cáo); đưa ra quan điểm buộc tội và thực hiện quyền kháng nghị. Có thể tham khảo bảng thống kê sau đây về kết quả đạt được của Viện Kiểm sát trong giai đoạn truy tố đối với những tội phạm xâm hại trẻ em [38]:

Bảng số 6

Tội danh Tổng số vụ

Tổng số bị can

Số bị can bị truy tố

Giết con mới đẻ 22 24 22

Hiếp dâm trẻ em 3574 4095 3848

Cưỡng dâm trẻ em 19 19 18

Giao cấu với trẻ em 1298 1370 1292

Dâm ô với trẻ em 569 597 574

M/bán…..trẻ em 161 261 239

Tổng số 5643 6366 5993

(Nguồn: Cục thống kê tội phạm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Thứ tư, Tòa án nhân dân các cấp đã tổ chức tốt công tác xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm hại trẻ em, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội đúng pháp luật và tích cực bảo vệ các quyền của trẻ em.

Ngành Tòa án đã tích cực tham gia Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm nói chung, trong đó có tội phạm xâm hại trẻ em nói riêng.

Trong 5 năm (từ 2001 đến 2005), các Tòa án nhân dân cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) và Tòa án nhân dân cấp huyện (quận, thị xã thuộc tỉnh) đã thụ lý 6.051 vụ án hình sự sơ thẩm với 6836 bị cáo bị truy tố về các tội xâm hại trẻ em trong phạm trù nghiên cứu. Đã giải quyết 5.559 vụ - 6.649 bị cáo, đạt 83,5% số vụ và 82,8% số bị cáo. Trong đó, đình chỉ xét xử 26 vụ - 30 bị cáo; ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 477 vụ - 598 bị cáo; xét xử 5.056 vụ – 5.661 bị cáo. Trong số các bị cáo đưa ra xét xử có 22 bị cáo nguyên là cán bộ công nhân viên; 1 bị cáo nguyên là cán bộ lãnh đạo cao cấp;

1 bị cáo nguyên là cán bộ lãnh đạo trung cấp; 13 bị cáo nguyên là Đảng viên;

47 bị cáo thuộc diện tái phạm, tái phạm nguy hiểm; 409 bị cáo là người dân tộc ít người; 196 bị cáo nữ; 785 bị cáo là người chưa thành niên; 14 bị cáo là người nước ngoài. Kết quả xét xử đã tuyên phạt: Tử hình 36 bị cáo; tù chung thân 100 bị cáo; phạt tù từ 15 năm đến 20 năm 637 bị cáo; phạt tù từ 7 năm đến dưới 15 năm 1933 bị cáo; phạt tù dưới 7 năm 2.562 bị cáo; số bị cáo còn lại còn lại là các hình phạt khác.

Một phần của tài liệu Cac toi xam pham tre em (Trang 38 - 51)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(107 trang)
w