tiểu luận tài chính tiền tệ
Trang 1MỞ ĐẦU
Từ năm 1991 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới ngân hàng, hệ thống các công cụ chính sách tiền tệ cũng được hình thành và phát triển Trong điều kiện thị trường tiền tệ và thị trường tài chính chưa phát triển Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện kiểm soát tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp kết hợp với các công cụ gián tiếp và từng bước đổi mới chuyển từ sử dụng công cụ trực tiếp sang sử dụng các công cụ gián tiếp phù hợp với thông lệ quốc tế
và xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước
Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia ,tăng cường quản lý nhà nước về tền tệ và hoạt động ngân hàng ,góp phần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta
Hiện nay , trong công cuộc đổi mới đất nước với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ,vận động theo cơ chế thị trường thì hệ thống ngân hàng và chính sách tiền tệ của chính phủ đóng vai trò rất quan trọng Trong đó ngân hàng trung ương được coi là ngân hàng của ngân hàng thì vai trò của nó chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong quản lí và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Việt Nam
Trang 2
NỘI DUNG : A.Khái niệm ngân hàng trung ương
Khái niệm :Ngân hàng trung ương là Ngân hàng của Ngân hàng ,là cơ quan phát hành tiền của chính phủ ,cơ quan kiểm soát cung ứng tiền tệ và tín dụng của nền kinh tế
B.Nghiệp vụ của ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương có 4 nghiệp vụ :
1.1 Nguyên tắc cân đối
Sự cân đối hợp lý giữa tốc độ phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng tiền tệ
Sự cân đối giữa tiền (T) và hàng (H)
Cân đối cơ cấu và loại tiền trong lưu thông
1.2 Nguyên tắc bảo đảm
Bảo đảm bằng vàng
Bảo đảm bằng tín dụng – hàng hóa
Bảo đảm bằng trái phiếu chính phủ Bảo đảm bằng ngoại tệ
1.3 Nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất
Trang 32 Các kênh phát hành tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông
Phát hành tiền qua nghiệp vụ tín dụng
Phát hành tiền qua thị trường vàng và ngoại tệ
Phát hành qua kênh ngân sách
Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở
Nguyên tắc phân bổ:
Đảm bảo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối tiền tệ của ngân hàng trung ương
Thứ hai: Chế bản in, đúc tiền
Thứ ba: Tổ chức và quản lý việc in tiền, đúc tiền
Trang 4* Đối với các nhà máy in, đúc tiền cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Chuẩn bị đầy đủ các loại thiết bị, kỹ thuật, các loại vật liệu phục vụ cho việc in, đúc tiền theo hợp đồng đã ký
Thực hiện việc in tiền, đúc tiền theo đúng số lượng, chất lượng và loại tiền, đảm bảo các thông số kỹ thuật của mỗi loại tiền
Tiền thành phẩm phải được đóng gói và chuyển giao cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định
Lập hồ sơ theo dõi lý lịch từng loại tiền Tổ chức hạch toán kịp thời, chính xác việc in tiền, đúc tiền theo pháp lệnh về kế toán - thống kê
Tổ chức theo dõi và bảo quản các sản phẩm in đúc bị hỏng, bị lỗi,… để tiêu huỷ theo quy định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước
* Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ban hành các quy chế có liên quan đến in tiền, đúc tiền
Theo dõi chặt chẽ quá trình in đúc tiền và báo cáo kết quả in, đúc tiền hàng năm cho Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi cho Bộ Tài chính, Bộ Công an để kết hợp giám sát
* Đối với Bộ Tài chính
Kiểm tra chứng từ, sổ sách và việc hạch toán của NHNNVN về số lượng và giá trị theo mệnh giá của các loại tiền đã được in, đúc hàng năm
Chủ trì và phối hợp với Bộ Công an, NHNN để xây dựng quy chế in, đúc tiền, đồng thời trực tiếp giám sát quá trình in, đúc tiền tại các nhà máy, đảm bảo an toàn tuyệt đối
Trang 53.1.2 Bảo quản và vận chuyển tiền
* Bảo quản tiền
Đối với tiền mới in, mới đúc mà các nhà máy chưa chuyển giao cho NHNN, thì các nhà máy in, đúc tiền chịu trách nhiệm bảo quản tại kho của nhà máy đó.Đối với tiền mới in, mới đúc (tiền thành phẩm) đã được các nhà máy chuyển giao cho NHNN (tiền chưa công bố lưu hành), các loại tiền mẫu, tiền lưu niệm, tiền đã đình chỉ lưu hành, tiền đang lưu hành (kể cả loại rách nát không đủ tiêu chuẩn lưu hành) đều thuộc trách nhiệm bảo quản của NHNN
Đối với các loại tiền thuộc tài sản của các NHTM, các tổ chức tin dụng (tiền mặt thuộc quỹ nghiệp vụ) thì các NHTM, các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm bảo quản theo chế độ quy định
* Vận chuyển tiền
+ Phạm vi và trách nhiệm vận chuyển tiền:
NHNN chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển tiền trong các trường hợp (phạm vi) sau đây:
Vận chuyển tiền từ kho các nhà máy in đúc tiền từ sân bay, bến cảng (nếu tiền in, đúc từ nước ngoài) về đến các kho tiền trung ương (tổng kho) và ngược lại Vận chuyển tiền giữa các kho tiền trung ương
Vận chuyển tiền từ kho tiền trung ương đến các kho tiền chi nhánh NHNN tỉnh, Thành phố
Vận chuyển tiền giữa các kho tiền chi nhánh Các NHTM, các TCTD chịu trách nhiệm vận chuyển tiền từ đơn vị của mình đến NHNN và ngược lại
Trang 6+ Về phương tiện và nguyên tắc vận chuyển:
Thực hiện bằng các phương tiện (đội xe) chuyên dùng (có đủ tiêu chuẩn) theo đúng quy định của Thống đốc NHNN và phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc:
Phải có lệnh điều chuyển của cấp có thẩm quyền
Vận chuyển bằng xe chuyên dùng hoặc phương tiện vận chuyển chuyên dụng
Có đủ nhân lực để áp tải, bảo vệ trong chu trình vận chuyển
Giữ bí mật hành trình vận chuyển
+ Bảo vệ việc vận chuyển
Khi có yêu cầu của NHNN, Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức lực lượng bảo vệ
Các phương tiện vận chuyển tiền được cấp giấy phép ưu tiên
Nghiêm cấm các trạm kiểm soát, các đội tuần tra cơ động khám xét dọc đường đối với phương tiện vận chuyển tiền
Chính quyền các cấp có trách nhiệm phối hợp xử lý những sự cố xảy ra trong các chuyến vận chuyển tiền xảy ra trên địa bàn
3.2 Phát hành tiền
NHNN Việt Nam thực hiện việc lập quỹ phát hành gồm:
Quỹ dự trữ phát hành và Quỹ nghiệp vụ phát hành Có thể tóm tắt việc phát hành tiền qua sơ đồ
Trang 7Quỹ dự trữ phát hành tiền(tổng kho)=> Quỹ dự trữ phát hành chi nhánh(chi kho)=>Quỹ nghiệp vụ phát hành(quỹ nghiệp vụ)=>Quỹ tiền mặt của hệ thống NHTW và các tổ chức tín dụng KBNN=>Tiền mặt đang lưu hành
3.3 Thu hồi và tiêu huỷ tiền
* Các loại tiền được tiêu huỷ
Tiền giấy, tiền kim loại không đủ tiêu chuẩn lưu thông theo quy định của NHNN (tiền rách nát, tiền bị phai mờ, bị méo mó, bị ôxi hoá,…)
Các loại tiền đã bị đình chỉ lưu hành
* Thời gian và địa điểm tiêu huỷ tiền
Hàng năm hoặc từng thời kỳ do thống đốc NHNN quyết định tuỳ theo diễn biến của số lượng và giá trị của từng loại tiền phải tiêu huỷ sao cho hợp lý
Chỉ được thực hiện tại các kho tiền trung ương của NHNN (tổng kho)
* Nội dung tiêu huỷ tiền
Đốt cháy thành tro
Cắt nhỏ, xé vụn,…
Phân huỷ bằng dung dịch hoá chất
3.4 Tiền mẫu, tiền lưu niệm
Tiền mẫu là đồng tiền chính thức của một nước, một nhóm nước, có thêm
cụm từ “TIỀN MẪU” hoặc “SPECIMEN”
Tiền lưu niệm là đồng tiền giấy, hoặc tiền kim loại được phát hàh cho mục
đích sưu tập, lưu niệm, dự trữ hoặc những mục đích khác
Trang 8Đây là đồng tiền có ý nghĩa tượng trưng, không có giá trị làm phương tiện thanh toán
II.Nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng trung ương
1. khái niệm nghiệp vụ tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương là việc NHTW cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cho vay đối với các tổ chức TCTD hay các kho bạc nhà nước Như vậy,hoạt động tín dung của ngân hàng trung ương thực chất là thực hiện một kênh cung ứng cho nền kinh tế
Nghiệp vụ của ngân hàng trung ương thực chất được hiểu là hoạt động cho vay của NHTW.Tuy nhiên ,khách hàng cho vay là những khách hàng đặc biệt ,đó là các tổ chức tín dụng hay chính phủ Nói cách khác NHTW thực hiệ chức năng NH của NH và ngân hàng của chính phủ
Khi NHTW tạm ứng cho NHNN theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, lúc đó tiền của NHTW được phát hành vào lưu thông qua chi tiêu của chính phủ, mặt khác chính phủ có điều kiện thực hiện nhiệm vụ của mình Như vậy hoạt động tín dụng, NHTW vừa sử dụng như một kênh phát hành tiền đồng thời là công cụ
để tăng cường khả năng điều tiết lượng cung tiền, nâng cao hoạt động quản lý của NHTW
Tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa có NHTW và thay vào dó vẫn giữ NHNN
2 Mục đích
- Bổ sung nguồn vốn khả dụng cho các NHTM và TCTD trong quá trình hoạt động nhằm tăng khả năng cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế hoặc giúp các TCTD đảm bảo khả năng thanh toán nhằm duy trì sự ổn định và an toàn cho cả
hệ thống ngân hàng
Trang 9_ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững- đây là mục tiêu cao nhất cần đạt được, mọi hệ thống ngân hàng quốc gia đều hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và ổn định vĩ mô nền kinh tế.
_ Điều chỉnh nhịp đọ phát triển của nền kinh tế cả về quy mô và cơ cấu, qua
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững : ngân hàng trung ương tác động đến vốn khả dụng của từng loại hình ngân hàng tác động đến khả năng cho vay của từng ngân hàng đối với nền kinh tế, từ đó tác động đến sự phát tiển của từng ngành và
sự phát triển chung của nền kinh tế
_ Điều chỉnh các điều kiện tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
_NHTW tác động tới các NHTM nhằm điều chỉnh các cân đối trong quá trình huy động vốn, cho vay, từ đó làm lành mạnh hóa và theo yêu cầu của CSTT trong từng thời kỳ và lâu dài
Trang 10+ Tronh một giai đoạn nhất định, CSTT có thể hoạch định theo 2 hướng;
• CSTT mở rộng nhằm chống suy thoái kinh tế và thất nghiệp: NHTW giảm lãi suất tái cấp vốn và tăng mức hạn tín dụng
• Thắt chặt chống lạm phát hoặc kìm hãm sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế: thu hẹp hoạt động tín dụng bằng cách tăng lãi suất và giảm hạn mức tín dụng
- Chủ động điều chỉnh khối lượng tín dụng theo diễn biến của thị trường
- Tôn trọng hạn mức tín dụng
- Vai trò của người cho vay cuối cùng
+NHTW vừa là người cung ứng dự trữ cho các NHTM, vừa đảm bảo cho sự
Theo quy định tại Điều 17 Luật NHNN năm 1997 và Điều 1 Luật bổ sung một
số điều của Luật NHNN, các hình thức TCV đang được áp dụng ở VN hiện nay là:a.Cho vay lãi theo hồ sơ tín dụng
Đây là hình thức TCV của NHNN đối với các NHTM, dựa trên cơ sở các hồ
sơ tín dụng mà NHTM đã cho vay đối với khách hàng Theo nghiệp vụ này, NHTM phải xuất trình cho NHNN hồ sơ tín dụng đã được thẩm định và chấp nhận
Trang 11cho khách hàng vay mà chưa tìm được nguồn vốn cần thiết Trong trường hợp chấp nhận, NHNN cấp một khoản tín dụng cho NHTM với nguồn vốn cho vay là vốn dự trữ phát hành, trên cơ sở đảm bảo các tài sản có của NHTM.
b.Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
Sau khi Luật NHNN có hiệu lực hơn 1 năm, Thống đốc đã Quyết định số 356/199/QĐ-NHNN14 ngày 06/10/1999 ban hành Quy chế về nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu của NHNN đối cới các NH Quy chế này là văn bản pháp lý đầu tiên hướng dẫn nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu GTCG ngắn hạn của NHNN đói với các nhân hàng Sự ra đời của nghiệp vụ này đã hình thành nên TCV tuy mới đối với Việt Nam nhưng lại đang được áp dụng khá phổ biến tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển
-Hình thức chiết khấu, tái chiết khấu
+ Chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của GTCG: NHNN mua hẳn GTCG của các ngân hàng theo gia chiết khấu
+ Chiết khấu có kỳ hạn: NHNN chiết khấu kèm theo yêu cầu ngân hàng cam kết mua lại toàn bộ GTCG đó sau 1 thời gian nhất định Kỳ sau chiết khấu tối đa là
91 ngày
c.Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các GTCG
Đây là hình thức cho vay của NHNN dành cho TCTD là ngân hàng xin vay trên cơ sở cầm cố các GTCG thuộc sở hữu của các nhân hàng này như tín phiếu Kho bạc nhà nước, tín phiếu NHNN, công trái, trái phiếu Kho bạc, trái phiếu Chính phủ…
Trang 12+ Các ngân hàng được vay theo hình thức này bao gồm: NHTM, NHPT, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác, ngân hàn liên doanh, chi nhánh NHNN, cac loại hính ngân hàng khác được thành lập và hoạt động theo luật TCTD.
4.2) Tạm ứng ngân sách nhà nước.
Điều 32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 32 Tạm ứng cho ngân sách nhà nước Ngân hàng Nhà nước tạm ứng
cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyếtđinh của Thủ tướng Chỉnh phủ Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong nămngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định."
Nghiệp vụ này có vai trò trong việc xử lý bội chi của ngân sách chính phủ mà đây là vấn đề nhạy cảm vì nó không chỉ tác động đến trước mắt với nền kinh tế mà
nó còn tác động đến sự bền vững của một quốc gia
Khi xảy ra làm phát NHNN không cho vay để bù đắp thiếu hụt NSNN được
mà chỉ được tạm ứng trong trường hợp NSNN bị thiếu hụt.Nếu chấp nhận bội chi ngân sách địa phương thì cần quản lý và giám sát chặt chẽ vieecj vay vốn
Vấn đề vay vốn của các địa phương không được kiểm soát chặt chẽ chẳng những tạo ra nguy cwo vay vốn tràn lan, đầu tư kém kém hiệu quả mà còn ảnh hưởng đến tính bền vững của NSNNtrong tương lai
=>Tạo ra gánh nợ chp NSNN
4.3) Bảo lãnh cho các tổ chức tín dụng.
- Tại Việt Nam, mặc dù bảo lãnh ngân hàng Nhà nước chính thức được đưa vào áp dụng từ năm 1994 song đã phát huy được những vai trò quan trọng và mang
Trang 13lại thu nhập đáng kể cho các ngân hàng Như vậy bảo lãnh ngân hàng là dich vị ngân hàng hiện đại, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và ngân hàng.
(Thông tin được Vụ truwongr Vụ Chính sách tiền tệ đưa ra tại một hội thảo về vấn đề công nợ, do Ủy ban Tài chinh- Ngân sách Quốc hội tổ chức cho thấy, tỷ lệ
nợ chính phủ bảo lãnh chiếm 7% so với GDP, trong đó có 5%là vay trong nước, vay ngoài nước chiếm 2%
Tuy nhiên theo nhận xét thì cơ cấu dư nợ với số tuyệt đối thì vay nước ngoài có xu hướng tăng, trong khi vay trong nước đang có xu hướng giảm
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong giai doạn 2009,khối lượng vay nợ nước ngoài của doah nghiệp được chính phủ bảo lãnh có
2005-xu hướng tăng qua hàng năm
Đáng chú ý, tỷ trọng dư nợ nước ngoài của doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh cuãng có xu huwongs tăng, từ 6% năm 2005leen 13,3% năm 2008 và 14,27% năm 2009
-Các hính thức bảo lãnh
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh thanh toán thuế xuất - nhập khẩu
Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh đối ứng
Các loại bảo lãnh khác theo yêu cầu khách hàng.
III.nghiệp vụ thị trường mở
Trang 141. Các Nghiệp vụ thị trường mở.
Trong Nghiệp vụ thị trường mở phải có sự tham gia của NHTW bởi vì nếu không có sự tham gia của NHTW thì khối lượng tiền tệ nói chung sẽ không thay đổi Một NHTW bản chứng khoán cho NHTM khác xét trong toàn cục chỉ là sự dịch chuyển chứng khoán và di chuyển ngược lại của một phần dự trữ dư thừa từ NHTM này sang NHTM khác đang thiếu vốn mà thôi
Có hai loại Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở năng động nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ, và Nghiệp vụ thị trường mở thụ động nhằm bụ lại những chuyển động của nhân tố khác đã ảnh hưởng tới cơ số tiền tệ
- Giao dịch giấy tờ có giá
+ Các giao dịch không hoàn lại (hay các giao dịch muabán hẳn).
Các giao dịch này bao gồm các nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá của NHTW trên thị trường theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường Hình thức giao dịch này làm chuyển hắn quyền sở hữu đối với các chứng khoán là đối tượng giao dịch Vì vậy ảnh hưởng của nó đối với dự trữ các Ngân hàng là dài hạn các giấy tờ đó phải là các công cụ nợ có mức rủi ro thấp và phải được phát hành bởi các tổ chức đủ điều kiện theo quy định
+ Các giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn).
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp đồng mua lại Hợp đồng mua lại được sử dụng khi NHTW thực hiện một giao dịch theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là nó mua chứng khoán từ người môi giới trên thị trường, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày trong tương lai
Giao dich mua mua bán có kỳ hạn tồn tại dưới dạng: