Ngoài dùng trong các hoạt động chuyển khoản, tiền điện tử còn được sử dụng trực tiếp trong các giao dịch dưới các hình thức sau: Các thẻ thanh toán: là các tấm thẻ do ngân hàng hoặc các
Trang 1Mục lục
CHƯƠNG I: TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ 4
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ 4
1.1 Khái quát sự ra đời của tiền tệ 4
1.2 Các hình thái của tiền tệ 5
1.2.1 Hoá tệ 5
1.2.2.Tín tệ 6
1.2.3 Bút tệ (Tiền ghi sổ) 8
1.2.4 Tiền điện tử 8
1.3 Bản chất, chức năng của tiền tệ 11
1.3.1 Bản chất của tiền tệ 11
1.3.2 Chức năng 12
1.4 Cung - cầu tiền tệ 15
1.4.1 Cầu tiền tệ và các qui luật lưu thông tiền tệ 15
1.4.2 Cung tiền tệ 17
1.5 Chế độ lưu thông tiền tệ 18
1.5.1 Nh ng n i ung c ản của ch đ tiền tệ 18
1.5.2 Các ch đ tiền tệ 21
2 TỔNG QUAN VỀ T I CH NH 26
2.1 Khái niệm 26
2.2 Chức năng của Tài chính 28
2.2.1 Chức năng huy đ ng nguồn tài chính 28
2.2.2 Phân ổ nguồn tài chính 29
2.2.3 Kiểm tra tài chính 30
2.3.3 Công ty ảo hiểm, công ty tài chính, các nhà đầu tư: 32
2.3.4 Ngân hàng thư ng mại 33
2.3.5 Các định ch tài chính trung gian đóng vai trò là tổ chức hỗ trợ nâng cao mức tín nhiệm 33
2.3.6 Các định ch tài chính trung gian đóng vai trò là ên thứ a trong quá trình chứng khoán hoá 33
2.4 Thị trường tài chính 34
2.4.1 Khái niệm 34
2.4.2 Phân loại thị trường tài chính 35
2.4.3 Các công cụ của thị trường tài chính 39
2.4.4 Vai trò của thị trường tài chính 49
CHƯƠNG II: LẠM PHÁT VÀ ỔN ĐỊNH TIỀN TỆ 52
2.1 KHÁI NIỆM 52
2.2 PHÂN LOẠI LẠM PHÁT 52
2.3 NGUYÊN NHÂN 56
2.3.1 Lạm phát cầu kéo 56
2.3.2 Lạm phát chi phí đẩy 57
2.3.3 Lạm phát o thi u hụt mức cung 58
2.3.4 Hệ thống chính trị không ổn định 58
2.4 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN NỀN KINH TẾ 58
2.4.1 Tác đ ng tích cực 58
2.4.2 Tác đ ng tiêu cực 59
2.5 BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT 59
CHƯƠNG III: TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT 65
3.1 T N DỤNG 65
3.1.1 Khái niệm và ản chất của tín ụng 65
Trang 23.1.2 Chức năng, vai trò của tín ụng 67
3.1.3 Các hình thức của tín ụng 70
3.2 LÃI SUẤT T N DỤNG 76
3.2.1 Các vấn đề c ản về lãi suất 76
3.2.2 Phư ng pháp tính lãi 83
CHƯƠNG IV: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 86
4.1 QUÁ TRÌNH HÌNH TH NH V PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN H NG 86
4.1.1 Lịch sử hình thành ngân hàng 86
4.1.2 Các giai đoạn phát triển của ngân hàng 86
4.1.3 Vai trò của ngân hàng trong nền kinh t thị trường 88
4.2 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG V CH NH SÁCH TIỀN TỆ 88
4.2.1 Ngân hàng Trung ư ng 88
4.2.2 Chính sách tiền tệ 95
4.3 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 102
4 3 1 Định nghĩa 102
4 3 2 Các chức năng của ngân hàng thư ng mại ( NHT M) 102
4 3 3 Các nghiệ p vụ của ngân hàng thư ng mại: 104
4 3 4 Khả năng thanh toán của ngân hàng thư ng mại 107
CHƯƠNG V: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 108
5.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NH NƯỚC 108
5.1.1 Khái niệm NSNN 108
5.1.2 Bản chất của NSNN 108
5.1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh t thị trường 108
5.2 HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NH NƯỚC 111
5.2.1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước 111
5.2.2 Nguyên tắc quản lý hệ thống NSNN 112
5.2.3 Phân cấp quản lý NSNN 112
5.2.5 N i ung chi của ngân sách nhà nước 122
5.3 CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH, BỘI CHI NGÂN SÁCH V PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ BỘI CHI NGÂN SÁCH 125
5.3.1 Nguyên tắc cân đối ngân sách 125
5.3.2 B i chi ngân sách 126
5.3.3 Xử lý i chi ngân sách nhà nước 126
CHƯƠNG VI: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM 128
6.1 SỰ RA ĐỜI, TỒN TẠI V PHÁT TRIỂN CỦA B O HIỂM 128
6.1.1 Sự cần thi t của ảo hiểm 128
6.1.2 Khái niệm ảo hiểm 129
6.1.3 Lịch sử ra đời và phát triển của ảo hiểm 129
6.1.4 Vai trò của ảo hiểm 131
6.2 BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI (BHTM) 131
6.2.1 Khái niệm: 131
6.2.2 Đặc điểm BHTM 132
6.2.3 Phân loại BHTM 132
6.2.4 M t số khái niệm c ản trong ảo hiểm thư ng mại 133
6.2.5 Doanh thu, chi phí của oanh nghiệp ảo hiểm thư ng mại 141
6.3 BẢO HIỂM XÃ HỘI ( BHXH) 142
6.3.1 Khái niệm: 142
6.3.2 Đối tượng tham gia BHXH 143
6.3.3 Đặc điểm hoạt đ ng của BHXH 144
6.3.4 Hoạt đ ng thu, chi của BHXH 145
Trang 36.3.5 Vai trò của ảo hiểm xã h i 146
CHƯƠNG VII: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 148
7.1 BẢN CHẤT V CHỨC NĂNG CỦA T I CH NH DOANH NGHIỆP 148
7.1.1 Bản chất của tài chính oanh nghiệp: 148
7.1.2 Vai trò của TCDN 148
7.2 VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 149
7.3 T I SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 150
7.3.1 Tài sản cố định 150
7.3.2 Tài sản lưu đ ng và vốn lưu đ ng 155
7.4 CHI PH V GIÁ TH NH SẢN PHẨM 164
7.4.1 Khái niệm và n i ung chi phí 164
7.4.2 Khái niệm, phân loại và k t cấu giá thành sản phẩm 170
7.5 DOANH THU, LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP 172
7.5.1 Khái niệm và n i ung của oanh thu 172
7.5.2 Lợi nhuận và ý nghĩa của lợi nhuận trong oanh nghiệp 174
CHƯƠNG VIII: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ QUỐC TẾ 178
8.1 CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT) 178
8.1.1 Khái niệm 178
8.1.2 Các khoản mục chính của cán cân TTQT 178
8.2 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (TGHĐ) 180
8.2.1 Các khái niệm c ản về tỷ giá hối đoái 180
8.2.2 C sở hình thành tỷ giá hối đoái 182
8.2.3 Phân loại tỷ giá hối đoái 182
8.2.4 Các phư ng pháp niêm y t tỷ giá hối đoái 184
8.2.5 Phư ng pháp xác định tỷ giá chéo 185
8.2.6 Vai trò của tỷ giá hối đoái 185
8.2.7 Các nhân tố tác đ ng đ n tỷ giá hối đoái 187
8.2.8 Các iện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái 189
Bài tập luyện tập lãi đơn - lãi kép 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 193
Trang 4CHƯƠNG I: TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ
1.1 Khái quát sự ra đời của tiền tệ
Trong thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, với công cụ lao động thô sơ, cuộc sống của con người chủ yếu là tự cung tự cấp Khi sản xuất phát triển, ý thức phân công lao động được hình thành, xã hội có người chuyên trồng lúa, một số người khác chuyên săn bắn, dệt vải, số khác là nhiệm vụ bảo vệ xã hội… Năng suất lao động tăng, sản phẩm làm ra nhiều hơn, mặt khác mỗi người không thể tồn tại được với một loại sản phẩm duy nhất do mình làm ra nên mọi người cần trao đổi với nhau để cùng tồn tại một cách đầy đủ hơn và tốt hơn Trong gian đoạn này, hình thức trao đổi mang tính ngẫu
nhiên và được thực hiện bằng cách trao đổi trực tiếp H - H‟ Đây là bước tiến lớn để xã
hội công xã nguyên thuỷ thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp Tuy nhiên hình thức trao đổi này bộc lộ nhiều sự bất tiện và tốn kém như người trao đổi cần phải tìm người có nhu cầu phù hợp về hàng hoá, tốn chi phí tìm kiếm và chờ đợi Mặt khác, hàng hoá trên thị trường đã phong phú và đa dạng hơn đòi hỏi phạm vi trao đổi phải được mở rộng hơn Chính vì thế người ta đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi nghĩa là đã tách biệt hai giai đoạn mua - bán thành hai quá trình độc lập:
H - vật trung gian - H’
VD: Một người có sản phẩm là vải muốn đổi lấy gạo để ăn, anh ta sẽ mang vải của
mình tìm đến người sản xuất lúa để tiến hành trao đổi Nhưng người có gạo lại không muốn đổi lấy vải, anh ta muồn đổi lấy cừu, như vậy là quá trình trao đổi sẽ không thể diễn ra vì có sự khác biệt về nhu cầu giữa hai người Nếu người có vải vẫn muốn đổi lấy gạo thì anh ta sẽ có hai lựa chọn Một là tìm đến người khác có gạo hoặc là đi tìm người
có cừu, đổi vải lấy cừu rồi mang cừu tới đổi lấy gạo Giả sử anh ta tìm được người có cừu, nhưng người này lại không muốn đổi cừu lấy vải mà muốn đổi lấy rìu như vậy, người có vải lại phải tìm người có rìu và nếu vận may mỉn cười với anh ta, người có rìu chấp nhận đổi lấy vải thì anh ta phải cầm rìu đến đổi lấy cừu, sau đó mang cừu đổi lấy gạo và quá trình trao đổi được hoàn thành
Quá trình phức tạp và tốn kém trên sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi có một vật trung gian trao đổi được mọi người chấp nhận như là vật ngang giá chung Trong trường hợp của
Giai đoạn bán Giai đoạn mua
Trang 5người có vải như ví dụ trên, anh ta có thể mang bán vải cho người có nhu cầu, sau đó mang vật trung gian trao đổi này tới người có gạo để mua theo giá thoả thuận như vậy
sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí thời gian
KL: Sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất hiện
của tiền tệ, đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh tế tiền
tệ Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế
1.2 Các hình thái của tiền tệ
1.2.1 Hoá tệ
Hóa tệ là hình thái cổ xưa và sơ khai nhất của tiền tệ theo đó một loại hàng hóa nào đó
do được nhiều người ưa chuộng nên có thể tách ra khỏi thế giới hàng hóa nói chung để thực hiện các chức năng của tiền tệ, tức là thực hiện các chức năng mà các hàng hóa thông thường khác không có được Hàng hóa đặc biệt này đóng vai trò vật ngang giá chung và được sử dụng thường xuyên để trao đổi với những hàng hóa khác
Hóa tệ có thể chia thành 2 loại: hóa tệ phi kim loại và hóa tệ kim loại
Hoá tệ phi kim loại
Trong thời kỳ đầu khoảng 2.000 năm trước công nguyên, vật trung gian trao đổi thường được chọn từ một loại hàng hoá có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu ngày đồng thời mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho từng địa phương, nơi diễn ra quan hệ trao đổi
VD: Thời cổ đại, Trung Quốc đã từng dùng da, vỏ trai, gạo, vải làm vật ngang giá Hy
Lạp, La Mã dùng súc vật, Tây Tạng, Mông Cổ, Indonexia dùng chè, Bắc Mỹ dùng thuốc lá Và cho đến nay, một số bộ lạc thổ dân ở Châu Phi, Châu Úc còn dùng cá khô, thuốc lá làm vật trung gian trao đổi
Việc sử dụng hàng hoá làm tiền tệ gây nhiều khó khăn, bất lợi Đó là khó bảo quản, thường cồng kềnh, tốn kém chi phí vận chuyển và đặc biệt là không thể chia nhỏ theo những tỷ lệ nhất định khi trao đổi Mặt khác phạm vi trao đổi chỉ hạn chế trong một vùng, một địa phương nhất định vì mỗi vùng chọn một vật trung gian riêng, điều đó không khuyến khích giao thương và sản xuất hàng hoá phát triển Chính điều này đã khiến cho hoá tệ không kim loại dần bị đào thải và thay thế vào đó là thời kỳ sử dụng hoá tệ kim loại
Hoá tệ kim loại
Trang 6Khi phát hiện ra kim loại, người ta nhận thấy kim loại có thể khắc phục được những nhược điểm của hóa tệ phi kim loại, chẳng hạn như bền hơn, dễ bảo quản hơn, dễ vận chuyển hơn, có thể chia nhỏ Với những thuộc tính ưu việt này, người ta có khuynh hướng nhanh chóng chuyển sang sử dụng kim loại làm tiền tệ
Lúc đầu là những kim loại rẻ như đồng, kẽm, chì được sử dụng làm tiền tệ, về sau người
ta nhận thấy trong số những loại kim loại tìm thấy có bạc và vàng là hai thứ kim loại ưu việt hơn hết nếu sử dụng làm tiền tệ Ngoài tính chất bền, dễ bảo quản, dễ vận chuyển,
dễ chia nhỏ, vàng và bạc là những kim loại quý nên chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ đại diện cho một hàng hóa có giá trị tương đối lớn Do vậy nếu dùng chúng làm tiền tệ thì rất tiện lợi cho lưu thông, không cần khối lượng lớn nhưng có thể trao đổi được với những hàng hóa có giá trị cao Ngoài ra việc chia nhỏ thành đơn vị và nhập những đơn
vị nhỏ thành đơn vị lớn hơn rất dễ dàng và hầu như vẫn bảo tồn được giá trị của chúng
Từ đó, bạc và sau này là vàng độc chiếm ngôi vị tiền tệ lâu dài cho
đến khi nhân loại phát minh ra tiền giấy
Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hoá ngày càng tăng đòi hỏi cần thêm nhiều tiền hơn thì tiền vàng và bạc không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế Nếu trao đổi với một lượng hàng hoá lớn, giữa các vùng, quốc gia với nhau thì tiền vàng tỏ ra cồng kềnh, khó vận chuyển và dễ bị cướp bóc Khối lượng kim loại vàng chỉ có hạn, không chỉ dùng để làm tiền, vàng còn được sử dụng trong một số lĩnh vực sản xuất hàng hoá khác và dùng dự trữ Mặt khác, trong quá trình lưu thông, tiền vàng dần bị hao mòn tự nhiên, hàm lượng vàng pháp định trong đồng tiền bị giảm
đi nhưng khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán người dân vẫn chấp nhận những đồng tiền này như những đồng tiền mới đúc Phát hiện ra điều này, sở đúc tiền của các quốc gia đã chủ động giảm bớt hàm lượng vàng trong các đồng tiền này Dần dần, người ta không dùng vàng để làm tiền nữa mà dùng các kim loại rẻ tiền như sắt, đồng hoặc hợp kim làm tiền Xã hội chuyển sang sử dụng một loại tiền mới đó là tín tệ
1.2.2.Tín tệ
Tín tệ là loại tiền tệ được đưa vào lưu thông nhờ vào sự tín nhiệm của công chúng, chứ bản thân nó không có hoặc có giá trị không đáng kể Nó được sử dụng thay thế cho tiền vàng và tiền bạc (là những loại tiền thực) Tín tệ có hai loại: tín tệ kim loại và tiền giấy
Tín tệ kim loại
Trang 7Là loại tín tệ được đúc bằng kim loại Đặc điểm của tín tệ kim loại là giá trị của kim loại đúc thành tiền và giá trị ghi trên bề mặt đồng tiền không có liên hệ gì với nhau, tức
là giá trị danh nghĩa cao hơn giá trị thực tế
Tín tệ kim loại ra đời giúp sản xuất và trao đổi hàng hoá diễn ra thuận lợi hơn, nhu cầu tiền không còn phải phụ thuộc vào khối lượng vàng nữa Tuy nhiên, với sự nền kinh tế ngày càng phát triển thì tín tệ kim loại lại bộc lộ những nhược điểm vốn có của kim loại Nếu trao đổi với khối lượng hàng hoá lớn, chủ thể trao đổi cách xa nhau về địa lý thì việc thanh toán rất bất tiện, nặng nề, tốn kém chi phí lưu thông Vòng quay của tiền dài nên cần nhiều tiền hơn nhu cầu thực tế Để giải quyết nhược điểm này, xã hội chuyển sang sử dụng một loại tiền mới có nhiều ưu điểm hơn đó là tiền giấy
Tiền giấy
Từ khi ra đời cho đến nay, tiền giấy nói chung có hai loại: tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán
Tiền giấy khả hoán
Là thứ tiền giấy được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký thác ở ngân hàng Bất
cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổi lấy vàng hoặc bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó
Như vậy, tiền giấy khả hoán thực chất là loại tiền thay mặt vàng trong lưu thông Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, nguồn dự trữ vàng của các nước giảm sút, cơ
sở đảm bảo cho tiền giấy phát hành không chỉ được đảm bảo bằng vàng mà còn được đảm bảo bằng đồng tiền của các cường quốc kinh tế bấy giờ như đồng bảng Anh, đồng USD Chế độ tiền giấy khả hoán chỉ tồn tại ở một số quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh như Anh, Pháp, Mỹ ở thời điểm trước khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933
Tiền giấy bất khả hoán
Là thứ tiền giấy được lưu hành nhưng khi cần vàng hoặc bạc người ta không thể chuyển đổi nó ra vàng hay bạc theo hàm lượng đã quy định mà phải mua vàng hay bạc theo giá thị trường
Ngày nay, việc sử dụng tiền giấy đã trở thành phổ biến, do tính thuận lợi của nó trong việc làm phương tiện trao đổi hàng hóa Đó là:
Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ
Thuận lợi khi thực hiện chức năng dự trữ giá trị
Trang 8Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện
1.2.3 Bút tệ (Tiền ghi sổ)
Bút tệ ra đời vào giữa thế kỷ 19 khi các ngân hàng ở Anh tìm cách né tránh các thể lệ phát hành tiền giấy quá cứng nhắc nên đã sáng chế ra hệ thống thanh toán bằng cách ghi trên sổ sách ngân hàng Đó là những khoản tiền do hệ thống NHTM tạo ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Việc sử dụng bút tệ được thực hiện bằng các bút toán ghi Nợ và Có trên các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng
Ngày nay bút tệ được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước, nhưng ở các nước phát triển dân chúng có thói quen sử dụng bút tệ hơn ở các nước kém phát triển
Cùng với trình độ ngân hàng ngày càng hiện đại, bút tệ đã giữ vị trí chủ yếu trong tổng mức cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế hiện đại, bút tệ (tiền ghi sổ) ngày càng phát triển bởi nó có những ưu việt vốn có:
Giảm bớt một cách đáng kể các chi phí về lưu thông tiền mặt: in tiền, bảo quản, vận chuyển, đếm, đóng gói,…
Nhanh chóng và thuận tiện cho các chủ thể tham gia thanh toán qua ngân hàng
Bảo đảm an toàn trong việc sử dụng đồng tiền, hạn chế được những hiện tượng tiêu cực như hối lộ, tham nhũng, hoạt động rửa tiền…
Bút tệ tạo ra điều kiện thuận lợi cho NHTW trong việc quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng
1.2.4 Tiền điện tử
Tiền điện tử là tiền tồn tại dưới hình thức dữ liệu điện tử được số hoá Việc sử dụng tiền điện tử giúp tốc độ chuyển tiền tăng lên rất nhanh, giảm bớt được chi phí về giấy tờ so với lưu thông tiền mặt và séc
Ngoài dùng trong các hoạt động chuyển khoản, tiền điện tử còn được sử dụng trực tiếp trong các giao dịch dưới các hình thức sau:
Các thẻ thanh toán: là các tấm thẻ do ngân hàng hoặc các công ty tài chính phát hành
mà nhờ đó người ta có thể lưu thông những khoản tiền điện tử Thẻ thanh toán có một
số dạng sau:
Thẻ rút tiền tự động ATM (ATM card - bank card)
Trang 9Thẻ ATM được dùng để rút tiền hoặc chuyển khoản thông qua máy rút tiền tự động ATM (Automated teller machine) Việc sử dụng thẻ chỉ đơn giản là nhét thẻ vào máy, nhập mã số, màn hình ATM sẽ xin lệnh Chỉ trong khoảng thời gian 30 giây, mọi hoạt động thanh toán hoặc rút tiền ngay tại máy được hoàn thành
Thẻ tín dụng (credit card)
Khi sử dụng thẻ tín dụng, thực chất là ta đi vay của ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
đó Khi thanh toán tiền mua hàng hoá và dịch vụ, ngân hàng sẽ đứng ra trả thay cho người sử dụng, sau đó người sử dụng thẻ có trách nhiệm thanh toán tiền cho ngân hàng cộng với tiền lãi và phí thanh toán hộ sau một thời gian nhất định Ngoài ra, người sử dụng thẻ cũng có thể rút tiền tại ngân hàng hoặc trong hạn mức cho phép
Thẻ tín dụng ngày nay được sử dụng ở các nước phát triển cũng phổ biến không kém séc Nó có rất nhiều loại, chỉ riêng ở Mỹ đã có trên 3.000 loại khác nhau lưu hành Phổ biến nhất trên thế giới hiện nay là các thẻ Master card, Visa card và AMEX
Thẻ ghi nợ (debit card)
Về hình thức thẻ ghi nợ tương tự như thẻ tín dụng Tuy nhiên, khác với thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ không phải là công cụ để vay tiền mà để tiêu tiền trong tài khoản Khi thanh toán, người thu tiền sẽ quẹt thẻ qua một máy đọc thẻ (card reader), sau đó yêu cầu chủ thẻ ký xác nhận vào hoá đơn mua hàng Sau đó một số ngày nhất định (thường là 2 ngày) tiền sẽ được chuyển từ tài khoản chủ thẻ sang tài khoản người bán hàng
Thẻ thông minh (smart card)
Thẻ thông minh thực chất chính là dạng thẻ ghi nợ, chỉ có khác là trên thẻ còn gắn thêm một bộ mạch xử lý cho phép lưu trữ ngay trên thẻ một lượng tiền số (digital cash) Tiền
số này có thể nạp từ tài khoản ở ngân hàng vào thẻ thông qua các máy ATM, máy tính
cá nhân hoặc các điện thoại có trang bị bộ phận nạp tiền Các thẻ thông minh cao cấp hơn gọi là Super smart card còn cho phép ghi lại các giao dịch của người sử dụng thẻ và
có màn hình hiển thị, thậm chí cả bàn phím Các thẻ thông minh còn tiến xa hơn, gần giống với những cái ví điện tử nhờ khả năng có thể chuyển tiền trực tiếp từ thẻ thông minh này sang thẻ thông minh khác qua một thiết bị không dây cầm tay Ngoài tính năng dùng làm phương tiện thanh toán, có thể dùng nó như thẻ gọi điện thoại, thẻ căn cước trong đó lưu trữ các thông tin về người dùng thẻ, thậm chí cả nhóm máu của người
đó
Tiền mặt điện tử (E-cash):
Trang 10Đây là một dạng tiền điện tử được sử dụng để mua sắm hàng hoá hoặc dịch vụ trên Internet Những người sử dụng loại tiền này có thể tải tiền từ tài khoản của mình ở ngân hàng về máy tính cá nhân, rồi khi duyệt Web mua sắm có thể chuyển tiền từ máy mình đến máy tính người bán để thanh toán
Séc điện tử (E-check)
Séc điện tử cho phép những người sử dụng Internet có thể thanh toán các hoá đơn qua Internet mà không cần phải gửi những tờ séc bằng giấy (paper check) như trước nữa Những người này có thể viết một tờ séc điện tử hợp pháp trên máy tính của mình rồi gửi cho người được thanh toán Người này sẽ chuyển tờ séc điện tửđó tới ngân hàng của mình Ngân hàng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của tờ séc sẽ thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản của người viết séc sang người được thanh toán Bởi vì toàn bộ việc thanh toán này được thực hiện dưới hình thức điện tử nên rẻ và tiện hơn nhiều so với sử dụng các
tờ séc bằng giấy Các chuyên gia dự tính rằng, chi phí cho lưu thông séc điện tử sẽ chỉ bằng 1/3 chi phí lưu thông séc giấy
Những lợi thế về tiền điện tử nêu trên khiến chúng ta có thể nghĩ rằng nền kinh tế sẽ mau chóng tiến tới không dùng đến tiền giấy hoặc séc Tuy nhiên có nhiều lý do khiến cho điều này không thể diễn ra trong ngày một ngày hai
Thứ nhất: việc thiết lập một hệ thống các máy tính, các máy đọc thẻ, mạng truyền
thông cần thiết cho phương thức thanh toán điện tử là rất tốn kém
Thứ hai: việc sử dụng các tờ séc bằng giấy có lợi thế là chúng cung cấp các chứng từ
xác nhận việc thanh toán, trong khi tiền điện tử không có được điều này
Thứ ba: việc sử dụng séc bằng giấy để thanh toán luôn mất một khoảng thời gian xử lý
từ lúc ký séc đến lúc người nhận séc rút tiền Người chủ tài khoản séc rất thích điều này
vì họ vẫn được hưởng lãi đối với số tiền mà mình đã thanh toán nhưng chưa bị trừ khỏi tài khoản Với tiền điện tử, họ không có được khoảng thời gian này
Thứ tư: việc sử dụng tiền điện tử gặp phải nguy cơ đe doạ tính an toàn do các hoạt
động tin tặc, đánh cắp mật khẩu hoặc gian lận trong thanh toán Đối phó đối với điều này không phải là một công việc dễ dàng và mất khá nhiều thời gian
Tóm lại: Lịch sử ra đời và phát triển của tiền tệ luôn mang dấu ấn của nền văn minh
nhân loại Điều này đã được minh chứng qua quá trình hoàn thiện các hình thức tiền tệ,
từ hình thức sơ khai ban đầu là hoá tệ phi kim loại cho đến tiền điện tử ngày nay Ngoài
ra, quá trình phát triển của tiền tệ còn biểu hiện cho sự chuyển biến sâu sắc về quan
Trang 11niệm tiền tệ của con người, đó là quan điểm tiền tệ không chỉ là phương tiện trao đổi mà còn phải được thừa nhận là biểu trưng cho của cải xã hội (hoá tệ, kim tệ) cho đến tính phi vật chất hoá tiền tệ (bút tệ, tiền giấy, tiền điện tử) đã ngày càng được xem là nét đặc trưng cơ bản của quan niệm tiền tệ hiện đại
1.3 Bản chất, chức năng của tiền tệ
1.3.1 Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là một khái niệm rất quen thuộc với tất cả mọi người Có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu thực chất của tiền tệ
Học thuyết tiền tệ kim loại ra đời từ thế kỷ 16 với đại diện là Thomas-Mun (1576-1641)
đã cho rằng:” Vàng bạc tự nhiên là tiền tệ, vàng bạc là của cải chính tông” Với sự đề cao quá mức tiền kim loại, trường phái này đã nhận định sai lầm rằng chỉ có kim loại quý mới thực hiện được các chức năng của tiền tệ
Đầu thế kỷ 18, khi các loại tiền dấu hiệu như tiền giấy, tiền tín dụng ra đời nhưng vẫn phục vụ cho trao đổi thì trường phái tiền duy danh lại quá đề cao tiền dấu hiệu Họ cho rằng tiền giấy và tiền kim loại là như nhau, chỉ là dấu hiệu thanh toán hay nhãn hiệu mà nhờ đó hàng hoá được lưu thông Từ đó họ kết luận: tiền tệ chỉ là một công cụ kỹ thuật tiện cho việc trao đổi hàng hoá, chỉ là đơn vị tính toán trừu tượng nên bản thân tiền tệ không cần có giá trị nội tại và nhà nước hoàn toàn có thể phát hành tiền giấy với những dấu hiệu quy ước là có thể phục vụ cho trao đổi hàng hoá
Theo quan điểm của K.Marx (1818-1883), xuất phát từ cơ sở nghiên cứu nguồn gốc ra đời của tiền tệ ông cho rằng: tiền tệ có nguồn gốc từ hàng hoá, từ thế giới hàng hoá tách
ra Ông chỉ ra rằng vàng chỉ trở thành tiền tệ trong những điều kiện lịch sử nhất định trước khi là tiền tệ và sau khi được thừa nhận đóng vai trò là tiền tệ thì vàng vẫn giữ nguyên bản chất là hàng hoá Như vậy, tiền tệ là hàng hoá đặc biệt đóng vai trò là vật trung gian trao đổi với các hàng hoá khác
Theo quan điểm của P.A Samuelson:” Bản chất của tiền tệ ngày nay đã được phơi bày
rõ ràng, người ta muốn có tiền tệ với danh nghĩa là tiền chứ không phải là hàng hoá, không phải vì bản thân nó mà vì những thứ mà dùng nó sẽ mua được”, “bản chất của tiền tệ là để dùng làm phương tiện trao đổi”
KL: “Tiền tệ là một phương tiện trao đổi được pháp luật thừa nhận và người sở hữu nó sử dụng để phục vụ cho những nhu cầu trong đời sống kinh tế xã hội”
Trang 12Quan điểm về tiền tệ theo nghĩa rộng hay hẹp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, và để đi đến một khái niệm thống nhất về tiền tệ là một điều không hề đơn giản Song một thuộc tính vốn có đặc trưng của tiền tệ là bất cứ một vật gì được xã hội chấp nhận trong việc thanh toán cho hàng hoá dịch vụ hoặc hoàn trả
các món nợ đều được coi là: TIỀN
1.3.2 Chức năng
Chức năng phương tiện trao đổi
Thực hiện chức năng này, các hàng hóa, dịch vụ đầu tiên được đổi ra tiền rồi sau đó chúng ta dùng tiền để mua các hàng hóa và dịch vụ khác theo nhu cầu Như vậy, tiền không phải là mục đích cuối cùng của con người, tức là “người ta đổi lấy tiền không phải vì bản thân nói mà vì những thứ mà dùng nó sẽ mua được” (P.A Samuelson) Do vậy, tiền tệ được xem là phương tiện để trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế
Cần lưu ý khi thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền chỉ xuất hiện thoáng qua với vai trò là môi giới hay “bôi trơn” giúp tách biệt hai quá trình mua và bán Trong trao đổi hàng hóa, chúng ta chỉ cần bán hàng hoá của mình lấy tiền rồi sau đó có thể mua những hàng hoá mà mình muốn bất cứ lúc nào và ở đâu mà mình muốn Nhờ đó, việc lưu thông hàng hoá có thể diễn ra nhanh hơn, sản xuất cũng được thuận lợi, tránh được ách tắc, tạo động lực cho kinh tế phát triển.Vì thế, khi tiền thực hiện chức năng này, nó không cần thiết phải là tiền đủ giá, chỉ cần dấu hiệu giá trị của tiền tệ được xã hội thừa nhận (như tiền giấy), tiền tệ vẫn có thể phát huy được chức năng phương tiện trao đổi
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định: Được chấp nhận rộng rãi
Trang 13xuất hiện trong nền kinh tế để thực hiện chức năng môi giới, giúp cho trao đổi dễ dàng hơn chứ không tạo thêm một giá trị vật chất nào cho xã hội Nó đóng vai trò bôi trơn cho guồng máy kinh tế chứ không phải là yếu tố đầu vào của guồng máy đó
Chức năng thước đo giá trị
Trong nền kinh tế sử dụng tiền tệ, để thuận tiện cho việc tính toán hay so sánh giá trị các hàng hoá với nhau người ta qui giá trị của các hàng hoá ra tiền, tức là tính xem một đơn vị hàng hoá đổi được bao nhiêu đơn vị tiền tệ Khi đó tiền tệ đã trở thành phương tiện để biểu hiện, đo lường giá trị của các hàng hoá đem ra trao đổi Biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá gọi là giá cả hàng hoá
Để thực hiện được chức năng thước đo giá trị, bản thân tiền tệ phải có giá trị Giá trị của tiền tệ được đặc trưng bởi sức mua tiền tệ tức là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi Khi xã hội chuyển sang sử dụng tiền tệ dưới dạng dấu hiệu giá trị (tiền giấy, tiền tín dụng ) thì giá trị của tiền tệ không còn được đảm bảo bằng giá trị của nguyên liệu dùng để tạo ra nó mà phụ thuộc vào tình hình cung cầu tiền tệ trên thị trường, mức độ lạm phát, vào tình trạng hưng thịnh hay suy thoái của nền kinh tế và cả niềm tin của người sử dụng vào đồng tiền đó
Việc đưa tiền tệ vào để đo giá trị của hàng hoá làm cho việc tính toán giá hàng hoá trong trao đổi trở nên đơn giản hơn nhiều so với khi chưa có tiền Để thấy rõ được điều này, hãy thử hình dung một nền kinh tế không dùng tiền tệ: Giả định nền kinh tế chỉ có
3 hàng hóa, dịch vụ cần trao đổi là bánh mì, cắt tóc, và vải Như vậy, chúng ta chỉ cần biết 3 giá để để tiến hành trao đổi là: giá của bánh mì tính bằng vải, giá của bánh mì tính bằng lần cắt tóc và giá của lần cắt tóc tính bằng vải Song nếu có 10 mặt hàng cần trao đổi thay vì chỉ có 3 như trên thì chúng ta sẽ cần biết 45 giá để trao đổi một thứ hàng này với một thứ hàng khác; với 100 mặt hàng, chúng ta cần tới 4950 giá; và với 1.000 mặt hàng cần 499.500 giá !! Sẽ thật khó khăn và tốn kém khi bạn muốn bán một mặt hàng
vì bạn sẽ phải niêm yết giá của mặt hàng này với tất cả các hàng hóa còn lại Và chúng
ta chẳng còn thời gian đâu để mua bán nữa vì thời gian đã dành hết cho việc đọc và ghi nhớ giá của các mặt hàng với nhau Nhưng khi đưa tiền vào, chúng ta có thể định giá các mặt hàng bằng đơn vị tiền Giờ thì với 10 mặt hàng chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng thì 100 giá và tại siêu thị có 1.000 mặt hàng nay chỉ cần 1.000 giá để xem chứ không cần 499.500!
Trang 14Thêm nữa, nhờ có chức năng này, mọi hình thức giá trị dù tồn tại dưới dạng nào đi nữa cũng có thể dùng tiền tệ để định lượng một cách cụ thể Chẳng hạn để tính tổng giá trị tài sản của một cá nhân, ta phải cộng giá trị của cái nhà anh ta đang ở, giá trị các trong thiết bị trong nhà, các đồ vật quý Sẽ không thể có được kết quả nếu không có sự tham gia của tiền tệ vì không có cách nào để cộng giá trị của các tài sản đó (có bản chất tự nhiên khác nhau) với nhau được Nhưng một khi qui tất cả các giá trị đó ra tiền tệ thì công việc thật đơn giản Chính vì vậy mà ngày nay việc định lượng và đánh giá, từ GDP, thu nhập, thuế khoá, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hoá, dịch vụ cho đến sở hữu đều có thể thực hiện được dễ dàng
Chức năng dự trữ giá trị
Khi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng tiền tệ làm phương tiện trao đổi và thanh toán, nó được cất trữ lại để dành cho những nhu cầu giao dịch trong tương lai Khi đó, tiền có tác dụng như một nơi chứa giá trị, nơi chứa sức mua hàng qua thời gian
Đây là một chức năng rất hữu ích Bởi sẽ là bất tiện và tốn kém nếu ta phải bán hàng hoá của mình mỗi khi cần tiền để mua hàng hoá khác Mà ngay cả khi đó, chúng ta vẫn cầm tiền như là phương tiện để cất trữ giá trị trong suốt khoảng thời gian từ lúc bán đến lúc mua cái khác
Khi cất trữ, điều đặc biệt quan trọng là tiền tệ phải giữ nguyên giá trị hay sức mua hàng qua thời gian Vì vậy, đồng tiền đem cất trữ phải đảm bảo yêu cầu: Giá trị của nó phải
ổn định Sẽ không ai dự trữ tiền khi biết rằng đồng tiền mà mình cầm hôm nay sẽ bị giảm giá trị hoặc mất giá trị trong tương lai, khi cần đến cho các nhu cầu trao đổi, thanh toán Chính vì vậy mà trước đây để làm phương tiện dự trữ giá trị, tiền phải là vàng hay tiền giấy tự do đổi ra vàng Còn ngày nay, đó là các đồng tiền có sức mua ổn định Tiền không phải là nơi cất trữ giá trị duy nhất Một tài sản bất kỳ như cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa, kim loại quí cũng đều là phương tiện cất trữ giá trị Nhiều thứ trong số những tài sản đó lại xét thấy có lợi hơn so với tiền về mặt chứa giá trị, chúng
có thể đem lại cho người chủ sở hữu một khoản lãi suất hoặc thu nhập (cổ phiếu, trái phiếu) hoặc một giá trị sử dụng khác (nhà cửa) Trong khi đó, tiền mặt có thể sẽ trở thành nơi cất trữ giá trị tồi nếu giá cả hàng hoá tăng nhanh Song một câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao người ta vẫn giữ tiền nếu nó không phải là nơi cất trữ giá trị tốt nhất Điều này liên quan đến một khái niệm gọi là tính lỏng, tức là khả năng chuyển một cách
dễ dàng và nhanh chóng của một loại tài sản thành tiền mặt
Trang 15Khi xét dưới góc độ như vậy thì tiền sẽ là một tài sản lỏng nhất Khi có nhu cầu trao đổi, các tài sản khác sẽ đòi hỏi chi phí để chuyển thành tiền Chẳng hạn, khi bạn bán một căn biệt thự, xe hơi nhiều khi bạn phải trả một khoản phí cho người môi giới, và nếu cần tiền ngay bạn còn phải bán rẻ Chính vì vậy, với mục đích cất trữ giá trị cho những nhu cầu trong tương lai gần, người ta có xu hướng cất trữ giá trị dưới dạng tiền Bởi vì tiền có tính chất đặc biệt là có thể đổi lấy một lượng giá trị hàng hoá hay dịch vụ
Do vậy việc cất trữ tiền cũng tương tự như cất trữ một lượng giá trị hàng hoá hay dịch
vụ mà nó có thể đổi được
1.4 Cung - cầu tiền tệ
1.4.1 Cầu tiền tệ và các qui luật lưu thông tiền tệ
Nhìn chung, trong nền kinh tế có hai nhu cầu lớn chi phối nhu cầu tiền đó là nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng Rõ ràng, nền kinh tế muốn phát triển được đòi hỏi các chủ thể cần gia tăng đầu tư, tạo thêm nhiều của cải vật chất Khi nhu cầu đầu tư càng tăng thì đòi hỏi nhu cầu tiền dành cho đầu tư càng lớn Nhu cầu tiền dành cho đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất tín dụng và tỷ suất sinh lời từ hoạt động đầu tư và chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước Đặc biệt, Nhà nước có thể khuyến khích các chủ thể gia tăng đầu tư bằng việc sử dụng công cụ lãi suất và chính sách thuế, chính sách chi tiêu công cộng Việc Nhà nước khuyến khích hay hạn chế nhu cầu đầu tư còn tùy thuộc vào tình trạng của nền kinh tế Nếu nền kinh tế phát triển quá “nóng” hoặc khi đang lạm phát cao thì cần hạn chế khối lượng tiền trong lưu thông, vì thế có thể làm giảm nhu cầu đầu tư của các chủ thể
Nhu cầu tiêu dùng tăng hay giảm cũng phụ thuộc nhiều vào mức thu nhập và lãi suất Nhìn chung, nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu đầu tư gia tăng sẽ làm thu nhập của các chủ thể tăng lên Điều đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng trong nền kinh tế, làm gia tăng nhu cầu tiền cho tiêu dùng Mặt khác, lãi suất cũng là một trong những yếu tố tác động
Trang 16tới nhu cầu tiêu dùng Nếu lãi suất cho vay tiêu dùng càng tăng thì nhu cầu tiêu dùng có
xu hướng giảm và ngược lại
Các qui luật lưu thông tiền tệ
Qui luật lưu thông tiền tệ của K.Marx
Khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông sẽ bằng thương số của tổng giá cả hàng hoá cần thiết và tốc độ luân chuyển tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là
1 năm
Như vậy, lượng tiền cần thiết cho lưu thông phụ thuộc vào hai yếu tố:
Tổng giá trị của hàng hóa lưu thông
Tốc độ trung bình của lưu thông tiền tệ
Ông đã đưa ra công thức xác định lượng tiền cần thiết cho lưu thông như sau:
Trong đó: Kct: Khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông
H : Tổng số giá cả hàng hóa cần lưu thông
V : Tốc độ lưu thông tiền tệ
Gọi Ktt là khối lượng tiền thực tế trong lưu thông Ta có:
Nếu Kct = Ktt: Khối lượng tiền và hàng tương đương nhau
Nếu Kct > Ktt: Khối lượng tiền tệ lưu thông trên thị trường bị thiếu, do đó sản xuất lưu thông hàng hoá bị đình trệ Lúc này cần có chính sách tăng thu nhập cho người dân, giảm giá cả hàng hoá, giảm thuế, tăng xuất khẩu
Nếu Kct < Ktt: Khối lượng tiền tệ đang lưu thông trên thị trường lớn hớn khả năng cung cấp hàng hoá, hay nói cách khác là lượng tiền lưu thông trên thị trường bị dư thừa Vì vậy phải có biện pháp rút bớt tiền thừa trong lưu thông, đồng thời kích thích sản xuất kinh doanh
Qui luật lưu thông tiền tệ của Irving Fisher
Ông đưa ra phương trình trao đổi như sau:
Trong đó: M: tổng khối lượng tiền mặt trong chu chuyển
V: tốc độ lưu thông của tiền tệ
H
Kct =
V
Trang 17P: giá cả hàng hóa cá biệt Q: số lượng hàng hóa Trong phương trình (I), vế phải (P*Q) là tổng giá cả hàng hóa tham gia giao dịch và vế trái (M*V) là tổng lượng chi trả
Mức giá thay đổi tỷ lệ nghịch với khối lượng buôn bán được thực hiện bằng tiền
Mức giá thay đổi tỷ lệ thuận với tốc độ lưu thông của tiền tệ
1.4.2 Cung tiền tệ
Khái niệm: Cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo đáp ứng
nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế
Nói cách khác, mức cung tiền tệ là toàn thể khối tiền đã được cung cấp cho nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Mức cung tiền tạo thành khối tiền tệ (Monetary Block) và bao gồm các thành phần sau:
Tiền giao dịch (M1): Là khối tiền có tính “lỏng” cao nhất trong các khối tiền, nó bao gồm:
Tiền mặt (Tiền pháp định/giấy bạc ngân hàng trung ương): có tính lỏng cao nhất Tiền mặt do Ngân hàng trung ương (ở Việt Nam gọi là NHNN) phát hành Các chi tiết về mệnh giá, tên gọi, quy ước giá trị của đồng tiền đều được quy định bằng luật
Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
Các thẻ thanh toán
Ngoại tệ tự do chuyển đổi
Vàng
Séc các loại
Các chứng từ có giá có khả năng thanh toán
Khối M2: Gồm những phương tiện có tính “lỏng” thấp hơn khối M1, nó bao gồm:
Trang 18Số lượng các phương tiện thanh toán được phát hành từ ngân hàng
Các phương tiện thanh toán được phát hành từ doanh nghiệp
Các phương tiện thanh toán được phát hành từ chính phủ
Các chủ thể cung ứng tiền cho nền kinh tế
Ngân hàng trung ương (NHTW)
NHTW là cơ quan độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng cho nền kinh tế
Cơ sở để NHTW quyết định việc cung ứng tiền
Tốc độ phát triển kinh tế
Tỷ lệ lạm phát
Tình trạng của cán cân ngân sách, cán cân thanh toán quốc tế
Chính sách động viên và phân phối các nguồn lực tài chính của nhà nước
Ngân hàng trung gian (chủ yếu là NHTM): cung ứng cho nền kinh tế loại bút tệ thông qua cơ chế tín dụng tạo tiền
Các chủ thể khác
Ngoài NHTW và các NHTM các chủ thể khác như nhà nước, doanh nghiệp có thể cung ứng cho nền kinh tế những phương tiện chuyển tải giá trị có thể thay thế cho tiền trong một số chức năng
Tóm lại: NHTW là chủ thể quan trọng nhất Tuy giấy bạc không phải là thành phần duy nhất
trong khối tiền tệ nhưng giấy bạc là thành phần chi phối quyết định các thành phần khác của khối tiền Đồng thời NHTW nắm trong tay các công cụ thực thi chính sách tiền tệ, do đó có thể tác động đến việc cung ứng tiền của các chủ thể khác
1.5 Chế độ lưu thông tiền tệ
1.5.1 Những nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ
Định ngh a về chế độ lưu thông tiền tệ
Trang 19Tiền là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa Nhưng chế độ lưu thông tiền tệ lại do nhà nước quy định Sự phát triển của chế độ lưu thông tiền tệ không những tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế mà còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức của nhà nước Trong quá trình phát triển, chế độ lưu thông tiền tệ ở mỗi quốc gia được hoàn thiện, dần phù hợp với trình độ phát triển kinh tế trong nước và quốc tế
Hiện nay, bên cạnh những đồng tiền quốc gia đã xuất hiện một số đồng tiền quốc tế của các liên minh kinh tế khu vực Những đồng tiền này dù xuất hiện dưới dạng nào cũng đều được điều chỉnh nghiêm ngặt bởi chế độ lưu thông tiền tệ
Vậy chế độ lưu thông tiền tệ là tập hợp các quy định pháp luật của quốc gia hoặc tổ chức quốc
tế về quản lý và lưu thông tiền trong phạm vi không gian và thời gian
Các yếu tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ
Trong chế độ công xã nguyên thủy, trao đổi diễn ra tự phát, dưới hình thái giá trị giản đơn là những vật ngang giá chung nên chế độ lưu thông tiền tệ chưa xuất hiện Khi nhà nước xuất hiện, cùng với sự xuất hiện của tiền kim loại thì chế độ lưu thông tiền tệ mới hình thành Trước chủ nghĩa tư bản, các nước đang trong thời kỳ thực hiện chế độ lưu thông tiền đúc với các đặc điểm :
Tiền bạc chiếm vị trí vật ngang giá chung, tiền vàng cũng tồn tại nhưng chỉ là thứ yếu Nhà nước nắm độc quyền đúc tiền nhưng việc tổ chức đúc tiền và lưu thông tiền đúc lại phân tán tản mạn
Tiền đúc ngày càng bị biến chât, mất giá giảm uy tín trong dân cư và từ đó làm cho lưu thông tiền đúc bị bấp bênh, kém ổn định và rối loạn
Khi Chủ nghĩa tư bản ra đời, chế độ lưu thông tiền tệ không ngừng được sửa đổi cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia Xét một cách khái quát, chế độ lưu thông tiền tệ của các nước bao gồm các nội dung chủ yếu sau :
Kim loại tiền tệ
Đây là nhân tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ một quốc gia, việc lựa chọn kim loại đóng vai trò vật ngang giá chung không phải là ngẫu nhiên mà tùy thuộc vào điều kiện khách quan về kinh tế chính trị và địa vị của quốc gia đó trên thế giới trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Trong thời kỳ đầu của chế độ tư bản chủ nghĩa, bạc vẫn tiếp tục được thừa nhận là kim loại tiền tệ, nhưng từ cuối thế kỷ 19, vàng đã bắt đầu chiếm lĩnh vai trò này của bạc
Đơn vị tiền tệ
Trang 20Nếu nhân tố kim loại tiền tệ được quy định tương đối thống nhất giữa các quốc gia thì nhân tố đơn vị tiền tệ lại tùy thuộc vào đặc điểm riêng biệt ở mỗi quốc gia đó
Đơn vị tiền tệ bao gồm : Tên gọi của đồng tiền và quy định tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền Đồng tiền của mỗi quốc gia có tên gọi khác nhau như đồng Việt Nam (VND), Dollar Mỹ (USD), đồng Sterling của Anh (GBP) Tiêu chuẩn giá cả là trọng lượng kim loại được quy định cho mỗi đơn vị tiền tệ Nó không được quy định cố định mà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế khách quan trong từng thời kỳ của từng quốc gia
Ví dụ : Trước năm 1930, Mỹ quy định 1USD = 1,540 gr vàng Sau năm 1945 thì chỉ
còn 1USD = 0,888671 gr vàng
Từ tiền tệ đơn vị, nhà nước sẽ phát hành tiền ước số và tiền bội số của đồng tiền nhằm tạo điều kiện dễ dàng trong giao dịch
Ví dụ : Đơn vị tiền tệ của Việt Nam là Đồng (ký hiệu là VND) Nước ta quy định 1
đồng =10 hào, 1 hào = 10 xu Ngoài ra, tiền bội số là 100 đ, 200 đ, 500 đồng, 1000 đồng, 2000 đồng, 5.000 đồng, 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồ ng, 200.000 đồng và 500.000 đồng
Quy định chế độ đúc và lưu thông tiền đúc
Các quốc gia trên thế giới đều có những quy định riêng về việc đúc tiền và thiết kế họa tiết, hoa văn trên đồng tiền để dễ nhận biết và phân biệt với tiền của các quốc gia khác Các nước còn quy định chế độ đúc tiền nhằm đảm bảo quyền lực kinh tế được tập trung vào nhà nước Thông thường, các nước thường quy định hai chế độ đúc tiền sau:
Đối với tiền đúc bằng kim loại quý, nhà nước cho phép người dân mang vàng, bạc tới
sở đúc tiền đổi lấy những đồng tiền đúc (đủ giá) mà không phải chịu bất kỳ một khoản chi phí nào Đối với loại tiền đúc bằng kim loại thường (là loại tiền mà giá trị danh nghĩa lớn hơn giá trị thực) thì nhà nước nắm độc quyền phát hành để ngăn chặn việc lạm phát tiền và có thêm thu nhập
Quy định về phát hành và tổ chức lưu thông tiền dấu hiệu
Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tiền càng tăng, trong khi hàm lượng vàng không đủ đáp ứng nhu cầu tiền, vì vậy các nước phải chuyển sang sử dụng tín tệ Tuy nhiên, vì tín tệ không có giá trị thực nên nếu phát hành nhiều sẽ gây tình trạng lạm phát nên nhà nước phải quy định việc phát hành tiền và tổ chức lưu thông đồng tiền hợp lý Trước đây, khi các nước áp dụng chế độ bản vị vàng, thì mỗi nước đều quy định chế độ
Trang 21tổ chức phát hành và lưu thông tiền dấu hiệu bằng các đạo luật ngân hàng, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển
Ví dụ: Ở Mỹ, đạo luật ngân hàng (cơ sở cho sự ra đời của FED) năm 1913 quy định : Tổng số kỳ phiếu ngân hàng phát hành phải có ít nhất 40 vàng đảm bảo, còn lại phải được đảm bảo bằng thương phiếu
Nếu không đủ 40 thì phải nộp thuế lũy tiến cho số phát hành vượt này (từ 32,5 đến
40 nộp 1 số phát hành, từ 25 đến 32,59 là 2 )
Ở Anh, đạo luật ngân hàng năm 1844 quy định :
Hạn mức cao nhất của số kỳ phiếu ngân hàng phát hành không có vàng đảm bảo là 14 triệu Bảng, đến năm 1929 nâng lên là 260 triệu Bảng
Nếu vượt quá mức này thì phải đảm bảo 100 bằng vàng
*Chế độ song bản vị
Là chế độ tiền tệ trong đó hai thứ kim loại quý là vàng và bạc đều được chọn làm vật ngang giá chung Sự tồn tại cả vàng và bạc trong các giao dịch đã được áp dụng phổ biến trong những năm đầu thế kỷ XIX tại Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Mỹ, Ý Tình hình này dẫn đến việc trong lưu thông tồn tại hai hệ thống giá cả khiến nhà nước đã phải ấn định một
tỷ lệ chuyển đổi chính thức giữa vàng và bạc Chẳng hạn, ở Mỹ cuối thế kỷ XVIII, tỷ giá pháp định vàng/bạc là 1/15 và ở Châu Âu những năm cuối thế kỷ XIX là 1/15,5 Việc quy định tỷ giá pháp định giữa vàng và bạc được nhà nước cố định trong một khoảng thời gian dài nhưng trên thị trường thì quan hệ tỷ lệ giữa vàng và bạc tuân theo quy luật cung cầu hàng hóa Đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX, hàng loạt mỏ bạc được phát hiện và khai thác ở Mexico đã làm cho giá trị của bạc giảm xuống đáng kể Hệ quả tất
Trang 22yếu là xảy ra việc đầu cơ đổi tiền để kiếm lời hiện tượng tiền vàng bị rút ra khỏi lưu thông còn tiền bạc tràn ngập trong lưu thông còn gọi là hiện tượng "đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt" hay "quy luật Gresham" Kết quả là tiền vàng biến ra khỏi lưu thông và trở thành thước đo giá trị, còn tiền bạc thì tràn ngập trong lưu thông Dần dần, chế độ song bản vị chuyển thành chế độ bản vị vàng
* Chế độ bản vị vàng
Bản vị vàng là chế độ tiền tệ điển hình của Chủ nghĩa tư bản Trong chế độ này nhà nước quy định một trọng lượng vàng nhất định làm tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền Ra đời đầu tiên ở nước Anh năm 1816, sau đó là Đức năm 1872, Mỹ và các nước Bắc Âu năm 1873 kế tiếp là Hà Lan 1875, Pháp, Úc, Ý, Thụy Sỹ 1876 và Nga, Nhật 1897 Đến cuối thế kỷ XX hầu hết các nước tư bản đều áp dụng chế độ này Mỗi quốc gia đều ban hành các quy định về tiêu chuẩn giá cả của các đồng tiền theo hàm lượng vàng như:
Anh 1GPB = 7,3224 gram vàng
Mỹ 1USD = 1,5042 gram vàng Pháp 1FRF = 0,3206 gram vàng Đức 1DM = 0,3600 gram vàng
Có thể nói, chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ ổn định nhất và mang nét đặc trưng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ tự do cạnh tranh Với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất và trao đổi hàng hóa thì nhu cầu tiền ngày càng tăng lên trong khi khối lượng vàng lại không đáp ứng được nhu cầu làm tiền Mặt khác, các nước tư bản phát triển xảy ra mâu thuẫn tranh giành quyền lợi kinh tế và chính trị đã dẫn tới
Trang 23cuộc đại chiến thế giới lần I Các nước từ chỗ dùng vàng đúc tiền đã chuyển sang việc tích trữ vàng dùng cho chiến tranh Trong khoảng thời gian từ 1900 đến 1913, 2/3 dự trữ vàng của thế giới đã tập trung vào tay 5 đế quốc lớn là Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga với hơn 7.500 tấn vàng (hơn 7 tỷ dollar vàng) Mặt khác, NHTW các nuớc cũng hạn chế và tiến tới đình chỉ chuyển đổi tiền giấy ra vàng (trở thành tiền giấy bất khả hoán), tiền giấy được phát hành ngày càng nhiều và không còn được đảm bảo bằng vàng nữa Điều này làm cho tính chất ổn định của tiền mất dần dẫn tới lạm phát tiền dấu hiệu, Chiến tranh thế giới lần I bùng nổ cũng là lúc chế độ bản vị vàng sụp đổ
b) Chế độ lưu thông tiền giấy
* Chế độ lưu thông tiền giấy khả hoán
Chế độ bản vị Bảng Anh
Sau khi chiến tranh thế giới lần I kết thúc, các nước tư bản bắt tay vào khôi phục kinh
tế Bảy năm sau các nước đã bắt đầu đi vào ổn định Trong điều kiện đó, để xây dựng một chế độ tiền tệ quốc tế làm cơ sở cho sự phát triển về mậu dịch, tín dụng và thanh toán của hệ thống TBCN, hội nghị thanh toán quốc tế được tổ chức tại Gie-nơ (Ý) dưới
sự chủ trì của Anh-nước đứng đầu hệ thống tư bản bấy giờ Xuất phát từ tình hình thực
tế các nước đều bị giảm dự trữ vàng vì đã chi dùng cho chiến tranh nên đều không có khả năng duy trì chế độ bản vị vàng, hôi nghị tiền tệ lần này đã đề ra phương án xây dựng chế độ bản vị ngoại tệ dựa trên đồng Bảng Anh
Theo chế độ tiền tệ này, các nước tư bản sẽ thừa nhận đồng Bảng Anh là đồng tiền dự trữ chính thức và thanh toán quốc tế Đồng tiền nước khác mang tính chất phụ thuộc, nghĩa là việc phát hành tiền và lưu thông ngoài cơ sở bằng vàng có thể dựa trên cơ sở đảm bảo bằng đồng Bảng Anh Như vậy, đồng Bảng Anh đã trở thành đồng tiền chủ chốt của hệ thống tư bản Ngoài ra, đồng USD cũng được thừa nhận là đồng tiền chủ thứ hai của chế độ tiền tệ này
Chế độ bản vị đồng Bảng Anh được xem là chế độ bản vị vàng cắt xén vì vàng không được tự do lưu thông và việc chuyển đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng đã có những hạn chế nhất định Cụ thể là:
Các nước tư bản có tiềm lực kinh tế mạnh sẽ áp dụng chế độ vàng thoi
Ví dụ
Trang 24Nước Anh năm 1925 quy định chuyển đổi 1.700 bảng lấy thoi vàng nặng 12,444kg (khoảng 400 ounce) Pháp năm 1928 thì quy định chuyển đổi 215.000 FrF lấy thoi vàng nặng 12,7kg (khoảng 450 ounce)
Riêng các nước tư bản còn lại do tiềm lực kinh tế yếu thì phải áp dụng chế độ bản vị hối đoái vàng, nghĩa là phải thông qua một ngoại tệ làm trung gian mới đổi được vàng
Qua đó ta thấy mối dây liên hệ giữa tiền giấy và vàng đã có một khoảng cách nhất định và tính bấp bênh, kém ổn định của chế độ tiền tệ này Chế độ bản vị đồng bảng Anh đã đặt nước Anh vào vị trí thuận lợi và phát hành đồng bảng dùng chung cho
cả thế giới tư bản Anh đã mặc sức phát hành cho các mục đích dự trữ, trả nợ, viện trợ đến khi trong kho dự trữ của các nước tư bản tràn ngập đồng bảng Anh thì cũng là lúc Anh rơi vào tình trạng chảy máu vàng vì phải đảm bảo một tỷ lệ chuyển đổi theo quy định của chế độ vàng thoi, đặc biệt là khi đại khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ (1929-1933) Pháp thời kỳ này rất tích cực trong việc “săn vàng” của nước Anh Chỉ sau
4 năm dự trữ vàng của Pháp đã tăng 3 lần, năm 1932 đạt mức gần 5.000 tấn vàng chiếm
25 dự trữ của thế giới tư bản Đến ngày 21/9/1931, Anh buộc phải tuyên bố phá giá
33 đồng Bảng so với đồng USD và đình chỉ chuyển đổi bảng Anh ra vàng Điều này khiến các nước đổ xô sang Mỹ săn vàng, khiến Mỹ ngày 6/3/1933 cũng phải tuyên bố đình chỉ đổi USD ra vàng đồng thời ra lệnh quốc hữu hóa toàn bộ nguồn dự trữ vàng của các doanh nghiệp, cơ quan, cá nhân trên toàn quốc Ngày 31/1/1934 Mỹ tuyên bố phá giá 41 giá trị đồng USD
Chế độ bản vị đồng USD
Sau chiến tranh thế giới lần II, Mỹ là nước hưởng lợi nhiều nhất vì không bị tàn phá bởi chiến tranh và bán vũ khí làm giàu Mỹ trở thành nước chủ nợ lớn nhất của thế giới tư bản Mỹ muốn nắm lấy sự lãnh đạo về lĩnh vực tài chính-tiền tệ nhằm thực hiện mong muốn làm bá chủ thế giới Năm 1944 Mỹ tiến hành tổ chức hội nghị tiền tệ quốc tế tại Bretton-Woods năm 1944 Hội nghị diễn ra từ ngày 1/7/1944 tới ngày 22/7/1944 với sự tham gia của 44 nước tư bản Tại hội nghị này, các nước đã thảo luận và đi đến thống nhất các nội dung cơ bản sau:
Thành lập quỹ tiền tệ quốc tế IMF và ngân hàng quốc tế khôi phục và phát triển Bank for International Reconstruction and Development) với mục đích giúp các quốc gia đang gặp khó khăn về tài chính
Trang 25(BIRD-Xây dựng chế độ tỷ giá cố định
Xóa bỏ cơ chế quản chế ngoại hối
Hội nghị cũng đã thống nhất xây dựng chế độ tiền tệ sau chiến tranh thế giới dựa trên bản vị đồng USD với quy ước giá cả 1USD = 0,888671 gram vàng sẽ được công nhận
là phương tiện cất trữ và thanh toán quốc tế
Với tiêu chuẩn giá cả này, các nước sẽ căn cứ vào tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền nước mình để xác định tỷ giá cố định làm cơ sở cho quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế Ngân hàng trung ương của các nước phải can thiệp vào thị trường hối đoái để giá USD không biến động quá biên độ +/-1% Mỹ và các nước thành viên IMF có trách nhiệm đổi tiền nước họ ra vàng cho NHTW các nước khác nếu đó là tiền trong quan hệ ngoại thương Trên thị trường Mỹ không trực tiếp đổi USD ra vàng nhưng đảm bảo sẽ bán vàng ra thị trường với giá 35USD/ounce để giữ giá vàng biến động không lớn hơn 20cent
Cũng giống như nước Anh, Mỹ đã mặc sức phát hành USD để viện trợ, cho vay, để thành lập các căn cứ quân sự khắp nơi trên thế giới Lượng USD được phát hành ngày càng nhiều hơn số lượng vàng mà Mỹ có đã đẩy đồng USD ngày càng mất giá và các quốc gia lao vào cuộc chạy đua săn lùng vàng của Mỹ Năm 1970, khi dự trữ vàng của
Mỹ chỉ còn 14 tỷ USD thì lượng USD được lưu hành ở nước ngoài đã lên tới 44 tỷ, đồng USD mất giá ngiêm trọng Năm 1968, Mỹ đã phải hủy bỏ đạo luật dùng vàng đảm bảo cho 25% tiền giấy lưu thông và chỉ đổi USD ra vàng cho tư nhân nước ngoài Ngày 18/02/1971 Mỹ buộc phải phá giá đồng USD 7,89 , và ngày 12/02/1973 tiếp tục phá giá thêm 10 nữa Chế độ bản vị USD hoàn toàn sụp đổ và chấm dứt thời kỳ các nước
áp dụng chế độ bản vị ngoại tệ và cơ chế tiền giấy bất khả hoán
Chế độ lưu thông tiền giấy không chuyển đổi ra vàng
Sau khi chế độ bản vị đồng USD sụp đổ, cơ chế phát hành tiền giấy khả hoán kết thúc Các nước chuyển sang thời kỳ áp dụng chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán
Khi đó, NHTW các nước là cơ quan đại diện hợp pháp của nhà nước để phát hành tiền đưa vào lưu thông Tiền giấy do NHTW phát hành là đồng tiền pháp định thực hiện chức năng là trung gian trao đổi với số lượng không hạn chế trong nước
Tuy không còn được chuyển đổi trực tiếp ra vàng nhưng người dân vẫn có thể dùng tiền này để mua vàng trên thị trường và NHTW các nước vẫn phải dựa trên một tỷ lệ dự trữ vàng cần thiết để đảm bảo sự ổn định và sức mạnh của đồng tiền nước mình Sức mạnh
Trang 26đồng tiền quốc gia được đánh giá qua sức mạnh của nền kinh tế và sự đảm bảo của khối lượng vàng dự trữ của quốc gia đó Mặc dù vàng không còn được chính thức thừa nhận
là tiền trong lưu thông nhưng nó vẫn là một dạng của cải được người dân và chính phủ các quốc gia dự trữ làm của cải
Việc phát hành tiền giấy không đuợc đảm bảo bằng vàng sẽ làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát Vì suy cho cùng, tiền giấy bất khả hoán không có giá trị thực, nền phát hành càng nhiều, vượt quá so với tỷ lệ hàng hóa tương ứng sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng Vì vậy, NHTW các nước phải sử dụng các công cụ kiểm soát lượng tiền cung ứng, kịp thời điều chỉnh cung cầu tiền cho phù hợp với nhu cầu tiền của nền kinh tế Trong chế độ lưu thông tiền giấy hiện nay, thì vai trò của NHTW trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ là rất quan trọng để tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh
-Phần bù đắp các chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí NVL đầu vào, chi phí nhân công, chi phí mua ngoài khác… Phần còn lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước là lợi nhuận của doanh nghiệp
Các sản phẩm sản xuất ra phải được thực hiện giá trị trên thị trường, tức là được thị trường chấp nhận, người tiêu dùng chấp nhận trả tiền để có được sản phẩm dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của sản phẩm sản xuất
ra sau khi được thực hiện sẽ được tồn tại dưới hình thái tiền tệ Vì thế quá trình phân phối được thực hiện dưới dạng phân chia các khoản thu bằng tiền sau khi bán sản phẩm Kết quả của quá trình phân phối này là sự hình thành các quỹ tiền tệ trong xã hội, bao gồm quỹ tiền tệ của các doanh nghiệp và quỹ tiền tệ của dân cư Đây chính là quá trình phân phối lần đầu
Trang 27Để đáp ứng nhu cầu của mình, các chủ thể trong nền kinh tế lại tiếp tục sử dụng các quỹ tiền tệ của mình, dẫn tới việc hình thành các quỹ tiền tệ mới Các quá trình phân phối này gọi là phân phối lại hay tái phân phối
Đặc biệt với sự ra đời của nhà nước, một quỹ tiền tệ tập trung khổng lồ đã được hình thành trên cơ sở đóng góp của các chủ thể trong xã hội để tài trợ cho các hoạt động của Nhà nước Quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ này làm hình thành nên các quan hệ phân phối diễn ra giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế khác trong xã hội Ví
dụ quan hệ nộp thuế của các doanh nghiệp và dân cư cho nhà nước, hoặc quan hệ tài trợ, trợ cấp của nhà nước đối với các doanh nghiệp, dân cư…
Sự vận động của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ giữa các quỹ tiền tệ do kết quả của việc tạo lập và sử dụng các quỹ này nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu hoặc tích lũy của các chủ thể là biểu hiện bề ngoài của phạm trù tài chính
Các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế có thể chia thành 5 nhóm chính:
Qũy tiền tệ của các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ Đây là quỹ tiền tệ của khâu trực tiếp sản xuất kinh doanh
Qũy tiền tệ của các tổ chức trung gian tài chính
Qũy tiền tệ của nhà nước, trong đó quỹ ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ lớn nhất và quan trọng nhất của nhà nước Đây là quỹ tiền tệ mà nhà nước sử dụng một cách tập trung để giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế xã hội
Qũy tiền tệ của khu vực dân cư
Qũy tiền tệ của các tổ chức chính trị-xã hội
Các quỹ tiền tệ không chỉ hình thành từ việc thực hiện giá trị sản phẩm được sản xuất
mà còn có thể được tạo ra từ các tài sản dưới dạng hiện vật có thể chuyển hóa thành tiền Xét trên phạm vi quốc gia, các quỹ tiền tệ có thể hình thành không chỉ từ các luồng tiền tệ trong nước mà còn tư các luồng tiền tệ huy động được từ nước ngoài Tổng hợp tất cả các quỹ tiền tệ và các tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền được gọi
là nguồn tài chính Các nguồn tài chính là cơ sở và đối tượng của hoạt động phân phối nhằm đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế
Như vậy: „„Tài chính là quá trình phân phối các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng
nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hì nh thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế”
Trang 28Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước chủ yếu thông qua việc các doanh nghiệp nộp thuế vào NSNN
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và dân cư thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa Doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hóa tiêu dùng cho dân cư Suy cho cùng các doanh nghiệp dù sản xuất hàng hóa tiêu dùng hay sản xuất máy móc thiết bị thì mục tiêu cuối cùng là để phục vụ nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ cho người dân trong xã hội Vì vậy, dân cư đóng vai trò là cầu tiêu dùng, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tạo nên sự phát triển của doanh nghiệp và là động lực hướng tới cho sự thành công của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa Nhà nước và dân cư chủ yếu thông qua các mối quan hệ dân cư nộp thuế cho nhà nước và nhà nước vay nợ từ dân cư để bù đắp thâm hụt NSNN
Do có sự giới hạn về nguồn tài chính trong khi nhu cầu là vô hạn nên đòi hỏi các chủ thể luôn phải chọn lựa trong số các nhu cầu thực tế nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu các chi phí tới mức thấp nhất Việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ phản ánh kết quả của một quá trính cân đối giữa quy mô nguồn tài chính và nhu cầu thông qua phân tích lợi ích và chi phí Theo đó, đối với các chủ thể tham gia giao dịch tài chính hay phân phối tài chính thì chỉ khi nào lợi ích lớn hơn chi phí thì mới có thể đi đến quyết định thực hiện các giao dịch đó
Từ những phân tích ở trên cho ta thấy: Bản chất tài chính phản ánh sự ràng buộc về
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính
2.2 Chức năng của Tài chính
2.2.1 Chức năng huy động nguồn tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển các chủ thể cần phải có nguồn lực tài chính nhất định Chức năng huy động nguồn tài chính, hay còn gọi là chức năng huy động vốn, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu
Trang 29cầu phát triển của nền kinh tế Chức năng huy động vốn được thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố:
Chủ thể cần vốn
Các nhà đầu tư
Thị trường tài chính và các định chế tài chính
Môi trường tài chính và kinh tế
Khi các chủ thể tiến hành huy động nguồn tài chính họ phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn Các chủ thể cần tiến hành xây dựng, thiết lập các chính sách huy động vốn và sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất với chi phí nhỏ nhất Các yêu cầu đặt ra cho chính sách huy động vốn là:
Về thời gian: Đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn để giảm thiểu chi phí
2.2.2 Phân bổ nguồn tài chính
Qua chức năng này, các nguồn lực, các quỹ tiền tệ chuyên dùng được hình thành với những quy mô nhất định tương ứng với nhu cầu chi tiêu của các chủ thể
Vấn đề trọng tâm của chiến lược phân bổ nguồn lực tài chính là làm sao đạt hiệu quả cao nhất khi nhu cầu vốn là vô hạn trong khi nguồn lực bị giới hạn, về mặt kỹ thuật phân bổ nguồn lực tài chính phải dựa trên nền tảng của chiến lược quản lý theo mục tiêu Khi lập một chiến lược phân bổ tài chính trước hết chủ thể cần xem xét và đánh giá thực trạng nguồn lực sẵn có, môi trường kinh doanh, pháp luật, điểm mạnh và yếu, cơ hội cũng như thách thức đặt ra cho đơn vị Ta có thể tóm tắt quy trình chiến lược như sau:
Trang 30Quy trình chi n lược phân ổ nguồn lực tài chính
Sau khi đánh giá, chúng ta sẽ nhận thức được thực trạng nguồn lực hiện tại và thiết lập các mục tiêu chiến lược phát triển Bước đánh giá ban đầu rất quan trọng được coi như
là nền móng cơ bản cho chiến lược sau này Nếu chúng ta đánh giá sai hoặc không chính xác sẽ rất khó khăn trong việc xác định mục tiêu chiến lược
Việc thiết lập các mục tiêu chiến lược phát triển cần tính đến các khía cạnh: quản lý tốt, thể chế lành mạnh, tăng trưởng bền vững, nguồn nhân lực… Tuy vậy cần xác định cho được mục tiêu chiến lược ưu tiên, vì như trên chúng ta đã phân tích, nhu cầu của doanh nghiệp là vô hạn trong khi nguồn lực có giới hạn, nếu ta dàn trải nhiều mục tiêu nhưng không xác định được mục tiêu quan trọng nhất sẽ dẫn đến việc phân bổ nguồn tài chính không hiệu quả Nên thực hiện việc lựa chọn và đánh đổi các mục tiêu trong sự so sánh với các nguồn lực sẵn có
Khi đã thiết lập được mục tiêu chiến lược, chúng ta cần xác định được các phương tiện
để đạt được mục tiêu đề ra tức là chúng ta cần chuyển mục tiêu thành chiến lược hành động, lập và tổ chức thực hiện chiến lược nhằm đạt mục tiêu đề ra Một chiến lược phân
bổ tài chính được cho là thành công khi nó sau một quy trình phân bổ vị trí của chủ thể thực hiện chiến lược đó được nâng cao và đạt được hiệu quả mong muốn
2.2.3 Kiểm tra tài chính
Kiểm tra tài chính bắt nguồn từ một chức năng, thuộc tính vốn có của tài chính và có quan hệ biện chứng với chức năng huy động và phân bổ nguồn lực tài chính Kiểm tra
Chiến lược quản lý theo mục tiêu
Vị trí hiện tại
Cách thức đạt được mục tiêu
Mục tiêu phát triển
Tổ chức
thực hiện
Trang 31tài chính phản ánh hoạt động thu thập và đánh giá những bằng chứng về thông tin liên quan đến quá trình huy động và phân bổ nguồn tài chính với mục đích đảm bảo tính hiệu quả và đúng đắn cũng như hiệu lực của việc lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Tính đúng đắn: Kiểm tra việc lập và sử dụng các quỹ tiền tệ có cần thiết và hợp pháp hay không?
Tính hiệu quả: Việc sử dụng các quỹ tiền tệ có tiết kiệm và sinh lời không?
Tính hiệu lực: Kiểm tra việc sử dụng các quỹ tiền tệ có đạt được các mục tiêu dự kiến hay không?
Qua việc kiểm tra tài chính đã giải quyết được mâu thuẫn trong sự phát triển giữa sự giới hạn nguồn lực tài chính và nhu cầu vô hạn của sự phát triển, góp phần cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong nền kinh tế
Tóm lại: Các chức năng tài chính có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau, làm tiền đề
và bổ sung cho nhau Trong đó, chức năng tổ chức vốn làm cơ sở để thực hiện các chức năng phân phối, chức năng phân phối và chức năng tổ chức vốn sẽ tạo ra nhu cầu kiểm tra, giám sát bằng đồng tiền để đảm bảo cho việc thực hiện chức năng phân phối phù hợp với các qui luật kinh tế khách quan, nâng cao tính hiệu quả trong phân phối các nguồn tài chính trong xã hội
Hệ thống tài chính
Khái niệm và cơ cấu hệ thống tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các chủ thể diễn ra rất đa dạng, phong phú, đan xem tác động qua lại lẫn nhau trong một hệ thống nhất, đó là hệ thống tài chính
Có thể hiểu hệ thống tài chính là một hệ thống gồm có thị trường tài chính và các chủ thể tài chính thực hiện chức năng gắn kết cung - cầu về vốn lại với nhau
Chức năng cơ bản của hệ thống tài chính là tạo kênh phân phối vốn từ người thừa vốn đến người có nhu cầu về vốn Qua hệ thống tài chính, người thừa vốn có cơ hội để đầu
tư và gia tăng lợi nhuận từ đồng vốn nhàn rỗi, còn những chủ thể thiếu vốn có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để thoả mãn nhu cầu của mình Ngoài ra, hệ thống tài chính còn cung cấp các dịch vụ tài chính như: chia sẻ rủi ro, tính lỏng và thông tin các dịch vụ tài chính
Trang 32Cấu trúc hệ thống tài chính
Mối quan hệ giữa các định chế tài chính và thị trường tài chính
Các định chế tài chính và thị trường tài chính có mối quan hệ hữu cơ với nhau Theo mô hình kinh doanh đa năng, hoạt động của các định chế tài chính không chỉ nằm ở một lĩnh vực nhất định mà trải rộng trên nhiều lĩnh vực thuộc thị trường tiền tệ và thị trường vốn, nghiệp vụ này bổ sung cho nghiệp vụ kia, tác động qua lại và bù trừ về rủi ro, lợi ích, giúp cho các định chế tài chính và thị trường tài chính cùng tồn tại và phát triển
2.3.3 Công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các nhà đầu tư:
Công ty tài chính, công ty bảo hiểm tham gia thị trường chứng khoán với tư cách vừa
là người mua vừa là người bán để tìm kiếm lợi nhuận thông qua hình thức nhận cổ tức, lãi trái phiếu, hay tìm kiếm giá trị thặng dư hoặc tìm kiếm thanh khoản Vai trò của các
tổ chức này ở những nước có nền kinh tế phát triển ngày càng trở nên quan trọng trong việc tăng quy mô, tạo sự sôi động cho thị trường Mặt khác, các chủ thể này có thể tham gia thị trường với tư cách là nhà huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp Đây là một trong những kênh huy động vốn hiệu quả và đang được các công ty sử dụng nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh, tạo thêm sự linh hoạt trong việc huy động vốn
Các nhà đầu tư là chủ thể rất quan trọng của thị trường tài chính Suy cho cùng, các nhà đầu tư tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận tư đồng vốn đầu tư của mình Khi thị trường phát triển lành mạnh, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư gia tăng sẽ khuyến khích các nhà đầu tư chủ động cung ứng thêm vốn cho thị trường tài chính đồng thời sẽ thu hút thêm được các nhà đầu tư mới Qua đó càng làm cho thị trường phát triển đa dạng, hoàn thiện hơn, mang lại lợi ích cho nhà đầu tư Tuy nhiên, khi đồng vốn
Vốn
Thị trường tài chính Vốn
Vốn
Vốn
Những trung gian tài chính Vốn
Trang 33đầu tư không mang lại hiệu quả, đặc biệt là khi xẩy ra khủng hoảng tài chính-tiền tệ, tâm lý “bầy đàn” tháo chạy khỏi thị trường tài chính có thể ngay lập tức làm sụp đổ thị trường, gây những tác hại không thể lường hết được cho sự phát triển của thị trường tài chính và của nền kinh tế
2.3.4 Ngân hàng thương mại
Trên thị trường sơ cấp, các NHTM tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là nhà phát hành cổ phiếu để tạo vốn khi mới thành lập, hoặc tăng vốn bổ sung, cũng như phát hành trái phiếu để huy động vốn NHTM còn thực hiện các dịch vụ trên thị trường chứng khoán như tư vấn về phát hành, làm đại lý phát hành để hưởng hoa hồng, hoặc bảo lãnh phát hành toàn bộ để hưởng phí bảo lãnh
Trên thị trường thứ cấp các NHTM còn thực hiện các dịch vụ khác với tư cách là nhà trung gian môi giới chứng khoán để hưởng phí hoa hồng, lưu giữ chứng khoán, nhận và trả cổ tức cho khách hàng, làm dịch vụ thanh toán chứng khoán, thực hiện các sản phẩm phái sinh (hoán đổi, kỳ hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với trái phiếu, cổ phiếu), cho vay chứng khoán Các ngân hàng lớn còn thành lập công ty chứng khoán Các công ty chứng khoán này sẽ tham gia thị trường chứng khoán thông qua các nghiệp vụ được cấp phép
2.3.5 Các định chế tài chính trung gian đóng vai trò là tổ chức hỗ trợ nâng cao
mức tín nhiệm
Trong các quá trình hoạt động các định chế tài chính trung gian có thể dùng uy tín của mình để đánh giá và hỗ trợ đảm bảo một phần nghĩa vụ thanh toán cho các tổ chức phát hành mất khả năng chi trả, qua đó góp phần nâng cao mức tín nhiệm cho các tổ chức phát hành chứng khoán Các định chế tài chính thực hiện việc hỗ trợ nâng cao mức tín nhiệm thường là các định chế có tiềm lực mạnh về tài chính, có uy tín cao trong thanh toán và có khả năng đánh giá rủi ro liên quan đến dự án xây dựng cơ sở hạ tầng
2.3.6 Các định chế tài chính trung gian đóng vai trò là bên thứ ba trong quá trình chứng khoán hoá
Chứng khoán hoá là một quá trình kết hợp lại các công cụ giống như các khoản nợ, các khoản vay cầm cố hay thế chấp có tính lỏng thấp thành chứng khoán có tính lỏng cao,
có thể chuyển nhượng trên thị trường tài chính Quá trình chứng khoán hoá các khoản vốn có tính thanh khoản thấp luôn phải có một bên thứ ba đứng giữa làm trung gian Bên thứ ba này là các định chế tài chính chuyên nghiệp trong định giá chứng khoán, có
Trang 34uy tín và tiềm lực tài chính, đồng thời có khả năng bảo lãnh phát hành và tạo dựng thị trường cho các công cụ tài chính mới
2.4 Thị trường tài chính
2.4.1 Khái niệm
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng các khoản vốn ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua các công cụ tài chính nhất định Các công cụ tài chính còn được gọi là các chứng khoán Chứng khoán có hai loại:
Chứng khoán nợ: là những chứng khoán xác nhận quyền được nhận lại khoản vốn đã
ứng trước (cho vay) cho nhà phát hành khi chúng đáo hạn cũng như quyền được hưởng những khoản lãi theo thỏa thuận từ việc cho vay Chứng khoán nợ được xem là những công cụ tài chính có thu nhập cố định do nó cam kết trả cho người sở hữu chúng những khoản tiền cố định trong tương lai
Chứng khoán vốn: là những chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một phần thu nhập
và tài sản của công ty phát hành Khi nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán nợ, họ đã trở thành người chủ của một phần hoặc toàn bộ công ty phát hành
Những người cần vốn (thường là các công ty hay chính phủ) thông qua việc phát hành (bán) các chứng khoán để huy động vốn từ thị trường tài chính Còn những người có tiền (các nhà đầu tư) bằng cách mua các chứng khoán đã cung cấp các khoản vốn cho các nhà phát hành Như vậy đối với những người cần vốn, chứng khoán là một phương tiện tài chính để huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn hoặc dài hạn, còn đối với những người thừa tiền, chứng khoán là một phương tiện đầu tư để hưởng những thu nhập nhất định Cùng với sự phát triển của hoạt động tài chính, ngoài chức năng lưu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, thị trường tài chính còn cung cấp các phương tiện
để quản lý những rủi ro liên quan đến các hoạt động lưu chuyển vốn này Chính vì vậy, bên cạnh hai loại cơ bản là chứng khoán nợ và chứng khoán vốn, trên thị trường tài chính còn lưu thông các công cụ tài chính đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý các rủi ro liên quan đến không chỉ các tài sản sản tài chính mà cả hàng hoá và tiền tệ Các công cụ tài chính đặc biệt này được gọi là các công cụ phái sinh hay chứng khoán phái sinh (derivaties) Chứng khoán phái sinh có đặc điểm là giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ biến động giá cả của các hàng hoá trên thị trường (bao gồm không chỉ chứng khoán nợ, chứng khoán vốn, mà cả ngoại hối và hàng hoá thông thường)
Trang 352.4.2 Phân loại thị trường tài chính
a) Căn cứ vào kỳ hạn của chứng khoán mua bán trên thị trường
* Thị trường tiền tệ (Money market)
Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các chứng khoán nợ ngắn hạn – short-term debt securities (có thời hạn đáo hạn từ một năm trở xuống)
Những người đi vay/phát hành trên thị trường này là những người đang thiếu hụt tạm thời về tiền tệ để đáp ứng cho các nhu cầu thanh toán Thông qua các giao dịch mua bán quyền sử dụng vốn vay ngắn hạn, thị trường tiền tệ đã cung ứng một lượng tiền tệ cho
họ để thoả mãn nhu cầu thanh toán Cũng vì thế mà nó được gọi là “thị trường tiền tệ” Những người mua/cho vay trên thị trường tiền tệ là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi, chưa muốn đầu tư hoặc đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư, do vậy họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình trong thời hạn ngắn để tranh thủ hưởng lãi Đối với họ, việc đầu tư vào thị trường tiền tệ chỉ mang tính nhất thời, họ không quan tâm nhiều tới mức sinh lợi mà chủ yếu là vấn đề an toàn và tính thanh khoản để có thể rút vốn ngay khi cần
Trên thị trường tiền tệ, do khối lượng giao dịch chứng khoán thường có qui mô lớn nên các nhà đầu tư (cho vay) thường là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty tài chính hoặc phi tài chính, còn những người vay vốn thường là chính phủ, các công ty và ngân hàng
Tuỳ theo phạm vi các chủ thể được tham gia giao dịch trên thị trường mà thị trường tiền
tệ Ở Việt nam, thị trường tiền tệ được tổ chức dưới các hình thức: thị trường nội tệ liên ngân hàng (đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 1994)
Trang 36* Thị trường vốn (Capital market)
Thị trường vốn là thị trường mua bán các chứng khoán nợ dài hạn (có thời hạn đáo hạn trên một năm) và các chứng khoán vốn
Do các chứng khoán mua bán trên thị trường vốn có thời hạn dài nên các nhà phát hành
có thể sử dụng vốn thu được để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Vì vậy thị trường vốn được coi là thị trường cung ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế
b) Căn cứ vào mục đích hoạt động của thị trường
* Thị trường sơ cấp (Primary market)
Thị trường sơ cấp là thị trường trong đó các chứng khoán mới được các nhà phát hành bán cho các khách hàng đầu tiên, và do vậy còn được gọi là thị trường phát hành Thị trường này cho phép các chủ thể kinh tế như các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ huy động vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng khoán mới Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán tại thị trường này chủ yếu diễn ra giữa các nhà phát hành và các nhà đầu tư lớn như các công ty chứng khoán, ngân hàng đầu tư hay công ty bảo hiểm theo hình thức bán buôn Các nhà đầu tư này khi đó đóng vai trò như nhà bảo lãnh cho đợt phát hành chứng khoán (underwriting securities), họ sẽ mua lại toàn bộ số chứng khoán phát hành ra theo mức giá thoả thuận (thường là thấp hơn mức giá công bố) để sau này bán lẻ ra thị trường cho các nhà đầu tư khác Vì các thoả thuận về bảo lãnh chứng khoán thường được tổ chức riêng giữa các nhà bảo lãnh và nhà phát hành nên hoạt động giao dịch cụ thể tại thị trường này không được công khai cho mọi người
* Thị trường thứ cấp (Secondary market)
Thị trường thứ cấp là thị trường trong đó các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp được mua đi bán lại, làm thay đổi quyền sở hữu chứng khoán Nó được xem như thị trường bán lẻ các chứng khoán để phân biệt với thị trường sơ cấp là thị trường bán buôn các chứng khoán
Thị trường thứ cấp đảm bảo khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền, cho phép những người giữ chứng khoán có thể rút ra khỏi sự đầu tư tại thời điểm nào mà họ mong muốn hoặc có thể thực hiện việc di chuyển đầu tư từ khu vực này sang khu vực khác Sự khác nhau chủ yếu giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là ở chỗ hoạt động của thị trường sơ cấp làm gia tăng thêm vốn cho nền kinh tế còn hoạt động của thị
Trang 37trường thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các chứng khoán đã phát hành, mà không làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Thị trường sơ cấp đóng vai trò tạo cơ sở cho những hoạt động của thị trường thứ cấp vì
nó là nơi tạo ra hàng hoá để mua bán trên thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp cũng
có tác dụng trở lại đối với thị trường sơ cấp, đóng vai trò tạo động lực cho sự phát triển của thị trường này Tác dụng của thị trường thứ cấp tới thị trường sơ cấp được thể hiện
ở hai chức năng của nó:
Thứ nhất: thị trường thứ cấp tạo ra tính lỏng cho các chứng khoán được phát hành ra
trên thị trường sơ cấp, nhờ vậy sẽ làm tăng tính hấp dẫn cho các chứng khoán, giúp cho việc phát hành chúng tại thị trường sơ cấp được thuận lợi;
Thứ hai: thị trường thứ cấp đóng vai trò xác định giá của các chứng khoán sẽ được phát
hành trên thị trường sơ cấp Các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp sẽ không thể mua các chứng khoán phát hành mới tại thị trường này với giá cao hơn giá mà họ nghĩ sẽ có thể bán được tại thị trường thứ cấp Nếu chứng khoán của một nhà phát hành được mua bán với giá cao tại thị trường thứ cấp thì nhà phát hành càng có cơ hội thu được nhiều vốn nhờ việc phát hành các chứng khoán mới tại thị trường sơ cấp
Chính vì những đặc điểm này mà các tổ chức phát hành cũng như các nhà đầu tư quan tâm nhiều tới thị trường thứ cấp hơn là thị trường sơ cấp
c) Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường
Thị trường thứ cấp hoạt động dưới hai hình thức: thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
* Thị trường tập trung (Exchanges)
Thị trường tập trung là thị trường mà việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện có tổ chức và tập trung tại một nơi nhất định Thị trường tập trung là các Sở giao dịch chứng khoán như Sở giao dịch chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo, Sở giao dịch chứng khoán London, Sở giao dịch chứng khoán Paris Sở giao dịch được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần Sở giao dịch cung cấp cho những người mua bán chứng khoán các phương tiện và dịch vụ cần thiết để tiến hành giao dịch như: dịch vụ thanh toán, lưu ký chứng khoán, hệ thống máy tính nối mạng, hệ thống bảng giá điện tử để yết giá chứng khoán, hệ thống ghép lệnh mua và bán chứng khoán
Trang 38Hoạt động mua bán chứng khoán tại Sở giao dịch bắt buộc phải thông qua các trung gian môi giới gọi là các nhà môi giới chứng khoán (brokers) Các nhà môi giới muốn hoạt động tại Sở giao dịch phải làm thủ tục đăng ký với Sở giao dịch chứng khoán Những người mua và bán chứng khoán sẽ thông qua những đại diện giao dịch của các công ty chứng khoán để đưa ra các lệnh mua và bán chứng khoán Sau đó, các lệnh mua
và bán của nhà đầu tư sẽ được nhập vào hệ thống giao dịch chung của Sở giao dịch thông qua hệ thống máy tính để tự động khớp giá giữa các lệnh mua và bán phù hợp Bên cạnh đó, các nhà đầu tư có thể sử dụng hình thức đàm phán trực tiếp tại nhiều Sở giao dịch, người ta gọi là giao dịch thỏa thuận Không phải tất cả các loại chứng khoán đều được mua bán tại Sở giao dịch, mà chỉ những chứng khoán đã được đăng ký yết giá Để chứng khoán do một công ty phát hành được đăng ký yết giá, công ty đó phải thoả mãn các điều kiện cần thiết về qui mô vốn, về số lượng chứng khoán đã phát hành,
về hiệu quả kinh doanh trong thời gian gần đây…Sau khi được Sở giao dịch chấp nhận, chứng khoán được đăng ký vào danh bạ của Sở giao dịch chứng khoán và thường xuyên được niêm yết giá trên Sở giao dịch
* Thị trường phi tập trung (OTC markets or Off-exchange markets)
Thị trường OTC là thị trường mà các hoạt động mua bán chứng khoán được thực hiện phân tán ở những địa điểm khác nhau chứ không tập trung tại một nơi nhất định
Trên thế giới, thị trường phi tập trung được tổ chức dưới hình thức một thị trường giao dịch “qua quầy” – OTC Market (Over-the-counter Market) Đó là hình thức giao dịch
mà những nhà buôn chứng khoán (dealer) tại các địa điểm khác nhau công bố một danh mục chứng khoán với giá mua và bán được yết sẵn, và họ sẽ sẵn sàng mua hoặc bán chứng khoán thẳng cho những ai chấp nhận giá của họ
Do hoạt động mua bán chứng khoán tại thị trường OTC đều được thực hiện qua mạng máy tính nên các nhà buôn chứng khoán cũng như khách hàng có điều kiện biết rõ các mức giá mà các nhà buôn chứng khoán khác chào bán, vì vậy tính chất cạnh tranh của thị trường này rất cao, không kém gì Sở giao dịch
Như vậy thị trường OTC không phải là một thị trường hiện hữu, nó không có địa điểm tập trung nhất định mà thay vào đó là một hệ thống thông tin liên lạc hiện đại mà các bên tham gia thị trường sử dụng để thương lượng việc mua bán chứng khoán Do hình thức tổ chức như vậy nên các chứng khoán mua bán tại thị trường OTC rất đông đảo và
đa dạng, nó bao gồm chứng khoán của cả những công ty chưa đủ điều kiện yết giá tại
Trang 39Sở giao dịch lẫn những công ty chưa muốn yết giá tại Sở giao dịch Theo các số liệu thống kê thì ở các nước phát triển giá trị các chứng khoán được mua bán qua thị trường OTC lớn hơn rất nhiều so với mua bán tại Sở giao dịch
Ngoài hai hình thức giao dịch mua bán chứng khoán đã nêu trên: giao dịch tại Sở giao dịch và giao dịch tại thị trường OTC, trên thị trường tài chính thực tế còn tồn tại một bộ phận các giao dịch mua bán trực tiếp giữa những người sở hữu chứng khoán Thị trường các giao dịch chứng khoán này có thể gọi là thị trường tự do hay thị trường chợ đen Các thị trường này xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển của thị trường tài chính, khi mà những người nắm giữ chứng khoán có nhu cầu bán lại những chứng khoán của mình
Ngay cả ngày nay, mặc dù đã xuất hiện những thị trường tiên tiến hơn như Sở giao dịch hay thị trường OTC, loại thị trường tự do này vẫn còn tồn tại Tuy nhiên quy mô của chúng không lớn lắm, độ rủi ro lại cao, và chỉ có ý nghĩa tại các nước mới hình thành thị trường tài chính
2.4.3 Các công cụ của thị trường tài chính
Để hiểu rõ hơn cách thức thị trường tài chính lưu chuyển vốn từ người dư thừa vốn sang người cần vốn, trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu các phương tiện giúp thị trường tài chính lưu chuyển các khoản vốn, đó chính là các công cụ tài chính hay các chứng khoán
a) Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ
Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ có đặc điểm chung là kỳ hạn thanh toán ngắn, tính thanh khoản cao và độ rủi ro thấp Chúng bao gồm các loại chủ yếu sau:
* Tín phiếu kho bạc (Treasury bill)
Tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn của chính phủ do Kho bạc phát hành để
bù đắp cho những thiếu hụt tạm thời của NSNN Nó thuộc loại chứng khoán chiết khấu
Đó là loại chứng khoán không được nhà phát hành trả lãi song lại được bán với giá chiết khấu tức là giá thấp hơn mệnh giá Khi đến hạn, nhà đầu tư được nhận lại đủ mệnh giá,
vì vậy phần chênh lệch giữa mệnh giá chứng khoán và giá mua chứng khoán chính là lãi của nhà đầu tư Tín phiếu kho bạc có các kỳ hạn 3, 6 và 12 tháng
Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ tài chính có độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ bởi vì hầu như không có khả năng vỡ nợ từ người phát hành, tức là không thể có chuyện chính phủ mất khả năng thanh toán khoản nợ khi đến kỳ hạn thanh toán, chính
Trang 40phủ lúc nào cũng có thể tăng thuế hoặc in tiền để trả nợ Tuy nhiên mức lãi suất của nó thường thấp hơn các công cụ khác lưu thông trên thị trường tiền tệ
Tín phiếu kho bạc thường được phát hành theo từng lô bằng phương pháp đấu giá Người mua chủ yếu là các ngân hàng, ngoài ra còn có các công ty và các trung gian tài chính khác
Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ có tính lỏng cao nhất trên thị trường tiền tệ do
nó được mua bán nhiều nhất Tín phiếu kho bạc thường được Ngân hàng trung ương các nước sử dụng như một công cụ để điều hành chính sách tiền tệ thông qua thị trường mở
* Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được (NCDs)
Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit) là một công cụ nợ (debt instrument) do các ngân hàng phát hành, cam kết trả lãi định kỳ cho khoản tiền gửi và sẽ hoàn trả vốn gốc (được gọi là mệnh giá của chứng chỉ) cho người gửi tiền khi đến ngày đáo hạn Lúc đầu, các chứng chỉ tiền gửi không được phép bán lại và nếu người gửi tiền rút vốn trước hạn thì sẽ phải chịu phạt Nhưng về sau để tăng tính hấp dẫn của các chứng chỉ tiền gửi này, các ngân hàng bắt đầu cho phép các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn (ví dụ ở Mỹ là trên 100.000 USD) được phép bán lại trước hạn (với một mức giá khấu trừ), thậm chí
có thể bán cho chính ngân hàng phát hành Khi đó chúng được gọi là các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (NCDs)
NCDs thường được các ngân hàng dùng để huy động các nguồn vốn lớn từ các công ty, các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ, các tổ chức của chính phủ Tại Mỹ, tổng dư nợ từ phát hành các NCDs của các ngân hàng gần đây đã vượt quá tổng số dư nợ của tín phiếu kho bạcMỹ
* Thương phiếu (Commercial paper)
Thương phiếu là những giấy nhận nợ do các công ty có uy tín phát hành để vay vốn ngắn hạn từ thị trường tài chính Chúng được phát hành theo hình thức chiết khấu, tức
là được bán với giá thấp hơn mệnh giá Chênh lệch giữa giá mua và mệnh giá thương phiếu chính là thu nhập của người sở hữu thương phiếu
Những thương phiếu nguyên thuỷ (commercial bill) chỉ xuất hiện trong các hoạt động mua bán chịu hàng giữa các công ty kinh doanh với nhau Nó có thể do người bán chịu hay người mua chịu hàng hoá phát hành nhưng bản chất vẫn là giấy xác nhận quyền đòi tiền khi đến hạn của người sở hữu thương phiếu Ngày nay, thương phiếu xuất hiện