Như vậy hệ thống e-Learning sẽ phải tương tác tốt với các hệ thống khác trong trường học như hệ thống quản lý sinh viên, hệ thống quản lý giáo viên, lịch giảng dạy…cũng như các hệ thống
Trang 1NGHIÊN CỨU GIẢNG DẠY
E-LEARNING
LỚP : CAO HỌC K6
JUNE 16, 2013 HỌC VIÊN : NHÓM TINKER GVHD : TS NGUYỄN KIM DUNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ CNTT
Trang 2Nhận xét giáo viên
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3Danh sách nhóm
STT Mã học viên Họ và Tên Email Ghi chú
1 CH1101010 Đoàn Vũ Ngọc Duy dvnduy@gmail.com Trưởng
nhóm
2 CH1101101 Nguyễn Hữu Việt Long nhvl@live.com Thư ký
3 CH1101016 Nguyễn Văn Khoa vn.khoanv@gmail.c
om
4 CH1101099 Cao Thị Thùy Linh caolinhspkt@gmail
com
6 CH1101042 Đỗ Hữu Quốc Thắng thangdo1405@gmail
.com
MỤC LỤC
I Khái quát về E-learning 5
1 Giới thiệu về Elearning 5
2 Định nghĩa Elearning 5
3 Các đặc điểm chung của Elearning 6
4 Kiến trúc hệ thống Elearning 7
5 Tình hình phát triển và ứng dụng Elearning 9
a Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning trên thế giới 9
b Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning ở Việt Nam 10
II Phương pháp giảng dạy Elearning 12
1 Phân nhóm các phương pháp dùng lời 12
a Phương pháp thuyết trình 12
b Phương pháp vấn đáp 15
2 Phân nhóm các phương pháp dạy học trực quan 20
a Phương pháp trình bày trực quan 20
Trang 4b Phương pháp quan sát 21
3 Phân nhóm phương pháp dạy học thực hành 22
a Phuơng pháp luyện tập 22
b Phương pháp ôn tập 24
c Phương pháp công tác độc lập 25
d Phương pháp dạy học quy nạp và suy diễn 28
e Phương pháp giải thích – minh hoạ 30
4 Các kỹ năng cần thiết khi giảng dạy Elearning 30
a Kỹ năng trình bày & thuyết trình 30
b Kỹ năng sư phạm 32
c Kỹ năng quản lý lớp học 33
d Kỹ năng xã hội & giao lưu văn hóa 35
e Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học: 35
5 Phân tích tâm lý người học dựa trên cấu trúc sinh học của não 38
a Bản chất 38
b Thành phần của hoạt động học 38
III Ba học thuyết về learning 40
1 Tiếp nhận 40
2 Chỉ thị 40
3 Hướng dẫn khám phá 41
IV Các cạm bẫy gặp phải khi tham gia E-learning 42
1 Tự giác và quyết tâm 42
2 Sức khỏe 43
3 Phản hồi khi bạn không hiểu 43
Trang 54 Rèn luyện các kỹ năng khác 43
V Ưu nhược điểm của E-learning 43
1 Những ưu điểm khi học E-learning 43
2 Những khuyết điểm khi học E-learning 45
VI E-learning với cách nhìn của marketing hiện đại 47
1 Bài toán kinh tế 48
VII Giới thiệu phần mềm hỗ trợ và một số trang E-learning 50
1 Adobe Presenter 50
2 Flash & ViewletBuilder 50
3 ViewletBuilder 51
4 Moodle 51
VIII Câu hỏi thảo luận 52
1 Với nhiều ưu điểm như vậy E-learning sẽ dần thay thế dạy học truyền thống ở Việt Nam? 52
2 Kết hợp E-learning và cách dạy học truyền thống như thế nào? 54
IX TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 6I Khái quát về E-learning
1 Giới thiệu về Elearning
E-Learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người hiện nay Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của e-Learning Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này
2 Định nghĩa Elearning
Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning, dưới đây sẽ trích ra một
số định nghĩa e-Learning đặc trưng nhất
E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton)
E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc)
Trang 7E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý
sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center)
Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT ) ( Sun Microsystems, Inc )
Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD,
TV, các thiết bị cá nhân ( e-learningsite)
Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới e-learning trong doanh nghiệp) Jay Cross, Giám đốc điều hành (CEO) của Internet Time Group tập hợp một số định nghĩa về e-Learning và trình bày một số quan điểm của ông về e-Learning tại: The e-Learning FAQ Bạn cũng có thể đọc thêm các định nghĩa e-Learning trên Web (với sự hỗ trợ Google): Định nghĩa e-Learning
3 Các đặc điểm chung của Elearning
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung e-Learning đều có những điểm chung sau :
Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
E-Learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do e-Learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
Trang 8E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực e-Learning ra đời
e-4 Kiến trúc hệ thống Elearning
Quan sát trên hình vẽ, chúng ta thấy:
Học tập sẽ dựa trên mạng Internet là chủ yếu, thông qua World Wide Web (WWW)
Hệ thống e-Learning sẽ được tích hợp vào portal của trường học hoặc doanh nghiệp Như vậy hệ thống e-Learning sẽ phải tương tác tốt với các hệ thống khác trong trường học như hệ thống quản lý sinh viên, hệ thống quản lý giáo viên, lịch giảng dạy…cũng như các hệ thống của doanh nghiệp như là ERP, HR…
Một thành phần rất quan trọng của hệ thống chính là hệ thống quản lý học tập (Learning Management System), gồm nhiều module khác nhau, giúp cho quá trình học tập trên mạng đuợc thuận tiện và dễ dàng phát huy hết các điểm mạnh của mạng Internet ví dụ như :
Trang 9 Diễn đàn để trao đổi ý kiến giữa các thành viên của một lớp
Module khảo sát lấy ý kiến của mọi người về một vấn đề nào đó
Module kiểm tra và đánh giá
Module chat trực tuyến
Module phát video và audio trực truyến
Module Flash v.v…
Một phần nữa rất quan trọng là các công cụ tạo nội dung Hiện nay, chúng ta có 2 cách tạo nội dung là trực tuyến (online), có kết nối với mạng Internet và offline (ngoại tuyến), không cần kết nối với mạng Internet Những hệ thống như hệ thống quản trị nội dung học tập (LCMS – Learning Content Management System) cho phép tạo và quản lý nội dung trực tuyến Các công cụ soạn bài giảng (authoring tools) giáo viên có thể cài đặt ngay trên máy tính cá nhân của mình và soạn bài giảng Với những nước và khu vực mà cơ sở hạ tầng mạng chưa tốt thì việc dùng các công cụ soạn bài giảng là một sự lựa chọn hợp lý Một hệ thống tạo nội dung mềm dẻo thường cho phép kết hợp giữa soạn bài giảng online và offline
Với các trường và cơ sở có quy mô lớn cần phải quản lý kho bài giảng lớn và muốn chia sẻ cho các trường khác thì phải nghĩ đến giải pháp kho chứa bài giảng Kho chứa bài giảng này cho phép lưu trữ, quản lý thông tin về các bài giảng (thường dùng các chuẩn về metadata của IEEE, IMS, và SCORM) Hơn nữa, thường có engine tìm kiếm đi kèm, tiện cho việc tìm kiếm các bài giảng (hoặc tổng quát hơn là đối tượng học tập) Đôi khi các LCMS cũng đủ mạnh để thực hiện việc quản lý này hoặc cũng có các sản phẩm chuyên biệt cho nhiệm vụ này (chẳng hạn các sản phẩm của Harvest Road, http://www.harvestroad.com)
Các chuẩn/đặc tả là một thành phần kết nối tất cả các thành phần của hệ thống Learning LMS, LCMS, công cụ soạn bài giảng, và kho chứa bài giảng sẽ hiểu nhau
e-và tương tác được với nhau thông qua các chuẩn/đặc tả Chuẩn e-và đặc tả e-Learning
Trang 10cũng đang phát triển rất nhanh tạo điều kiện cho các công ty và tổ chức tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm e-Learning, và người dùng có rất nhiều sự lựa chọn
Chúng tôi sẽ trình bày các phần tiếp theo dựa trên cách tiếp cận này Chúng tôi sẽ giải thích kĩ hơn tất cả thành phần của hệ thống cũng như đưa ra các công cụ cần thiết để các bạn có thể áp dụng ngay vào việc đào tạo của mình
5 Tình hình phát triển và ứng dụng Elearning
a Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning trên thế giới
E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ ở châu Âu E-Learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay
từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-Learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004 E- Learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E- Learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-Learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force
Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều
Trang 11nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục
Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-Learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm Ngoài việc tích cực triển khai E-Learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE Đây là mạng E-Learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E- learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu Tại châu á, E-Learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E- Learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-Learning tại đất nước mình như: Nhật Bản,Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-Learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng E-Learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân viên
b Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning ở Việt Nam
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-Learning
ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở
Trang 12Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-Learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E- Learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-Learning trên thế giới và ở ViệtNam Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E- Learning ở ViệtNam
Việt Nam đã gia nhập mạng E-Learning châu á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học
- Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông
Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-Learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước
Trang 13II Phương pháp giảng dạy Elearning
1 Phân nhóm các phương pháp dùng lời
a Phương pháp thuyết trình
Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học bằng lời nói sinh động của giáo viên để trình bày một tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh đã thu lượm được một cách có hệ thống
Phương pháp thuyết trình thể hiện dưới hình thức giảng giải, giảng thuật và diễn giảng phổ thông
Giảng thuật là một trong những phương pháp thuyết trình, trong đó có yếu tố miêu
tả, trần thuật Giảng thuật không chỉ được sử dụng trong các môn khoa học xã hội – nhân văn mà còn cả những bộ môn khoa học tự nhiên Nó được sử dụng khi miêu tả những thí nghiệm, hiện tượng hoặc trình bày cuộc đời và sự nghiệp của nhà bác học lỗi lạc, những thành tựu nổi tiếng trong khoa học – công nghệ…
Trong giảng thuật, giáo viên có thể trích những đoạn văn, thơ ngắn, những câu nói hay những đoạn trích từ các tác phẩm văn học, các văn kiện lịch sử…để làm cho bài giảng thêm sinh động, diễn cảm, giàu hình ảnh Cũng có thể kết hợp sử dụng các phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học để minh họa cho việc trình bày của mình Cũng có thể đặt ra những câu hỏi nhằm thu hút sự chú ý, định hướng sự lắng nghe hoặc kích thích tính tích cực cũng như để kiểm tra hiệu quả việc lĩnh hội tri thức của học sinh
Giảng giải là phương pháp dạy học bằng việc dùng những luận cứ, số liệu để chứng minh một sự kiện, hiện tượng, quy tắc, định lý, định luật, công thức, nguyên tắc trong các môn học Giảng giải chứa đựng các yếu tố phán đoán, suy lý nên có nhiều khả năng phát triển tư duy logic của học sinh Trong quá trình dạy học, giảng giải thường kết hợp với giảng thuật
Diễn giảng phổ thông là một trong những phương pháp thuyết trình nhằm trình bày một vấn đề hoàn chỉnh có tính chất phức tạp, trừu tượng và khái quát trong một thời
Trang 14gian tương đối dài (30-35 phút và hơn thế), chẳng hạn như trình bày các trào lưu văn học ở một giai đoạn nào đó Phương pháp này đối với việc dạy học ở PTCS thường ít dùng so với giảng thuật và giảng giải Khi dùng, nó thường kết hợp với hai phương pháp kia
Cấu trúc của phương pháp thuyết trình :
Khi dùng phương pháp thuyết trình để trình bày vấn đề nào đó cũng phải trải qua bốn bước: Đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận rút ra từ vấn
ra ở bước phát triển vấn đề tương đối độc lập với nhau Vì vậy có thể giải quyết từng vấn đề, rút ra kết luận rồi chuyển sang giải quyết vấn đề khác
Quy nạp phát triển: Nêu vấn đề được giải quyết theo lối móc xích, nghĩa là giải quyết xong từng vấn đề thứ nhất thì kết luận rút ra sẽ lại làm tiền đề cho việc giải quyết vấn đề tiếp theo Trong việc chứng minh các bài toán hình học thường gặp loại quy nạp này
Quy nạp song song – đối chiếu : Nêu vấn đề đặt ra phải giải quyết chứa đựng những mặt tương phản, đối lập
Trang 15Logic diễn dich : là con đường nhận thức từ nguyên lý chung đến cái cụ thể Theo logic diễn dich, bắt đầu đưa ra các kết luận sơ bộ khái quát, sau đó tiến hành giải quyết có thể theo ba cách: phân tích từng phần, phân tích phát triển, phân tích so sánh – đối chiếu
Kết luận : Là bước kết thúc việc trình bày vấn đề Nó là sự kết tinh dưới dạng xúc tích, chính xác những khái quát bản chất của vấn đề đưa ra xem xét
Cách đặt vấn đề và cách phát biểu vấn đề có thể tiến hành bằng cách thông báo tái hiện hoặc có tính vấn đề Cách giải quyết vấn đề có thể bằng logic quy nạp hay logic diễn dịch Điều đó chứng tỏ cấu trúc của phương pháp thuyết trình đã phản ánh mặt bên trong và mặt bên ngoài của phương pháp dạy học nói chung và phương pháp thuyết trình nói riêng
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thuyết trình:
Phương pháp thuyết trình có những ưu điểm sau:
Cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà học sinh tự mình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc
Giúp học sinh nắm được hình mẫu về cách tư duy logic, cách đặt và giải quyết vấn
đề khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những vấn đề khoa học một cách chính xác, rõ ràng, xúc tích thông qua cách trình bày của giáo viên
Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh qua việc trình bày tài liệu với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ thích hợp và diễn cảm
Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý và kích thích tính tích cực tư duy của học sinh, vì có như vậy học sinh mới hiểu được lời giảng của giáo viên và mới ghi nhớ được bài học
Trang 16Bằng phương pháp thuyết trình, giáo viên có thể truyền đạt một khối lượng tri thức khá lớn cho nhiều học sinh trong cùng một lúc, vì vậy đảm bảo tinh kinh tế cao Tuy nhiên, phương pháp thuyết trình còn có những hạn chế, nếu sử dụng không đúng có thể:
Làm cho học sinh thụ động, chỉ sử dụng chủ yếu thính giác cùng với tư duy tái hiện, do đó làm cho họ chóng mệt mỏi
Làm cho học sinh thiếu tính tích cực trong việc phát triển ngôn ngữ nói
Thiếu điều kiện cho phép giáo viên chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức cũng như kiểm tra đầy đủ sự lĩnh hội tri thức của từng học sinh
Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp thuyết trình:
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần:
Trình bày chính xác các hiện tượng,sự kiện, khái niệm, định luật, vạch ra bản chất của vấn đề, ý nghĩa tư tưởng, chính trị của tài liệu học tập
Trình bày phải đảm bảo tính tuần tự logic, rõ ràng, dễ hiểu với lời nói gọn,
rõ, sáng sủa, giàu hình tượng, chuẩn xác, xúc tích
Trình bày phải thu hút và duy trì sự chú ý, gây được hứng thú, hướng dẫn tư duy của học sinh thông qua giọng nói, tốc độ nói, âm lượng thay đổi thích hợp, qua các mẩu chuyện vui đúng lúc, qua cách đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề, kết hợp lời nói với điệu bộ, nét mặt, biết đưa những lời trích dẫn vào đúng lúc, đúng chỗ
Trình bày phải đảm bảo cho học sinh ghi chép được những vấn đề cơ bản và qua đó mà dạy cho họ biết cách vừa ghi vừa tập trung nghe giảng
b Phương pháp vấn đáp
Định nghĩa : Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống, nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng,
Trang 17đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những tri thức đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức Phân loại: Tuỳ theo cơ sở để phân loại , nên có những phương pháp vấn đáp sau: Dựa vào mục đích dạy học mà phân ra vấn đáp gợi mở, vấn đáp củng cố, vấn đáp tổng kết, vấn đáp kiểm tra
Vấn đáp gợi mở là phương pháp giáo viên khéo léo đặt câu hỏi hoặc một chuỗi câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh giải quyết một câu hỏi cơ bản, từ đó rút ra kết luận, nhờ vậy mà họ lĩnh hội tri thức mới
Vấn đáp củng cố là phương pháp giáo viên khéo léo đặt ra một câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi nhằm giúp học sinh củng cố những tri thức cơ bản hoặc giúp họ mở rộng, đào sâu những tri thức đã thu lượm được
Vấn đáp tổng kết là phương pháp vấn đáp nhằm giúp học sinh khái quát, hệ thống hoá những tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định Vấn đáp kiểm tra là phương pháp vấn đáp nhằm kiểm tra những tri thức đã học, đã được củng cố, khái quát, hệ thống hoá Qua câu trả lời của học sinh mà giáo viên có thể đánh giá và họ tự kiểm tra, tự đánh giá những tri thức đã được lĩnh hội một cách kịp thời, nhanh gọn
Dựa vào tính chất nhận thức của học sinh mà phân ra vấn đáp giải thích, minh hoạ, vấn đáp tái hiện, vấn đáp tìm tòi – phát hiện
Vấn đáp giải thích – minh hoạ là phương pháp mà giáo viên dặt ra những câu hỏi đòi hỏi học sinh giải thích và nêu lên dẫn chứng để minh hoạ, làm sáng tỏ cho sự giải thích của mình Trong câu trả lời của học sinh không chỉ đòi hỏi nhớ lại nội dung tri thức mà phải có sự cấu trúc lại tri thức để có sự suy luận cần thiết
Vấn đáp tái hiện là phương pháp giáo viên đặt ra những câu hỏi đòi hỏi học sinh phải nhớ lại những tri thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ học tập trong hoàn cảnh đã biết
Trang 18Vấn đáp tìm tòi – phát hiện là phương pháp mà giáo viên đặt ra những câu hỏi có tính chất vấn đề gây cho học sinh gặp phải tình huống có vấn đề và qua đó họ có nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới để giải quyết vấn đề đó
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp vấn đáp:
Nếu vận dụng khéo léo phương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng quan trọng sau:
Điều khiển có hiệu quả hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của họ
Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích
Giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh, gon, kịp thời để kịp điều chỉnh hoạt động của mình và của học sinh Đồng thời qua đó
mà học sinh cũng thu được tín hiệu ngược để kịp tjời điều chỉnh hoạt động nhận thức – học tập của mình Ngoài ra, thông qua đó mà giáo viên có khả năng chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp và của từng học sinh
Song nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa giáo viên và một vài học sinh, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh
Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng phương pháp vấn đáp:
Để phát huy mặt mạnh và hạn chế mặt yếu của phương pháp vấn đáp thì cần phải đảm bảo những yêu cầu khi đề ra câu hỏi và việc vận dụng phương pháp đó Sở dĩ như vậy là vì trong phương pháp vấn đáp, câu hỏi có ý nghĩa hết sức quan trọng Không biện pháp nào linh hoạt, uyển chuyển, dễ điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh bằng cách đề ra câu hỏi
Phân loại câu hỏi: Tuỳ theo cơ sở phân loại mà có những loại câu hỏi sau:
Trang 19 Dựa theo nội dung, sự diễn đạt ngôn ngữ, sự nhấn giọng, người ta phân ra câu hỏi đơn giản, câu hỏi phức tạp
Dựa theo mục đích dạy học có thể phân ra câu hỏi định hướng, câu hỏi gợi
mở, câu hỏi nhắc nhở
Dựa theo chức năng có thể phân ra câu hỏi phân tích – tổng hợp, câu hỏi so sánh, đối chiếu, câu hỏi hệ thống hoá tri thức, câu hỏi đòi hỏi cụ thể hoá tri thức
Dựa theo mức độ tính chất hoạt dộng nhận thức của học sinh có thể phân ra câu hỏi đòi hỏi giải thích, minh hoạ, câu hỏi tái hiện, câu hỏi có tính vấn đề Câu hỏi tái hiện là câu hỏi mà câu trả lời chỉ cần nhớ lại những tri thức đã được lĩnh hội trước đây
Câu hỏi có tính vấn đề là câu hỏi tạo cho học sinh gặp phải một tình huống có vấn
đề, nghĩa là gây nên trạng thái tâm lý giữa điều đã biết và điều chưa biết, nhưng muốn biết Câu trả lời trong câu hỏi có tính vấn đề chưa có trong câu trả lời trước
đó của học sinh, mà đòi hỏi phải cần có tri thức mới Để có tri thức đó, cần phải có hành động trí tuệ, có một quá trình tư duy có chủ đích nhất định.Câu hỏi có tính vấn
đề trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề thường gọi là vấn đề
Vậy với những điều kiện nào thì câu hỏi trở thành có tính vấn đề ?
Đó là những điều kiện sau:
Câu hỏi phải có mối liên hệ logic với những khái niệm đã lĩnh hội trước đây
và những tri thức phải ở trong tình huống nhất định
Câu hỏi phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức; câu hỏi phải gây lên sự ngạc nhiên, điều nghịch lý khi đối chiếu điều đã biết từ trước với điều đang học và cảm thấy không thoả mãn với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trước đây và xuất hiện nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới để giải quyết câu hỏi đang đặt ra Nghệ thuật đặt câu hỏi : Việc sử dụng phương pháp vấn đáp phụ thuộc vào nghệ thuật đặt câu hỏi của giáo viên Biết đặt câu hỏi và tăng dần tính phức tạp, tính khó
Trang 20khăn của câu trả lời là một ttrong những thói quen sư phạm quan trọng và cần thiết nhất
Nghệ thuật đặt câu hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau:
Trong tình huống học tập nhất định giáo viên phải đặt câu hỏi như thế nào đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá tài liệu đã lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức đã học
Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi học sinh tái hiện tài liệu đã lĩnh hội mà phải vận dụng những tri thức đã nắm trước đây để giải quyết vấn đề mới Lẽ tất nhiên có những trường hợp câu hỏi đòi hỏi tái hiện trực tiếp tài liệu không chỉ đúng lúc mà là cần thiết
Câu hỏi phải hướng trí tuệ của học sinh vào mặt bản chất của những sự vật, hiện tượng phải nghiên cứu, phải hình thành tư duy biện chứng cho họ
Câu hỏi phải đặt như thế nào để đòi hỏi học sinh xem xét những sự kiện, hiện tượng trong mối liên hệ với nhau, nhìn nhận hiện tượng, sự vật không chỉ theo những thành tố, theo từng bộ phận mà còn theo tính chỉnh thể toàn vẹn của chúng
Câu hỏi đặt ra phải theo những quy tắc logic
Việc biểu đạt câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân, trinh độ hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh Khối lượng những khái niệm trong những câu hỏi của giáo viên không được vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời đúng của học sinh
Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất, không thể
có hai câu trả lời đều đúng, về hình thức phải gon gàng, sáng sủa
Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp vấn đáp:
Cần phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định học sinh trả lời Khi một học sinh trả lời xong, cần yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ sung,
Trang 21sửa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn với tinh thần phê phán Qua đó mà kích thích hoạt động chung của cả lớp
Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe Nếu cần thiết đặt thêm câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi chính
Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý của họ khi không thật cần thiết Chú
ý uốn nắn, bổ sung câu trả lời của học sinh, giúp họ hệ thống hoá lại những tri thức đã thu được trong quá trình vấn đáp
Không chỉ chú ý kết quả câu trả lời của học sinh mà cả cách diễn đạt câu trả lời của họ một cách chính xác, rõ ràng, hợp logic Đó là điều kiện quan trọng
để phát triển tư duy logic của họ
Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp nhằm thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắc mắc và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống có vấn đề và thu hút toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó Qua đó
có thể góp phần lấp lỗ hổng, chữa những sai lầm hoặc hiểu chưa chính xác những nội dung học tập của học sinh
2 Phân nhóm các phương pháp dạy học trực quan
a Phương pháp trình bày trực quan
Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới trong khi ôn tập, củng cố, hệ thống hoá
và kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Phương pháp trình bày trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh hoạ và trình bày Minh hoạ thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh hoạ như bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung các nhà khoa học, hình vẽ trên bảng… Trình bày thường gắn liền với việc trình bày những thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video
Trang 22Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, điểm xuất phát trong quá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn
Thông qua sự trình bày thí nghiệm của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những động tác mẫu mực của giáo viên, nhờ vậy, dễ dàng hình thành kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn thí nghiêm
Thí nghiệm ở trường PT có thể dưới dạng do giáo viên biểu diễn và do học sinh tiến hành trong khi học bài mới tại lớp họăc luyện tập trong phòng thí nghiệm
b Phương pháp quan sát
Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến trình và
sự biến đỗi diễn ra trong đối tượng quan sát Quan sát là hình thức cảm tính tích cực nhằm thu nhấp những sự kiện ,hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giơi xung quanh.Quan sát gắn chặt với tư duy
Quan sát được học sinh sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện trực quan,phương tiện dạy học hoặc khi chính học sinh tiến hành làm viêc trong phòng thí nghiệm
Phân loại: Căn cứ vào cách thức quan sát có thể phân ra quan sát tiếp,quan sát gián tiếp
Căn cứ vào thời gian quan sát có thể phân ra quan sát ngắn hạn, quan sát dài hạn
Căn cứ vào phạm vi quan sát có thể phân ra quan sát toàn diện, quan sát khía cạnh
Căn cứ vào mức độ tổ chức quan sát có thể phân ra quan sát tự nhiên và quan sát có bố trí, sắp xếp
Trang 233 Phân nhóm phương pháp dạy học thực hành
a Phuơng pháp luyện tập
Định nghĩa : Luyện tập với tư cách là phương pháp dạy học là sự chỉ dẫn của giáo viên, học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo
Tất cả các môn học đều cần tổ chức luyện tập nhằm hình thành cho học sinh những hành động trí tuệ hoặc hành động vận động tương ứng Đó là những kỹ năng, kỹ xảo giải những bài toán cùng một loại nhất định về Toán, Vật lý, Hoá học, làm các bài tập về Tiếng Việt, Tập làm văn, kỹ năng, kỹ xảo về thể dục, Thể thao, về lao động… Việc luyện tập không chỉ hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo từng môn học mà còn những kỹ năng, kỹ xảo chung như kỹ năng kỹ xảo tư duy logic, tổ chức lao động, học tập một cách khoa học
Phân loại luyện tập:
Dựa trên cơ sở dạng thể hiện của nó người ta phân ra luyện tập nói, luyện tập viết, luyện tập lao động Theo mức độ tính chất hoạt động, người ta phân ra luyện tập có tính chất tái hiện, luyện tập có tính chất sáng tạo
Những yêu cầu cơ bản vận dụng phương pháp luyện tập:
Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định
Luyện tập phải tiến hành theo một trình tự chặt chẽ Lúc đầu đơn giản, có làm mẫu, có chỉ dẫn, sau tăng dần tính phức tạp của hành động và sự tự lực luyện tập
Phải nắm lý thuyết rồi mới luyện tập và qua luyện tập để hiểu sâu hơn lý thuyết
Luyện tập phải đảm bảo mức độ khó khăn vừa sức đối với những hoàn cảnh khác nhau và theo nhiều phương án
Giải bài toán là hình thức luyện tập phổ biến ở trường PT :
Trang 24Bài toán là hệ thông tin nhất định bao gồm những điều kiện và yêu cầu trái ngược nhau đòi hỏi phải giải quyết Vì vậy, bài toán là khái niệm rất rộng, nó có thể là một câu hỏi, bài tập nhoặc bài toán thường gặp
Giải bài toán thực chất là khắc phục sự không phù hợp (mâu thuẫn) giữa các điều kiện và yêu cầu của bài toán, biến đổi chúng để cuối cùng dẫn tới sự thống nhất
Hệ thống bài toán cần xây dựng theo những yêu cầu sau:
Hệ thống bài toán phải xây dựng có tính đa cấp: Dựa vào nội dung dạy học, trước hết phải làm cho học sinh nắm được các kiểu bài toán, cần xây dựng các bài toán từ
sơ đẳng đến các bài toán ngày càng phức tạp hơn, tổng hợp hơn
Hệ thống bài toán của môn học phải bao quát hết những tri thức cơ bản của bộ môn, buộc học sinh khi giải hệ thống các bài toán đó phải huy động toàn bộ những kiến thức cơ bản của toàn bộ chương trình theo nhiều phương án khác nhau và những kiến thức liên môn
Hệ thống bài toán của bộ môn phải đảm bảo tính kế thừa liên tục Bài toán trước chuẩn bị cho bài toán sau, bài toán sau bổ sung, đào sâu cho bài toán trước, tạo thành một chuỗi liên tục.Hệ thống bài toán phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn
Nó phải phản ánh vai trò cầu nối của mình giữa lý thuyết với thực hành, giữa việc nắm tri thức với việc hình thành kỹ năng để giải quyết những vấn đề nhận thức
Hệ thống bài toán phải có tính phân hoá để đảm bảo tính vừa sức đối với từng loại học sinh.Khi giải bài toán như là một hình thức luyện tập cần chú ý đến các yêu cầu Không chỉ chú ý đến kết quả bài giải mà đặc biệt coi trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp giải Do đó cần:
Phải làm cho học sinh phát hiện ra đặc trưng tổng quát phương pháp giải bài toán
Nắm được các bước của quá trình giải bài toán: Tìm hiểu điều kiện giải toán, lập chương trình giải, kiểm tra, đánh giá việc giải
Trang 25 Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng giải bài toán nói chung và những kỹ năng tương ứng với từng bước của quá trình giải bài toán nói riêng
Sau khi giải bài toán đòi hỏi học sinh phải trình bày tóm tắt cách giải, yêu cầu học sinh tự đánh giá cách giải của mình và các học sinh khác đánh giá cách giải đó Thông qua đó mà hình thành thói quen tìm nhiều cách giải và chon được cách giải tối ưu cho bài toán đó
b Phương pháp ôn tập
Định nghĩa: Ôn tập là phương pháp dạy học giúp học sinh mở ộng, đào sâu, khái quát hoá, hệ thống hoá tri thức đã học, nắm vững những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy của họ Đồng thời qua đó có thể điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm trong hệ thống tri thức của họ
Phân loại: Căn cứ vào chức năng ôn tập, người ta phân loại:
Ôn tập bước đầu thường được sử dụng ngay sau khi lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Ôn tập này diễn ra thường ngày nhằm củng cố sơ bộ những tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo vừa mới lĩnh hội
Ôn tập khái quát hoá, hệ thống hoá tri thức Ôn tập này thường diễn ra sau khi học xong một chương, một số chương, một môn học Việc ôn tập này nhằm khái quát hoá, hệ thống hoá, đào sâu, mở rộng tri thức, hoàn thiện những kỹ năng, kỹ xảo Nó diễn ra trong quá trình lĩnh hội tri thức mới, luyện tập, vận dụng tri thức để giải những bài toán, những vấn đề thực tế
Những yêu cầu sử dụng phương pháp ôn tập: Để ôn tập đạt kết quả, cần:
Ôn tập phải có kế hoạch, có hệ thống và kịp thời
Ôn tập phải bằng nhiều hình thức khác nhau
Ôn tập trước khi quên, ôn rải ra, ôn xen kẽ từng môn
Ôn tập phải có tính chất tích cực: ôn tập bằng cách tái hiện lại, cấu trúc lại tri thức để giải quyết vấn đề nhằm lĩnh hội tri thức mới, có khả năng vận dụng tri thức trong hoàn cảnh đã biết và hoàn cảnh chưa biết
Trang 26Học sinh cần phải lập sơ đồ, bảng nhằm hệ thống hoá những khái niệm, định luật và mối liên hệ giữa chúng, sự phát triển những khái niệm theo hệ thống những câu hỏi nhất định
Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và các tài liệu sách báo khác:
Ý nghĩa của sách báo, sách giáo khoa và các tài liệu về khoa học khác là nguồn tri thức vô tận và đa dạng, là phương tiện quan trọng để nhận thức thế giới xung quanh, vì nó phản ánh những kinh nghiệm đã được loài người khái quát hoá, hệ thống hoá trong suốt quá trình phát triển lịch sử của mình
Đề các, nhà triết học, nhà khoa học tự nhiên người Pháp đã nói: “Đọc một cuốn sách tốt, khác nào như trao đổi ý kiến với các nhân vật ưu tú của các thế kỷ đã qua,
và hơn nữa, cuộc trao đổi này hoàn toàn bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ thông báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình” Nhưng muốn cho sách
vở trở thành phương tiện có hiệu quả, giúp phát triển trí tuệ và làm phong phú tinh thần con người thì cần phải biết đọc sách Sách chỉ bổ ích cho những người nào biết đọc nó mà thôi
Vì vậy phương pháp sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu sách báo khác có một vị trí quan trọng không chỉ trong việc lĩnh hội tri thức mà còn làm cho học sinh hình thành cách đọc sách Nhờ đó mà họ có thể tiến hành học tập liên tục, học tập suốt đời.Một yêu cầu cấp bách trước sự bùng nổ thông tin như hiện nay
Trang 27Bản chất của phương pháp sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu sách báo khác là ở chỗ trong quá trình làm việc với chúng, học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng tri thức đồng thời hình thành những kỹ năng, kỹ xảo đọc sách
Những yêu cầu sử dụng phương pháp làm việc với sách giáo khoa và các tài liệu, sách báo khác:
Việc sử dụng sách tại lớp: Khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên cần xác định nội dung nào trong sách giáo khoa hoặc sách báo khác để học sinh có thể tự lực nghiên cứu ở lớp
Khi tiến hành bài học, giáo viên có trách nhiệm xem trong từng trường hợp
cụ thể phải hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa hoặc các sách báo khác tại lớp cần theo trình tự nào là hợp lý nhất để kích thích hoạt động tư duy tích cực của học sinh mà không dẫn tới ghi nhớ một cách máy móc
Trước khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu sách báo khác, giáo viên cần tiến hành đàm thoại một cách cặn kẽ, tỉ mỉ về chủ đề học tập, nêu lên những vấn đề cơ bản của tài liệu cần nghiên cứu và xác định trình tự, phương pháp nghiên cứu theo trình tự đó
Sử dụng việc nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu học tập khác tại lớp dù bất kỳ trường hợp nào cũng không chiếm toàn bộ tiết học, cần phải phối hợp với các phương pháp dạy học khác
Sau khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu nội dung nào đó trong sách giáo khoa hoặc trong tài liệu học tập khác cần đặt ra câu hỏi và kích thích học sinh trả lời nhằm biết được mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp
mở rộng hoặc đào sâu những kiến thức hoặc sửa chữa những điều mà họ chưa hiểu đúng
Tự học với sách giáo khoa hoặc các tài liệu học tập khác tại lớp có thể sử dụng trong các tiết học lĩnh hội kiến thức mới và cả trong tiết học củng cố kiến thức đã học
Việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác ở nhà:
Trang 28Việc tự nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp là bước chuẩn
bị sơ bộ cho viẹc nghiên cứu sâu hơn những tài liệu học tập khác ở nhà qua các sách báo và các tài liệu học tập đó Đối với học sinh trung học nói chung, trong đó có học sinh THCS, việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác ở nhà có tầm quan trọng đặc biệt vì nó giúp cho họ bổ sung, đào sâu tri thức đã tiếp thu trong thời gian hạn chế tại lớp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen sử dụng sách
Để việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác có kết quả cần hình thành cho học sinh một số kỹ năng, kỹ xảo sau:
Kỹ năng, kỹ xảo đọc
Kỹ năng, kỹ xảo lập dàn ý, xây dựng đề cương
Kỹ năng, kỹ xảo trích ghi
Kỹ năng, kỹ xảo ghi tóm tắt
Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp và ở nhà với điều kiện ở lớp giáo viên đề ra những yêu cầu phải thực hiện nghiêm túc, có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn rõ ràng, tỉ mỉ, có hệ thống và học sinh tích cực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập đề ra
Ngoài ra, để sử dụng sách báo có hiệu qủa, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chọn sách, lập thư mục, thu thập tài liệu theo môn học, theo chủ đề nhất định qua sách báo, khuyến khích họ lập tủ sách cá nhân và tự tổ chức trao đổi sách báo và những thu hoạch qua việc đọc sách báo với nhau
Phương pháp công tác thí nghiệm, công tác thực hành:
Phương pháp công tác thí nghiệm là phương pháp thực hành dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh sử dụng thiết bị và tiến hành thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết mà giáo viên đã trình bày, qua đó củng cố, đào sâu những tri thức mà họ đã lĩnh hội được hoặc vận dụng lý luận để nghiên cứu vấn