GIỚI THIỆUBáo cáo này nhóm E-Group chúng em xin trình bày các nội dung có liên quanđến phương pháp dạy và học E-Learning, chủ đề này cũng rất rộng lớn nên nhóm xintrình bày việc tìm hiểu
Trang 1Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin
BÁO CÁO : Phương pháp giảng dạy đại học và E-Learning
ĐỀ TÀI:
E-LEARNING - XU HƯỚNG, THỰC TRẠNG VÀ CÁC ƯU KHUYẾT ĐIỂM CỦA
MÔ HÌNH
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Kim Dung
Học viên thực hiện: Nhóm E-Group
Trang 2Mục lục
Mục lục 1
Giới Thiệu Nhóm E-Group 2
Phân Công Nhiệm Vụ 3
Lời mở đầu 4
Giới thiệu 5
Phần 1 – Cách Thức Dạy E-Learning Có Hiệu Quả 6
1 Cách người dạy mang đến trong khóa học elearning 7
2 Cách người học mang đến trong khóa học elearning 9
Phần 2 – Vai Trò Của Giảng Viên Và Học Viên Trong E-Learning 11
1 Vai trò của Giảng viên 11
2 Vai trò của Học viên 13
Phần 3 – Điều Kiện Cần Thiết Trong Việc Giảng Dạy E-Learning 15
1 Điều kiện về phần cứng: 15
2 Điều kiện về phần mềm 17
3 Điều kiện về môi trường học tập và giảng dạy 22
Phần 4 – Cách Tổ Chức Lớp Học Theo E-Learning 24
1 Mô hình và cách thức hoạt động của e-learning 24
2 Xây dựng courseware 27
3 Tổ chức lớp học 31
Phần 5 – Xu hướng, thực trạng, ưu và khuyết điểm của mô hình Elearning 35
1 Elearning qua những con số 35
2 Các xu hướng của Elearning hiện nay 40
3 Thực trạng của Elearning hiện nay 51
4 Ưu và khuyết điểm của Elearning 56
Phần 6 – Những Phần Mềm Có Thể Dạy Theo E-Learning 60
1 Tổng quan 60
2 Các tính năng của phần mềm E-Learning 62
3 Giới thiệu các phần mềm E-Learning thông dụng 64
4 Demo phần mềm E-Learning 67
5 Hướng dẫn sử dụng phần mềm 71
Kết luận 74
Tài liệu tham khảo 75
Trang 3GIỚI THIỆU NHÓM E-GROUP
STT Họ Tên Email MSSV Ghi Chú
Ngọc Huy
nguyenvongochuy@gmail.com
Trang 4PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
P hân công trách nhiệm cho mỗi thành viên tìm hiểu và báo cáo:
STT Chủ đề Học viên
1 Cách thức dạy elearning có hiệu quả Nguyễn Võ Ngọc Huy
2 Vai trò thầy và trò trong elearning Nguyễn Thành Đệ
3 Điều kiện cần thiết giảng dạy trong
elearning
Du Chí Hào
4 Cách tổ chức lớp học theo Elearning Huỳnh Lạc Nghiệp
5 Xu hướng, thực trạng, ưu điểm và khuyết
điểm của elearning
Vũ Minh Thành
6 Những phần mềm có thể dạy theo elearning Hà Minh Ái
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
N gày nay, nhu cầu dạy và học online trở nên phổ biến trên khắp thế giới, nó giờ đượcxem là phương pháp mà hầu như các trường đại học trên thế giới và Việt Nam ápdụng Và hơn thế nữa, sau này mỗi người chúng ta đều là người truyền thụ kiến thứctrên phương diện nào đó, có thể trên giảng đường hoặc trên nhóm công ty Việc tìmhiểu và thực hành phương pháp dạy học nói chung, cũng như cách tổ chức lớp họconline là điều phải làm hiệu quả
Trong bài báo cáo của nhóm, chúng em xin trình bày về việc tìm hiểu các kháiniệm và tính chất cụ thể của phương pháp dạy và học E-learning và cũng xem nhưphần củng cố kiến thức cho khóa học bổ ích này
Chúng em xin chân thành cám ơn cô TS Nguyễn Kim Dung đã truyền đạt nhữngkiến thức quý báu để hoàn thành tốt bài thu hoạch này
Trang 6GIỚI THIỆU
Báo cáo này nhóm E-Group chúng em xin trình bày các nội dung có liên quanđến phương pháp dạy và học E-Learning, chủ đề này cũng rất rộng lớn nên nhóm xintrình bày việc tìm hiểu, tổng hợp và phân tích các vần đề:
- Cách thức dạy elearning có hiệu quả
- Vai trò thầy và trò trong elearning
- Điều kiện cần thiết giảng dạy trong elearning
- Cách tổ chức lớp học theo elearning
- Xu hướng, thực trạng và ưu điểm và nhược điểm của elearning
- Những phần mềm có thể dạy theo elearning
Trang 7PHẦN 1 – CÁCH THỨC DẠY E-LEARNING CÓ HIỆU
QUẢ
Đối với những người mới lần đầu đứng hoặc chưa bao giờ đứng lớp, có nhiềuvấn đế cho việc chuẩn bị nội dung của 1 course, bên cạnh đó việc tổ chức khóa họcdạng e-learning càng khó khăn hơn nhiều Sự e dè lo lắng của giáo viên không phải ởviệc sử dụng máy tính hay các thức kết nối mạng bởi vì chúng dễ dàng học được hoặc
hổ trợ từ chuyên gia lĩnh vực đó Công việc quan trọng nhất là tự đặt câu hỏi cho mình
về hướng dẫn, giới thiệu course, xây dựng nội dung với các phân quyền và nội dung
đó đầy đủ Tuy nhiên, trong elearning không hoàn toàn là đối phó với nội dung, màcòn một số ý sau đây để hiệu quả hơn:
Ví dụ, chúng ta tổ chức một course từ xa thông qua conference call Lúc đó trongtài liệu và giảng dạy ta phải nhấn mạnh thêm các yếu tố email, chat, các nhóm tranhluận, bảng tin chung (message boards), blogs, thự viện ảnh, trao đổi thời gian thực Bởi vậy nó phải là một phần chính thức trong văn bản, giải thích và bài tập để mà giaotiếp được hai chiều trong việc dạy và học hiệu quả Chính việc này làm cho sinh viêntrình bày bài tập với các phương thức phụ trợ trên càng làm mở rộng kiến thức
- Theo cách giáo dục mới này, các phương pháp và đánh giá nên được rõ ràng từlúc bắt đầu, không chỉ cho sinh viên và còn cả giáo viên bởi vì cùng làm cho 1platform, nên phải thỏa thuận với nhau các thức hoạt động
- Phân công trách nhiệm rõ ràng, và khích lệ tính tích cực cho sinh viên bằngviệc cung cung cấp những trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng trên platform làm việc
- Trong lúc hoạt động, mọi người được khuyên sử dụng internet và những webkhác để làm bài tập và tìm kiếm thông tin Điều này nói lên chúng ta phải luôn luônchú ý rằng không chỉ dạy 1 nội dung cụ thể nào, mà phải dạy sinh viên làm sao trởthành sinh viên tự giác cao, đây là yếu tố quan trọng trong lĩnh vực elearning
- Chúng ta phải chỉnh sửa tài liệu thường xuyên và một cách chuyên nghiệptrước khi bắt đầu một course
Trang 8- Để thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với sinh viên từ lúc đầu, chúng ta phải có danhsách email và các thông tin khác của sinh viên để liên lạc và chào đón họ Điều nàynói lên elearning không có nghĩa đối xử với cảm giác xa cách với nhau.
1 Cách người dạy mang đến trong khóa học elearning
Sau đây là một số ý mà người dạy cần chú ý để thể hiện hiệu quả trong môitrường elearning:
- Từ ngữ trao đổi trong elearning là quan trọng nhất để trao đổi giữa các sinhviên với nhau Chúng ta phải chú ý nghĩ về những gì chúng ta sẽ nói, định nói nó nhưthế nào đặc biệt là phải chú trọng giọng điệu khi nói
- Không để thời gian chết lặng trong lúc hỏi và trả lời trong elearning vì lúc đósinh viên không thấy chúng ta và không biết tại sao chúng ta không trả lời câu hỏi của
họ Đặc biệt khi sinh viên có gởi các bài tập được giải, chúng ta phải dành nhiều thờigian hơn để sửa cho họ và phải cung cấp phản hồi kịp lúc, điều này thể hiện sự quantâm đến sinh viên mà rất quan trọng trong môi trường elearning
Là vai trò người giảng, ta hiểu là một số điểm thuận lợi và giới hạn theo các tổngquát như sau:
- Học viên trong elearning có cùng quyền và nghĩa vụ như nhau đối với nhữnghọc viên khác
- Đánh giá và tự đánh giá là trung tâm quan trọng trong giáo dục dạng elearning
- Tất cả các loại giao tiếp, trao đổi đều khuyến khích để tạo ra môi trường họctập mang tính toàn cầu và đầy đủ bằng cách sử dụng mọi tool cung cấp
- Giảng viên trong elearning phải biết rõ nguyên tắc và trách nhiệm của lĩnh vực
họ phụ trách một các chính xác
- Hổ trợ kỹ thuật lúc nào cũng liên lạc sẳn sàng
- Elearning mang tính đa văn hóa rộng hơn cách học truyền thống vì nó cung cấpkhả năng học nhiều người trên khắp thế giới tại một thời điểm
Trang 9- Giao tiếp phải thay đổi theo cách tiếp cận mới so với cách truyền thống vìkhông còn mọi người ở gần nhau như ánh mắt, hoặc tiếp xúc vật lý như cách truyềnthống.
Sau đây minh họa mô hình giao tiếp nhiều chiều của giảng viên và sinh viên:
Mối quan hệ đa chiều trong mô hình elearning
Giáo viên là trung tâm trong course học và là kênh liên lạc trực tiếp thẳng đếncác sinh viên và sinh viên phản hồi đến giảng viên Ngoài ra mọi sinh viên còn có thểliên lạc với nhau trực tiếp và giảng viên giám sát được
Giảng viên khuyến khích và vận động việc giao tiếp chủ động mọi cách có thể,bằng cách sử dụng các kênh liên lạc phụ khác, do đó việc học theo elearning được làmphong phú thêm bằng nhiều cách:
- Chúng ta thấy kênh liên lạc đa chiều như hình trên như sau: sinh viên-sinhviên, giảng viên-sinh viên, sinh viên-giảng viên, giảng viên-giảng viên (trường hợpcác giảng viên cùng cộng tác cho một lớp) Đây là phần quan hệ tổ hợp quan trọng củaquá trình học với số lượng lớn các phản hồi và tự quản lý việc học
Trang 10- Cần thiết lập hạn nộp bài (deadline) cho mỗi bài tập, cũng như giải thích rõràng cách làm nó ví dụ như các nộp bài qua email hay trên forum hoặc trả lời tức thờithông qua chat, và nó có sự khác biệt so với cách truyền thống Tuy nhiên cách họcelearning bằng thời gian linh hoạt như học thời gian khác nhau, những ngày khác nhauhoặc cuối tuần được khuyến khích áp dụng cho giảng viên thay vì lúc này cũng cầnđúng thời gian và tức thời như chat.
- Trong elearning, việc phản hồi (feedback) liên tục của cảm nghĩ của sinh vềkhóa học hoặc về quy trình học đó cũng như những đánh giá từ lúc đầu cho đến cuốigian đoạn học rất quan trọng Mà tốt hơn nữa là đánh giá cuối mỗi bài tập dù lớn haynhỏ của khóa học, việc này giúp sinh viên có cơ hội cho ý kiến tốt và sớm nhất
- Các học viên trong khóa học dạng elearning không biết mặt cũng như thông tin
cá nhân trực tiếp, cho nên việc giảng dạy rất quan trọng việc sử dụng ngôn ngữ giaotiếp đúng đắn, tránh từ thô lỗ và không lịch sự qua các câu hỏi và câu trả lời
- Phải được thông tin liên lạc hoặc số điện thoại của những người hổ trợ kỹ thuậtbởi vì lúc giảng dạy rất cần họ để giải quyết trục trặc tức thời
2 Cách người học mang đến trong khóa học elearning
Việc giảng viên mang đến hiệu quả và sinh động cho khóa học online là quantrong nhất, tuy nhiên chúng ta cùng nhau tìm hiểu một chút về tâm lý và cách thứcsinh viên phải làm những gì để có thể thay đổi phù hợp và mang lại hiệu quả nhất.Sinh viên theo học các khóa online là theo học thông qua các phương tiện online, do
đó một trong những việc bắt buộc cho việc học online tăng mức độ độc lập của ngườihọc, điều này xảy ra khi học chủ động, có nguyên tắc và tự định hướng cho mình.Sinh viên online có thể đóng góp cho sự việc học thành công và hiệu quả khichuẩn bị và theo nguyên tắc sau:
- Có sự chú ý (awareness): Các sinh viên phải có khả năng đánh giá kỳ vọng,đánh giá độ dài thích hợp của thời gian cần thiết để hoàn thành công việc và hiểu đượcgiá trị của việc học tập Ngoài ra, cũng cần phải có khả năng đánh giá các kỹ năng cánhân, kỹ thuật và nghiên cứu
Trang 11- Có định hướng (Orientation): Như trái ngược với một lớp học truyền thống,elearning đi qua nhiều giai đoạn chuẩn bị trước khi tham gia các nội dung Điều nàybao gồm các lớp học ảo, phần mềm, hướng dẫn và cuối cùng là nội dung Học sinhkhác nhau sẽ tham gia vào một khóa học ở các cấp độ khác nhau trong các khóa họctrực tuyến do vậy phải định hướng gì mình sẽ học trước khi đăng ký, trước khi vô bàigiảng.
- Kỷ luật và có động lực (Discipline and Motivation): học viên phải được xử lý
kỷ luật và động lực để theo lịch trình khóa học và bài tập đầy đủ
- Có tổ chức (Organized): người học phải được tổ chức đủ để sắp xếp thời gianhọc tập và thời gian trực tuyến để đảm bảo tất cả các nghĩa vụ trình được đáp ứng
- Tự định hướng (Self-directed): Người học phải tạo động lực cho bản thân vàyêu cầu giúp đỡ khi cần thiết
Ngoài ra, trong lúc học elearning, người học gặp rất nhiều vấn đề và họ cần phảigiải quyết theo những cách khác nhau:
Không thể vào một vài trang web Nhờ hổ trợ từ nhân viên hổ trợ kỹ
thuậtSinh viên thiếu tham gia hoạt động Khích lệ sinh viên bởi giáo viên và
chủ động sử dụng tài nguyên elearningThiếu thông tin về khóa học Xem lại cách giới thiệu cũng như
những mô tả giao đoạn đầu trong quản lýkhóa học
Thiếu thông tin khi kết thúc khóa
Trang 12PHẦN 2 – VAI TRÒ CỦA GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN
TRONG E-LEARNING
Phương pháp giảng dạy phải lấy người học làm trung tâm, phải xuất phát từ tính chất, đặc điểm của người làm động cơ, cần tạo cho người học tích cực, tự lực, chủ động lĩnh hội tri thức, để họ bộc lộ quan điểm, thái độ đồng thời tranh luận kiến thức hiểu biết, từ đó người dạy có thể kiểm tra, đánh giá được mức độ lĩnh hội kiến thức đểkịp thời có điều chỉnh phương pháp và nội dung giảng dạy
Người tổ chức hoạt động nhận thức cho người học, để định hướng mục tiêu học tập, làngười chỉ dẫn, hướng dẫn thảo luận, là người hỗ trợ hoạt động nhận thức, là huấn luậnviên, trọng tài trong quá trình học tập
1 Vai trò của Giảng viên
1.1 Giảng viên có vai trò là người định hướng
Giảng viên định hướng, lập kế hoạch, mục tiêu, chỉ ra cách thực hiện để đạt được mục tiêu có hiệu quả, kích thích, theo dõi điều chỉnh động cơ và cách thức phù hợp cho hoạt động của sinh viên đồng thời đưa ra các chỉ dẫn và lựa chọn các cách học khác nhau để tăng tính chủ động của sinh viên
Khi bắt đầu với chủ đề mới, giảng viên cần tìm hiểu nội dung chủ đề, xác định mối quan hệ với các chủ đề đã học trước đó, kiểm tra kiến thức cơ bản liên quan, xác định mục tiêu cần học của chủ đề mới, chỉ dẫn các hoạt động học tập
Trang 13cần thiết, xác định mục đích dạy học cần đạt, các nguồn hỗ trợ dạy học, các vấn
đề khó – dễ hiểu nhầm khi học chủ đề này
1.2 Giảng viên có vai trò là người chỉ dẫn
Giảng viên trình bày, thông báo về nội dung học tập thông trên website đồng thời lập chương trình học tập, cung cấp các thông tin liên quan đến mục tiêu và nhiệm vụ Học viên cần thực hiện và yêu cầu Học viên thực hiện chặt chẽ theo quy trình đưa ra Trong quá trình dạy học, thông qua dữ liệu về điểm
số được lưu trên website Giảng viên có thể kiểm soát toàn bộ tiến trình dạy học
Khi bắt đầu một chủ đề mới Giảng viên cần chỉ dẫn và dự tính thời gian, nghiên cứu trước chủ đề để định hướng nguồn hỗ trợ, đọc tài liệu, xây dựng những vấn đề theo định hướng nhiệm vụ Ngoài ra cần lên kế hoạch và thời gian dạy học, xây dựng nội quy thực hiện dạy học, xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả học tập, chỉ dẫn các hình thức dạy học cụ thể, định hướng các bài tập hoặc các nhiệm vụ học tập tiếp theo
1.3 Giảng viên có vai trò là người hỗ trợ
Trong vai trò người hỗ trợ, Giảng viên tạo cơ hội cho học viên chủ độngxây dựng kế hoạch học tập thông qua các bài tập lớn, các bài tập về nhà và lựa chọn các hình thức để đạt được mục tiêu Học viên hoàn thành bài tập và gửi qua website dạy học theo thời gian quy định của Giảng viên Có thể Giảng viên hỗ trợ Học viên thông qua cuộc trao đổi tr ực tuyến (nếu Giảng viên đang online) hoặc gửi thông báo cho Học viên qua kênh email, sẵn sàng “nhảy vào cuộc” khi cần thiết, khi có yêu cầu từ phía Học viên Giảng viên cần theo sát
để kịp thời điều chỉnh nếu các em đang nghiên cứu chệch hướng
Khi bắt đầu một chủ đề mới, Giảng viên cần chỉ dẫn các hoạt động, phương pháp học tập theo mục tiêu và nội dung, gợi ý cách chiếm lĩnh nội dung như: xây dựng bản đồ tư duy về các khái niệm, lập bảng tổng kết, biểu bảng… giúp Học viên định hướng thực hiện các nhiệm vụ học tập Đồng thời
Trang 14tham gia hỗ trợ các hoạt động của Học viên và có những phản hồi tích cực để tăng cường tính chủ động, sáng tạo và tinh thần hợp tác của Học viên
1.4 Giảng viên có vai trò là huấn luận viên, trọng tài
Người huấn luyện viên chỉ đạo quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, dẫn dắt Học viên chủ động thực hiện các thao tác học tập để hình thành năng lực như thực hành, ứng dụng, kịp thời điều chỉnh các thao tác tư duy, hành động chưa chuẩn xác của Học viên, thường xuyên lấy ý kiến phản hồi củaHọc viên Trong e-Learning thông qua các điểm số hoạt động của Học viên ở module bài mới, bài tập Giảng viên sẽ biết được hiệu quả hoạt động dạy học vànhững mong muốn cải thiện để kịp thời điều chỉnh
Với những công việc và vai trò như trên, có thể thấy công việc của người dạy tốn nhiều thời gian nhưng trong khả năng của e-Learning với nhiều công cụ khác nhau có thể đáp ứng được những yêu cầu trên một cách dễ dàng
Ví dụ với công cụ mã nguồn mở Moodle Giảng viên dễ dàng lập một trang web mà không cần phải biết một mã code nào
Thông qua website, module chat trực tuyến, các diễn đàn trao đổi hoặc qua email Giảng viên có thể đưa ra những định hướng, chỉ dẫn cho Học viên trước, trong và ngay khi học
Như vậy, tuy thời gian lên lớp ít nhưng Giảng viên trong vai trò là người chỉ dẫn, định hướng, hỗ trợ, huấn luyện viên, trọng tài với sự hỗ trợ của e- Learning đã phát huy được khả năng giảng dạy của mình với một thời lượng cho phép Học viên được học tập một cách tích cực qua nhiều phương pháp học tập khác nhau
2 Vai trò của Học viên
Học viên và giảng viên có vai trò nhất định trong Elearning, những vai trò này là hết sức quan trọng, vì họ đã chỉ ra và làm rõ những trách nhiệm mà
nó cần thiết để đảm bảo việc học và dạy có hiệu quả Trong Elearning, học viênđược khuyến khích để trở thành người học độc lập Điều này có nghĩa là kinh nghiệm việc học không chỉ phụ thuộc vào sự nổ lực của người hướng dẫn
Trang 15Những công việc chuẩn bị phải được hoàn tất, việc nổ lực và đóng góp của học viên phải được thực hiện tích cực.
Để cho một khóa học Elearning thành công thì vai trò của học viên là rất quan trọng, học viên cần chuẩn bị thông qua các vai trò sau:
- Vai trò là người nhận thức:
Học viên phải nhận thức bản thân, Học viên cần có khả năng đánh giá mức độ
kỳ vọng của mình, thời gian thích hợp cần để hoàn thành xong công việc và hiểu được giá trị của việc học Học viên phải có khả năng đánh giá kỹ năng cá nhân, kỹ thuật và học tập Đánh giá toàn diện những kỹ năng của mình, đạo đứclàm việc, hành vi và thái độ là rất quan trọng Điều quan trọng là học viên phải hiểu giá trị và động cơ thúc đẩy trong việc học
- Vai trò là người chuẩn bị:
Trước khi tham gia vào khóa học chính thức, học viên phải tự định hướng (mà tốt nhất là sự giúp đỡ của người hướng dẫn) với nội dung khóa học, máy tính, internet, lớp học ảo, phần mềm, bạn bè cần thiết và người hướng dẫn mình.Trái ngược với một lớp học truyền thống, một lớp E-learning thông qua nhiều giai đoạn chuẩn bị trước khi vào học chính thức Có nghĩa là bao gồm các lớp học ảo, phần mềm, hướng dẫn và cuối cùng là nội dung Những Học viên có trình độ khác nhau sẽ tham gia vào các khóa học có mức độ học tập khác nhau
- Vai trò là người nguyên tắc và có động lực thúc đẩy
Học viên nên có nguyên tắc và động lực thúc đẩy để theo lịch học và hoàn thành bài tập đầy đủ Như đã đề cập ở trước, E-learning đòi hỏi học viên là mộtngười học độc lập Môi trường E-learning có cấu trúc tối thiếu so với lớp học truyền thống Điều này có nghĩa là học viên phải tuân theo lịch trình khóa học
và hoàn thành bài tập đầy đủ
- Vai trò là người tổ chức
Học viên phải tổ chức đủ để sắp xếp thời gian học tập và thời gian trực tuyến
để đảm bảo tất cả các khóa học đã được đáp ứng
- Vai trò là người tự định hướng
Người học phải tạo động lực cho bản thân và yêu cầu giúp đỡ khi cần thiết
Trang 16PHẦN 3 – ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT TRONG VIỆC
GIẢNG DẠY E-LEARNING
Trong phần này, chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề về các điều kiện cần thiết
để có thể tổ chức được dạy và học trong E-Learning trong trường Đại học, Cao đẳng Chúng ta sẽ đề cập đến các điều kiện cần thiết về phần cứng, phần mềm
và môi trường dạy và học Tại sao chúng ta phải đề cập đến điều kiện phần mềm, phần cứng? Vì khi tổ chức dạy học E-Learning, để một hệ thống phần mềm E-Learning chạy được tốt và độ tin cậy cao thì cần phải có sự hỗ trợ của phần cứng và phần mềm và một khi đã nói đến phần mềm thì cần phải có các yêu cầu thông số phần cứng và các thông tin phần mềm hỗ trợ Do đó điều kiện cần thiết đầu tiên là phải kết hợp được giữa máy và con người thì mới có thể tổ chức dạy và học E-Learning.
1 Điều kiện về phần cứng:
Để đáp ứng được một môi trường giảng dạy tốt nhất, một chương trình Learning phải có thể chạy được trong hầu hết tất cả các máy tính hiện nay bao gồmdesktop, laptop, máy tính bảng, smartphone Do đó, chương trình phải thật gọn, nhẹ
E-hỗ trợ tất cả phần cứng trên các thiết bị khác nhau
Đối với phần mềm dạng gói cài đặt, chương trình cần phải được xâydựng thành nhiều gói khác nhau để hỗ trợ phần cứng cho từng thiết bịkhác nhau Do đó, phần mềm có thể chỉ đáp ứng được một số loại thiết
bị nhất định nhưng cần phải chỉ ra được các thiết bị nào được hỗ trợ vàcác thông số phần cứng cần thiết để có thể chạy được chương trình
Nếu là phần mềm chạy trực tiếp trên website thì yêu cầu về phần cứng
sẽ không khắc khe như các phần mềm cài đặt theo gói
Hiện nay, thị trường smartphone và máy tính bảng đang rất phổ biến vàtính năng của các thiết bị đó có thể gần giống với máy vi tính nên việc
Trang 17phát triển các phần mềm về Mobile Learning là điều kiện cần thiết đểmọi người có thể học mọi lúc mọi nơi.
Để có một hệ thống E-Learning hoàn chỉnh thì cần phải có một hệ thống máychủ (server) đủ mạnh để quản lý tốt các tài nguyên (như các bài giảng, các thảo luận,giảng viên và học viên v.v…) một cách tập trung Như hình dưới đây, một máy chủphải đủ mạnh để có thể chịu tải 100 hơn học viên cùng học một lúc
Do đa số các hệ thống E-Learning là học online nên mạng là phần không thểthiếu trong E-Learning (như hình trên) Để có thể việc truyền tải thông tin nhanh vàxem được video trong suốt quá trình học mà không gặp sự cố thì hệ thống mạng củamáy chủ chứa chương trình và dữ liệu của chương trình phải rất mạnh Các máy kháchnếu muốn tải thông tin nhanh (download, upload) và xem được video mà không gặp
sự cố (chậm, timeout) thì cũng cần lắp đặt mạng tốc độ cao Đối với việc học đồng bộthì vấn đề về mạng cần phải đảm bảo hơn nữa Do hiện nay việc phát triển của internetnên việc kết nối mạng tốc độ cao (ADSL, 3G v.v…) không phải là vấn đề khó khăn
Một số chương trình giảng dạy E-Learning cần phải có các thiết bị Speaker,Microphone, Webcam, Camera để có thể trao đổi trực tiếp giữa giảng viên và họcviên, giúp giảng viên quay lại các bài giảng của mình v.v… Hầu hết các laptop,tablet, smartphone hiện nay đều có hỗ trợ các thiết bị đó Đối với desktop thì có thểthiếu một trong số các thiết bị trên
Đối với các máy thiết kế các bài giảng thì cần phải đủ mạnh để đáp ứng việcthiết kế các bài giảng bằng đồ họa (Adobe Presenter, Flash, Camtasia, Photoshopv.v…) Đối với việc phát triển công nghệ thông tin như hiện nay thì việc đầu tư cho
Trang 18một máy tính đủ mạnh để thực hiện các công việc hỗ trợ thiết kế giảng dạy không còn
là một vấn đề nan giải
2 Điều kiện về phần mềm
Do E-Learning có rất nhiều hình thức triển khai như học qua mạng xã hội, họcqua YouTube, các trang web truyền thông đa phương tiện khác và tự xây dựng Nếunhư một trường muốn tổ chức học trên các trang web có sẵn thì chỉ cần thiết là tạo tàikhoản và upload bài học lên để dạy và học Dạng này thường tiết kiệm được thời gian,chi phí và nhân lực để triển khai Nếu các trường muốn tự xây dựng một hệ thống E-Learning chuyên dụng Do đó, đòi hỏi phải có các điều kiện triển khai hợp lý để có thể
tổ chức dạy và học tốt Dưới đây là thông tin về điều kiện cần của một hệ thống Learning cần phải có để có thể tổ chức dạy và học tốt
E-a. Về phía máy chủ:
Một máy chủ để quản trị một hệ thống E-Learning thì thường được cài đặt trêncác hệ điều hành chuyên dụng cho máy chủ như Window Server hay Linux Server để
hệ thống có thể chạy xuyên suốt 24/7 và tính ổn định cao
Trong đó, cần phải có một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để lưu trữ tất cảcác những dữ liệu liên quan (thông tin học viên, bài giảng v.v…) Tùy vào hệ điềuhành mà chúng ta có các phiên bản hệ quản trị cơ sở dữ liệu thích hợp Chúng ta cũngcần lựa chọn những hệ cơ sở dữ liệu có thể lưu trữ với dung lượng lớn, ổn định, nhanh
và quan trọng nhất là có cơ chế sao lưu dự phòng và phục hồi tốt nhất Điều kiện cầnthiết ở đây chúng ta cần phải có DBMS để có thể truy vấn nhanh các thông tin cầnthiết theo các tiêu chuẩn thống nhất
Trang 19Ngoài ra, cần có một web server để lưu trữ các tài nguyên, nội dung, cấu trúccủa một website về E-Learning nếu như cần triển khai một phần mềm E-Learningchạy trên nền web Nếu một website chạy trên nền web thì cũng cần lưu ý đến cácđiều kiện về bảo mật để tránh các trường hợp bị đánh mất thông tin, bị chỉnh sửa nộidung hay bị chỉnh sửa các đánh giá.
b. Về phía máy khách:
E-Learning có hai hình thức thông dụng nhất là phổ biến bài học trên website
và phổ biến qua các CD, DVD v.v… Mỗi hình thức này đều yêu cầu các thông tinphần mềm hỗ trợ riêng Do đó, chúng ta cần thiết phải xác định được là phần mềmchúng ta sẽ phát triển theo hướng nào cho phù hợp:
Đối với các phần mềm theo dạng gói cài đặt (như English Study, cácphần mềm của nhóm phát triển phần mềm sinh viên học sinh - SSDG),một cách lý tưởng nhất là chương trình có thể cài đặt trên hầu hết các hệđiều hành từ Microsoft Window, Linux, Max OS, iOS, Android v.v…Nhưng để có thể phát triển trên multi-platform thì không phải là việc dễdàng gì vì mỗi hệ điều hành có một cơ chế vận hành riêng Do đó, nếuphát triển theo hướng cài đặt dạng đóng gói thì cần phải tạo ra nhiềuchương trình phần mềm con Mỗi chương trình tương thích với một hệđiều hành riêng
Trang 20Dạng này thường không được áp dụng trong việc học E-Learning ở cáctrường dạy học.
Đối với các phần mềm chạy trực tiếp trên website thì việc tương thíchphần mềm E-Learning và hệ điều hành thì không còn là một vấn đề quantrọng Do đó, các phần mềm về E-Learning hiện nay chủ yếu chạy trênnền web để có thể hỗ trợ nhiều hệ điều hành khác nhau Tuy nhiên, cómột vấn đề là phải hỗ trợ hầu hết các trình duyệt thông dụng hiện nay.Nếu không tương thích với trình duyệt thì có thể chương trình sẽ khônghiển thị đúng hoặc các chức năng chạy không đúng Do đó, một chươngtrình E-Learning tốt thì có thể sẽ không hỗ trợ tốt cho tất cả các trìnhduyệt nhưng ít nhất vẫn có thể hiển thị đúng và các chức năng phải hoạtđộng đúng và chính xác Mỗi hệ điều hành đều có một trình duyệt mặcđịnh do đó chỉ cần nối mạng internet đủ nhanh là có thể bắt đầu việc họccủa mình
Để có thể chạy được, xem được các video tương tác, các hiệu ứng trongcác bài giảng thì trình duyệt cần phải cài đặt thêm một số các tiện íchAdd-ons như Flash, Silverlight, Java v.v… Và cần đảm bảo rằng cácAdd-ons này hỗ trợ cho trình duyệt mà phần mềm E-Learning đang hỗ
Trang 21trợ Đối với các phần mềm dạng gói cài đặt thì có thể cần cài đặt thêmmột số phần mềm hãng thứ ba như Java hay Net Framework.
Đối với việc thiết kế bài giảng thì máy tính cần phải có các phần mềm đồ họachuyên dụng như xử lý video, âm thanh, các phần mềm về soạn thảo văn bản, cácphần mềm chuyên về xử lý ảnh và các hiệu ứng chuyển động Để một bài giảng đượcthiết kế sinh động, trực quan thì có thể kết hợp một số phần mềm chuyên dụng vớinhau như việc quay video kết hợp với các hình ảnh chuyển động để minh họa v.v
Ngoài ra, cũng cần thiết phải có các phương tiện truyền thông miễn phí có thểtích hợp vào trong hệ thống E-Learning như Skype, Youtube để hỗ trợ cho việc giảngdạy đồng bộ và bất đồng bộ Vì các phương tiện này có tính ổn định cao và không gâyviệc mất tính hiệu trong quá trình dạy và học
c. Về phần mềm E-Learning:
Hệ thống E-Learning được xây dựng và triển khai trên nhiều hình thức khácnhau Do đó, trường học muốn dạy học trên E-Learning thì cần phải xác định đượckinh phí, nhân lực để có thể đầu tư hợp lý:
E-Leaning có thể được xây dựng trên một số website về truyền thông đaphương tiện như Youtube, Vimeo v.v…, hay gần đây có xuất hiện cácdịch vụ về E-Learning được tích hợp trên điện toán đám mây Đây là cácphần mềm được xây dựng trên các trang web công cộng, một số tính phí
và một số thì miễn phí nhưng tính năng, hiệu quả có thể không như ýmuốn do phải phụ thuộc vào các website
Một hệ thống phần mềm về E-Leaning có thể được xây dựng dựa trênnhững phần mềm có sẵn như các phần mềm về quản trị nội dung, cácphần mềm mã nguồn mở như Moodle, Blackboard, Claroline, v.v… hay
tự xây dựng một phần mềm E-Learning chuyên dụng Nhưng cần phải
Trang 22có một nguồn nhân lực có kĩ thuật chuyên môn về các mã nguồn mở thìmới có thể khai thác được hết các tính năng cũng như thêm các tínhnăng mới.
Một hệ thống phần mềm E-Learning để có thể có các chức năng như ýmuốn thì cần phải xây dựng một phần mềm đặc thù Mức độ linh hoạt,uyển chuyển của phần mềm đặt thù sẽ cao hơn so với các phần mềm sẵn
có do phần mềm được tạo ra dựa trên các yêu cầu của người sử dụngnhưng chi phí để xây dựng một phần mềm đặc thù là không hề nhỏ.Nhưng một ưu điểm quan trọng cho việc xây dựng một phần mềm đặcthù là phần mềm có thể thay đổi theo yêu cầu của người sử dụng và sửdụng được trong một thời gian dài
Một giải pháp kinh tế hơn là mua các phần mềm E-Learning bán sẵntrên thị trường Nhưng nhược điểm của các phần mềm này là nhiều tínhnăng mình không sử dụng tới hoặc nhiều tính năng mình cần nhưngchương trình lại không có
Phần mềm phải được phát triển sao cho có tính trực quan, tính tương tác và dễdàng thao tác đối với cả giảng viên và học viên
Nếu xây dựng một hệ thống E-Learning có thể truy cập, sử dụng trên nhiềunước khác nhau thì hệ thống E-Learning cần phải hỗ trợ đa ngôn ngữ Nhưng thườngnhững phần mềm E-Learning như thế sẽ hỗ trợ tiếng Anh mặc định
Ngoài ra, cũng cần triển khai các blog, các forum để các giảng viên và học viên
có thể chia sẽ thêm kiến thức và đây cũng là những nơi lưu trữ và chia sẽ các tài liệu,nhật ký về học và dạy v.v…
Một hệ thống phần mềm về E-Learning hoàn chỉnh phải bao gồm các tính năngsau:
1 Quản lý giảng viên, học viên, khóa học, các lớp, lịch học, các sự kiện vàcác bài học trong khóa học
2 Phải bao gồm các tính năng: phát triển nội dung bài giảng,tính năng theodõi các phần học để biết được học viên học đến đâu, hệ thống làm kiểm
Trang 23tra sau khi học hết bài học và đánh giá về bài học của học viên; tínhnăng về thảo luận giữa các học viên và giữa học viên với giảng viên;tính năng về đánh giá học viên sau khóa học, đánh giá bài học; tính năng
về tổng hợp báo cáo số liệu
3 Nếu là một phần mềm học đồng bộ với giảng viên thông qua internet thìphần mềm cần phải hỗ trợ tốt các thiết bị như camera, webcam,microphone v.v…
3 Điều kiện về môi trường học tập và giảng dạy
Có thể thấy rằng, lợi thế của E-Learning là không có sự ràng buộc về khônggian và thời gian cả việc dạy lẫn việc học Do đó, giáo viên và học viên có thể dạy vàhọc ở bất kì thời điểm nào, ở đâu
Giảng viên dạy trong môi trường E-Learning cần phải có các kiến thức về sửdụng máy tính, cách sử dụng các phần mềm xây dựng đồ họa để soạn, thiết kế bàigiảng và phải có kiến thức về phần mềm về E-Learning đang sử dụng Giảng viêncũng cần có kiến thức, kỹ năng sư phạm, thuyết trình về giảng dạy trên E-Learning để
có thể tạo ra các bài giảng sinh động, hiệu quả
Học viên cũng phải có các kiến thức nhất định về tin học để sử dụng phần mềmE-Learning Nhưng để học tập dựa trên E-Learning tốt, lâu dài thì cần phải biết tự giáchọc tập (Do không có quản lý về không gian và thời gian nên học viên sau khi học lâu
sẽ có cảm giác lơ là, không ý thức việc học), biết tự chủ và sắp xếp thời gian học, tíchcực thảo luận với giảng viên và học viên khác Để có thể kích lệ và tạo động lực họccho học viên cũng như vai trò dạy học của giảng viên, cần phải có việc khen thưởnghàng tháng, hàng quý của trường dạy E-Learning
Nội dung bài giảng phải rõ ràng, ngắn gọn và các nội dung phải được sắp xếptheo thứ tự từ cơ bản đến nâng cao sẽ giúp cho học viên học hiệu quả hơn
Trang 24Để triển khai một môi trường làm việc E-Learning chuyên nghiệp thì luôn cầnphải có các quản trị viên để có thể giải quyết các vấn đề trục trặc của hệ thống và giảiquyết các thắc mắc của giáo viên và học viên về những vấn đề liên quan đến hệ thốngphần mềm.
Ngoài ra, đối với các hệ thống E-Learning triển khai trên nhiều nước khác nhauthì cần thiết mỗi nước phải có một số tổng đài để giải đáp thắc mắc và xử lý vấn đề kỹthuật Để tránh trường hợp bất đồng ngôn ngữ, văn hóa và chi phí khi thực hiện gọi raquốc tế
Đối với việc làm bài thi trực tuyến, do một số yêu cầu như không sử dụng tàiliệu nên việc tổ chức thi có thể phải tập trung tại một số địa điểm tổ chức thi trựctuyến tại trường với các câu hỏi được xây dựng trên máy tính và có camera quan sáthoặc giám thị trong quá trình thi Như vậy sẽ đảm bảo được tính nghiêm túc của họcviên trong kì thi cuối khóa của các môn dạy bằng phương pháp E-Learning
Trang 25- Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS – Learning Content
Managerment System): là môi trường đa người dùng cho phép giảng viên và
cơ sở đào tạo kết hợp để tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại, quản lý và phân phối nộidung bài giảng điện tử từ một kho dữ liệu trung tâm Để cung cấp khả năngtương thích giữa các hệ thống, LCMS được thiết kế sao cho phù hợp với cáctiêu chuẩn về siêu dữ liệu nội dung, đóng gói nội dung và truyền thông nộidung
- Hệ thống quản lý học tập (LMS – Learning Managerment System): khác
với LCMS chỉ tập trung vào xây dựng và phát triển nội dung, LMS như là một
hệ thống dịch vụ hỗ trợ và quản lý quá trình học tập của học viên Các dịch vụnhư đăng ký, giúp đỡ, kiểm tra, … được tích hợp vào LMS
Trang 26b Mô hình hệ thống
Một cách tổng thể, một hệ thống e-learning bao gồm 3 phần chính:
- Hạ tầng truyền thông và mạng: Bao gồm các thiết bị đầu cuối (người dùng),
thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông,
- Hạ tầng phần mềm: Các phần mềm LMS, LCMS (Marcomedia, Aurthorware,
Toolbook, )
- Nội dung đào tạo (hạ tầng thông tin): Phần quan trọng của e-learning là nội
dung các khoá học, các chương trình đào tạo và các phần mềm dạy học
c Hoạt động của hệ thống e-learning
Một hệ thống đào tạo có hiệu quả, chất lượng cao phải được xây dựng dựa trêncác yếu tố: nhu cầu của học viên và kết quả dự kiến của khóa học Dựa vào nhữngyếu tố này, có thể đưa ra một mô hình cấu trúc điển hình e-learning cho cáctrường đại học, cao đẳng
Trang 27Giảng viên (A): Giảng viên cung cấp nội dung của khóa học cho phòng xây dựng
nội dung (C) dựa trên kết quả học tập dự kiến nhận từ phòng quản lý đào tạo (D).Giảng viên cũng tham gia tương tác với học viên (B) qua hệ thống quản lý học tậpLMS (2)
Học viên (B): Sử dụng cổng thông tin người dùng để học tập, trao đổi với giảng
viên qua hệ thống quản lý học tập LMS (2) và sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập(3)
Phòng quản lý đào tạo (D): Quản lý việc đào tạo qua hệ thống LMS (2), tập hợp
các nhu cầu, nguyện vọng, kiến nghị của học viên để cải thiện nội dung, chươngtrình giảng dạy, tổ chức lớp học tốt hơn, nâng cao chất lượng dạy và học
Cổng thông tin người dùng (user’s portal): Giao diện chính cho học viên (B),
giảng viên (A) cũng như các bộ phận (C), (D) truy cập vào hệ thống đào tạo, hỗtrợ truy cập qua Internet từ máy tính cá nhân hay thậm chí từ các thiết bị di độngthế hệ mới
Hệ thống quản lý nội dung học tập LCMS (1): cho phép giảng viên (A) và
phòng xây dựng chương trình (C) cùng hợp tác để tạo ra nội dung bài giảng điện
tử LCMS kết nối với các ngân hàng kiến thức (I) và ngân hàng bài giảng điện tử(II)
Trang 28Hệ thống quản lý học tập LMS (2): là giao diện chính cho học viên học tập cũng
như phòng quản lý đào tạo quản lý việc học của học viên
Các công cụ hỗ trợ học tập cho học viên (3): như thư viện điện tử, phòng thực
hành ảo, …tất cả đều có thể được tích hợp vào hệ thống LMS
Các công cụ thiết kế bài giảng điện tử (4): như máy ảnh, máy quay phim, máy
ghi âm, các phần mềm chuyên dụng trong xử lý đa phương tiện, …để hỗ trợ xâydựng, thiết kế bài giảng điện tử Đây là những công cụ hỗ trợ chính cho phòng xâydựng chương trình (C)
Ngân hàng kiến thức (I): là cơ sở dữ liệu lưu trữ các đơn vị kiến thức cơ bản, có
thể tái sử dụng trong nhiều bài giảng điện tử khác nhau Phòng xây dựng chươngtrình (C) sẽ thông qua hệ thống LCMS để tìm kiếm, chỉnh sửa, cập nhật và quản
lý ngân hàng dữ liệu này
Ngân hàng bài giảng điện tử (II): là cơ sở dữ liệu lưu trữ các bài giảng điện tử.
Học viên sẽ truy cập đến cơ sở dữ liệu này thông qua hệ thống LMS
2 Xây dựng courseware
Như đã trình bày ở trên, phần quan trọng trong đào tạo theo e-learning là nộidung các khoá học hay còn gọi là courseware Phần này sẽ trình bày chi tiết vềyêu cầu của một courseware, cấu trúc và cách xây dựng một courseware
a Định nghĩa
Courseware là một phần mềm được sử dụng như một công cụ học tập hay hỗtrợ quá trình dạy học theo cách cung cấp học liệu (materials) đi kèm với nhữnghướng dẫn sư phạm (instructions) được thiết kế tối ưu để đảm bảo người học cóthể tự học dễ dàng và đạt hiệu quả cao nhất với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
b Yêu cầu của một courseware
Khi tự học với courseware, người học sẽ không giao tiếp với giáo viên Do đó,các nội dung học tập phải được gia công với các biện pháp sư phạm thích hợp với
sự bổ sung đáng kể các nguồn tài nguyên và các thông tin cần thiết khác để đảmbảo cho sinh viên có thể tự học với courseware một cách hiệu quả nhất Theo đó,một courseware cần đạt được một số yêu cầu cơ bản như sau:
- Thể hiện rõ ràng mục tiêu học tập.
Trang 29- Thể hiện những điều kiện tiên quyết khi tham gia khoá học có những thông tin
mô tả tóm tắt về nội dung courseware
- Cấu trúc rõ ràng, logic.
- Có nội dung chính xác, phù hợp với mục tiêu học tập
- Giao diện thân thiện, dễ sử dụng, thuận tiện khi duyệt qua nội dung học tập.
- Có khả năng định vị thông tin trong quá trình học tập
- Hỗ trợ tìm kiếm thông tin
- Thể hiện mối quan hệ giữa học tập với Courseware với các hình thức học tập
- Tích hợp các lý luận dạy học hiện đại nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học
- Đảm bảo tính tương tác với nội dung, cho phép trải nghiệm để hình thành một
số kỹ năng điển hình
- Người học có thể tự đánh giá mức độ tiến bộ trong quá trình học tập.
- Giúp cho người học hoàn thành được những bài tập vận dụng.
- Đầy đủ về tài liệu tham khảo.
- Tài nguyên học tập đa dạng, hợp lý.
- Phù hợp chuẩn SCORM 1.2 hoặc SCORM 2004.
Những yêu cầu trên chưa bao gồm các yếu tố đảm bảo sự tượng tác, phản hồigiữa người dạy với người học, giữa người học với nhau Khi khai thác trong môitrường LMS, yêu cầu trên sẽ được đáp ứng Cũng với LMS, nhiều yêu cầu trên cóthể được thưc hiện một cách dễ dàng
c Cấu trúc courseware
Một courseware được xây dựng dựa trên những qui ước sau đây:
- Một khoá học (course) bao gồm các phần (Section).
- Một phần bao gồm nhiều chủ để (topic).
Trang 30- Một chủ đề bao gồm tập hợp các hoạt động học tập (educational activities).
- Một hoạt động học tập bao gồm tập hợp các hành động, thao tác (primitive
activities)
Một hoạt động học tập có thể là sự kết hợp của nhiều hành động, động tác nhưđọc một đoạn văn bản, nhìn và quan sát một hình ảnh, lắng nghe một âm thanh,quan sát một hoạt hình, thí nghiệm, thực hành ảo, mô phỏng hay một vài hướngdẫn để thưc hiện các bài tập nhằm giúp người học lĩnh hội được kiến thức, kỹnăng trong hành động
Có rất nhiều cách để thể hiện cấu trúc của một khóa học, sau đây là một cấutrúc gồm 4 nội dung chính: Thông tin chung về khoá học; Hướng dẫn học tập; Nộidung khoá học; Tài liệu tham khảo chung
Thông tin chung về khoá học: Trong phần này, cần thể hiện những thông tin
cơ bản về khóa học Đây là thông tin mà người học sẽ tham khảo đầu tiên khibắt đầu khoá học Nó giúp người học nắm bắt được bức tranh tổng thể về khoáhọc Thông tin khóa học có thể bao gồm:
o Tên khóa học
o Người xây dựng
o Số đơn vị học trình
o Mục tiêu tổng thể của khóa học
o Mô tả tóm tắt về nội dung khóa học
o Điều kiện tiên quyết
o Thông tin đánh giá của khóa học
o Cấu trúc các chương, bài, mục
o Sự phối hợp giữa hoạt động học tập này với các hình thức khác
o Thông tin về bản quyền
Hướng dẫn học tập: Phần này giúp cho người học có thể tham gia học tập một
cách tự lập bằng cách thực hiện theo các hướng dẫn Nội dung phần này có thểgồm những thông tin:
o Giới thiệu về giao diện, cách thức di chuyển giữa các nội dung
Trang 31o Ý tưởng sư phạm của courseware
o Hướng dẫn cụ thể một số hoạt động học tập
o Thông tin về kế hoạch học tập
Nội dung khoá học: Đây là nội dung chính của courseware Nội dung khóa
học thường được thể hiện dưới dạng cây thư mục hoặc sử dụng hệ thống liênkết theo cấu trúc Nội dung khóa học được thiết kế dưới dạng các hoạt độngphong phú (đặt vấn để, tìm hiếu kiến thức mới, đọc tài liệu, quan sát hình vẽ,trả lời câu hỏi, tự kiểm tra mức độ tiếp thu,…) giúp sinh viên tự tìm hiểu về nộidung học tập theo cách tự lực và tích cực nhất
Tài liệu tham khảo chung:
o Các tài liệu tham khác dưới dụng in ấn
o Các tài liệu tham khác trên mạng
d Các bước xây dựng một courseware
- Bước 1: Xác định nhu cầu và mục tiêu
Ở bước này, cần xác định mục tiêu của từng bài học Mục tiêu của một bài họcgồm những kiến thức người học cần biết hoặc có thể làm được sau khi kết thúc bàihọc và quan trọng nhất là khả năng tiếp nhận kiến thức của người học Do đó,trong bước này cần xác định rõ các yêu cầu trọng tâm của mỗi bài học và lượngkiến thức người học cần phải đạt được sau bài học
- Bước 2: Thu thập tài nguyên
Các tài nguyên cho bài học có thể được thu thập từ nhiều nguồn như từ giáotrình, sách tham khảo, từ các chuyên gia hay những người có kiến thức sâu sắctrong từng lĩnh vực liên quan Các tài nguyên này có thể có nhiều dạng như chữviết (text), hình ảnh (picture), âm thanh (sound), hoạt hình (animation), phim(movie)
- Bước 3: Nghiên cứu nội dung
Người xây dựng các bài học phải có hiểu biết sâu sắc về nội dung cần đượctrình bày
- Bước 4: Hình thành ý tưởng
Trang 32Các nhà thiết kế cùng những người trong nhóm hình thành nên các ý tưởng, sau
đó xem xét chất lượng, đánh giá tính khả thi của ý tưởng
- Bước 5: Thiết kế bài giảng
Bằng các biện pháp sư phạm, người thiết kế sẽ thể hiện các bài giảng dựa trêncác ý tưởng đã được chọn ở trên
- Bước 6: Lưu đồ tiến trình bài học
Lưu đồ tiến trình đóng vai trò quan trọng trong bài giảng Nó thể hiện sự liênkết trong bài giảng Mức độ chi tiết của biểu đồ tiến trình khác nhau tùy theo từngphương pháp được áp dụng khi thiết kế
- Bước 7: Thể hiện nội dung các bài học
Nội dung bài học được thể hiện dưới các hoạt động dạy học Cách thức thể hiệnnội dung quyết định phần lớn đối với chất lượng của một courseware
- Bước 8: Thể hiện bài dạy thành chương trình
Các phần mềm máy tính (ví dụ như eXe Learning, Lectora, IBM AuthoringTool,…) sẽ cho phép chuyển đổi các kịch bản trên giấy thành một coursewarethực sự
- Bước 9: Xây dựng các tài liệu hỗ trợ
Thường có 4 loại tài liệu: tài liệu hướng dẫn sinh viên, tài liệu hướng dẫn giảngviên, tài liệu hướng đầu kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn bổ sung Tài liệu hướngdẫn kỹ thuật cần thiết đối với những bài giảng phức tạp hoặc cần có các thiết bịphức tạp Tài liệu hướng dẫn bổ sung gồm phiếu học tập, biểu đồ, ảnh, bài luận,
…
- Bước 10: Đánh giá và chỉnh sửa
Đây là bước cuối cùng và cũng là bước khá quan trong trong thiết kế, xây dựngbài giảng và các tài liệu hỗ trợ Chúng phải được đánh giá cẩn thận để kiểm trachất lượng của các bài học Từ đó, có thể có sự điều chỉnh, bổ sung cần thiết đểcourseware trở nên hoàn chỉnh nhất
3 Tổ chức lớp học
a So sánh lớp học truyền thống và lớp học e-learning:
Trang 33dụ một tập tin nội dung bài họcdưới dạng HTML hoặc DOC; bàigiảng được ghi hình bằng Video,
…Phân phối nội
dung đào tạo
Tại phòng học
Bảng phấn
Thực hiện bằng các phương tiệnđiện tử Ví dụ tài liệu được gửi quahọc viên qua e-mail, bài tập dướidạng file DOC cho phép học viêntải xuống, học viên học trên trangweb của lớp học, học sử dụng CD– ROM đa phương tiện
Quản lý đào tạo Phòng giáo vụ gặp gỡ
quản lý sinh viên
Bảng thông báo
Quản lý đào tạo qua phương tiệntruyền thông điện tử Ví dụ kếhoạch học tập được đăng trên trangWeb của lớp học, đăng ký học tậptrên mạng, qua SMS
Trang 34Phương pháp e-learning thì lấy tự học là chủ yếu Do đó, giáo trình và tài liệucho phương pháp học này cũng khác với giáo trình thông thường Giáo trình E-learning được biên soạn theo hướng học liệu tự học có tương tác Theo đó, đầumỗi bài đều phải nêu rõ mục tiêu và hướng dẫn học tập, phải có nhiều tình huốngthực tế liên hệ tới kiến thức môn học, cuối bài luôn có câu hỏi trắc nghiệm để giúpsinh viên tự đánh giá trình độ, có các hình ảnh minh họa.
Trước từng môn học thì các tài liệu cho môn học phải được cung cấp thông quanhiều hình thức cho học viên Tài liệu có thể gồm: đề cương môn học, giáo trìnhđiện tử, bài giảng video, bài giảng trình chiếu, câu hỏi trắc nghiệm để luyện tập vàkiểm tra kiến thức, tình huống thực tế để thảo luận,…
Trang 35Mỗi lớp học gồm những sinh viên theo học cùng một học phần trong cùng mộtkhoảng thời gian, cùng một giảng viên Lớp học này có thể thay đổi trong quátrình học, phụ thuộc vào đặc thù, yêu cầu của từng môn học.
Khi tham gia mỗi môn học, học viên tham gia vào 4 hoạt động:
a Học lý thuyết: Sinh viên tự xem tài liệu, sử dụng bất kỳ phương tiện học tậpnào (sách, video, hệ thống e-learning, …)
b Trao đổi, giải đáp thắc mắc: Sinh viên trao đổi các thắc mắc với giảng viên vàthảo luận với nhau thông qua hệ thống e-learning, qua email, hoặc có thể chattrực tiếp, sử dụng webcam, thông qua diễn đàn hoặc tại các buổi học offline
c Làm bài tập tình huống: Trong quá trình học một môn học sẽ có các bài tậptình huống giúp sinh viên vận dụng kiến thức môn học để làm bài
d Kiểm tra đánh giá: Trong quá trình học sẽ có các bài kiểm tra trắc nghiệm giúpsinh viên kiểm tra kiến thức đã học Kết thúc mỗi môn học sẽ có kiểm tra đánhgiá kết quả học tập môn học đó
Trang 36PHẦN 5 – XU HƯỚNG, THỰC TRẠNG, ƯU VÀ
KHUYẾT ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH ELEARNING
Trước khi đi sâu phân tích xu hướng, thực trạng của Elearning, ta cùng điểm qua vài con số thống kê về Elearning trên toàn thế giới
1 Elearning qua những con số
Theo số liệu thống kê ở Hoa Kỳ, ta thấy rõ số lượng người đăng ký học Elearning tăng
trưởng đều qua các năm, cho đến năm 2009 là 5.6 triệu người đăng ký học online, chiếm
27,5% trong tổng số người đăng ký học các khóa học (20.4 triệu).
Trang 37Theo thống kê của 1 công ty độc lập Corexcel trên 4500 khách hàng, thì trong đó có tới 60%
số người đang sử dụng Elearning Và trong số 4500 khách hàng đó, thì số lượng các cấp bậc
sử dụng Elearning là gần như đều nhau Điều đó cho thấy Elearning đã được sử dụng ở
mọi cấp bậc trong công ty, từ nhân viên cấp thấp mới tuyển cho đến các cấp quản lý điều hành.
Sau đây là các con số thống kê Elearning với khái niệm nền kinh tế Elearning
Trong những năm gần đây, ra đời khái niệm nền kinh tế Elearning (Elearning Economy),
tức là các khoản ngân sách dành cho Elearning trên toàn thế giới cộng lại Nếu theo cách hiểu
trên thì năm 2003 giá trị là 6.5 tỉ USD, năm 2008 là 27.1 tỉ USD và dự báo năm 2014 là 49.6
Trang 38Tiếp theo là các số liệu thống kê về giáo dục trực tuyến của Hoa Kỳ.
Năm 2006, chỉ có 3.5 triệu sinh viên tham gia các lớp học trực tuyến Năm 2007, hơn 20% các sinh viên các khóa học cao đều tham gia ít nhất 1 khóa học trực tuyến Năm 2008, tỉ lệ tăng trưởng các đăng ký cho các lớp trực tuyến là 12.9%, vượt xa sự tăng trưởng 1.2% của giáo dục cao nói chung Năm 2009, 96% các đại học truyền thống cung cấp các khóa học online và 44% sinh viên tham gia ít nhất 1 khóa học trực tuyến
Và 81% các sinh viên sau cấp 2 ở Mỹ sẽ tham gia ít nhất 1 trong các khóa học online vào năm 2014.
Và 1 trong những bất ngờ là trường đại học lớn nhất chính là Đại Học trực tuyến
Phoenix, có số lượng sinh viên lên tới 380.232 sinh viên, hơn gấp 5 lần trường công lớn nhất
là ĐH bang Arizona với chỉ 68.064 sinh viên theo học.