1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Lí luận của Mác về hình thái kinh tế - xã hội và sự vận dụng nó vào nghiên cứu giảng dạy vấn đề "kiểu nhà nước và kiểu pháp luật"" pptx

7 693 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 167,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí luận của Mác về hình thái kinh tế - xã hội - hòn đá tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử Để đưa ra được phạm trù triết học "hình thái kinh tế - xã hội", Mác đã phân tích sâu sắc và to

Trang 1

TS NGuyÔn V¨n §éng *

1 Lí luận của Mác về hình thái kinh

tế - xã hội - hòn đá tảng của chủ nghĩa

duy vật lịch sử

Để đưa ra được phạm trù triết học "hình

thái kinh tế - xã hội", Mác đã phân tích sâu

sắc và toàn diện ba vấn đề quan trọng là:

Sản xuất vật chất - cơ sở tồn tại và phát

triển của xã hội; quan hệ giữa lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất; quan hệ giữa cơ

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Trước Mác, hầu hết các nhà triết học,

xã hội học đã xuất phát từ quan điểm duy

tâm để giải thích nguyên nhân làm cho xã

hội vận động Họ cho rằng xã hội thịnh hay

suy, phát triển hay không phát triển là do ý

thức, tư tưởng, vai trò của vĩ nhân hoặc của

một lực lượng siêu nhiên quyết định Tuyệt

đối hoá vai trò của khoa học, kĩ thuật, một

số nhà triết học, xã hội học tư sản hiện đại

lại khẳng định rằng xã hội phát triển được

là do những tiến bộ của khoa học, kĩ thuật

Khác với họ, Mác đã tìm ra một cách giải

thích mới: Chính con người làm ra lịch sử

nhưng để làm ra lịch sử thì trước hết con

người phải sống, tồn tại; và để sống được,

tồn tại được thì con người cần ăn, uống, ở,

mặc… vì vậy, con người phải sản xuất ra

của cải vật chất Như vậy, chính sản xuất

vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã

hội Mác viết: "Việc sản xuất ra các tư liệu

sinh hoạt vật chất trực tiếp… tạo ra một cơ

sở, từ đó người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta".(1) Đối với sự phát triển của xã hội, vai trò của sản xuất vật chất thể hiện ở chỗ nó là điều kiện cho sự tồn tại của xã hội nếu ngừng sản xuất thì xã hội không thể tồn tại được; nó còn là cơ sở

để hình thành nên các quan hệ xã hội, trong quá trình lao động sản xuất, con người có mối quan hệ hợp tác, trao đổi với nhau tạo nên quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất trở thành quan hệ cơ bản để hình thành các quan hệ khác như quan hệ chính trị, quan

hệ pháp luật, quan hệ đạo đức, quan hệ tôn giáo, quan hệ văn hoá…; sản xuất vật chất cũng là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội, trong quá trình sản xuất vật chất, các phương tiện kĩ thuật sản xuất ngày càng phát triển, hoàn thiện dẫn tới năng suất lao động tăng lên và sản phẩm lao động vừa nhiều vừa mỗi ngày một tốt hơn, làm cho

* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nước Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

bộ mặt xã hội không ngừng thay đổi và

phát triển

Mác tiếp tục phát triển lí luận của mình

về xã hội bằng việc luận giải vấn đề

"phương thức sản xuất" và khẳng định rằng

lịch sử xã hội loài người là lịch sử thay thế

các phương thức sản xuất Phương thức sản

xuất là cách thức mà con người sử dụng để

sản xuất ra của cải vật chất ở một giai đoạn

lịch sử nhất định; là sự thống nhất biện

chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ

sản xuất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có

phương thức sản xuất đặc thù và khi

phương thức sản xuất biến đổi thì hình thái

kinh tế - xã hội sẽ thay đổi theo Một

phương thức sản xuất mới ra đời với kết

cấu kinh tế mới và một giai cấp cầm quyền

mới sẽ kéo theo sự thay đổi của các quan hệ

về chính trị, tư tưởng, pháp luật, văn hoá,

đạo đức… Theo Mác, nguyên nhân làm

cho phương thức sản xuất thay đổi là do sự

tác động qua lại lẫn nhau giữa lực lượng

sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng

sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa con

người với tự nhiên trong quá trình sản xuất

vật chất; là kết quả tác động của năng lực

thực tiễn của con người vào tự nhiên Lực

lượng sản xuất có kết cấu hai thành phần là

tư liệu sản xuất và người lao động có kinh

nghiệm sản xuất, vừa biết sử dụng công cụ

lao động vừa sáng tạo ra công cụ lao động

Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và

tư liệu lao động Trong tư liệu lao động có

công cụ lao động và các vật liệu phụ trợ

khác để bảo quản công cụ lao động và

chuyên chở, bảo quản sản phẩm lao động Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất, gồm quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức và quản lí lao động và quan hệ phân phối sản phẩm lao động, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan trọng nhất vì nó quyết định địa vị thống trị về kinh tế của người sản xuất, từ đó chi phối việc tổ chức, phân công lao động và phân phối sản phẩm lao động xã hội

Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, thể hiện ở chỗ quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất và đây là quy luật cơ bản, chi phối tất cả các giai đoạn phát triển của

xã hội loài người Trong quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất (nội dung) quyết định quan

hệ sản xuất (hình thức), vì lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong phương thức sản xuất, luôn luôn phát triển theo xu hướng ngày càng cao, càng hoàn thiện, trước hết và chủ yếu là công cụ lao động và người lao động Bên cạnh đó, hình thức cũng tác động mạnh mẽ tới nội dung theo hai hướng: Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại thì quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm

sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho nền sản xuất xã hội không tiến triển

Trang 3

được Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ là tạm

thời, vì lực lượng sản xuất luôn có xu

hướng phát triển ngày càng cao, do đó, sớm

muộn thì quan hệ sản xuất cũ sẽ bị thay thế

bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính

chất và trình độ của lực lượng sản xuất

Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ chính là sự

diệt vong của phương thức sản xuất cũ

(cũng là hình thái kinh tế - xã hội cũ) và sự

ra đời của phương thức sản xuất mới (cũng

là hình thái kinh tế - xã hội mới)

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ các quan hệ

sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế của một

hình thái kinh tế - xã hội, trên đó hình

thành nên kiến trúc thượng tầng chính trị -

pháp lí tương ứng Mác viết: "Toàn bộ

những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ

cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện

thực, trên đó dựng nên một kiến trúc pháp

lí, chính trị và những hình thái ý thức xã

hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực

đó".(2) Kết cấu của cơ sở hạ tầng gồm quan

hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất là

tàn dư của xã hội cũ, quan hệ sản xuất là

mầm mống của xã hội tương lai Các quan

hệ sản xuất này tồn tại khách quan và thay

đổi khi tính chất và trình độ của lực lượng

sản xuất biến đổi

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những

quan điểm tư tưởng, chính trị, pháp luật,

đạo đức, xã hội, văn hoá, nghệ thuật, tôn

giáo… cùng với các thiết chế xã hội tương

ứng như nhà nước, đảng phái chính trị, tổ

chức xã hội, tổ chức tôn giáo và mối quan

hệ giữa chúng với nhau, được thiết lập trên

cơ sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở

hạ tầng ấy Kết cấu của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau gồm hệ tư tưởng và thể chế của giai cấp thống trị, các quan điểm tư tưởng là tàn dư của xã hội cũ để lại, quan điểm tư tưởng của các giai cấp mới ra đời, quan điểm tư tưởng của các tầng lớp trung gian Bộ phận chủ yếu, quyết định trong kiến trúc thượng tầng là hệ tư tưởng, các quan điểm chính trị - pháp lí, văn hoá, đạo đức và các thể chế của giai cấp thống trị Nhà nước và pháp luật là hai thiết chế trọng yếu của kiến trúc thượng tầng, vì nhà nước

là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị còn pháp luật là phương tiện hữu hiệu nhất để nhà nước sử dụng trong việc thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản mà giai cấp thống trị đặt ra Giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng còn kiến trúc thượng tầng tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với

cơ sở hạ tầng Tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện

ở chỗ cơ sở hạ tầng nào thì sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng thống trị về chính trị và tư tưởng, tính chất của quan hệ sản xuất thống trị quyết định tính chất của các mối quan hệ trong kiến trúc thượng tầng, sự thay đổi hay

Trang 4

mất đi của cơ sở hạ tầng sẽ làm thay đổi

hoặc mất đi của kiến trúc thượng tầng: "Cơ

sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc

thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều

nhanh chóng".(3) Kiến trúc thượng tầng

cũng tác động mạnh mẽ tới cơ sở hạ tầng,

nó bảo vệ, củng cố, duy trì và phát triển cơ

sở hạ tầng đã sinh ra nó Sự tác động trở lại

của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ

tầng theo hai hướng tích cực và tiêu cực

Nếu kiến trúc thượng tầng vận động phù

hợp với quy luật kinh tế mang tính khách

quan thì nó sẽ tác động tích cực Còn ngược

lại thì nó sẽ là trở lực, gây tác hại cho phát

triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, sự kìm

hãm này cũng chỉ là tạm thời, vì với vai trò

quyết định của mình thì sớm hay muộn, cơ

sở hạ tầng sẽ phá vỡ kiến trúc thượng tầng

lạc hậu thông qua cuộc cách mạng xã hội

Từ sự phân tích để đưa ra những luận

cứ khoa học ở trên, Mác đưa ra nhận thức

khái quát về hình thái kinh tế - xã hội và

kết cấu của nó Hình thái kinh tế - xã hội là

phạm trù triết học, dùng để chỉ xã hội ở một

giai đoạn lịch sử nhất định với một phương

thức sản xuất nhất định, trong đó, quan hệ

sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ

phát triển của lực lượng sản xuất; với một

kiến trúc thượng tầng nhất định được xây

dựng trên quan hệ sản xuất đó và phù hợp

với nó Kết cấu của hình thái kinh tế - xã

hội gồm ba yếu tố cơ bản là lực lượng sản

xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng

tầng Ngoài ra, còn có các quan hệ xã hội

quan trọng như quan hệ dân tộc, quan hệ giai cấp, quan hệ gia đình, quan hệ họ hàng

và các hoạt động xã hội khác, góp phần tạo nên tính toàn vẹn của xã hội và làm cho xã hội vận động, phát triển không ngừng Mác cho rằng sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử

- tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người mà nguyên nhân chủ yếu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Tính chất xã hội hoá và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất tác động mạnh mẽ tới quan hệ sản xuất Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó trở thành vật cản của lực lượng sản xuất Do đó, quan hệ sản xuất này phải bị xoá bỏ, bị thay thế bằng quan

hệ sản xuất mới cho phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho phương thức sản xuất thay đổi Phương thức sản xuất thay đổi dẫn tới sự thay đổi của thượng tầng kiến trúc, trong đó có nhà nước và pháp luật Toàn bộ sự thay đổi đó dẫn tới sự thay đổi của cả hình thái kinh tế -

xã hội Theo Mác, nếu tính cả chế độ công

xã thị tộc thì có năm hình thái kinh tế - xã hội đã tồn tại trong lịch sử là hình thái kinh

tế - xã hội công xã thị tộc (hay hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thuỷ), hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, hình

Trang 5

thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa

2 Sự vận dụng lí luận của Mác về

hình thái kinh tế - xã hội vào việc nghiên

cứu và giảng dạy vấn đề "kiểu nhà nước

và kiểu pháp luật"

Khoa học lí luận về nhà nước và pháp

luật đã vận dụng sáng tạo lí luận của Mác

về hình thái kinh tế - xã hội trong việc

nghiên cứu và đưa vào giảng dạy cho sinh

viên luật vấn đề "kiểu nhà nước và kiểu

pháp luật" Thành tựu nghiên cứu đó gồm

ba điểm chính: Một là: Dựa vào lí luận của

Mác về hình thái kinh tế - xã hội (cơ sở

khoa học) để phân chia các nhà nước và

pháp luật trong lịch sử ra thành từng kiểu

và nêu rõ ý nghĩa nhận thức của các khái

niệm "kiểu nhà nước", "kiểu pháp luật"; hai

là: Phân tích quá trình thay thế các kiểu

nhà nước và các kiểu pháp luật trong lịch

sử; ba là: Phân tích vị trí, vai trò, sứ mệnh

lịch sử của kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

và kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa

- Sự phân chia các nhà nước và pháp

luật trong lịch sử thành từng kiểu và ý

nghĩa nhận thức của các khái niệm "kiểu

nhà nước" và "kiểu pháp luật"

Các nhà khoa học mácxít đã dựa trên lí

luận của Mác về hình thái kinh tế - xã hội

để phân chia các nhà nước và pháp luật

trong lịch sử thành từng kiểu, theo đó, các

nhà nước và pháp luật trong lịch sử được

phân thành bốn kiểu tương ứng với bốn

hình thái kinh tế - xã hội mà trong đó có

nhà nước và pháp luật Đó là: Kiểu nhà

nước và pháp luật chủ nô (tương ứng với

hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ), kiểu nhà nước và pháp luật phong kiến (tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội phong kiến), kiểu nhà nước và pháp luật tư sản (tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa) và kiểu nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa (tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa)

Sự phân chia này là hoàn toàn khoa học và đúng đắn, phù hợp với quy luật hình thành, phát triển, tiêu vong của nhà nước và pháp luật trong lịch sử nhân loại Đồng thời, đây cũng là sự phản bác có căn cứ vững chắc đối với các cách phân loại nhà nước và pháp luật theo quan điểm duy tâm, siêu hình, phản khoa học đã từng tồn tại trước Mác và cả những cách phân chia trong các nước tư bản phát triển hiện nay chỉ dựa trên một vài tiêu chí đơn thuần về trình độ phát triển kinh tế hoặc về chủng tộc hay về điều kiện, môi trường tự nhiên…

Từ cách phân chia nêu trên đã ra đời hai khái niệm khoa học là "kiểu nhà nước" và

"kiểu pháp luật" Kiểu nhà nước là tổng thể những đặc điểm cơ bản của nhà nước, phản ánh nguồn gốc phát sinh, bản chất, vai trò

xã hội và các điều kiện tồn tại, phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế -

xã hội nhất định Kiểu pháp luật là tổng thể những đặc điểm cơ bản của pháp luật, thể hiện nguồn gốc phát sinh, bản chất, vai trò

xã hội và các điều kiện tồn tại, phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh tế -

xã hội nhất định Ý nghĩa nhận thức của các khái niệm "kiểu nhà nước" và "kiểu pháp

Trang 6

luật" thể hiện ở chỗ mỗi khi tiếp cận chúng

thì điều đầu tiên người ta có thể cảm nhận

được là nhà nước và pháp luật ấy ra đời

như thế nào, chúng dựa trên cơ sở kinh tế -

xã hội gì, bảo vệ và phục vụ quyền lợi của

giai cấp nào, vai trò trong xã hội ra sao và

xu hướng phát triển như thế nào

- Quá trình thay thế các kiểu nhà nước

và các kiểu pháp luật trong lịch sử

Nếu như sự thay đổi hình thái kinh tế -

xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội

khác là quy luật thì sự thay thế kiểu nhà

nước và kiểu pháp luật này bằng kiểu nhà

nước và kiểu pháp luật khác tiến bộ hơn

cũng là tất yếu khách quan (hay quy luật),

gắn liền với sự thay thế các hình thái kinh

tế - xã hội Cũng giống sự thay thế các hình

thái kinh tế - xã hội, phương thức để thực

hiện sự thay thế kiểu nhà nước và pháp luật

này bằng kiểu nhà nước và pháp luật khác

là cách mạng xã hội Cách mạng xã hội như

thực tiễn đã chứng minh, có thể được tiến

hành dưới hình thức bạo lực hoặc hình thức

cải cách, đổi mới xã hội dần dần nhưng

mục đích cuối cùng mà giai cấp, tầng lớp

xã hội tiến hành cách mạng phải đạt được là

giành toàn bộ quyền lực nhà nước về tay

mình tức là phải xoá bỏ nhà nước cũ, thiết

lập nhà nước mới Tất cả các cuộc cách

mạng xã hội theo mục tiêu đó đã diễn ra

trong lịch sử đều dẫn tới kết quả là nhà

nước và pháp luật phong kiến thay thế nhà

nước và pháp luật chủ nô, nhà nước và

pháp luật tư sản thay thế nhà nước và pháp

luật phong kiến, nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước và pháp luật tư sản

- Vị trí, vai trò, sứ mệnh lịch sử của kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa và kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa

Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa

là kiểu nhà nước và kiểu pháp luật cao nhất

và tiến bộ nhất trong lịch sử, được xây dựng và hoạt động trên cơ sở kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, dần dần tiến tới một xã hội không có giai cấp

Vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam

xác định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu

để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,

là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có

sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật”.(4) Để không ngừng tăng cường sức mạnh của nhà nước và pháp luật, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới ở nước

ta Đảng đã đề ra năm phương hướng quan trọng: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã

Trang 7

hội chủ nghĩa dưới sự lónh đạo của Đảng;

cải cỏch thể chế và phương thức hoạt động

của Nhà nước; phỏt huy dõn chủ giữ vững

kỉ kuật, kỉ cương tăng cường phỏp chế; xõy

dựng đội ngũ cỏn bộ cụng chức trong sạch,

cú năng lực; đấu tranh chống tham nhũng.(5)

3 Một số vấn đề quan trọng của Nhà

nước và phỏp luật Việt Nam hiện nay cần

được tiếp tục nghiờn cứu và ứng dụng,

trờn cơ sở lớ luận của Mỏc về hỡnh thỏi

kinh tế - xó hội

Trong điều kiện đổi mới toàn diện đất

nước và hội nhập quốc tế hiện nay ở nước

ta, chỳng tụi cho rằng cần tiếp tục vận dụng

một cỏch sỏng tạo lớ luận của Mỏc về hỡnh

thỏi kinh tế - xó hội vào việc nghiờn cứu,

làm sỏng tỏ những vấn đề lớ luận và thực

tiễn về nhà nước và phỏp luật nhằm một

mặt, gúp phần xõy dựng luận cứ khoa học

để Đảng, Nhà nước đưa ra những chủ

trương, chớnh sỏch đỳng đắn về nõng cao

hiệu lực của bộ mỏy nhà nước và hiệu lực

của phỏp luật trong quản lớ kinh tế - xó hội;

mặt khỏc, ứng dụng hợp lớ những thành quả

nghiờn cứu ấy vào thực tiễn, trong đú cú

việc truyền bỏ, giảng dạy cho sinh viờn luật

và cỏc đối tượng học luật khỏc

Theo chỳng tụi, trước hết cú hai nhúm

vấn đề lớ luận và thực tiễn cần được tiếp tục

nghiờn cứu, làm sỏng tỏ sau đõy:

Nhúm một gồm những vấn đề liờn quan

tới cỏc mối quan hệ giữa nhà nước, phỏp

luật với xó hội, trong đú chủ yếu và nổi bật

nhất là cỏc mối quan hệ giữa nhà nước,

phỏp luật với kinh tế, chớnh trị, văn hoỏ, đạo đức, tụn giỏo, dõn tộc, giai cấp, tầng lớp xó hội, cỏ nhõn con người…

Nhúm hai gồm cỏc vấn đề về đổi mới, hoàn thiện bộ mỏy nhà nước và hệ thống phỏp luật mà quan trọng và cấp bỏch nhất là đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhõn dõn, Chớnh phủ, ủy ban nhõn dõn cỏc cấp, toà ỏn, viện kiểm sỏt, cụng an, cỏc cơ quan bổ trợ tư phỏp và cỏc cơ quan chuyờn trỏch bảo vệ phỏp luật khỏc; rà soỏt

và hệ thống hoỏ văn bản quy phạm phỏp luật; tổng kết hoạt động xõy dựng và ban hành văn bản quy phạm phỏp luật; đỏnh giỏ việc tổ chức thực hiện phỏp luật, thực hiện phỏp luật và bảo vệ phỏp luật ở nước ta hiện nay; điều tra, khảo sỏt thực tiễn để xõy dựng luận cứ cho việc hoàn thiện hệ thống phỏp luật kinh tế trong điều kiện toàn cầu hoỏ; hoàn thiện phỏp luật về cỏc vấn đề xó hội, văn hoỏ, giỏo dục, khoa học, cụng nghệ, an ninh, quốc phũng trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế; hoàn thiện phỏp luật về quy trỡnh xõy dựng và ban hành văn bản quy phạm phỏp luật của hội đồng nhõn dõn và ủy ban nhõn dõn và những vấn đề khỏc./

(1).Xem: C.Mỏc và Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 9, Nxb Chớnh trị quốc gia, H 1995, tr.500

(2), (3) C Mỏc và Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 13, Nxb Chớnh trị quốc gia, H 1993, tr 18, 15

(4), (5) Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia,

H 2001, tr.131-132, 137

Ngày đăng: 24/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w