1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp giảng dạy đại học và e learning

31 749 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp giảng dạy đại học và e-learning
Tác giả Nhúm CIRCLE
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Kim Dung
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 503,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định các phương pháp kiểm tra, đánh giá để thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá được hiệu quả và khách quan hơn, thể hiện năng lực dạy và học một cách sâu sắc.. - Đối với nhà trường

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ :

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC VÀ E-LEARNING

GVHD : TS NGUYỄN KIM DUNG Nhóm CIRCLE:

1/ VÕ THỊ THU NGUYỆT - CH1101112 2/ NGUYỄN XUÂN NGHĨA - CH1101108 3/ MẠC THỊ BIÊN - CH1101066

4/ MÃ TUẤN HUY - CH1101092 5/ VƯƠNG THỊ NGỌC ẨN - CH1101063 6/ TRẦN MINH HÙNG - CH1101087

TP HCM, tháng 6 năm 2013

Trang 2

Lời Mở Đầu

Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học, nhưng là một khâu quan trọng, phản ánh hiệu quả của quá trình dạy và học, tác động tích cực hoặc tiêu cực đến cả quá trình đào tạo Đánh giá là một bộ phận của quá trình giáo dục bao gồm nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chính là mục tiêu, kinh nghiệm học tập và các quy trình đánh giá Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong chương trình giáo dục Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và

xử lý thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học, về các hoạt động khác liên quan đến nhà trường Xác định các phương pháp kiểm tra, đánh giá để thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá được hiệu quả

và khách quan hơn, thể hiện năng lực dạy và học một cách sâu sắc Từ đó, rút ra những tồn tại, yếu kém để khắc phục, cải tiến chất lượng dạy và học

Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá đi kèm với việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường, đây là một yêu cầu bức thiết trong thời đại ngày nay Với xu hướng công nghệ ngày càng phát triển, công cuộc đổi mới cần gắn liền với những ứng dụng công nghệ hiện đại để phù hợp với xu thế của thời đại mới

Đó là toàn bộ nội dung mà nhóm CIRCLE đã tiến hành tìm hiểu và giới thiệu, nhóm mong muốn đưa ra một cái nhìn tổng quan và quy mô về các phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy và học truyền thống, cũng như trong dạy và học e-Learning, và đề xuất ý tưởng về đổi mới thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học Đại học trong

xu thế hiện nay

Trang 3

1.3.3Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công

1.3.4Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh

PHẦN 2 : CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 7

2.3 KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG MÔI TRƯỜNG E-LEARNING: 27

2.4 ĐỔI MỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 28

Trang 4

PHẦN 1: MỤC ĐÍCH, CHỨC NĂNG, YÊU CẦU VÀ NỘI DUNG CỦA KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

Trong trường Đại học & Cao đẳng hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn dạy học như thế nào Đổi mới phương phá dạy học là một yêu cầu cấp bách

có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học

Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình đề cương, giáo trình, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo duc Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực

Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn

xã hội ngày nay Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp sinh viên tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập

1.1 MỤC ĐÍCH

Mục đích cơ bản là xác định số lượng và chất lượng của sự giáo dục và học tập Nhằm kích thích giảng viên dạy tốt và học sinh tích cực tự lực để đạt kết quả tốt trong việc học Mục đích cụ thể:

- Đối với sinh viên:

+ Giúp sinh viên đào sâu kiến thức, hệ thống hóa khái quát hóa những kiến thức.+ Giúp sinh viên phát hiện những lỗ hổng về tri thức và kịp thời bổ sung

+ Mức độ tri giác tích cực tự lực được nâng cao và rèn được thói quen tìm hiểu sâu sắc tài liệu và giải quyết vấn đề phân tích

- Đối với giảng viên:

+ Thấy được tình hình học tập của từng sinh viên cũng như cả lớp

+ Phát hiện được những nội dung giảng dạy thiếu sót cũng như các phương pháp giảng dạy chưa phù hợp để bổ sung và sửa đổi

- Đối với nhà trường, phụ huynh và các cơ quan giáo dục:

+ Dựa trên cơ sở của kiểm tra - đánh giá có thể theo dõi đánh giá quá trình giảng dạy của giáo viên và tình hình học tập của sinh viên

+ Căn cứ vào đó mà bổ sung hoàn thiện và phát triển chương trình giảng dạy+ Qua kiểm tra và đánh giá giúp cho phụ huynh biết rõ sự học tập của con em mình, vì vậy mà có mối liên hệ giữa nhà trường và gia định chặt chẽ hơn

1.2 CHỨC NĂNG

Chức năng so sánh: Giữa mục đích yêu cầu đề ra với kết quả thực hiện được

Nếu không có kiểm tra và đánh giá thì không có dữ kiện, số liệu xác thực để so sánh kết quả nhận được vơí mục đích yêu cầu

Chức năng phản hồi: Hình thành mối liên hệ nghịch (trong và ngoài) Nhờ có chức

năng này người giảng viên dần dần điều chỉnh quá trình dạy học ngày một tối ưu

Trang 5

Chức năng dự đoán: Căn cứ vào kết quả kiểm tra và đánh giá có thể dự đoán

sự phát triển của người học

Muốn thực hiện được những chức năng trên thì phải tìm những phương tiện kiểm tra và đánh gía chính xác, đúng mức và đáng tin cậy

1.3 YÊU CẦU

1.3.1 Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.

Mục tiêu học tập là những gì mà sinh viên phải đạt trong quá trình học tập ở nhà trường Mục tiêu càng cụ thể, phù hợp với khả năng điều kiện dạy học bao nhiêu thì càng trở thành hiện thực bấy nhiêu Do đó, các quá trình mô tả, phân loại các thao tác hoá là những yêu cầu cần thiết và không phải bao giờ cũng dễ dàng thực hiện

Từ mục tiêu dạy học ta sẽ có được mục đích đánh giá chung và hình thành lý do đánh giá cụ thể như hình trên, từ đó áp dụng các loại hình đánh giá kiểm tra phù hợp

Để đánh giá sinh viên người ta thường dùng kết hợp 2 loại hình kiểm tra “Đánh giá theo chuẩn đối tường và đánh giá theo tiêu chí”:

• Kiểm tra thương xuyên

• Kiểm tra định kỳ

• Kiểm tra tổng kết

• Thi

1.3.2 Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức chính xác nhất định

Giảng viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng chúng có hiệu quả

1.3.3 Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.

Đánh giá 1 cách khách quan, đúng trình độ, năng lực của sinh viên

• Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của sinh viên

so với yêu cầu do chương trình qui định

• Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chung của chương trình đề ra

• Tổ chức thi phải nghiêm minh

Đánh giá 1 cách toàn diện, có cơ sở, hệ thống minh bạch, rõ ràng và phải được công khai, tham khảo từ nhiều phía để có được kết quả chuẩn xác nhất

Đánh giá kết quả học tập của học sinh về khối lượng và chất lượng chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng thuộc về các môn học;

Về kết quả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, ý thức, thái độ

…trong đó, chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức

1.3.4 Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá

1.4 NỘI DUNG

1.4.1 Kiểm tra đánh giá chất lượng dạy của Giảng viên.

Ø Chương trình bài giảng, giáo án có phù hợp với đề cương chung của môn học

Ø Chương trình dạy học theo từng giai đoạn cụ thể

Trang 6

Ø Nội dụng bao quát được toàn bộ các nội dung trọng tâm của phần học, chương trình học mà ta cần đánh giá.

Ø Chuyên môn và kiến thức

1.4.2 Kiểm tra đánh giá chất lượng học của Sinh viên.

Ø Khả năng tiếp thu kiến thức và vận dụng những kiến thức đã học

Ø Mức độ nhận thức từ đơn giản đến phức tạp: Nhớ / Nhận biết; Hiểu; Vận dụng; Phân tích - Tổng hợp - Đánh giá

Ø Cách tiến hành các nhiệm vụ ấy để đạt được tốt hơn các tiêu chí và yêu cầu đã định

Ø Khả năng tích cực, chủ động, sánh tạo của sinh viên trong học tập (chú trọng thực hành, rèn luyện và phát triển kỹ năng)

Trang 7

PHẦN 2 : CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

Mục đích nhằm thu thập thong tin để đánh giá thái độ của sinh viên

Thái độ được biểu hiện ra bên ngoài thong qua các biểu hiện bề ngoài, qua lời nói, hành vi

1.1.1.2 Sử dụng quan sát để tìm hiểu:

+ Mức độ tích cức tham gia của sinh viên vào thảo luận nhóm

+ Các kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm

+ Cách phản ứng của sinh viên đối với một bài tập, với nội dung dạy học

+ Cách phản ứng của sinh viên đối với điểm kiểm tra

+ Nhịp độ bài học: nhanh hay chậm

+ Mức độ hứng thú của sinh viên trong học tập

+ Đánh giá hành vi: cử chỉ, biểu hiện nét mặt và ánh mắt lý giải hành vi của sinh viên , thái độ của sinh viên

+ Đánh giá các dấu hiệu liên quan đến giọng nói: âm điệu, độ lớn, ngừng, lặng yên, độ cao, chuyển điệu, cách từ, nhấn mạnh và các yếu tố khác của giọng nói thêm vào nội dung được nói

1.1.1.3 Vấn đề đặt ra trong quan sát:

+ Khi nào thì quan sát? (WHen)

+ Ai quan sát? (WHo)

+ Quan sát như thế nào? (HoW)

+ Những suy luận nào được rút ra khi thu được những thông tin khi quan sát? (WHich)

1.1.1.4 Quan sát khi nào thì hiệu quả nhất:

+ Quan sát sinh viên trong tình huống giả định: khi sinh viên thảo luận nhóm về một vấn đề mà giáo viên đưa ra

+ Quan sát sinh viên trong tình huống tự nhiên: những mẩu chuyện tình cờ, tình huống diễn ra tự nhiên

1.1.1.5 Ưu nhược điểm đối với phương pháp quan sát:

Ø Ưu điểm:

- Thuận lợi để đánh giá thái độ, cung cấp cho giáo viên những thông tin bổ sung có giá trị mà những thông tin này khó đo được bằng các phương pháp khác

Trang 8

- Quan sát thường xuyên có thể cung cấp một sự kiểm tra liên tục về sự tiến bộ của sinh viên.

Ø Nhược điểm:

- Kết quả quan sát phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của người quan sát

- Những yếu tố chi phối ảnh hưởng đến sai sót khi quan sát: ấn tượng ban đầu của giáo viên về sinh viên , giáo viên không quan tâm tới ảnh hưởng của mình tới sinh viên , giáo viên không quan tâm tới việc lí giải các hành vi của sinh viên hoặc lí giải không đúng

1.1.1.6 Yêu cầu đối với phương pháp quan sát:

+ Xác định trước những sự kiện cần quan sát nhưng cũng cần chú ý đến những sự kiện bất thường

+ Quan sát và ghi chép đầy đủ về sự kiện đặt trong một tình huống cụ thể để sự kiện trở nên có ý nghĩa hơn

+ Sự kiện xảy ra cần phải được ghi chép lại càng sớm càng tốt

+ Mỗi bản ghi chỉ nên tập trung vào 1 sự kiện

+ Quan sát cần lựa chọn: nếu quan sát một tập thể thì cũng tập trung vào một vài cá nhân: sinh viên cá biệt, sinh viên chậm chạp, sinh viên có những biểu hiện lạ

+ Tách riêng phần mô tả chân thực sự kiện và phần nhận xét của cá nhân giáo viên.+ Cần ghi chép cả những hành vi tích cực và hành vi tiêu cực

+ Cần thu thập đầy đủ thông tin trước khi đưa ra những nhận xét, đánh giá về hành vi, thái độ của sinh viên

+ Việc ghi chép sự kiện cần phải được luyện tập và huấn luyện cho giáo viên một cách bài bản để việc ghi chép mang tính khoa học, hệ thống và giúp ích cho hoạt động dạy học và giáo dục

1.1.1.7 Phương pháp thực hiện quan sát:

1.1.1.7.1 Ghi chép các sự kiện thường nhật:

Ghi chép những sự kiện thường nhật là việc mô tả lại những sự kiện hay những tình tiết đáng chú ý mà giáo viên nhận thấy trong quá trình tiếp xúc với sinh viên Những sự kiện cần được ghi chép lại ngay sau khi nó xảy ra

Ý nghĩa: giúp cho giáo viên dự đoán khả năng và cách ứng xử của sinh viên trong những tình huống khác nhau hoặc giải thích cho kết quả thu được từ những bài kiểm tra viết của sinh viên

Lợi ích của sổ ghi chép sự kiện là nó mô tả lại những hành vi của sinh viên trong tình huống tự nhiên Qua hoạt động và việc làm cụ thể, sinh viên thể hiện mình rõ nét và chân thực nhất

Việc ghi chép sự kiện có thể ghi lại được những tình huống rất hiếm hoi, không điển hình nhưng rất quan trọng trong việc đánh giá sinh viên mà không phương pháp nào thay thế được

Hạn chế:

Trang 9

- Đòi hỏi giáo viên nhiều thời gian và công sức để để ghi chép một cách liên tục và

có hệ thống, rất khó để đảm bảo việc ghi chép và nhận xét các sự kiện một cách hoàn toàn khách quan

- Vì sinh viên thay đổi những biểu hiện bất thường trong những hoàn cảnh khác nhau nên giáo viên khó có thể thu thập đầy đủ thông tin để có một bức tranh đầy

đủ toàn diện về sinh viên

Thang đo là một hệ thống các đặc điểm, phẩm chất cần đánh giá và một thước đo để

đo mức độ đạt được ở mỗi phẩm chất của sinh viên

Thang đo là một công cụ để thông báo kết quả đánh giá thông qua quan sát Giá trị của nó trong việc đánh giá hoạt động học tập của sinh viên phụ thuộc vào việc nó có được xây dựng tốt hay không và có được sử dụng hợp lý hay không

Thang đo cần phải được xây dựng dựa trên những mục tiêu giảng dạy

Chỉ nên dùng khi người quan sát có điều kiện thu thập đầy đủ thông tin ghi trên thang đo

Lợi ích thang đo:

- Thang đo định hướng cho việc quan sát nhắm tới những loại hành vi cụ thể

- Cung cấp một bảng tham chiếu chung để so sánh các sinh viên về cùng một loại phẩm chất, đặc điểm

- Cung cấp một phương pháp thuận tiện để ghi chép những đánh giá của người quan sát

Đánh giá bằng thang đo cần tuân theo những nguyên tắc sau:

- Những tiêu chí của thang đo cần phải là những nội dung giảng dạy và giáo dục quan trọng

- Những mô tả trong thang đo phải là những bằng chứng có thể trực tiếp quan sát được

- Các mức độ và mô tả mức độ của thang đo phải được định nghĩa rõ ràng

- Nên đưa ra từ 3 đến 7 mức độ trong thang đo và cho phép người sử dụng thang đo đánh dấu vào khoảng giữa các mức độ

- Nên cho phép người sử dụng thang đo bỏ qua những câu mà họ cảm thấy không có

đủ bằng chứng để đánh giá

- Nếu có thể, nên kết hợp kết quả đánh giá của nhiều người quan sát trên cùng một đối tượng

Trang 10

Bảng kiểm tra có hình thức và sử dụng gần giống như thang đo

Thang đo đòi hỏi người đánh giá chỉ ra mức độ biểu hiện của một phẩm chất hoặc mức độ thường xuyên của một hành vi còn bảng kiểm tra chỉ yêu cầu người đánh giá trả lời câu hỏi đơn giản Có – Không

Đó là phương pháp ghi lại xem một phẩm chất có biểu hiện hay không hoặc một hành

vi có được thực hiện hay không

1.1.2 Phương pháp tự đánh giá:

1.1.2.1 Khái niệm:

Tự đánh giá là quá trình tự xem xét, kiểm tra, đánh giá theo 1 chuẩn chung để xác định thực trạng chất lượng, hiệu quả giáo dục, từ đó có kế hoạch cải tiến nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục

Tự đánh giá bao gồm cả giáo viên và sinh viên thực hiện

Việc tự đánh giá giúp sinh viên nhận rõ được điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn trong việc học của mình, từ đó tìm ra cách khắc phục Sinh viên tự đánh giá lẫn nhau sẽ cho kết quả đánh giá khách quan cho giáo viên

Giáo viên tự đánh giá sẽ tìm ra những điều đã đạt được cũng như chưa được trong quá trình giảng dạy để từ đó rút kinh nghiệm, cải thiện mô hình dạy tiến bộ hơn

1.1.2.2 Ưu nhược điểm của phương pháp tự đánh giá:

1.1.2.2.1 Ưu điểm:

Tự đánh giá là một phần trong phương pháp dạy học tích cực "Dạy học tích cực" là một phương pháp dạy học mới, đề cao vai trò của người học và phát huy khả năng sáng tạo, độc lập của người học

Trong dạy học, việc đánh giá sinh viên không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá sinh viên Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn sinh viên phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho sinh viên

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Nếu như trong dạy học truyền thống giáo viên độc quyền đánh giá người học thì trong dạy học đồng đẳng, giáo viên lại giúp người học các kĩ năng tự đánh giá để điều chỉnh cách học; đồng thời tạo môi trường để người học được đánh giá lẫn nhau Trong dạy học đồng đẳng, người giáo viên thực thụ luôn có vai trò là người cố vấn trong việc lập

kế hoạch dạy học của người học Vì vậy, thang đánh giá cũng như quy trình đánh giá do chính người học xây dựng nên dưới sự định hướng, bổ sung, góp ý kiến của giáo viên.Trong các nhóm dạy học đồng đẳng, người dạy và người học là bình đẳng tranh luận cũng như nhận xét, đánh giá lẫn nhau để cùng nhau tiến bộ Tuy nhiên, cũng sẽ tồn tại

Trang 11

những tình huống đánh giá vượt qua tầm kiểm soát của nhóm học tập đồng đẳng Lúc này vai trò của người giáo viên thực thụ sẽ xuất hiện và can thiệp Như vậy, ta thấy ở đây có

sự phối hợp đánh giá giữa giáo viên và người học

1.1.2.2.2 Nhược điểm:

Mặc dù, hình thức tự đánh giá trong quá trình dạy học được xem là một phương pháp rất hay để phát huy tính tự chủ của học viên và giáo viên Tuy nhiên nó cũng có mặt trái của mình Nếu như sự tự đánh giá đó vượt ra ngoài giới hạn cho phép, người tự đánh giá

tự nâng giá trị và trình độ của bản thân, dẫn đến tiêu cực trong đánh giá

Đây là một mặt trái cần tránh Do đó, cần có sự hợp tác giữa giáo viên và học viên, cần

có sự trung thực trong tự đánh giá

- Mục đích và phạm vi của việc tự đánh giá

- Xác định những công việc phải thực hiện ứng với từng tiêu chuẩn, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc,…

- Công cụ đánh giá (các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng)

- Xác định các thông tin và minh chứng cần thu thập

+ Thu thập thông tin và minh chứng: thông tin là những tư liệu được sử dụng để hỗ trợ và minh họa cho các nhận định trong báo cáo tự đánh giá của cá nhân

- Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo độ tin cậy

và tính chính xác

- Minh chứng là những thông tin gắn với các tiêu chí để xác định tiêu chí đạt hay không đạt Các minh chứng được sử dụng làm căn cứ để đưa ra các nhận định trong báo cáo

- Khi thu thập thông tin và minh chứng, phải kiểm tra độ tin cậy, tính chính xác, mức độ phù hợp và liên quan đến tiêu chí

+ Xử lý, phân tích các thông tin và minh chứng thu được: thông tin, minh chứng thu được của mỗi tiêu chí phải theo các nội dung sau:

- Mô tả và phân tích các hoạt động của người được đánh giá có liên quan đến tiêu chí

- So sánh với mặt bằng chung

- Đưa ra những nhận định về điểm mạnh và những yếu tố cần phát huy, chỉ ra những tồn tại, giải thích nguyên nhân

Trang 12

- Xác định những vấn đề cần cải tiến và đề ra những biện pháp để cải tiến vấn đề đó.

- Xác định tiêu chí đạt hay không đạt yêu cầu Với mỗi tiêu chí, nếu có đầy

đủ minh chứng đáp ứng các yêu cầu của tiêu chí thì xác nhận tiêu chí đó đạt yêu cầu, ngược lại là chưa đạt yêu cầu

- Với những tiêu chí không có minh chứng để chứng minh tiêu chí đó đạt yêu cầu thì phải ghi rõ “Không có minh chứng”

+ Viết báo cáo/ kết quả tự đánh giá: kết quả tự đánh giá được trình bày dưới dạng một bản báo cáo tương ứng với các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Nội dung phải được mô tả một cách ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, và đầy đủ những hoạt động của người được đánh giá, trong đó phải chỉ ra những điểm mạnh, những tồn tại, khó khăn và đề ra các biện pháp khắc phục

là một công cụ hay một phương thức có hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái

để trả lời câu hỏi: thành thích của cá nhân như thế nào so sánh với người khác hay với một lĩnh vực học tập

Như vậy có thể khái niệm “trắc nghiệm” là một công cụ sử dụng để đo lường thành tích của một cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể

Mặc khác theo giáo sư Trần Bá Hoành1, trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh, hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ học sinh

Trắc nghiệm có nhiều hình thức và được phân ra thành nhiều loại, có thể mô tả qua sơ

đồ hình cây như sau

Hình 1 - Sơ đồ mô tả các dạng trắc nghiệm

1 Trần Bá Hoành, Đánh giá trong giáo dục, 1995 Tài liệu dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng Sư Phạm.

Trang 13

Mỗi hình thức có một ưu điểm, nhược điểm riêng, nhưng tất cả đều có thể sử dụng vì một mục đích chung nhất là đo lường thành quả học tập.

1.2.1.2 Những nguyên tắc chung của trắc nghiệm:

Trắc nghiệm là một quy trình, nằm trong nhóm quy trình kiểm tra và đánh giá thành quả học tập Nó có chức năng tạo thông tin “liên hệ ngược ngoài” tác động lên người dạy

để người dạy điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy cho phù hợp với mục tiêu Ngoài ra, nó còn tạo thông tin “liên hệ ngược trong” tác động đến người học, giúp người học tự điều chỉnh thái độ, phương pháp, tâm thế học tâp theo hướng tích cực hơn Vì vậy,

để thực hiện tốt quy trình này phải thực hiện đúng một số nguyên tắc của nó; cụ thể gồm một vài nguyên tắc sau:

+ Xác định rõ mục tiêu đo lường và đặt nó ở vị trí ưu tiên cao nhất

+ Làm sáng tỏ nội dung cần đo lường

Lựa chọn kỹ thuật trắc nghiệm phải dựa trên mục đích đánh giá: tuyệt đối không sử dụng một kỹ thuật trắc nghiệm chỉ vì nó quen thuộc, dễ sử dụng mặc dù những yêu cầu

đó vẫn rất cần, nhưng điều cần thiết nhất và quan trọng nhất của một kỹ thuật trắc nghiệm

là nó phải đo lường cái chúng ta muốn đo lường Mỗi kỹ thuật trắc nghiệm chỉ phù hợp với một vài mục đích nhất định

Việc đánh giá tổng quát phải sử dụng nhiều kỹ thuật và phương pháp khác nhau; không có một phương pháp nào có thể đánh giá được toàn bộ các yêu cầu đặt ra

Muốn sử dụng hợp lý và có hiệu quả một kỹ thuật trắc nghiệm thì bắt buộc phải tìm hiểu và nắm bắt một cách chính xác các ưu và nhược điểm của nó Về bản chất, trắc nghiệm chỉ là một phương pháp vì thế nó luôn có những sai số nhất định

Phải hiểu rằng, trắc nghiệm là một phương pháp để thu thập thông tin do đó không thể chỉ thông qua trắc nghiệm mà có thể nâng cao hiệu quả giáo dục–đào tạo Nghĩa là, trắc nghiệm góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo chứ không phải tiến hành trắc nghiệm là nâng cao chất lượng đào tạo

1.2.1.3 Các loại trắc nghiệm khách quan:

Một bài kiểm tra trắc nghiệm có thể có nhiều loại câu trắc nghiệm khác nhau, mỗi loại câu trắc nghiệm có ưu điểm, nhược điểm riêng và có ý nghĩa, mức độ đánh giá khác nhau Thông thường các loại câu trắc nghiệm sau được sử dụng kết hợp trong một bài kiểm tra

1.2.1.3.1 Loại trắc nghiệm Đúng – Sai: ((True–False Items)

Loại câu trắc nghiệm đúng–sai là một câu khẳng định mà nội dung của nó có thể chứa một hoặc nhiều mệnh đề Người làm bài có nhiệm vụ xác định nội dung khẳng định đó là đúng hay sai

Đối với nội dung câu đúng: mọi chi tiết trong phát biểu, khẳng định phải đúng và phù hợp với tri thức khoa học

Đối với nội dung câu sai: trong cùng một phát biểu, khẳng định có nhiều mệnh đề thì chỉ cần một chi tiết hoặc một mệnh đề sai với khoa học thì toàn bộ câu đó được hiểu là sai (False)

Ví dụ:

Nguyễn Trãi là tác giả Bình Ngô Đại Cáo ý

Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo và đọc tại hội nghị Diên

Trang 14

Ưu điểm: dễ soạn thảo, ít mắc phải sai lầm, hình thức đơn giản, thời gian đáp ứng trả lời nhanh khoảng 10–15 giây/câu hỏi.

Nhược điểm xác suất may rủi tự nhiên cao (50%), dễ lộ đáp án, thường có nhiều câu không có giá trị

1.2.1.3.2 Loại trắc nghiệm điền khuyết (Completion Items)

Trắc nghiệm điền khuyết là hình thức các phát biểu, hoặc khẳng định chưa hoàn chỉnh khi còn chừa các khoảng trống Nhiệm của người làm bài là điền hoặc liệt kê một từ hoặc nhiều từ vào các khoảng trống bỏ lửng để nội dung của phát biểu đó đúng

Ưu điểm: loại câu trắc nghiệm này có ưu điểm là phát huy khả năng ghi nhớ của học sinh Loại trừ khả năng đoán mò, dễ soạn

Khuyết điểm: thường trích nguyên văn một hoặc nhiều câu trong tài liệu, nội dung kiểm tra của loại này thường rất hẹp, việc chấm bài thường không khách quan, tốn nhiều công sức

Ví dụ: Hãy điền vào các khoảng trống (…) những từ thích hợp để hoàn chỉnh phát biểu sau?

Dựa vào khả năng dẫn điện người ta chia vật liệu thành…(1)…loại, cụ thể gồm có: vật liệu….(2)…., vật liệu…(3)…, và vật liệu…(4)…

Trả lời: (1): 3

(2): dẫn điện(3): bán dẫn(4): cách điện

1.2.1.3.3 Loại trắc nghiệm ghép đôi (Macthing Items)

Loại trắc nghiệm ghép đôi là hình thức trắc nghiệm đặc biệt, nó có phần giống trắc nghiệm nhiều lựa chọn (xem mục sau) và cũng có phần giống loại trắc nghiệm điền khuyết Cấu trúc của câu trắc nghiệm loại này gồm có 3 bộ phận, cụ thể như sau:

Phần hướng dẫn là một câu yêu cầu người trả lời ghép các thành phần ở tập hợp “gốc” đối chiếu phù hợp với các thành phần ở tập hợp “lựa chọn”

Phần gốc là tập hợp các câu hỏi, câu định hướng, một phát biểu bỏ lửng, …

Phần lựa chọn là một tập hợp gồm các câu trả lời, câu giải quyết vấn đề, phần bỏ lửng của một phát biểu,… Số lượng các lựa chọn luôn nhiều hơn hoặc bằng số lượng các câu hỏi, gợi ý trong phần gốc

Ưu điểm: xác suất may rủi thấp, thể hiện rõ tính khách quan

Nhược điểm: tốn rất nhiều giấy cho đề bài, rất khó biên soạn, đòi hỏi người soạn đề phải am hiểu rất kỹ về kỹ thuật làm đề trắc nghiệm và chuyên môn cao Yêu cầu khắc khe đặt ra khi soạn loại trắc nghiệm này là mỗi định hướng ở phần gốc thì chỉ có duy nhất một lựa chọn ở phần lựa chọn là đáp án đúng

1.2.1.3.4 Loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn (Multiple Choice Question-MCQ)

MCQ là một loại trắc nghiệm có xác suất may rủi có thể tính toán được, mức độ may rủi cao hay thấp tùy thuộc vào từng yêu cầu cụ thể Loại trắc nghiệm này gồm có hai bộ phận cơ bản:

Phần gốc: phần gốc có thể là một câu hỏi, câu định hướng, một phát biểu bỏ lửng Phần gốc là cơ sở của vấn đề nhằm giúp người trả lời hiểu được ý muốn hỏi, hoặc vấn đề cần giải quyết, hoặc phát biểu cần hoàn thiện Phần gốc phải thể hiện một cách rõ ràng, ý

Trang 15

nghĩa cụ thể.

Phần lựa chọn: tương ứng với mỗi câu hỏi, mỗi định hướng,… ở phần gốc sẽ một nhóm gồm nhiều câu trả lời, nhiều câu giải quyết vấn đề,…ở phần lựa chọn Trong đó chỉ được phép có một lựa chọn duy nhất làm đáp án, các lựa chọn khác sẽ là “mồi nhử”; mồi nhử phải là những lựa chọn có tính hấp dẫn cao vì khi đọc lên có vẻ đúng, và sức hấp dẫn của mồi nhử là một trong các yêu cầu của loại trắc nghiệm này Số lượng các lựa chọn có thể khác nhau và tối thiểu là 3, thông thường số lượng chọn được dùng là 4

Ví dụ: Hạt dẫn điện trong bán dẫn loại N là gì?

Hình 3 – Bảng phân bố xác suất tự nhiên trong câu hỏi dạng MCQ

Ø Nếu được biên soạn một cách khoa học các câu trắc nghiệm loại này thường có độ tin cậy rất và tính linh động cao do đó có thể sử dụng trong nhiều trường hợp

Ø Khả năng phân biệt năng lực học tập học sinh là rất tốt Có thể dùng để đánh giá năng lực học tập của một số lượng thí sinh rất đông, thời gian chấm bài nhanh và chính xác vì có thể sử dụng máy chấm bài Kết quả chấm bài khách quan vì không phụ thuộc nhiều vào người chấm

Nhược điểm:

Nhược điểm cơ bản của loại trắc nghiệm này cũng là đặc điểm chung của các loại trắc nghiệm khác: phải tuân thủ chặc chẽ quy trình soạn câu trắc nghiệm, tốn nhiều công sức, đầu tư nhiều thời gian, phải tiến hành thực nghiệm sư phạm nhiều lần mới có thể có một câu trắc nghiệm tin cậy, giá trị cao

Dễ lộ đáp án do cố gắng diễn đạt cho đúng trong “lựa chọn làm đáp án” hoặc các

“mồi nhử” không có tính hấp dẫn cao

Giữa các “mồi nhử” và đáp án có sự tương đồng về ý nghĩa dẫn đến sự nghi ngờ của thí sinh

1.2.1.4 Quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm:

Bộ câu hỏi trắc nghiệm, hay ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là một tập hợp gồm có rất nhiều câu trắc nghiệm chuẩn hóa, đã được kiểm định, định cỡ thông qua các tiêu chí đánh giá của nó Vì thế, để có một bộ câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa nhất thiết chúng ta phải xây dựng nó theo một quy trình khoa học Nhằm phát huy tối đa các ưu điểm của trắc nghiệm Các nhà nghiên cứu về trắc nghiệm đưa ra rất nhiều quy trình xây dựng, trong đó

có quy trình 7 bước là được sử dụng phổ biến và hiệu quả

Ngày đăng: 26/12/2013, 11:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1  - Sơ đồ mô tả các dạng trắc nghiệm - Các phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp giảng dạy đại học và e  learning
Hình 1 - Sơ đồ mô tả các dạng trắc nghiệm (Trang 12)
Hình 4 – Quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm - Các phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp giảng dạy đại học và e  learning
Hình 4 – Quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm (Trang 16)
Hình 5 – Lưu đồ xây dựng bộ câu trắc nghiệm - Các phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp giảng dạy đại học và e  learning
Hình 5 – Lưu đồ xây dựng bộ câu trắc nghiệm (Trang 17)
Hình 7 – Mô hình SMART - Các phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp giảng dạy đại học và e  learning
Hình 7 – Mô hình SMART (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w