1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khảo cổ học Việt Nam

74 820 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo cổ học Việt Nam
Tác giả Trần Văn Bảo
Trường học Trường Đại Học Đà Lạt
Chuyên ngành Khảo cổ học Việt Nam
Thể loại sách giáo trình
Năm xuất bản 2002
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 468,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Khảo cổ học được giảng cho sinh viên Khoa Lịch sử, Đại học Đà Lạt là môn học bắt buộc. Nội dung môn học này được chia thành hai phần. Phần thứ nhất: Cơ sở Khảo cổ học. Phần này cung cấp cho sinh viên những khái niệm cơ bản của khảo cổ học, phương pháp điều tra và khai quật khảo cổ. Nội dung chính của phần này là giới thiệu nhận thức của giới Khảo cổ học Việt nam hiện đại về thời kỳ tiền sử ở khu vực miền Bắc và Bắc Trung bộ, từ sơ kỳ đá cũ đến thời đại kim khí. Phần thứ hai: Khảo cổ học Việt Nam. Phần này tóm lược các giai đoạn phát triển và đặc trưng văn hóa các văn hóa thời đại kim khí, các văn hóa cổ ở khu vực miền Trung và miền Nam. Ngoài ra, Giáo trình còn có phần phụ lục về văn hóa Đông Sơn.

Trang 1

GIÁO TRÌNH

KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM

TRẦN VĂN BẢO

2002

Trang 2

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG MỘT 5

1 LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Giai đoạn trước 1975 5

1.2 Giai đoạn sau 1975 7

2 CÁC DI TÍCH TIỀN SA HUỲNH 7

2.1 Giai đoạn Xóm Cồn 7

2.2 Giai đoạn Long Thạnh .10

2.3 Giai đoạn Bình Châu 15

2.4 Văn hóa Sa Huỳnh 17

CHƯƠNG HAI 24

1 LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU 24

2 DI TÍCH VÀ DI VẬT 25

2.1 Đặc điểm phân bố và cấu trúc di tích 25

2.2 Đặc trưng di vật 26

3 NIÊN ĐẠI VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ 32

4 ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN 34

CHƯƠNG BA 37

1 ĐẶC TRƯNG DI TÍCH 37

1.1 Đặc trưng phân bố di tích 37

1.2 Đặc trưng mộ táng 42

2 ĐẶC TRƯNG DI VẬT .43

2.1 Giới thiệu khái quát các sưu tập hiện vật 43

2.2 Các sưu tập khác ở Nam Tây Nguyên .47

CHƯƠNG BỐN 51

1 LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ KHAI QUẬT 51

A AN GIANG 51

B KIÊN GIANG 52

C MINH HẢI 52

D CẦN THƠ (HẬU GIANG CŨ) 52

E TRÀ VINH (CỬU LONG CŨ) 53

G VĨNH LONG (CỬU LONG CŨ) 53

H TIỀN GIANG 53

I ĐỒNG THÁP 54

K LONG AN 54

L.TÂY NINH 55

M THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55

N ĐỒNG NAI 55

O LÂM ĐỒNG 56

2 LOẠI HÌNH DI TÍCH VĂN HÓA ÓC EO 56

2.1 Di chỉ kiến trúc tôn giáo .56

2.2 Loại hình kiến trúc mộ táng .56

2.3 Loại hình di tích cư trú 57

Trang 3

3 DI VẬT VĂN HÓA ÓC EO .58

3.1.Tượng thờ và linh vật 58

3.2 Phù điêu và con dấu 62

3.3 Tiền và kim loại 62

3.4 Di vật bằng vàng 62

3.5 Đồ trang sức và di vật bằng đá quý, đá màu, thuỷ tinh và kim loại thường .64

3.6 Các vật dụng bằng đá 65

3.7 Đồ gốm và đất nung 65

Phụ lục 67

1 Địa vực phân bố 67

2 Đặc điểm và loại hình di tích văn hoá Đông Sơn 68

3 Các đặc trưng cơ bản của văn hoá Đông Sơn .69

4 Các loại hình địa phương .72

5 Các giai đoạn phát triển 73

6 Niên đại 74

Trang 4

MỞ ĐẦU

Môn Khảo cổ học được giảng cho sinh viên Khoa Lịch sử, Đại học Đà Lạt là

môn học bắt buộc Nội dung môn học này được chia thành hai phần

Phần thứ nhất: Cơ sở Khảo cổ học

Phần này có 3 chương, giảng cho sinh viên năm thứ nhất:

Chương một Dẫn luận

Chương hai Phương pháp nghiên cứu khảo cổ

Chương ba Các thời đại khảo cổ

Phần này cung cấp cho sinh viên những khái niệm cơ bản của khảo cổ học,

phương pháp điều tra và khai quật khảo cổ Nội dung chính của phần này là giới

thiệu nhận thức của giới Khảo cổ học Việt nam hiện đại về thời kỳ tiền sử ở khu

vực miền Bắc và Bắc Trung bộ, từ sơ kỳ đá cũ đến thời đại kim khí

Phần thứ hai: Khảo cổ học Việt Nam

Phần này có 4 chương, giảng cho sinh viên năm thứ 3:

Chương một Thời đại kim khí ở Nam Trung bộ – Văn hoá Sa Huỳnh

Chương hai Thời đại kim khí ở Đông Nam bộ – Văn hóa Đồng Nai

Chương ba Vài nét đặc trưng hậu kỳ đá mới-sơ kỳ kim khí Nam Tây Nguyên

Chương bốn Văn hóa Óc Eo

Phần này tóm lược các giai đoạn phát triển và đặc trưng văn hóa các văn hóa

thời đại kim khí, các văn hóa cổ ở khu vực miền Trung và miền Nam

Ngoài ra, Giáo trình còn có phần phụ lục về văn hóa Đông Sơn

Trang 5

CHƯƠNG MỘT

THỜI ĐẠI KIM KHÍ TRUNG VÀ NAM TRUNG BỘ –

VĂN HÓA SA HUỲNH

1 LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU

1.1 Giai đoạn trước 1975

Trong Niên giám 1909 của tập san Trường Viễn Đông Bác cổ, chúng ta nhận

được những thông tin đầu tiên nói về phát hiện “một kho chum khoảng 200 chiếc

nằm cách mặt đất không sâu, trong một cồn cát ven biển vùng Sa Huỳnh ” Tác

giả bản báo cáo này làVinet đã dùng thuật ngữ “kho” để diễn tả nhóm di tích này

Năm 1923, được sự bảo trợ của Trường Viện Đông Bác cổ, Labarre đã tiến hành

các cuộc đào bới ở vùng Sa Huỳnh, nhằm tìm kiếm hiện vật trong các kho chum

Tài liệu mà Labarre tìm được còn lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, sau này

được Parmentier giới thiệu trong một bài báo ngắn

Năm 1934, Colani được Trường Viễn Đông Bác cổ phái tới Sa Huỳnh Tại địa

điểm Thạnh Đức, Colani tìm thấy 55 chum gốm và ở Phú Khương 187 chum Colani

còn phát hiện thêm ba khu mộ chum ở Tân Long mà qua phúc tra, chúng ta biết

rằng đó là các địa điểm Đồng Cườm và Bà Ná Đồng thời Colani được nhân dân

cho biết thêm hai địa điểm nữa ở Đông Phù và Phú Nhuận Năm 1935, Colani tới

Quảng Bình và phát hiện hai khu mộ chum nữa ở Cương Hà và Cổ Giang

Năm 1939, nhà khảo cổ học Thuỵ Điển O Jansé lại khai quật khu vực Sa

Huỳnh và phát hiện được 84 mộ chum ở Phú Khương Hiện vật của đợt khai quật

này bị lấy mang đi và báo cáo khoa học thì không được công bố Về hoạt động của

O.Janse ở Sa Huỳnh chúng ta chỉ nhận thức được qua vài báo ngắn

Năm 1951, Malleret đã đến khảo sát và đào thám sát Sa Huỳnh nhưng không

thu được kết quả gì mới Năm 1959, ông cho công bố bài viết “Một vài đồ gốm Sa

Huỳnh trong mối tương quan với các di chỉ khác ở Đông Nam Á”

Trong các thập kỷ 60 và đầu 70 những đóng góp của Saurin và Fontaine đã

nhận thức về văn hoá Sa Huỳnh lên một bước mới Năm 1966, Saurin công bố về

phát hiện địa điểm Dầu Giây (Đồng Nai) Năm 1973, ông công bố tiếp phát hiện

địa điểm Hàng Gòn (Đồng Nai) Hai địa điểm mới này là những khu mộ chum đã

bị đào phá để xây dựng Năm 1972, Fontaine công bố phát hiện một cánh đồng

Trang 6

chum mới ở Phú Hoà cũng thuộc tỉnh Đồng Nai Năm 1973, Fontaine và Hoàng Thị

Thân công bố tiếp một ghi chú mới về khu mộ Phú Hoà

Những phát hiện mới ở lưu vực sông Đồng Nai đã mở rộng địa bàn phân bố

văn hóa Sa Huỳnh về phía nam và cung cấp những niên đại C14 đầu tiên cho nhóm

di tích mộ chum thuộc văn hoá Sa Huỳnh ở Đồng Nai

Đáng lưu ý là trong giai đoạn nghiên cứu này, người có nhiều công lao nghiên

cứu và đặt văn hoá Sa Huỳnh trong bối cảnh Đông Nam Á là học giả Mỹ

W.C.Solheim II Tại Philippiness, Solheim đã nghiên cứu gốm các địa điểm ở

Kalanay trong sự so sánh với gốm Sa Huỳnh và nêu lên một “phức hệ gốm Sa

Huỳnh - Kalanay" Sau này, ông đưa ra cái gọi là “truyền thống gốm Sa Huỳnh -

Kalanay" ở Đông Nam Á Nếu “phức hệ gốm Sa Huỳnh - Kalanay" được Solheim

chấp nhận niên đại khoảng nửa cuối thiên niên kỷ I trước Công nguyên, thì “truyền

thống gốm Sa Huỳnh - Kalạnay" được ông mở rộng khung niên đại đến thiên niên

kỷ II trước Công nguyên Trong nhiều bài viết cùa mình, Solheim đã nêu lên những

đồ gốm thuộc truyền thống Sa Huỳnh - Kalanay có mặt tại Việt Nam và

Philippines như ở Thái Lan, Malaixia, Indonexia…và gắn chủ nhân của truyền

thống gốm này với cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo (Malays - Polynesian) Đi xa

hơn, ông còn xác định quê hương đầu tiên của chủ nhân gốm Sa Huỳnh - Kalanay

là ở vùng Đông Bắc Indonexia và Nam Philippines Tuy nhiên, nhiều giả thuyết

của ông không phải đã được mọi nhà khảo cổ học nghiên cứu về Đông Nam Á

đồng tình

Tóm lại, thời kỳ nghiên cứu của các học giả nước ngoài về văn hoá Sa Huỳnh

ở Việt Nam từ 1909 đến 1975 đã có một số đóng góp nhất định trong nhận thức

chung về văn hoá này Trong quá trình 65 năm tìm kiếm, các học giả nước ngoài đã

phát hiện được gần 20 địa điểm mộ táng, với số lượng vò táng khoảng gần 1000

chiếc Đồ tuỳ táng thu được không nhiều, bao gồm các chủng loại đá, đồng, sắt,

thuỷ tinh và đồ gốm Đáng chú ý là so với các chủng loại hiện vật văn hoá Đông

Sơn thì đồ sắt đã chiếm số lượng đáng kể Mới tính trong ba khu mộ Hàng Gòn,

Phú Hoà, Sa Huỳnh, số lượng đồ sắt đã lên đến 250 hiện vật bao gồm công cụ sản

xuất, vũ khí và đồ trang sức Trái lại, đồ đồng thau trong văn hoá Sa Huỳnh tìm

được rất ít, trên dưới 50 hiện vật và chủ yếu là đồ trang sức Đồ đá và thuỷ tinh khá

phong phú vế số lượng và loại hình, gồm công cụ sản xuất như rìu, cuốc và đồ trang

sức như hạt chuỗi, khuyên tai…Đồ gốm Sa Huỳnh rất phong phú về số lượng và

loại hình, bao gồm nồi, đĩa, bát chân cao, bình có núm, bình lọ hoa, đèn gốm, gốm

minh khí…Vò táng có loại hình trứng, hình cầu nhưng chủ yếu là loại hình trụ

Nắp đậy vò táng có hình bát bồng, hình trụ và hình nón cụt

Trang 7

1.2 Giai đoạn sau 1975

Năm 1976 và 1977, có hai đợt điều tra và thám sát tại khu vực Sa Huỳnh do

Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và Viện Khảo cổ học tổ chức

Đáng chú ý là những đợt nghiên cứu khu vực Sa Huỳnh lần sau đã phát hiện được

một khu cư trú với tầng văn hóa có độ dày trên 2m

Cũng trong năm 1977, Viện Bảo tàng Lịch sử phối hợp với Sở Văn hoá -

Thông tin Nghĩa Bình (cũ) khai quật 250m2 tại một địa điểm cũng trên gò cát có

tên gò Ma Vương ở thôn Long Thạnh II Hai hố khai quật được tiến hành ở hai địa

điểm cách nhau 200m Đợt khai quật này cũng phát hiện được một khu cư trú có

tầng văn hoá dày 1,8m với hai lớp văn hoá ngăn cách nhau bởi một lớp cát trắng

dày 0,2m Trong lớp đất cư trú đã phát hiện dấu vết còn lại của các mộ chum mà

trước đây đã bị đào phá và 3 mộ chum còn khá nguyên vẹn

Tóm lại trong vòng 20 năm nghiên cứu của giai đoạn sau năm 1975, chúng ta

đã phát hiện và nghiên cứu một loạt di tích mới, phân bố trên hầu hết các tỉnh ven

biển miền Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận và cả ở một số tỉnh miền núi như

Gia Lai - Kontum hay các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Dương,

Bình Phước…cung cấp nhiều tư liệu mới, phong phú đa dạng Đặc biệt phải nhấn

mạnh đến việc tìm ra vết tích cư trú của văn hoá Sa Huỳnh mà trong giai đoạn

nghiên cứu trước các học giả nước ngoài không phát hiện ra như ở khu vực Sa

Huỳnh hay chưa khẳng định được như ở Hàng Gòn, Dầu Giây…

Điều cần nhấn mạnh nữa là trong khi nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn

này, chúng ta đã tìm ra một loạt các di tích Tiền Sa Huỳnh có niên đại sớm thuộc

thời đại đồng thau, có mối liên hệ nguồn gốc và phát triển nối tiếp với các di tích

Sa Huỳnh cổ điển - Sa Huỳnh thuộc thời đại sắt sớm

2 CÁC DI TÍCH TIỀN SA HUỲNH

2.1 Giai đoạn Xóm Cồn

2.1.1 Địa vực phân bố

Khác với giai đoạn Long Thạnh hay Bình Châu, giai đoạn Xóm Cồn đã được

xác lập thành một văn hoá khảo cổ riêng biệt Cho đến nay đã phát hiện được 8 địa

điểm thuộc văn hoá Xóm Cồn Các di tích này phần bố ở đồng bằng ven biển và

các đảo ven bờ hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà Đây là những đồng bằng nhỏ hẹp,

Trang 8

không tách biệt với vùng núi về mặt nguồn gốc phát sinh Trên đồng bằng người ta

còn thấy có những cồn cát trắng bọc những đầm phá lớn, đường bờ biển lô nhô

dạng răng cưa, xen kẽ là những vùng vịnh tự nhiên khá kín, che chắn cho các bãi

biển trong vùng Cư dân văn hoá Xóm Cồn đã tụ cư ở những cồn cát trên dải đồng

bằng ven biển ấy, hoặc trên các hòn đảo không xa bờ

Trong số 8 địa điểm văn hoá Xóm Cồn, về mặt tự nhiên có thể nhận rõ 2 loại

địa hình cư trú: trong đất liền (Xóm Cồn, Gò Ốc, Giồng Đồn) và các đảo gần bờ

(Bình Hưng, Bình Ba, Bích Đầm, Bãi Trủ và Đầm Già) Dù cư trú ở đất liền hay

trên đảo, người cổ Xóm Cồn đều tụ cư trên các cồn cát, một mặt liền kề với biển,

một mặt liền kề với những vạt rừng chân núi Biển – núi là nguồn cung cấp thực

phẩm chính cho cư dân cổ ở đây

2.1.2 Đặc trưng văn hoá

Đồ đá văn hóa Xóm Cồn là một trong những tiêu chí quan trọng để nhận diện

văn hóa, qua 2 nhóm di vật

Nhóm công cụ sản xuất bao gồm các loại: 23 công cụ ghè đẽo và mảnh tước;

81 rìu, bôn, đục mài toàn thân; 108 công cụ không gia công như chày, hòn ghè, hòn

kê, bàn mài

Nhóm đồ trang sức có 8 tiêu bản gồm vòng tay và hạt chuỗi Nhìn chung, đồ đá

được làm từ đá trầm tích biến chất hoặc đá cuội khai thác tại chỗ Ghè đẽo và mài

là hai thủ pháp kỹ thuật được dụng trong chế tác công cụ như rìu, bôn, đục Kỹ

thuật khoan cưa, đánh bóng được dùng chế tác đồ trang sức Đặc trưng nổi bật trong

di vật đá là sự độc tôn loại rìu, bôn, đục không có vai, phổ biến loại rìu bôn hình

thang đốc thuôn nhỏ, mặt cắt ngang hình chữ nhật hoặc thấu kính Ở đây cũng có

mặt công cụ ghè đẽo kiểu Hoà Bình và đồ trang sức nhưng rất hiếm

Đồ xuơng và nhuyễn thể trong văn hoá Xóm Cồn có sổ lượng đáng kể và khá

đa dạng về loại hình Đây là nhóm di vật tạo nên đặc trưng rõ nét của văn hoá này

Theo thống kê năm 1996, trong 8 địa điểm của văn hoá Xóm Cồn đã phát hiện

được 84 công cụ lao động với một vài mũi dùi, mũi lao làm bằng xương hoặc sừng,

còn tuyệt đại đa số làm bằng vở nhuyễn thể bao gồm các loại hình như công cụ ghè

đẽo, công cụ nạo và hòn ghè Bên cạnh đó còn có 18 mảnh vòng trang sức bằng vỏ

ốc tai tượng và một số lõi vòng cũng bằng vỏ ốc Những loại hiện vật này lần đầu

tiên phát hiện thấy ở Việt Nam Song chúng đã được tìm thấy nhiều ở khu vực cực

Nam Nhật Bản, Đông Đài Loan, Bắc Philippines và Nam Thái Lan

Đồ gốm xuât hiện trong hầu khắp các di chỉ văn hoá Xóm Cồn, với số lượng

khác nhau, chẳng hạn ở Xóm Cồn có 33.000 mảnh, Bích Đầm có 7.800 mảnh, Gò

Trang 9

OÂc coù 1900 mạnh… Ñoă goâm trong caùc di tích vaín hoùa Xoùm Coăn khaù ñoăng nhaât veă

chaât lieôu, kyõ thuaôt cheâ táo, loái hình vaø hoa vaín trang trí Loái goâm coù xöông maøu

ñen chieâm ña soâ (86%), coøn loái xöông ñoû chieâm ít hôn (14%) Phaăn lôùn goâm trong

vaín hoaù Xoùm Coăn ñaõ söû dúng ñaẫt seùt pha caùt bieơn, hát caùt töông ñoâi mòn (ñoâi vôùi

loái goâm xöông ñen)

Xeùt veă loái hình goâm thì ñôn ñieôu, nhöng raât phong phuù veă kieơu daùng, vôùi

nhöõng bieân theơ khaùc nhau Ví nhö, trong cuøng moôt loái noăi ñaùy troøn mieông loe, coù

daùng loe vöøa, coù daùng loe gaõy; coù dáng vaønh mieông hôi khum loøng maùng; coù kieơu

mieông meùp troøn, coù kieơu mieông meùp vuođng Coù noăi vai hôi xuođi, coù noăi vai cong

troøn.v.v

Ñoă goâm ôû ñađy chụ yeâu ñöôùc naịn baỉng tay keât hôïp vôùi baøn ñaôp – hoøn keđ Kyõ

thuaôt baøn xoay döôøng nhö chư ñöôïc aùp dúng ôû khađu hoaøn thieôn Maịt ngoaøi ñoă goâm

thöôøng ñöôïc phụ baỉng vaín chại, raât ít vaín thöøng Hoa vaín trang trí laø vaín khaĩc

vách, in chaâm, daùn theđm, tođ maøu Loái vaín in chaâm vôùi phöông phaùp duøng que

nhieău raíng táo nhöõng ñöôøng in chaâm ziczaĩc raât ñaịc tröng cho goâm Xoùm Coăn Beđn

cánh ñoù ñaõ thaây xuaât hieôn vaín veõ maøu tređn neăn aùo ñoû hoaịc da cam vôùi nhöõng

ñöôøng xoaĩn oâc, töông töï hoa vaín goâm Ban Chiang (Thaùi Lan) Ñieău ghi nhaôn nöõa laø

ngoaøi caùc kieơu dáng noăi goâm, trong vaín hoaù Xoùm Coăn coøn tìm thaây moôt soâ loái

hình baùt vaø ñóa mađm boăng coù tođ maøu ñoû, nhöng lái thieâu vaĩng bi goâm, dói xe chư vaø

chì löôùi

Hieôn nay vaân ñeă chụ nhađn vaø nieđn ñái cụa vaín hoaù Xoùm Coăn coøn quaù ít tö

lieôu Keât quạ giaùm ñònh raíng ngöôøi coơ ôû Bình Ba gôïi ra raỉng, chụ nhađn vaín hoaù

Xoùm Coăn coù theơ thuoôc chụng Australo – Mongoloid, trong ñoù neùt Mongoloid noơi

troôi hôn

Hieôn nay môùi coù 2 nieđn ñái C14 cho 2 ñòa ñieơm vaín hoaù Xoùm Coăn Tái Xoùm

Coăn maêu oâc ôû lôùp cuoâi laø 4140 ± 80 naím caùnh ngaøy nay vaø Bích Ñaăm (lôùp döôùi)

laø 2935 ± 65 naím caùch ngaøy nay Vuõ Quoâc Hieăn cho raỉng, Xoùm Coăn thuoôc thôøi

ñái ñoăng vaø nieđn ñái trong khoạng 3500 - 3000 naím caùch nay

Trong caùc di tích Xoùm Coăn chöa tìm thaây di vaôt ñoăng hoaịc xư ñoăng Tuy nhieđn,

trong taăng vaín hoaù cụa di chư Bích Ñaăm ñaõ phaùt hieôn ñöôïc 1 chieâc khuođn ñuùc baỉng

ñaù, coù khạ naíng laø khuođn ñuùc hôû, moôt mang Baỉng chöùng ñoù goùp phaăn khaúng ñònh

vaín hoaù Xoùm Coăn ñaõ böôùc vaøo thôøi ñái kim khí

Nhöõng tö lieôu thaùm saùt vaø khai quaôt töø caùc di tích thuoôc vaín hoaù Xoùm Coăn ñaõ

xaùc nhaôn raỉng, cö dađn coơ ôû ñađy laø nhöõng ngöôøi saín baĩt, ñaùnh caù, khai thaùc nguoăn

lôïi bieơn Coù nhieău khạ naíng hó ñaõ bieât ñeân troăng trót vaø chaín nuođi Vaø hó ñaõ bieât

cheâ táo ñoă trang söùc duøng ñeơ trao ñoơi vôùi caùc nôi khaùc Phöông thöùc khai thaùc bieơn

Trang 10

từ nguồn thực phẩm đến nguyên liệu để chế tác công cụ và đồ trang sức đã xác

nhận rằng, họ là chủ nhân của nền văn hoá biển tiêu biểu ở Nam Trung Bộ

Văn hoá Xóm Cồn là một điểm sáng trong nền cảnh văn hoá tiền sử miền

Nam Trung bộ, thể hiện trên những nét chính sau đây:

- Văn hoá Xóm Cồn là một văn hoá biển, với tích tụ dày vỏ các loại nhuyễn

thể biển, với sự độc tôn của rìu không có vai mài nhẵn toàn thân, sự phổ biến

công cụ và đồ trang sức làm từ vỏ ốc biển, với sự áp đảo của gốm văn chải, và sự

độc đáo trong trang trí in chấm những đường ziczắc và đặc biệt là sự có mặt đồng

thời gốm tô màu và vẽ màu Những đặc trưng đó, khiến không thể lẫn văn hoá

Xóm Cồn với bất cứ một văn hoá tiền sử nào đã biết ở Việt Nam

- Văn hóa Xóm Cồn có thể được coi như một cầu nối các văn hoá đương thời

ở lưu vực sông Đồng Nai với khu vực miền Trung và Tây Nguyên, một trong số

những nguồn hợp tạo dựng văn minh Sa Huỳnh ở Nam Trung Bộ

Xác lập văn hoá Xóm Cồn là một thành tựu quan trọng của khảo cổ học Việt

Nam, đồng thời cũng đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên

cứu như nguồn gốc, niên đại và chủ nhân văn hoá Xóm Cồn

2.2 Giai đoạn Long Thạnh

2.2.1 Địa vực phân bố.

Nhìn trên bản đồ phân bố các di tích văn hoá Sa Huỳnh, chúng ta nhận thấy

rằng hầu hết các di tích văn hoá Sa Huỳnh đều phân bố dọc ven biển Nam Trung

bộ Việt Nam Vị trí phân bố hoặc trên các đồi gò cát ven biển hoặc trên các đồi

đất, chân núi Thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp các khu mộ hoặc các khu cư trú ở

gần các dòng sông đổ ra biển hoặc trên các đảo cát nhỏ gần bờ do các dòng hải lưu

tạo nên Những phát hiện ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định gần

đây cung cấp thêm những tư liệu mới về những loại hình Sa Huỳnh vùng núi, cách

xa biển 50 – 60 km có những sắc thái văn hoá núi rất đặc sắc trong nội dung văn

hoá của các di tích đó Trong đó phần lớn là những di tích Sa Huỳnh khá muộn,

thuộc sơ kỳ sắt, trừ một vài di tích có thể thuộc sơ kỳ đồng thau như Gò Miếu, Trà

Xuân, Tịnh Thọ…

Cư dân Sa Huỳnh trong quá trình vận động đã chiếm lĩnh, hòa điệu và biến cải

môi trường sống với thể trước mặt là biển khơi, phía sau là dải đồng bằng trước núi

và xa hơn là các dãy núi điệp trùng, đã trải dài qua hàng nghìn năm vật lộn với

Trang 11

sóng biển và bão cát, khác nhau về độ cao và quy mô, có xu hướng chuyển dần

vào nội địa và lấn dải đồng bằng vốn đã nhỏ hẹp

Một loạt các địa điểm thuộc nhóm di tích sơ kỳ đồng thau trong văn hoá Sa

Huỳnh đều phân bố dọc duyên hải miền Trung, trên các dải đồng bằng ven sông,

trên các đồi gò trước núi, chứng tỏ sự chiểm lĩnh đồng bằng của các cư dân thời đại

đồng thau xảy ra nhanh chóng và đều khắp trên nhiều địa bàn, sau một thời kỳ biển

tiến và rút đi đã tạo nên một dải đồng bằng phù sa mầu mỡ, thuận tiện cho việc

trồng trọt và nông nghiệp trồng lúa Đáng chú ý là phần lớn các di tích sớm của

giai đoạn này lại là các di tích cư trú xen lẫn khu mộ táng cùng thời hoặc muộn

hơn, như di tích Long Thạnh, Bầu Trám, Suối Chồn, Mỹ Tường, Hòn Đỏ (lớp I và

II), Truông Xe, Núi Sứa.v.v

2.2.2 Các đặc trưng văn hoá

Để nhận thức đầy đủ tính chất văn hoá giai đoạn sơ kỳ đồng thau của các di

tích Tiền Sa Huỳnh, trước hết chúng ta cần xem xét các đặc trưng văn hoá cơ bản

của giai đoạn này

Trong bộ công cụ đá, nổi nét có các loại cuốc đá to bản, lưỡi hình vòng cung

không có vai, thân mỏng được các nhà khảo cổ quen gọi là cuốc hình “lưỡi mèo”

Trong di tích Long Thạnh đã tìm thấy hàng loạt mảnh vỡ của loại cuốc này Đáng

chú ý là 2 chiếc cuốc còn nguyên vẹn được phát hiện trong 2 ngôi mộ chum là mộ

14 và mộ 15 giúp chúng ta có ý niệm cụ thể về cuốc đá giai đoạn này Cuốc dài 17

– 18 cm, chuôi rộng 7 – 8 cm, lưỡi rộng 11 cm Cuốc được làm từ đá badan có màu

xanh đen

Trong các di tích sớm, nhiều hơn cả vẫn là rìu đá, phổ biến loại rìu hình tứ

giác, lưỡi rộng, kích thước nhỏ và trung bình, dài từ 4 đến 10 cm, lưỡi rộng từ 2 đến

6 cm Nhin chung rìu tứ giác của giai đoạn này có thân thuôn dài, đốc hẹp và nở

rộng ở phần lưỡi Nhìn về kiểu dáng chúng ta dễ nhận ra sự khác biệt với rìu tứ

giác trong các di tích kim khí sớm ở Bắc Bộ Bên cạnh loại rìu tứ giác, một số tiêu

bản rìu đá có vai cũng phát hiện được ở trong các di tích ở Ninh Thuận, Bình

Thuận, Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Nam, Đà Nẵng Đặc biệt trong nhóm rìu có

vai cần ghi nhận đặc trưng nổi bật của giai đoạn Long Thạnh là rìu có vai kiểu

“răng trâu” Đặc trưng này giúp chúng ta tìm ra mối quan hệ nguồn gốc giữa các di

tích Tiền Sa Huỳnh với các văn hoá sớm hơn ở miền Trung Việt Nam (Bàu Tró)

Cũng là một trong những tiêu chí để chúng ta nhìn nhận diện mạo văn hoá và

truy tìm nguồn gốc văn hoá Sa Huỳnh là trong giai đoạn Long Thạnh có mặt loại

rìu đá không vai, đốc hẹp hoặc nhọn, lưỡi xoè, toàn thân có hình tam giác Loại rìu

Trang 12

này rất phổ biến trong các văn hoá hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng lưu vực sông Đồng

Nai

Trong đồ đá, chúng ta gặp rất nhiều bàn mài các loại Có loại để mài công cụ

đá như cuốc, rìu, đó là loại bàn mài có lòng chảo Có loại để mài mặt trong của

vòng Ngoài bàn mài còn gặp mũi khoan đá bằng thạch anh

Trong các di tích sơ kỳ đồng thau, chúng ta vẫn thường gặp hiện vật phổ biến

trong các văn hoá hậu kỳ đá mới là chày nghiền và hòn kê Trong các di tích nhóm

Long Thạnh nhiều tiêu bản của chày nghiên và hòn kê cũng đã được phát hiện

Chày nghiền là những viên cuội hình trụ, mặt tác dụng thường bị mòn vẹt ở hai

đầu Hòn kê cũng là loại đá cuội biển, trên bề mặt có các vết lõm lỗ chỗ ăn sâu

xuống do lực tác dụng vào Rải rác trong một số di tích ở Ninh Thuận, Bình Thuận,

Quảng Nam, Đà Nẵng chúng ta thấy hiện diện các dao hái bằng đá, một số đục

nhỏ bằng đá, chày đập vỏ cây v.v

Đồ trang sức bằng đá giai đoạn Long Thạnh có khuyên tai, vòng tai và hạt

chuỗi Không phải đồ trang sức bằng đá đều được phát hiện trong tất cả các di tích

Nhưng những di tích phát hiện được hạt chuỗi hay khuyên tai đều cung cấp những

tiêu bản rất đặc trưng và độc đáo Trong di tích Long Thạnh đã phát hiện thấy 2 đôi

khuyên tai trong mộ số 7 Một đôi khuyên tai có bản dẹt, làm từ Nephrit màu trắng

ngà Khuyên tai có bản rộng và mỏng, bên trong có lỗ nhỏ Bản vòng có khe hở để

đeo vào tai Khuyên tai có đường kính 5 cm Đôi khuyên tai khác có hình tròn như

chiếc đĩa, xung quanh có 4 mấu dẹt Trên mấu có khắc hình tai thú

Vòng tai có khe hở nhỏ để kẹp vào tai Đường kính vòng 8,5 cm, bản vòng

rộng 0,7 cm

Hạt chuỗi có 3 loại Loại hình ống có khấc ngoài nổi như đốt trúc, loại hình

ống trơn và loại hạt chuỗi gần tròn giống hạt cườm Tất cả đều được làm từ đá

Nephrit màu trắng hoặc xanh nhạt Ngoài việc sử dụng đá ngọc để làm đồ trang

sức chúng ta còn phát hiện thấy cư dân Sa Huỳnh giai đoạn này đã dùng vỏ sò, chế

tác thành đồ trang sức như hạt chuỗi hoặc ghè mặt lưng vỏ ốc tiền để

đeo.v v Trong di tích Mỹ Tường đã phát hiện được 800 vỏ ốc có lỗ ở mặt lưng

trong một ngôi mộ chum

Hiện vật bằng xương trong các di tích giai đoạn này rất hiếm gặp Các nhà

khảo cổ mới chỉ phát hiện được một số lưỡi câu và mũi lao xương trong di tích cư

trú Long Thạnh

Trong bộ hiện vật của giai đoạn này, nhiều nhất và đáng lưu ý nhất là đồ gốm

Gốm giai đoạn Long Thạnh vừa có nhiều loại hình, vừa có nhiều thể loại và rất

phong phú về hoa văn Đồng thời ở mỗi khu vực văn hoá lại biểu hiện những nét

Trang 13

khá riêng biệt, mang đặc thù địa phương của từng vùng Khu vực Quảng Ngãi, Bình

Định có đồ gốm độc đáo và đẹp nhất trong cái nhìn chung với các khu vực khác

như Quảng Nam, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Bình Thuận…Ở khu vực này sắc thái của

biển được thể hiện đậm đà nhât trong các mô típ hoa văn Phong cách tạo dáng

gốm uyển chuyển và tinh tế

Nói đến Quảng Ngãi tức là chung ta lại quay về với khu vực Sa Huỳnh, với di

tích Long Thạnh, với những khu mộ chum đấy sức quyến rũ Đồ gốm ở đây, ngoài

những mảnh thu được trong khu cư trú mà chúng tôi có dịp nói tới trong khi miêu tả

về địa tầng, chủ yếu vẫn là đồ gốm nguyên dạng được phát hiện trong các mộ táng

bao gồm các thể loại như bình, nồi, bát, dọi xe chỉ, chì lưới…

Có thể nối rằng, tư duy mỹ thuật của cư dân Sa Huỳnh thể hiện chủ yếu ở

phong cách tạo dáng các loại bình vò và khắc họa các đồ án hoa văn trên gốm Ở

giai đoạn Long Thạnh chúng ta nhận thấy điều này rất rõ Bình Long Thạnh là loại

bình có dáng cao, thanh mảnh ở cổ và mở rộng ở phần thân dưới Miệng bình

thường nở rộng, chân để thấp Đây là dạng bình mà chúng ta thường gọi là bình

hinh lọ hoa Do các biến tấu của miệng, cổ và thân mà bình được chia làm 5 loại

Tất cả các loại đều được trang trí hoa văn đẹp và trang nhã Hoa văn trang trí

thường tổng hợp các yếu tố khắc vạch, in răng sò, tô màu, văn thừng… Nội dung

các băng hoa văn thể hiện các biến tấu của sóng biển

Cũng khá đặc sắc là các loại bát sâu lòng có chân đế cao, loe choãi, mép

miệng nở và có đường gờ chạy quanh Trên thành miệng bát có trang trí hoa văn

khắc vạch cách quãng Hoa văn được trang trí trong và ngoài bát Kiểu dáng bát

giống như những nắp đậy mộ chum Đường kính miệng bát 16 -17 cm, lòng bát sâu

6 - 8 cm

Ngoài bát có chân đế, chúng ta thỉnh thoảng cũng gặp những bát không chân

đế có đáy tròn như hiện vật phát hiện trong mộ 5 di tích Long Thạnh II Có thểloại

hiện vật này có chức năng là nắp đậy hơn là bát Trên thân có trang trí hoa văn làn

sóng đuổi nhau Hiện vật có đường kính 15 cm, cao 8 cm

Nồi là loại đồ gốm thường gặp trong các mộ táng và di chỉ cư trú Hầu hết đều

có thân phình, đáy tròn, miệng loe, dáng thấp Có dạng nồi thường dùng và có dạng

nồi minh khí Nồi dạng minh khí được làm bằng tay có trang trí hoa văn Đáng chú

ý là một vài nồi lớn cũng có trang trí hoa văn ở thân Tuy nhiên hoa văn trang trí

nồi có phần giản đơn hơn so với hoa văn trên các bình vò

Trong nhóm đồ gốm còn có loại chì lưới bằng đất nung hình bầu dục Loại chì

lưới này rất phổ biến trong các di tích hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng ở Việt Nam

Cũng cần kể đến những dọi xe sợi độc đáo hình ống chỉ hai đầu loe có trang trí các

Trang 14

vòng tròn trên mặt, các khuyên tai đất nung có mặt cắt hình tròn, vật có hình trụ

bóp hai đầu, trên thân có trang trí các đường vạch, vật có dáng tương tự như các con

lăn in hoa văn bằng gốm, vật hình sinh thực khí nữ độc đáo

Nét nổi bật trong đồ gốm Tiền Sa Huỳnh giai đoạn Long Thạnh cũng là nét tạo

thành một trong những đặc trưng cho văn hoá Sa Huỳnh sau này là các chum hay

vò lớn, có nắp đậy hình bát được dùng làm quan tài giai đoạn sớm, chum có dáng

hình trứng và nắp đậy là những bát mâm bồng hình nón cụt, đế thấp Thân bát bên

ngoài trang trí các hoa văn khắc vạch uốn lượn như trên các bình hình lọ hoa và

trên mép miệng được cắt thành hình răng cưa, cụm thành từng nhóm

Bên cạnh loại hình, hoa văn trang trí đóng vai trò rất quan trọng để nhận thức

đầy đủ hơn đặc trưng đồ gốm ở đây Trong tổng số 8693 mảnh gốm ở hố II di tích

Long Thạnh có 6893 mảnh có trang trí hoa văn bao gồm văn thừng, văn khắc vạch,

văn tô màu, văn in

Văn thừng là văn chủ đạo trang trí trên các mộ chum, trên thân nồi, trên thân

vò và đáy bình Trên các mộ chum, văn thừng là thừng thô trang trí từ vai tới đáy

Trên các nồi, bát, bình trang trí văn thừng mịn và kết hợp với các loại văn khác để

tạo nên các đồ án khác nhau

Văn khắc vạch bao gồm các hoạ tiết sau: văn vạch hình tam giác trong các

băng nằm ngang, văn vạch những đường xiên chéo nhau, văn vạch những đường

cong võng xuống lồng vào nhau và cách quãng trên nền tô màu đen, văn vạch các

đường thẳng đứng thành từng nhóm, văn vạch hình bông lúa nằm ngang, văn vạch

từng đường cong hình làn sóng lượn, văn vạch từng đường cong tỏa từ một vòng

trung tâm, văn vạch hình chữ chi…Các hoạ tiết trên được trang điểm cho từng bộ

phận riêng của gốm

Văn tô màu tạo nên các băng chủ đạo trên gốm, chủ yếu là các băng hình làn

sóng Nguyên liệu tô màu là những thỏi chì được mài thành bột, có lẽ được tô vẽ

lên gốm trước khi nung Các băng tô màu được miết láng bóng đẹp

Văn in khá phổ biến trong đồ gốm giai đoạn này Thông thường, cư dân tiền Sa

Huỳnh dùng loại vỏ sò biển để in trên thân gốm, tạo nên nhứng dấu chữ V lăn tăn

trên mặt gốm Có loại sò nhỏ tạo nên hình bọ gậy và cũng có loại hình tròn giống

cọng rạ… Ngoài các loại hoa văn chủ đạo trên đây, thường gặp một số loại khác

nhau như văn chấm dải, văn băm rạch…

Gốm sơ kỳ đồng trong văn hoá tiền Sa Huỳnh đã tạo nên phong cách đặc thù

riêng biệt cho từng khu vực Tuy nhiên, tài liệu ở các khu vực khác còn quá ít để từ

đó xác lập nên những truyền thống, những loại hình riêng trong cái nhìn tổng thể

Sự tản mạn và ít ỏi của tư liệu chỉ cho phép chúng ta nêu lên những suy nghĩ,

Trang 15

những gợi mở ban đầu Hiện nay có thể xem gốm sớm khu vực Sa Huỳnh tiêu biểu

cho giai đoạn này

Song song với việc nghiên cứu các hiện vật biểu thị cho bề nổi văn hoá, chúng

ta hãy xem xét phong cách mai táng của cư dân tiền Sa Huỳnh - giai đoạn đầu tạo

dựng văn minh Trong giai đoạn sớm, mộ thường được chôn ngay trong di chỉ cư trú

Trong khu mộ, các mộ táng chum nằm thành từng nhóm 5 - 15 mộ hoặc nhiều hơn

Vò mộ đều được chôn đứng và có nắp đậy Đôi khi chúng ta gặp trường hợp mộ có

đục lỗ ở đáy hoặc thành vò Hiện vật tùy táng đều được đặt trong vò, ít khi đặt ở

ngoài Vò táng có nhiều loại Cỡ to hơn là các chum với hình dạng khác nhau Chủ

yếu phổ biến loại chum có dáng thuôn về đáy, đáy tròn Loại này chúng ta thường

gọi là chum hình trứng Loại có kích thước nhỏ hơn ta gọi là các vò táng Vò táng

thường có dạng hình cầu Vò táng (nồi) có kích thước cao 30 - 40 cm, đường kính

miệng 25 - 35 cm, bụng rộng 35 - 45 cm Loại chum có đường kính miệng 40 - 60

cm, đường kính thân 50 - 70 cm, cao 70 -100 cm

Đồ tuỳ táng được đặt có ý thức trong vò Qua xem xét chúng tôi cho rằng một

số loại hiện vật dễ vỡ được đặt sau khi vò táng đã hạ huyệt Trong một số ít vò

táng có phát hiện được một ít xương răng trẻ em, còn phần lớn không có vết tích

xương cốt

Mộ táng đều không bị cắt phá nhau và chôn trên cùng một bình diện địa tầng

Các chum gốm dùng cho việc mai táng đều được chế tác chắc chắn và chỉ phục vụ

cho chức năng này Đáng chú ý là các nắp đậy mộ vò Dáng cơ bản của chúng là

hình mâm bồng hay lồng bàn Các chân đế (hay núm cầm) đều bị đập vỡ khi đậy

lên mộ chum Các khu mộ điển hình có phong cách táng như trên là Long Thạnh,

Mỹ Tường, Truông Xe, Núi Sứa…

Qua tính chất và thành phần các đồ tuỳ táng, chúng tôi cho rằng đã có sự phân

hoá tài sản trong cư dân Tiền Sa Huỳnh ngay từ giai đoạn sớm Điều này cũng nói

lên sự phân hoá xã hội đã hình thành trong từng cộng đồng người thân tộc Việc

chôn người chết ngay trong khu cư trú biểu hiện một tư duy tôn giáo nguyên thủy,

một mối quan hệ mật thiết giữa người sống và người chết

2.3 Giai đoạn Bình Châu

2.3.1 Các đặc trưng văn hoá

Hiện nay việc xác định có giai đoạn đồng thau phát triển trước văn hoá Sa

Huỳnh cổ điển được tạm chấp nhận qua phân tích tư liệu (còn khá tản mạn) của

một số di tích Đặc biệt là trong các di tích giai đoạn này đã xuất hiện nghề luyện

Trang 16

kim đồng thau Tuy sản phẩm đồng thau chưa lấn át được các công cụ đá cổ truyền

nhưng sự có mặt rõ ràng của nghề đúc đồng trong giai đoạn này chứng tỏ đời sống

kinh tế xã hội đã có bước tiến quan trọng Giai đoạn này được gọi là giai đoạn Bình

Châu, tên một di tích ở Quảng Ngãi có tư liệu độc đáo, phong phú và được nghiên

cứu đầy đủ nhất Thuộc nhóm di tích này có các di tích Bàu Trám (lớp trên và mộ

táng), khu cư trú di tích Bầu Hoè và có thể một số mộ táng thuộc thời kỳ đồng thau

của di tích này, di tích Xóm Ốc (đảo Ly Sơn), Gò Miếu, Phú Trường

Những phát hiện các di tích giai đoạn Bình Châu cho thấy diện phân bố của cư

dân thời kỳ đồng thau chưa trải đều ở các khu vực phân bố chủ yếu của văn hoá

Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh từ sơ kỳ đồng đến sơ kỳ sắt

Hiện nay nhóm di tích Bình Châu được biết chủ yếu ở hai khu vực Quảng

Ngãi và Quảng Nam, Đà Nẵng Ngoài ra, những phát hiện lẻ tẻ chưa được khai

quật còn cho thấy khu vực Bình Thuận, Ninh Thuận cũng có các di tích dạng Bình

Châu phân bố, như di tích Phú Trường ở xã Hàm Nhuận, huyện Hàm Thuận có các

công cụ đá, vòng tay đồng và mộ vò Bản thân di tích Bầu Hoè chứa đựng nội dung

văn hoá của giai đoạn hậu kỳ đồng thau Bên cạnh hàng loạt công cụ đồng thau

vẫn có nhiều cộng cụ đá Trong khi đó có một số mộ đã có công cụ sắt chứng tỏ có

một giai đoạn muộn thuộc sơ kỳ sắt ở đây Như vậy, tầng văn hóa di tích Bầu Hoè

có một quá trình phát triển liên tục, lâu dài từ thời kỳ đồng thau đến sắt sớm

Các di tích nhóm Bình Châu ở Quảng Ngãi, Bình Định và Quảng Nam, Đà

Nẵng lại cho thấy sự phát triển từ sơ kỳ đồng thau đến hậu kỳ đồng thau Như vậy,

sự phát triển đan xen của các nhóm di tích trên đây cho thấy quá trình phát triển

văn hoá Sa Huỳnh là khá liên tục từ sơ kỳ đồng đến sơ kỳ sắt Các di tích mang ý

nghĩa trung chuyển hay chuyển tiếp văn hoá được chúng tôi xếp vào nhóm di tích

Bình Châu

Nhóm di tích Bình Châu phân bố chủ yếu ở các gò cát ven biển hoặc ven cửa

sông với thế đất thuận lợi, có biển phía trước, phía sau là dải đồng bằng đất pha cát

phù sa hoặc các dải đất thấp với một hệ thống đầm nước ngọt

Trong giai đoạn này có sự đổi mới về phong tục chôn cất Các khu mộ đã tách

khỏi khu cư trú và đã được chôn ở một khu vực riêng cách không xa nơi ở

Trong di tích Bình Châu, hầu hết các mảnh gốm đều tô màu, chủ yếu là màu

đỏ, màu đen ánh chì Cách tô màu gốm giai đoạn Bình Châu thường được phối hợp

với những yếu tố khác như văn thừng, văn khắc vạch, văn chấm dải…

Về tục mai táng, trong giai đoạn này đã xuất hiện các phương thức mai táng

khác nhau nhưng chủ đạo vẫn là chôn trong vò Đây là phong cách mai táng truyền

thống của cư dân văn hoá Sa Huỳnh Trong khu mai táng ở Bầu Trám đã phát hiện

Trang 17

được nhiều cum mộ vò và có thể xác định được 3 mộ vò Mộ vò được chôn đứng

và có nắp đậy Vò lớn có hình cầu, đường kính 40cm, cao khoảng 40-50cm Các vò

táng loại nhỏ thuộc dạng nồi cỡ trung bình Nắp đậy mộ vò lớn nhất hình nón cụt

nhưng nắp đậy loại vò nhỏ có hình lồng bàn Đây là loại nắp đậy phổ biến trong

giai đoạn sơ kỳ đồng của văn hoá Sa Huỳnh Riêng ở Bình Châu đã tồn tại một tục

táng khá độc đáo là các nồi vò thường được đặt úp miệng xuống đất

Trong mỗi mộ thường có khoảng 3-5 nồi, vò hoặc bát bồng xếp gần nhau

Trong đồ gốm to nhất thường đặt các đồ tuỳ táng nhỏ hơn như các nồi vò cỡ nhỏ,

đồ đồng thau, quả cân gốm, khuyên tai gốm.v.v.Mộ thường nằm ở độ sâu 0,50 –

0,85 so với mặt gò Trong mộ không có hiện tượng rải gốm hay rải đá và không còn

dấu tích xương người

Trong giai đoạn này, công cụ đá vẫn chiếm vị trí chủ đạo, thường gặp loại

cuốc hình “lưỡi mèo” có dáng nở rộng về phần lưỡi, đốc hẹp rất thuận lợi cho việc

canh tác nông nghiệp trên các dải đồng bằng đất pha cát vùng duyên hải Loại

cuốc này rõ ràng là tiêu chí xác định đặc trưng văn hoá cho các di tích tiền Sa

Huỳnh Chúng có mặt ở giai đoạn Long Thạnh và tiếp nối truyền thống ở giai đoạn

Bình Châu Loại rìu đá đốc nhọn, thân hình tam giác của giai đoạn sơ kỳ đồng vẫn

tồn tại ở giai đoạn này và vẫn bảo lưu khá lâu dài

2.4 Văn hóa Sa Huỳnh

2.4.1 Những mối quan hệ văn hoá

Không tính những địa điểm đã biết từ trước ngày giải phóng Miền Nam, những

địa điểm quan trọng mới được phát hiện và khai quật bao gồm: Tam Mỹ, Đại

Lãnh,Quế Lộc, Phú Hoà, Suối Chồn, Bầu Hoè, Động Láng, Hòn Đỏ II, Pa Xua,

Tiên Hà, Phước Hải…

Đặc trưng của bộ di vật mới phát hiện đã cung cấp những nhận thức cụ thể

nhiều mặt về một giai đoạn hội tụ các dòng chảy để hình thành Sa Huỳnh đỉnh cao

thời kỳ này Các nhóm cư dân Sa Huỳnh không những phân bố dọc duyên hải miền

Trung mà còn phân bố ở các vùng trung du và miền núi vùng Quảng Nam, Đà

Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định Địa vực phân bố khác nhau đã tạo trong văn hoá Sa

Huỳnh một sự đa sắc văn hoá trong khối nền chung Sắc thái văn hoá núi đã dần

hiện lên như những nét độc đáo của văn hoa Sa Huỳnh bên cạnh các sắc thái biển

truyền thống Gần đây, khảo cổ học còn phát hiện các mộ chum ở Đak Lak, Gia

Lai và đặc biệt là di chỉ – mộ táng chum ở Lung Leng (Kon Tum)

Trang 18

Khác các di tích được phát hiện trước kia chỉ bao gồm các khu mộ táng, thực ra

phần lớn các di tích đã biết thường có khu cư trú liền kề

Đặc trưng chung của hiện vật trong các mộ táng cho thấy rõ kỹ thuật nông

nghiệp dùng cuốc, rìu đá của giai đoạn Long Thạnh và Bình Châu đã được thay thế

cơ bản bằng các công cụ sắt như cuốc, thuổng, liềm, dao

Hiện vật đồng trong giai đoạn hưng thịnh này ít được sử dụng để làm công cụ

mà được dùng để làm đồ trang sức và vũ khí như vòng, nhạc khí, rìu, giáo, qua

Đáng chú ý là đồ sắt không chỉ được sử dụng làm công cụ mà còn dùng làm vũ khí

như kiếm, giáo…

Đồ trang sức được phát triển hoàn mỹ, nhiều thể loại với chất liệu đá quý hiếm

như đá ngọc, mã não… Đồ thuỷ tinh đã ra đời và chiếm vị trí quan trọng trong kỹ

nghệ làm đồ trang sức như khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi…

Cách thức mai táng dùng vò chum vẫn là đặc trưng nổi nét, ngoài ra vẫn còn

tồn tại dạng mộ nồi, vỏ nhỏ Đặc trưng mộ vò đã có sự chuyển biến hình dạng,

không phổ biến loại hình trứng như trong giai đoạn sơ kỳ đồng mà phổ biến loại

hình trụ với nắp đậy hình nón cụt và loại mộ vò hình cầu đáy tròn

Với một số niên đại C14 có được ở Quế Lộc: 2100năm ± 50 năm cách ngày

nay, ở Hàng Gòn: 2100 năm ± 150 năm ; 2190năm ± 150; 2300năm ± 150 năm

cách ngày nay, ở Phú Hoà (Đồng Nai): 2590năm ± 290; 2400năm ± 140 năm cách

ngày nay, chúng ta có thể xem giai đoạn sơ kỳ sắt này của văn hoá Sa Huỳnh tồn

tại trong khoảng thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến đầu Công nguyên

2.4.2 Con người và cuộc sống

Có thể khẳng định rằng cư dân thời đại kim khí ở Việt Nam là cư dân nông

nghiệp Cư dân Phùng Nguyên – Đông Sơn, Cầu Sắt – Dốc Chùa là những cư dân

làm nông trên các dải đồng bằng châu thổ Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cả, sông

Đồng Nai Họ là những cư dân trồng lúa nước Chứng tích khảo cổ học, cổ thực vật

học đã nói lên điều đó Địa hình phân bố của cư dân Sa Huỳnh chủ yếu ở ven biển

nên cơ tầng kinh tế của người Sa Huỳnh là làm nông trên đồng bằng duyên hải

Các khu cư trú của người Sa Huỳnh nằm ven các cửa sông gần biển, các đầm nước

ngọt ven biển Với các lớp văn hoá dày, có nơi tới 2m, chứng tỏ họ đã tụ cư liên

tục, ổn định và gắn quyện với nhau thành một khối cộng đồng Trong giai đoạn văn

hoá sớm, họ đã sử dụng công cụ đá như cuốc, rìu, dao… Nền nông nghiệp dùng

cuốc đã chi phối toàn bộ cơ tầng kinh tế của cư dân Sa Huỳnh từ sớm tới muộn Chỉ

khác là ở giai đoạn phát triển hưng thịnh nhất, cuốc sắt đã ra đời và tạo nên bước

ngoặt lớn trong nông nghiệp

Trang 19

Đồ sắt trong giai đoạn này chủ yếu là công cụ sản xuất như cuốc, thuổng, liềm,

dao, rìu Công cụ sản xuất bằng đá đã mất hẳn vị trí như trước đây và bóng dáng

của chúng không còn in đậm trong nội dung văn hóa giai đoạn này

Chúng ta chưa phát hiện được các hạt lúa nguyên dạng trong văn hoá Sa

Huỳnh nhưng trong gốm Sa Huỳnh có pha trấu Rõ ràng lúa là thành phần cây

lương thực chính Hình vẽ về cây lúa còn in dấu trên gốm Bình Châu như một mô

típ hoa văn Hình bông lúa cũng là một biểu tượng quen thuộc của gốm Sa Huỳnh

Ngoài lúa, có thể có một số cây lương thực khác như khoai, sắn, lạc, đậu.v.v mà

đất phù sa cát rất thích ứng cho việc canh tác những loại cây trên Có thể cây lấy

sợi như bông, đay, gai vẫn được cư dân Sa Huỳnh trồng để phát triển nghề dệt sợi

Các dọi xe sợi đã nói lên sự phát triển của nghề thủ công này trong văn hoá Sa

Huỳnh

Người Sa Huỳnh có nghề gốm rất phát triển Các chum gốm lớn, các bình vò

có hoa văn đẹp chứng tỏ kỹ thuật và óc thẩm mỹ của người Sa Huỳnh rất cao trong

việc chế tác gốm

Người Sa Huỳnh cũng biết chế tạo đồng thau để làm công cụ, vũ khí và đồ

trang sức Nghề luyện kim đồng thau không phải từ nơi khác du nhập vào Sa Huỳnh

mà chính do người Sa Huỳnh sáng tạo và làm ra Cư dân Bình Châu, Bàu Trám đã

biết tới kỹ nghệ này Trong các khu cư trú và mộ táng giai đoạn này chúng ta đã

phát hiện được nồi nấu đồng, khuôn đúc, xỉ đồng và hiện vật đồng Tuy nhiên sự

phát triển của nghề luyện kim đồng thau không thể so sánh được với Đông Sơn và

Dốc Chùa Do vậy, cư dân Sa Huỳnh đã trao đổi và du nhập sản phẩm đồng thau

của Đông Sơn và Đồng Nai

Nổi bật hơn ở Sa Huỳnh là nghề rèn sắt Hàng loạt đồ sắt Sa Huỳnh đã nói lên

điều đó Ngoài việc rèn sắt, tài liệu ở khu mộ Đại Lãnh đã cho ta thấy người Sa

Huỳnh còn biết đúc gang Đồ sắt Sa Huỳnh không những được dùng ở Sa Huỳnh

mà dựa vào thế mạnh này cư dân Sa Huỳnh đã trao đổi buôn bán với các cư dân

khác Nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ Philippines đã cho đồ sắt có mặt trong văn

hoá sơ kỳ sắt ở khu vực này có nguồn gốc từ Sa Huỳnh và có mối quan hệ mật

thiết với Sa Huỳnh Chắc chắn đồ sắt Sa Huỳnh, bằng việc trao đổi, buôn bán trên

biển và đất liền, đã đến nhiều khu vực khác nữa

Thành tựu lớn của người Sa Huỳnh là biết nấu thuỷ tinh để làm đồ trang sức

như vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi với nhiều kiểu loại, trong đó đặc sắc nhất là

khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai ba mấu nhọn Những loại khuyên tai này được

các cư dân Đông Nam Á rất ưa chuộng Sự có mặt của chúng ở nhiều khu vực khác

nhau ở Đông Nam Á đã nói lên điều đó Trong văn hoá Đông Sơn, khu mộ Làng

Vạc (Nghệ An) chứa nhiều đồ thủy tinh nhất, trong khi đó ở các nới khác rất hiếm

Trang 20

gặp Chính trong khu vực này cũng phát hiện được chiếc mấu nhọn của loại khuyên

tai ba mấu Sa Huỳnh

Buôn bán trao đổi cũng là một nghề nghiệp Buôn bán nói lên mối giao tiếp

văn hoá, mối quan hệ tộc người, ngôn ngữ Một cư dân có nền văn hoá phát triển

phải có nghề buôn bán phát đạt Hàng hoá, sản phẩm là chỉ số đo một nền văn

minh Có hàng hoá mới có buôn bán trao đổi Cư dân Sa Huỳnh đã làm ra sản

phẩm, hàng hoá để thực hiện công việc này Hàng hoá, sản phẩm của người Sa

Huỳnh là đồ sắt, đồ thuỷ tinh, đồ gốm với kỹ thuật và mỹ thuật cao Người Sa

Huỳnh có quan hệ buôn bán với người Việt cổ ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, với cư

dân lưu vực sông Đồng Nai Bằng đường biển họ đã tới Philippines, Indonesia,

Malaysia, Hương Cảng và có thể còn đi xa hơn Buôn bán ở đây hàm nghĩa các

nhóm, các hội buôn nhỏ làm thành những đường dây liên hệ văn hoá Ngưới Sa

Huỳnh cũng đã mang về quê hương họ những sản phẩm của các văn hoá láng

giềng và những đặc sản từ các nơi xa Đồ đồng Đông Sơn, đặc biệt là trống đã có

mặt ngay trong địa bàn Sa Huỳnh Sản phẩm văn hoá Dốc Chùa cũng xuất hiện

trong văn hoá Sa Huỳnh như ở Suối Chồn, Bàu Hoè (đồ đồng) Vai trò của buôn

bán có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển văn hoá của các cư dân Đông

Nam Á Giáo sư Hutteer, nhà nghiên cứu nổi tiếng người Mỹ về khảo cổ học Đông

Nam Á đặc biệt nhấn mạnh yếu tố này Ông viết :”…Hoạt động buôn bán đóng vai

trò lớn trong sự phát triển văn hoá ở Đông Nam Á và làm động lực gián tiếp để

biến đổi văn hoá”

Bên cạnh cuộc sống vật chất đa dạng của cư dân Sa Huỳnh, người Sa Huỳnh

cũng có đầu óc thẩm mỹ cao, một nền nghệ thuật phát triển Họ cũng là những cư

dân có những yếu tố tâm lý riêng, phong tục, nghi lễ riêng trong cái nền chung của

khối cộng đồng cư dân Đông Nam Aù thời đại kim khí

Tư duy thẩm mỹ được khắc hoa trong nghê thuật trang trí gốm Sa Huỳnh là sự

chắt lọc những nét đẹp của thiên nhiên để đưa vào sáng tác nghệ thuật Đó chính là

sự đồng điệu sâu sắc giữa con người và môi trường sống mà họ đã gắn bó, rung

động và đồng cảm với nó trong suốt cuộc đời Do vậy, cốt lõi của nghệ thuật Sa

Huỳnh là miêu tả thiên nhiên mà chủ yếu là biển cả Biển đã ăn sâu vào tiềm thức

người Sa Huỳnh và họ đã không khó khăn gì khi thể hiện nó Ngôn ngữ thể hiện ở

đây cho ta thấy được từng trạng thái của thiên nhiên, lúc hiền lành, lúc dữ tợn Khi

thể hiện lúc biển lặng sóng yên, chúng ta thấy hoa văn trên đồ gốm là các băng

chính nằm ngang Khi biển sóng nhẹ, các băng chính chuyển thành các làn sóng

thấp lăn tăn, khi biển hung dữ, các băng làn sóng thay đổi biên độ dao động, lúc

xuống thấp, lúc lên cao, lúc vờn đuổi nhau, lúc quật vào nhau tung toé bọt nước

Ngoài ra, thủ pháp biểu hiện chủ đề sóng toé còn dồn vào biểu hiện sự chuyển

Trang 21

động của sóng: lúc miêu tả sóng di chuyển dữ dội vào bờ, lúc thể hiện sóng đổ ụp

vào nhau …Cần lưu ý rằng, nội dung biểu hiện của các băng hoa văn trong một đồ

án trang trí đều gắn bó với nhau theo một chủ đề chính Nếu như băng hoa văn

chính thể hiện sự hung dữ của biển cả thì các băng hoa văn phù trợ cũng biểu hiện

nội dung như vậy Cư dân Sa Huỳnh là những người nắm chắc được sự thống nhất

giữa hình thức và nội dung mà đặc biệt trong nghệ thuật trang trí, hai yếu tố đó là

một cặp phạm trù không thể tách rời được

Tư duy thẩm mỹ của người Sa Huỳnh trong các giai đoạn sớm, thời kỳ đồng

thau, dồn vào đồ gốm thì đến giai đoạn muộn dồn vào chế tạo đồ trang sức

Khuyên tai hai đầu thú là một sự sáng tạo đặc sắc của người Sa Huỳnh Những tiêu

bản khuyên tai hai đầu thú còn chế tác dở ở Đại Lãnh cho ta thấy tính bản địa của

chúng Hai đầu thú ở đây, có khả năng là đầu dê, thể hiệnù sắc thái văn hoá trung

du Sự hoà đồng văn hoá núi – biển trong giai đoạn sắt sớm văn hoá Sa Huỳnh diễn

ra mạnh mẽ Khuyên tai hai đầu thú với tính cách điệu cao thể hiện phong cách

nghệ thuật điêu khắc đá của cư dân Sa Huỳnh, đồng thời cũng biểu hiện thế giới

quan của của người Sa Huỳnh Sinh vật, vũ trụ tồn tại được nhờ kết hợp giữa các

cặp đối lập âm dương, trống mái, nước lửa… Đây chính là quan điểm phồn thực

của cư dân Sa Huỳnh

Khuyên tai hai đầu thú Sa Huỳnh làm chúng ta liên tưởng đến nghệ thuật trang

trí trong văn hoá Xít ở Bắc Biển Đen Mẫu hình động vật trang trí là những cặp đôi

cách điệu giống khuyên tai Sa Huỳnh Hẳn trong thời đại sắt sớm, các cư dân cổ

trên thế giới đã có môi giao tiếp văn hoá rộng rãi Đặc biệt bằng đường biển họ đã

vươn tới nhiều miền xa xôi ngoài sức tưởng tượng của chúng ta hiện nay Tài liệu

khảo cổ chỉ nói lên một phần nhỏ mối giao tiếp văn hoá này

Nghệ thuật Sa Huỳnh còn toát lên cho chúng ta những sắc thái tâm lý riêng

của cư dân Long Thạnh - Sa Huỳnh Họ là những cư dân ưa chuộng màu sắc tươi

mát của tự nhiên Màu vàng, trắng, đỏ của đồ gốm, màu xanh nước biển của thuỷ

tinh, màu đen ánh chì của hoa văn gốm Tất cả hội tụ lại đã nói lên một cuộc sống

nội tâm của người Sa Huỳnh, bộc lộ sự tươi mát, giản dị và yêu tự nhiên

Cư dân Sa Huỳnh có phong tục mai táng trong vò, chôn trên các cồn cát, cồn

đất ven biển, ven sông, gần hoặc ngay trong nơi cư trú Hiện nay chúng ta chưa có

nhiều cứ liệu để xác định đó là tục cải táng, hỏa táng, chôn nguyên hay chôn từng

bộ phận tử thi Chắc chắn một điều là một bộ phận trong đó dùng để mai táng trẻ

em nguyên tử thi, tức là chôn lần đầu

Tục mai táng trong vò của người Sa Huỳnh – chôn đứng, có nắp đậy, là một

trong những truyền thống mai táng nổi bật ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở hải đảo

Đông Nam Á trong thời đại kim khí Trong giai đoạn hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng

Trang 22

thau và muộn hơn, mộ vò ở Đông Nam Á có phong cách chôn nguyên và cải táng

Đến giai đoạn sắt sớm và muộn hơn, tục hoả táng lan rộng ở Đông Nam Á từ các

trung tâm văn minh Trung Quốc, Ấn Độ và vò gốm được dùng rộng rãi để thực

hiện nghi lễ này Trong các mộ táng Sa Huỳnh, chúng ta không tìm thấy mộ nào

chứa đựng nguyên xương cốt người lớn hoặc xương cốt bị đốt cháy Việc hỏa táng

của các khu mộ Sa Huỳnh trong bối cảnh Đông Nam Á cùng thời có thể bị loại trừ

Tài liệu của các khu mộ vò ở Philippines, Triều Tiên, Indonesia, Ấn Độ, Trung

Quốc, Malaysia… thời đại đồng thau - sắt sớm đã nói lên điều này Dẫu sao các vò

táng Sa Huỳnh, kể cả chum lớn, cũng khó mà tin được là để dùng cho việc chôn

nguyên thi thể người lớn Việc bố trí đồ tuỳ táng, đặc biệt là đồ gốm trong mộ cho

thấy không có tục chôn nguyên người lớn trong vò Các bình gốm tuỳ táng đều

được đặt trong vò với tư thế đứng ở đáy phần lớn còn nguyên dạng không bị vỡ nát

Do vậy không có thể chôn người chết ngay trên các bình gốm tuỳ táng Việc không

có xương người lớn cũng nói lên điều này

Tuy nhiên trong các khu mộ Sa Huỳnh chúng tôi không hề thấy khu mộ nào

chôn nguyên tử thi Do vậy khả năng cư dân Sa Huỳnh “trả” tử thi về với thần biển

có thể hợp lý Đây là quan niệm và tập tục mai táng của cư dân vùng biển ở nhiều

khu vực trên thế giới vẫn còn tồn tại đến ngày nay Cuộc sống của họ luôn luôn

gắn với biển, phụ thuộc vào biển, vì vậy họ tôn thờ Thần Biển Đưa người chết về

với biển có nghĩa là hoàn thành một vòng luân hồi của tạo hoá: Con người tự nhiên

sinh ra và trở về với tự nhiên (biển) Những ngôi mộ vò trên mặt đất là những mái

nhà hoặc các ngôi mộ tượng trưng để các linh hồn có chỗ trú ngụ trên quê quán Vì

thế, không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà chúng ta thấy các mộ Sa Huỳnh tập

trung theo từng nhóm, nằm thẳng hàng trật tự trên cùng một bình diện địa tầng và

đôi chiếc còn có lỗ thủng nhân tạo ở đáy vò như ô cửa để linh hồn vào ra Còn trẻ

thơ thì được chôn nguyên trong vò vì chúng còn non dại cần được sự che chở của

người lớn, do vậy chúng thường được chôn ngay trong nơi cư trú Quan niệm này và

tục mai táng này vẫn còn thực hành ở nhiều nơi trên thế giới, ví dụ như ở

Philippines

Trong văn hoá Ngưỡng Thiều (Trung Quốc), mộ vò được xem như mộ chôn

người chết không lành, tức là mộ của những người chết trôi, chết cháy, chết ngã,

chết chém… Do quan niệm người chết không lành thì linh hồn họ cũng ác nên mộ

vò được chôn riêng cách xa khu mộ của thị tộc để khỏi làm hại linh hồn người cùng

dòng họ Táng tục mộ vò hẳn có quan hệ với cư dân Nam Đảo Địa bàn phân bố

mộ vò ở Đông Nam Á cũng nằm trong khu vực cư trú của người Nam Đảo khu vực

này

Trang 23

*

* * Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có nhiều tư liệu khảo cổ học để chứng minh mối

quan hệ tiếp nối giữa người Sa Huỳnh và cư dân Chăm Pa Tuy vậy, bằng sự liên

tục không đứt quãng về thời gian, sự trùng hợp về không gian phân bố, nhiều nhà

nghiên cứu cho rằng chính người Sa Huỳnh, từ khi tiếp xúc, du nhập văn hóa Aán

Độ, đã xây dựng nên vương quốc cổ Chăm Pa

Trang 24

CHƯƠNG HAI

THỜI ĐẠI KIM KHÍ

Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ- VĂN HÓA ĐỒNG NAI

1 LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU

Vùng lưu vực sông Đồng Nai ngày nay cũng được gọi là vùng Đông Nam

bộ, bao gồm các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa,

Vũng Tàu, một phần Lâm Đồng, Bình Thuận, Long An và Thành phố Hồ Chí

Minh

Khu vực này có diện tích tự nhiên khoảng 2.448.000 ha, độ cao trung bình

so với mặt biển khoảng 100 – 200m, khí hậu nóng ẩm, ánh sáng nhiều, thời tiết

thuận lợi, hầu như không có bão

Đây là một vùng thổ nhưỡng cơ bản thuộc đất phù sa cổ Theo các nhà địa

chất, vào khoảng đầu Kỷ thứ ba và Kỷ thứ tư (tức đầu Pliocene hay đầu đại

Tân sinh) trên diện tích tương ứng với đồng bẳng Nam Bộ hiện nay đã bắt đầu

hình thành một vùng trũng rộng lớn Từ đó, các thành tạo địa chất của Kỷ thứ

ba và Kỷ thứ tư dần dần lấp đấy vùng trũng này, tạo nên một trầm tích dầy

Đây chính là đồng bằng Nam Bộ màu mỡ và trù phú hiện nay

Trong buổi đầu thời Toàn tân, khi sông Cửu Long chưa đổi dòng, bậc thềm

phù sa cổ này hình thành nên một vòng cung rộng lớn từ Vũng Tầu đến Hà

Tiên Bước vào thời đại đồng thau, con người từ những vùng trước núi bắt đầu

tràn xuống chiếm lĩnh đồng bằng, đặt chân lên các giồng đất, tạo lập căn cứ để

làm chủ vùng đồng bằng rộng lớn mà ngày nay được gọi là vùng Tây Nam Bộ

Chúng ta đã khai quật các di tích An Sơn , Lộc Giang, gò Cao Su, Rạch Núi

trong số hàng chục di tích được phát hiện ở Long An Các mỏ đồng nguyên

thủy ở Bảy Núi, Phú Quốc cũng đã được lưu ý khảo sát bước đầu Trong đó nổi

bật hơn cả có lẽ là cụm di tích Óc Eo, thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long

rộng lớn

Xu thế con người tràn xuống chiếm lĩnh đồng bằng rộng lớn là nội dung

chủ yếu của thời đại đồ đồng và sơ kỳ thời đại đồ sắt, cách ngày nay từ trên

dưới 4000 năm đến đầu Công nguyên

Trang 25

Về mặt địa lý, miền Đông Nam Bộ có dạng bậc thềm rõ rệt, địa hình cao

nhất không quá 500m, trong đó khoảng 60% diện tích có độ cao dưới 100 m,

bao gồm dạng hình cao nguyên, núi thấp, đồi lượn sóng, bậc thềm sông và

biển Khí hậu khu vực này chủ yếu nóng , ẩm, lượng mưa lớn Hệ thống thủy

văn bề mặt với các con sông Đồng Nai, Sài Gòn, La Ngà, Sông Bé, Vàm Cỏ

Đông và Vàm Cỏ Tây tạo thành hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn phân cách

địa hình Đông Nam Bộ

2 DI TÍCH VÀ DI VẬT

2.1 Đặc điểm phân bố và cấu trúc di tích

Các di tích thuộc thời đại kim khí được biết đến, chủ yếu nằm trong vùng hạ

lưu sông Đồng Nai, thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và thành phố

Hồ Chí Minh

Các di tích này nằm trong vùng đất đỏ trung du, bên các thềm phù sa cổ, các

doi đất cao ven sông suối, ven theo các bờ biển cổ trong vùng đồng bằng thấp

thành tạo muộn… có độ cao không đều nhau, từ 1m đến 150m so với mặt biển như

Cái Vạn, An Sơn, Rạch Núi…(vùng thấp) Hưng Thịnh, Suối Chồn, Cầu Sắt, Phước

Tân…(vùng cao)

Mật độ phân bố của các di tích này khá đậm đặc và gần gũi nhau Cũng giống

như các di tích cùng thới vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, các di tích ở Đông

Nam bộ có diện tích cư trú khá lớn, thậm chí rất lớn, đến hàng vạn mét vuông (như

Cầu Sắt, Bến Đồ) hay hàng chục vạn mét vuông (như Cái Vạn…)

Ở lưu vực sông Đồng Nai, cũng có mặt đầy đủ dạng hình di tích Có những di

chỉ cư trú (Cầu Sắt, Bến Đò, ND11…), có những di tích vừa là di chỉ cư trú, vừa là

khu mộ táng (Suối Chồn, Dốc Chùa, An Sơn, Rạch Núi…) có di tích là công xưởng

chế tác (Bưng Bạc, Suối Linh, Đồi Phòng Không, Mỹ Lộc…)

Về cấu trúc, các di tích khảo cổ học khu vực này cũng khá đa dạng, độ dày

mỏng của tầng văn hóa khảo cổ không đều nhau Có di tích chỉ có một tầng văn

hoá (Cầu Sắt, Bến Đò, Hội Sơn, Ngãi Thắng…), có di tích có nhiều tầng văn hoá

sớm muộn khác nhau (Dốc Chùa, An Sơn…) Độ dày tầng văn hoá mỏng nhất

0,40m (Gò Đá), dày nhất từ 3m đến 5m (Bình Đa, Rạch Núi, An Sơn) Một địa tầng

tích tụ dày, xen kẽ các lớp cứng, mềm, màu sắc không đồng nhất là một đặc điểm

phổ biến của các di chỉ tiền sử miền Đông Nam Bộ nằm ở phức hệ địa lý - văn hoá

Trang 26

a, b Đó là các di chỉ Rạch Núi, Lộc Giang, An Sơn, Cổ Sơn Tự, gò Ô chùa (Long

An), Dinh Ông (Tây Ninh), Bình Đa (Đồng Nai) và Dốc Chùa (Bình Dương)

Cấu tạo địa chất đồng bằng Nam Bộ không thuần nhất là điều kiện tạo nên sự

đa dạng trong cấu tạo tầng văn hoá trong các di tích khảo cổ ở nơi đây Những di

tích nằm trong vùng thấp kề bên vùng sình lầy ven biển chưa được bồi tụ (Cái Vạn,

An Sơn, Rạch Núi) tầng văn hoá là loại đất phù sa pha cát mịn Ở di tích Rạch Núi,

trong lớp sinh thổ còn thấy những tích tụ cát sét lẫn tàn tích thực vật vùng đầm lầy

Ngược lại, các di tích nằm trong vùng đất đỏ badan, tầng văn hoá là loại đất badan

có lẫn sỏi sạn rắn chắc như Suối Chồn, Hưng Thịnh, Cầu Sắt, Phước Tân…với nền

đất là phong hoá của cao nguyên badan của khu vực này

Trên vùng ven biển, các di chỉ như Bưng Bạc, Bưng Thơm, Cái Lăng… thuộc

loại hình tích tụ văn hoá là bùn đất sình lầy, nhiều cọc gỗ, tầng văn hoá mỏng

nhưng diện tích khá lớn, dấu tích của rừng ngập mặn nhiều thiên kỷ Nhưng gần kề

đó, qua vịnh Gành Rái là hơn 20 di tích vừa là di chỉ cư trú và mộ chum (Giống

Phệt, Giồng Cá Vồ, Giồng Cá Trăng, Lý Nhơn, Giống Cây Keo…) cùng đa số là

các di tích Oùc Eo như Giồng Am, Giồng Đất Đỏ, Giồng Bảy Liếp, Giồng Cháy,

Giống Ông Mai… đều là các đồi sót đất đỏ badan nằm trong vùng cửa sông sình

lầy ngập mặn

2.2 Đặc trưng di vật

Những cuộc điều tra, thám sát và khai quật đã đưa lên khỏi lòng đất một khối

lượng lớn, hết sức phong phú những hiện vật khảo cổ học, bao gồm đủ các loại chất

liệu, đá, đồng,sắt, gốm, xương….Việc nghiên cứu những hiện vật này sẽ giúp cho

việc xác lập một bản sắc văn hoá riêng ở khu vực này

Đồ đá

Nét nổi bật khi nghiên cứu các di tích khảo cổ học thời đại kim khí miền Đông

Nam Bộ chính là bộ hiện vật đá hết sức to lớn phát hiện trong các di chỉ Địa điểm

khảo cổ học Phước Tân chưa được khai quật nhưng qua vài lần khảo sát từ năm

1969 đến năm 1975 đã phát hiện gần 3000 di vật đá Cho đến nay, chung ta chưa

thấy một địa điểm khảo cổ nào ở Bắc Bộ và Trung Bộ lại có khối lượng đồ đá lớn

như vậy Ở Gò Đá (Mỹ Lộc) “Trong vòng nửa tiếng đồng hồ” Holb đã nhặt được

100 chiếc rìu đá Trong hàng loạt các địa điểm khác như Hội Sơn, Ngãi Thắng, Cù

Lao Rùa, Suối Linh, Đồi Phòng Không…cũng tìm được số lượng lớn công cụ đá

Nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành những so sánh số lượng hiện vật đá trên 1m2

Trang 27

giữa các di chỉ khảo cổ vùng Đồng Nai với các di chỉ khảo cổ thuộc văn hóa Phùng

Nguyên và Gò Mun ở Bắc Bộ và đều nhận thấy rằng mật độ phân bố các di vật ở

các di chỉ phía Bắc thấp hơn các di chỉ phía Nam

Chất liệu dùng chế tác công cụ đá trong các địa điểm khảo cổ vùng Đồng Nai

chủ yếu là đá badan, một số ít hơn được chế tác từ đá granít Ở đây hầu như vắng

bóng loại đá ngọc Nephrit vốn được các cư dân vùng châu thổ Sông Hồng ưa

chuộng trong việc chế tác công cụ và đồ trang sức Kỹ thuật chế tác chủ đạo của cư

dân cổ Đồng Nai là ghè tạo dáng và mài hoàn chỉnh Người thời đại kim khí miền

Đông Nam Bộ ít sử dụng kỹ thuật khoan hơn người miền Bắc Trong chế tác công

cụ hay đồ trang sức, kỹ thuật cưa hầu như vắng mặt, việc ghè đẽo tạo phác vật

vòng dường như chiếm ưu thế hơn kỹ thuật khoan (di chỉ Đồi Phòng Không hay di

chỉ Bưng Bạc) Thủ pháp thường dùng để tu chỉnh lại công cụ đá là ghè nhỏ tạo lại

rìa lưỡi sau một thời gian sử dụng, rồi mài lại Chính thói quen này khiến cho di vật

công cụ có lưỡi tù, đầy vết tu chỉnh “thanh xuân hoá” rìa lưỡi Bước sang thời đại

đồ sắt, trình độ kỹ thuật hai vùng có những nét tiến bộ tương tự nhưng biểu hiện ra

cũng có những nét khác biệt Điều này, chủ yếu là do chất liệu quyết định

Về hình loại, bộ hiện vật đá vùng lưu vực sông Đồng Nai cũng hết sức đa

dạng Chúng ta gặp ở đây các loại rìu vai, rìu không vai, rìu tứ giác, bàn mài, đục

mũi nhọn, mai, cuốc kích thước lớn Trong phần lớn các địa điểm, bắt gặp loại dao

cắt, dao hái, đồ trang sức chủ yếu là vòng tay….Loại hình hiện vật chiếm số lượng

nhiều nhất, thể hiện một phong cách riêng của khu vực này trong bộ hiện vật đá là

rìu bôn với đặc trưng nổi bật là rìu bôn có vai Bên cạnh loại rìu bôn có vai là loại

rìu bôn không vai Tuy nhiên tỷ lệ giữa hai loại này có sự khác biệt Nghiên cứu số

lượng rìu bôn ở bốn địa điểm: Phước Tân, Bến Đò, Hội Sơn, Cù Lao Rùa, kết quả

cho thấy:

Trang 28

Phước Tân Bến Đò Hội Sơn Cù Lao Rùa Địa

điểm

Hiện

vật

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Qua bảng thống kê của 4 địa điểm tiêu biểu trên, rõ ràng chúng ta thấy ở các

địa điểm này, tuy có sự khác biệt về tỷ lệ nhưng đều phát hiện được cả hai loại rìu

bôn với một số lượng khá lớn Ở địa điểm Rạch Núi (Long An) kết quả khai quật

cho thấy loại rìu có vai bằng đá hầu như vắng bóng (chỉ phát hiện được một tiêu

bản ký hiệu O5 nhưng lại có cấu tạo đặc biệt, chưa thấy ở đồng bằng Nam Bộ)

Tuy nhiên, đây lại là nơi cho đến nay, phát hiện được nhiều nhất loại công cụ có

vai được chế tác từ mai rùa: 18 chiếc trong tổng số 25 hiện vật xương đã phát hiện

được ở đây Tuy nhiên, sự chênh lệch chỉ diễn ra ở các di chỉ có niên đại sớm như

Phước Tân, Bến Đò và giảm dần ở các di chỉ có niên đại muộn hơn sau này mà rõ

nét nhất là Cù Lao Rùa, Dóc Chùa, Đồi Xoài, Đồi Mít…

Rìu bôn có vai tìm được ở đây có nhiều loại khác nhau: vai ngang, vai xuôi,

rộng, hẹp…Chiếm số lượng nhiều hơn cả là loại rìu bôn vai xuôi Rìu bôn vai xuôi

tồn tại khá phổ biến ở các nền văn hoá đá mới muộn - đồng sớm Ở Thạch Lạc,

Bàu Tró cũng có loại rìu này Ở các địa điểm kim khí sớm vùng Đông Nam Bộ,

loại rìu này có cấu tạo chuôi dài, vuông cạnh, mặt cắt gần vuông Những yếu tố

này đã trở thành một đặc trưng độc đáo của vùng này Bên cạnh đó là loại rìu bôn

có vai nhọn cũng tìm được khá nhiều trong các địa điểm Cuộc khai quật Bến Đò

đã tìm được 14 chiếc loại này

Rìu bôn tứ giác ở các di chỉ vùng lưu vực sông Đồng Nai có cấu tạo khác hẳn

những hiện vật cùng loại vùng lưu vực Sông Hồng, Sông Mã

Trang 29

Nếu ở vùng lưu vực Sông Hồng, Sông Mã, rìu bôn tứ giác có dạng vuông hoặc

gần vuông thì ở đây, rìu bôn tứ giác lại có dạng hình thang rõ rệt, rìu có phần đốc

hẹp, lưỡi xoè rộng, chiều dài có khi lớn gấp 2 hay gấp 3 lần chiều rộng Có loại rìu

đốc thu hẹp gần như nhọn tạo cho rìu có dáng gần như hình tam giác, loại rìu này

hình như mới chỉ thấy ở các địa điểm có niên đại sớm và được coi như một đặc

trưng cho công cụ đá giai đoạn này với các địa điểm Cầu Sắt và muộn hơn, ở Bến

Đò, Phước Tân, Hội Sơn…

Tóm lại, loại hình công cụ rìu bôn vùng Đồng Nai chiếm một vị trí đặc biệt

quan trọng với sốlượng lớn và loại hình phong phú Nó trở thành một đặc trưng

hàng đầu khi nhận dạng diện mạo văn hoá nơi đây Điều cần lưu ý là loại rìu cónấc

tồn tại như một đặc trưng trong các địa điểm khảo cổ vùng ven biển và hải đảo

Đông Bắc nước ta, thì ở đây, chúng hầu như vắng bóng

Một đặc điểm quan trọng của công cụ đá vùng lưu vực sông Đồng Nai là loại

hình công cụ cuốc, loại công cụ có ý nghĩa rất lớn khi nghiên cứu hình thái kinh tế

của cư dân nơi đây thời tiền sử mà chung tôi sẽ đề cập đến ở phần sau Địa điểm

Rạch Núi, trong số 128 công cụ đá có 43 cuốc đá, địa điểm Gò Đá con số này là

27, Phú Lộc có 4 chiếc rất nguyên vẹn, Bình Đa có 15 chiếc tìm thấy trong cuộc

khai quật 1993, Bưng Thơm có 7 chiếc …Các địa điểm khác như Lộc Chánh, Cái

Vạn, Bến Đò, Phước Tân, Hưng Thịnh…cuốc đá cũng có mặt với một số lượng khá

lớn Đây là những chiếc cuốc có kích thước khá lớn (thường dài trên 15 cm), vai

vuông vắn, lưỡi được mài vát ở một mặt hoặc cả hai Lưỡi thường xoè rộng và có

dạng cong lồi

Đục đá cùng tìm được khá nhiều trong các địa điểm Đây là loại đục có lưỡi

sắc, hơi nhọn, chế tác khá sơ sài Phải thừa nhận rằng vào thời đại kim khí, cùng

với rìu bôn đá các loại, đục đá chiếm một vị trí quan trọng Cùng với nhóm rìu bôn,

nó hình thành nên bộ công cụ chủ đạo trong các hoạt động kinh tế

Đồ gốm

Nhìn chung, đồ gốm trong các địa điểm khảo cổ học ở đây chủ yếu được chế

tạo bằng bàn xoay mà dấu vết còn để lại khá rõ trên thành miệng hay ở núm nhọn

dưới trôn đồ đựng (Bến Đò, Cái Vạn, Mỹ Lộc) Bên cạnh đó, một số đồ gốm tìm

được ở Cầu Sắt, Rạch Núi cho thấy chúng được làm bằng phương pháp dải cuộn và

nặn bằng tay Mặc dù gốm đã được xoa lớp áo mịn, vẫn có thể nhận thấy vết dải

cuộn không phẳng đều và nhiều vết lõm của tay người thợ

Kiểu dáng gốm ở đây chủ yếu là các loại vò, nồi, bình, bát với nhiều loại kích

thước khác nhau Nồi vò là loại có đáy tròn, miệng loe xiên thẳng hoặc loe xiên

Trang 30

hơi lõm, trang trí văn thừng hoặc văn chải suốt từ cổ hoặc giữa vai xuống đáy Bình

gốm có rất nhiều kiểu dáng khác nhau Trong các di chỉ Bình Đa, Suối Linh, An

Sơn, Lộc Giang, tồn tại một loại bình gốm có vai đắp nồi nhiều gờ hoặc một gờ,

miệng loe gãy, hơi lõm Thân hình trụ hơi thon vào và không hoa văn Để gần như

phẳng và có chân đế thấp đắp rời Trong các di chỉ mộ chum như Phú Hoà, Dầu

Giây, Suối Chồn, Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt thì loại hình đồ đựng bằng gốm, đặc

biệt loại bình gốm có nhiều kiểu loại

Tuy chưa tìm được loại hình gốm “chân giò” như ở vùng lưu vực Sông Hồng,

Sông Mã, nhưng đã phát hiện đựơc loại chân gốm hình ống tròn dài, loại hiện vật

kiểu miệng bò, kiểu “đèn”, những kiểu “phễu”, những thỏi đất nung giống chiếc

gậy nhưng đầu nhọn, những hiện vật có đế hình bốn cạnh Loại hình bếp đun nấu

(cà ràng) bằng gốm là một đặc trưng dộc đáo của người Việt cổ phương Nam Nếu

người Việt cổ miền Bắc dùng 3 ống đầu rau rời để bắc bếp đun nấu, thì người miền

Nam lại tạo bếp đun như dạng một cái chậu thấp, rất rộng miệng và có 3 vật “hình

lưỡi lợn” hay “hình sừng bò” gắn vào làm ống đầu rau Loại bếp này, có chân đế

và không chân đế, có thể dễ dàng sử dụng đun nấu trên thuyền gỗ, thuyền nan chứ

không chỉ trên nền sình lầy ngập nước

Loại mảnh gốm tròn có lỗ thủng ở giữa được phát hiện ở đây nhiều hơn so với

lứu vực Sông Hồng Ở An Sơn, phát hiện được 55 mảnh, Cầu Sắt có 12 mảnh trong

khi đó Gò Mun, Đồng Đậu, chỉ thấy một vài mảnh

Dọi xe sợi được phát hiện ở hầu khẵp các địa điểm thuộc thời đại kim khí, song

ở các tỉnh phía nam, chúng lại có số lượng rất lớn Dốc Chùa qua 3 lần khai quật,

phát hiện tới 295 chiếc

Bi gốm phát hiện được hầu như đều khắp ở các địa điểm khảo cổ thuộc những

thiên niên kỷ II, I trước Công nguyên, chúng đã tồn tại với một số lượng lớn ở Bến

Đò Công dụng của loại hiện vật này vẫn còn chưa có những ý kiến nhất trí Gốm

đáy nhọn ở Bến Đò đều được gắn chân đế Người xưa trên đất nước ta vào thời kỳ

này rất ưa thích loại dụng cụ có chân đế cao kiểu mâm bồng Vào cuối giai đoạn

đồng, người miền Đông Nam Bộ ưa thích chế tạo và sử dụng khuyên tai bằng gốm

các loại hình thoi lõm, hình thoi tròn gắn móc, hình trái lê, hình quả, hình hoa Các

di chỉ mộ chum như Phú Hoà, Suối Chồn, Dầu Giấy, Giồng Phệt, Giống Cá Vồ và

các di chỉ cư trú như lớp trên Dốc Chùa, Long Bửu, gò Cao Su…đã tìm thấy loại

trang sức gốm này, đặc biệt ở Giồng Cá Vồ đã tìm được tới hơn 200 tiêu bản

Hoa văn trang trí trên gốm ở khu vực này cũng gồm các loại văn thừng, văn

khắc vạch, văn chấm dải thành mảng…So với hoa văn trên đồ gốm vùng Sông

Hồng, hoa văn gốm ở đây có vẻ đơn giản hơn

Trang 31

Đồ đồng và đồ sắt

Để tìm hiểu đặc trưng của đồ đồng vùng lưu vực sông Đồng Nai, cần phải lưu

ý trước hết địa điểm khảo cổ học Dốc Chùa Trong hai mùa khai quật liên tiếp năm

1976 – 1977, từ Dốc Chùa, chúng ta đã có một bộ đồ đồng phong phú gồm 68 hiện

vật đồng với nhiều chủng loại khác nhau và tập hợp khuôn đúc đồng với 76 tiêu

bản Đây là số khuôn đúc đồng được tìm thấy nhiều nhất từ trước đến nay trên đất

nước ta

Về số lượng và hình loại, đồ đồng vùng lưu vực sông Đồng Nai ít ỏi so với

vùng lưu vực Sông Hồng, Sông Mã,….nhưng lại phong phú hơn đồ đồng ven biển

duyên hải miền Trung, trong văn hoá Sa Huỳnh

Giáo tìm được ở đây là loại giáo hình lá hay hình búp đa có thân rộng, sông

không nổi cao, mặt cắt ngang hình thoi hay hình bầu dục, họng tra cán ngắn, có mặt

cắt hình tròn Cả rìu và giáo đồng đều thuộc loại kích thước trung bình

Bộ đồ trang sức đồng cũng nghèo nàn về số lượng và hình loại Đồ trang sức

mới chỉ thấy ở một vài địa điểm như Dốc Chùa, Suối Chồn Đó là loại vòng tay có

mặt cắt hình bán nguyệt hay dẹt

Đồ thuỷ tinh

Đồ thuỷ tinh tìm được ở đây là loại vòng tay mặt cắt hình tròn, chữ D, khuyên

tai hai đầu thú, khuyên tai có ba mấu, khuyên tai mặt cắt tam giác và hạt chuỗi Đồ

thuỷ tinh được phát hiện nhiều trong các địa điểm mộ chum có đồ sắt như Phú Hoà,

Suối Chồn, Hàng Gòn, Giống Phệt, Giồng Cá Vồ…

Những di vật đặc biệt

- Qua đồng Long Giao

Vì tính chất đặc biệt của phát hiện này nên theo chúng tôi, cần tách riêng bộ

sưu tập qua đã phát hiện ở vùng lưu vực sông Đồng Nai (mà chủ yếu là bộ qua

đồng Long Giao) thành một phần riêng để xem xét

Qua Long Giao có kích thước lớn và rất lớn, nặng, chiều dài toàn thân bộ qua

30 - 70cm, nặng 0,8 - 2kg, toàn bộ hai mặt được trang trí văn hình học tinh xảo, cân

xứng giống hệt nhau Hoa văn trang trí là hoa văn các đường chữ S nối nhau hay

đối xứng, hoa văn chấm, khắc vạch, văn hình tam giác…đặc biệt chiếc qua mang

ký hiệu 83 KG-16 ở phần bảng có trang trí một núm tròn nổi với 12 tia hình tam

Trang 32

giác Những người trực tiếp nghiên cứu nhóm qua này đã chia toàn bộ qua thành 4

loại với nhiều kiểu khác nhau

- Mộ táng

Loại mộ đất ở các địa điểm Dốc Chùa, An Sơn, gò Ô Chùa, Rạch Rừng Đó là

loại mộ có huyệt, dạng gần hình chữ nhật, kích thước trung bình 1,50m - 3,00m dài,

1,50m - 2,00m rộng Các mộ thường được xếp đá tảng xung quanh, giữa có rải gốm

và đá cục nhỏ, nằm trong lớp đất sâu từ 1m -1,80m Phần lớn các mộ đều có chôn

theo hiện vật, số lượng hiện vật không đều nhau Mộ giầu có tới hơn 30 hiện vật,

mộ nghèo chỉ có 1,2 hiện vật Nhiều mộ phát hiện được dấu vết xương cốt, qua đó

nhận thấy tử thi trong tư thế nằm thẳng, chân tay duỗi

Loại hình mộ thứ hai là mộ vò gốm Đây là loại mộ mà áo quan là những

chum hay vò bằng gốm có kích thước lớn đã phát hiện ở Phú Hoà, Hàng Gòn, Dầu

Giây, Suối Chồn….Loại mộ này mới chỉ thấy ở các địa điểm có niên đại muộn

Hiện vật chôn theo được để bên trong vò gốm như giáo, rìu, kiếm, khuyên tai, hạt

chuỗi…được làm bằng sắt, đá, thuỷ tinh…

3 NIÊN ĐẠI VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ

Di chỉ khảo cổ học Cầu Sắt được coi là địa điểm tiêu biểu cho giai đoạn phát

triển sớm nhất của thời đại kim khí vùng lưu vực sông Đồng Nai Vết tích vật chất

đặc trưng cho giai đoạn văn hoá này là sự tồn tại của loại rìu đá có vai kích thước

nhỏ và trung bình với tỷ lệ lớn hơn hẳn những loại hình công cụ khác, sự phố biến

loại dao hái ghè đẽo hoặc mài, những công cụ mũi nhọn được chế tác từ mảnh

tước

Đồ trang sức có loại vòng đá kích thước nhỏ, mặt cắt ngang hình thang

Đồgốm chủ yếu được chế tạo bằng bàn xoay, một số được chế tạo bằng tay

nhưng có trình độ kỹ thuật cao, kiểu dáng phong phú, độ nung cao, thành gốm

mỏng… Chưa tìm được dấu vết kim loại, mộ táng của giai đoạn này

Về niên đại, trước đây, nhiều ý kiến cho rằng Cầu Sắt thuộc hậu kỳ thời đại đá

mới Gần đây, nhiều ý kiến đã không coi Cầu Sắt thuộc thời đại đá mới hoặc cho

rằng nó thuộc giai đoạn chuyển tiếp từ đá mới sang đồng thau Tuy nhiên, căn cứ

vào kỹ thuật chế tác đồ đá, người Cầu Sắt đã sử dụng thành thạo các kỹ thuật ghè

đẽo, cưa, mài và bàn xoay trong chế tạo gốm, có thể tương đồng với giai đoạn

Phùng Nguyên ở phía Bắc, thuộc phạm trù thời đại đồng Hiện nay, có người cho di

chỉ Suối Linh cũng thuộc giai đoạn này, và gọi là giai đoạn Cầu Sắt - Suối Linh

Trang 33

Giai đoạn phát triển tiếp sau là Bến Đò Đây là giai đoạn có thời gian tồn tại

khá dài và tập hợp nhiều địa điểm khảo cổ nhất

Ở giai đoạn này, những công cụ có kích thước lớn như cuốc, mai, các loại rìu

vai cũng với kích thước tương đối lớn, phát triển rất mạnh

Đồ trang sức là loại vòng hình đĩa có mặt cắt hình tam giác Nói chung cư dân

thuộc giai đoạn này đã tiếp thu và phát triển hoàn thiện truyền thống kỹ thuật chế

tác đá của người Cầu Sắt

Đồ gốm được chế tác hoàn tàn bằng bàn xoay gồm các loại bình, bát, đĩa, kiểu

dáng miệng phong phú vàkích thước khác nhau…Cũng chưa tìm thấy hiện vật đồng

ở giai đoạn này Các địa điểm tiêu biểu là Bến Đò, Phước Tân, Hội Sơn, Ngãi

Thắng, ND 11 Niên đại C14 ở địa điểm Bến Đò là 3040 năm ± 140 năm cách

ngày nay và 3000 năm ± 110 năm cách ngày nay

Tiếp theo Bến Đò là giai đoạn Cù Lao Rùa Ở giai đoạn này, đã hoàn toàn

vắng mặt loại dao hái và đục vốn có mặt rất nhiều ở giai đoạn Cầu Sắt và Bến Đò,

loại công cụ có vai kích thước lớn và rất lớn giảm mạnh và hầu như không thấy loại

cuốc, mai Loại công cụ không có vai tăng lên rõ rệt Đồ trang sức là loại vòng tay

mặt cắt hình bầu dục Bi gốm và dọi xe sợi tìm được rất nhiều Việc tìm thấy khuôn

đúc đồng và cả rìu đồng ở Cù Lao Rùa đã chứng tỏ cư dân ở đây đã biết luyện kim

và chế tác kim loại tại chỗ phục vụ cho đời sống của mình Địa điểm Gò Đá, Dốc

Chùa lớp dưới có thể coi là những di tích tiêu biểu Niên đại của giai đoạn này vào

khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên Những niên đại C14 của Dốc

Chùa: 3145 năm, sai số 105 năm và 2990 năm, sai số 105 năm cách ngày nay có

thể cho ta tham khảo

Giai đoạn phát triển thứ tư của thời đại kim khí nơi đây là giai đoạn Dốc Chùa

với các địa điểm tiểu biểu Long Giao, Suối Chồn và Dốc Chùa lớp trên

Ở giai đoạn này loại rìu bôn tư giác chiếm ưu thế tuyệt đối so với rìu bôn có

vai Bi gốm và dọi xe chỉ tiếp tục được phát hiện với số lượng lớn, xuất hiện nhiều

đồ gốm có kích thước lớn với loại miệng mép uốn cong ra ngoài Tồn tại loại vòng

trang sức mặt cắt hình chữ D

Đồ đồng đặc biệt phát triển và phong phú cả về số lượng va loại hình với các

loại rìu, giáo, lao, vòng trang sức, tượng động vật…Loại rìu đồng đặc trưng nhất là

loại rìu cân lưỡi cong hình hyperbol, một mặt phẳng, môt mặt lồi Bộ qua đồng đồ

sộ và đẹp cũng chưa nơi đâu có Đây cũng là giai đoạn chúng ta có một sưu tập

khuôn đúc đồng nhiều nhất trong cả nước, chứng tích của một nghề luyện kim bản

địa và hoàn thiện

Trang 34

Về niên đại, những địa điểm thuộc giai đoạn này đã bước vào thời đại sắt,

khoảng nửa sau thiên niên kỷ I trước Công nguyên, có thể tương đương thời kỳ văn

hoá Đông Sơn ở miền Bắc Có thể các địa điểm Bưng Bạc, Bưng Thơm cũng thuộc

giai đoạn này

4 ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN

Cuộc sống:

Mật độ đậm đặc các di tích trong vùng sông Đồng Nai cho thấy cư dân cổ nơi

đây vào thời kim khí đã có một cuộc sống khá ổn định Tầng văn hoá khảo cổ trong

các di tích khá dày, ở nhiều địa điểm, thậm chí rất dày Hiện vật phát hiện được

trong các địa điểm phong phú và đa dạng với nhiều loại chất liệu: đá, đồng, sắt,

gốm, xương, thủy tinh…

Chủ nhân các di tích trong lưu vực sông Đồng Nai thời đại kim khí là cư dân

nông nghiệp Nhận định này có căn cứ là tổ hợp nông cụ đã phát hiện được: đó là

khối lượng rất lớn những loại rìu bôn có vai hay tư giác, một tập hợp không ít loại

dao hái và dao cắt khá độc đáo và rất nhiều đồ đựng gốm có chức năng rõ ràng Họ

rất thành thạo trong kỹ thuật đồ đá và gốm nên đã tạo ra được những công cụ có

hình dáng ổn định, cân đối, có hiệu quả Đồ gốm mỏng nhưng có độ bền cao, gốm

được chế tạo bằng bàn xoay, có độ nung cao Ở giai đoạn Bến Đò, loại công cụ đá

có kích thước lớn phát triển rất mạnh, loại hình cuốc đá tìm được tìm rất nhiều…

Tuy nhiên, trong tất cả các địa điểm sớm cũng như muộn, hầu như không phát

hiện được loại công cụ cày vốn được phát hiện rất nhiều trong văn hoá Đông Sơn

ở miền Bắc cùng những chiếc nhíp có cấu tạo lưỡi kiểu răng liềm Tất cả những lý

do đó cho thấy nền nông nghiệp nơi đây thời tiển sử là một nền nông nghiệp dùng

cuốc nhưng đã ở vào trình độ cao

Phương thức hoạt động kinh tế quan trọng khác là khai thác, trong đó săn bắt

giữ vị trí đặc biệt, nhất là ở giai đoạn sớm Ở các địa điểm đã phát hiện nhiều than

tro với xương răng động vật lớn nhỏ như bò rừng, hàm lợn rừng, răng tê giác, mai

rùa, xương cá Rất ít xương răng động vật nuôi (chỉ mới có xương chó nhà, lợn nhà)

cho thấy chăn nuôi chưa phát triển mạnh để có thể vươn trở thành một hoạt động

kinh tế chính của đời sống

Trong các giai đoạn phát triển muộn hơn, bên cạnh nền nông nghiệp dùng cuốc

vẫn giữ vai trò chủ đạo, xuất hiện các nghề thủ công mang tính chất chuyên hoá rõ

rệt mà điển hình là các công xưởng chế tác ở Suối Linh, Đồi Phòng Không, Mỹ

Lộc, Bưng Bạc, Dốc Chùa…

Trang 35

Mỹ Lộc, một công xưởng chế tác công cụ đá, được coi là một trong những

điểm quan trọng nhất ở Đông Nam Á

Địa điểm Đồi Phòng Không được ghi nhận là xưởng chuyên sản xuất vòng tay

đá Nghiên cứu bộ đồ đá và tập hợp khuôn đúc đồng ở Bưng Bạc, chúng tôi đã coi

đây không chỉ là một xưởng chế tác đồ trang sức đá mà còn là nơi chuyên sản xuất

khuôn đúc đồng cung cấp cho nhiều nơi, như Dốc Chùa Việc phát hiện đàn đá

Bình Đa với những dấu tích chế tác tại chỗ cho thấy có một nghề thủ công sản xuất

loại nhạc cụ này Vết tích này còn thấy cả ở Gò Me, Đa Kai Địa điểm Bến Đò,

ngoài tính chất di chỉ, đây còn có thể gọi là một kho bi gốm

Ở Dốc Chùa, ngoài bộ khuôn đúc đồng chưa đâu sánh được, còn phát hiện

được một khối lượng dọi xe sợi cũng vào loại nhiều nhất từ trước đến nay là một

chứng liệu hết sức quan trọng để khẳng định sự tồn tại chắc chắn của nghề thủ

công dệt vải ở nơi đây

Sự có mặt của loại hình quả cân ở Dốc Chùa và nhiều nơi khác là tư liệu quan

trọng để nhận biết về một nền thương nghiệp ở nơi đây

Như vậy, Đông Nam Bộ thời tiền sử qua những chứng cứ khảo cổ học từ lòng

đất nơi đây cho thấy, mặc dù không có nhứng sưu tập lưỡi cày đồng thau lớn như

Cổ Loa (Hà Nội), chứng tích của một nền nông nghiệp dùng sức kéo vào thời văn

hoá Đông Sơn, cũng như không có bộ đồ đồng phong phú với những trống thạp, thố,

dao găm, rìu xéo…những sản phẩm của một nghề luyện kim đồng rực rỡ và hoàn

thiện, nhưng với sự có mặt của một khối lượng hết sức lớn những công cụ đá, của

bộ khuộn đúc đồng nhiều vào loại nhất Việt Nam, và Nam Đông Dương, của những

xưởng chế tác đá lớn…đã cho thấy sự tồn tại của một nền nông nghiệp dùng cuốc

ở trình độ cao

Sự có mặt của nhiều ngành thủ công nghiệp: chế tác đá, dệt vải, làm gốm, chế

tác thuỷ tinh không hẳn chỉ giữ vị trí phù trợ cho nông nghiệp Những dấu hiệu đó

cho thấy, vào thời đại kim khí, nơi đây đã có một sự phân công chuyên hoá ở một

trình độ nhất định Để chế tác những bộ khuôn đúc như Dốc Chùa, Bưng Bạc, để

chế tác những bộ đàn đá Bình Đa, Đa Kai…rõ ràng phải cần tới đội ngũ những thợ

thủ công lành nghề có kỹ thuật cao với những trang thiết bị kỹ thuật bảo đảm cho

công việc sản xuất Và do đó, cũng không loại trừ khả năng đội ngũ thợ thủ công

này đã tách khỏi hoặc hoàn toàn, hoặc một phần, các hoạt động nông nghiệp Để

khẳng định vấn đề này còn cần phải được nghiên cứu trên cơ sở các cuộc khai quật

khảo cổ học với phạm vi rộng lớn

Qua tìm hiểu bộ đồ đồng vùng lưu vựu sông Đồng Nai với những đặc trưng kỹ

thuật có thể thấy rõ ràng mặc dù có nhiều bóng dáng của đồ đồng Đông Sơn nhưng

Trang 36

về cơ bản, đồ đồng nơi đây vẫn mang nhiều nét riêng tiêu biểu cho một nền văn

hoá đồng thau - sắt sớm ở vùng này thời tiền sử

Trang 37

CHƯƠNG BA

VÀI NÉT ĐẶC TRƯNG HẬU KỲ ĐÁ MỚI –

SƠ KỲ KIM KHÍ NAM TÂY NGUYÊN

Nam Tây Nguyên gồm hai tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng Về cơ bản tương ứng

với các vùng địa lý: Núi thấp Chư Đjiu, Cao nguyên Buôn Mê Thuột, Cao nguyên

M’Đrắc, Bán hình nguyên La Súp, Trũng Krông Pách- Lắc( Thuộc phần nam khu

địa lý Đắc Lắc – Bình Phú); các vùng: Núi trung bình Chư Yang Sin, Cao nguyên

Đắc Nông, Cao nguyên Di Linh, Núi thấp Di Linh, Đồi Cát Tiên (thuộc khu cực

Nam Trung Bộ)

1 ĐẶC TRƯNG DI TÍCH

1.1 Đặc trưng phân bố di tích

Trong số các vùng địa lý đó, khảo cổ học tìm thấy dấu vết hậu kỳ đá mới – sơ

kỳ kim khí tìm thấy 19 địa điểm ở 5 vùng địa lý sau: Vùng cao nguyên Buôn Mê

Thuật (còn gọi là cao nguyên Đắc Lắc), bán bình nguyên Ia Súp, trũng Krông Pách

– Lắc Cao nguyên Đắc Nông và vùng đồi Cát Tiên

+ Tại vùng cao nguyên Buôn Mê Thuật đã phát hiện 2 địa điểm: Ea H’Leo và

Ea Kao Diện tích của vùng này rộng khoảng 3667 km2, giáp với cao nguyên Đắc

Nông và bán bình nguyên Ia Súp ở phía tây Đây là vùng cao nguyên basalte trẻ, ít

bị chia cắt, gợn sóng Độ cao trung bình 500 – 600m, hơi thoải dần từ bắc xuống

nam và từ tây sang đông

- Địa điểm EaH’Leo, nằm gần quốc lộ 14, xã EaH’Leo, huyện EaH’Leo, giáp

với huyện Ayunpa của tỉnh Gia Lai, nơi đầu của các nhánh suối đổ vào sông Ba Di

chỉ do Nguyễn Khắc Sử và Võ qúy xác minh đầu năm 2000 Tầng văn hóa mỏng,

bị xáo trộn nghiêm trọng Tại đây đã tìm thấy 1 mảnh tước và 7 rìu bôn đá mài

toàn thân (2 rìu vai xuôi, 3 rìu vai ngang, 1rìu tứ giác và 1 bôn hình răng trâu)

- Địa điểm Ea Kao, thị xã Buôn Ma Thuật do cán bộ Bảo tàng thu lượm được

trên mặt gồm 13 hiện vật đá và 3 đế đồ gốm Trước đó, cán bộ Bảo tàng Lịch sử

Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp cận di tích này và thu lượm được khá

nhiều đồ gốm, song chưa có thông báo chi tiết Tại đây đã thu thập được 13 hịên

vật đá, chủ yếu là rìu không có vai cùng với một số đồ gốm

Ngày đăng: 27/12/2013, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w