Ngoài ưu điểm không bị hạn chế bởi giới hạn địa lý, đào tạo từ xa còn có các ưu điểm sau: Thời khoá biểu mềm dẻo Thoát khỏi biểu thời gian ngặt nghèo của việc lên lớp hàng ngày, nhờ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHOA KHOA HỌC MÁY TÍNH
BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC VÀ E-LEARNING:
TP Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013
Trang 2Nhóm em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Kim Dung, Viện
nghiên cứu giáo dục, trường Đại học Sư Phạm TP.HCM đã tận tình hướng dẫn, cung
cấp kiến thức, truyền đạt những kinh nghiệm quí báu giúp nhóm em hoàn thành tốt bài
thu hoạch này
Xin cám ơn cha, mẹ, các anh, chị em trong gia đình đã hỗ trợ, lo lắng và động
viên Đồng thời, xin cám ơn tất cả các bạn lớp cao học khóa 06 đã ủng hộ, giúp đỡ
chúng tôi trong quá trình thực hiện bài thu hoạch này
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót,
nhóm em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy giáo, Cô giáo và các
bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn
Nhóm em xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2013
Nhóm học viên
Trang 3Hiện nay, công nghệ thông tin đã trở thành một môi trường không thể thiếu đối với con người Cùng với sự phổ biến của ngành công nghệ thông tin, ngành giáo dục cũng tận dụng sự phát triển này để làm phong phú thêm về các hình thức, phương pháp đào tạo nhằm hướng đến tạo sự thuận lợi trong công tác dạy và học, cắt giảm chi phí
Do các nhu cầu đó, đã có rất nhiều phần mềm ứng dụng cho giáo dục ra đời Trong các phần mềm này, đặc biệt nổi trội là các hệ thống quản lý học tập LMS và quản lý nội dung học tập LCMS, các hệ thống này là những hệ thống lớn, có chức năng phong phú
hỗ trợ gần như đầy đủ các tính năng cần thiết để xây dựng một hệ thống học tập trực tuyến
Để có góc nhìn tổng quát về các hệ thống phần mềm mã nguồn mở này, nhóm
đã chọn đề tài “Các phần mềm ứng dụng trong e-Learning” để nghiên cứu, lấy việc khảo sát hệ thống quản trị học tập (LMS) Moodle làm trọng tâm
Nội dung của đề tài bao gồm các phần chính sau:
Chương 1 - GIỚI THIỆU CÁC MÔ HÌNH ĐÀO TẠO SỬ DỤNG MÁY TÍNH: Tìm hiểu khái quát về các mô hình đào tạo có ứng dụng Công nghệ thông tin hiện nay
Chương 2 – NGHIÊN CỨU CÁC HỆ THỐNG E-LEARNING: Khảo sát các
hệ thống e-Learning chính, tiêu chí xây dựng, các thành phần cấu thành và
mô hình xây dựng và phát triển các hệ thống này
Chương 3 – PHẦN MỀM NGUỒN MỞ MOODLE: Chương này đi sâu vào
hệ thống Moodle, hướng dẫn người dùng cài đặt chi tiết, sử dụng cơ bản ở góc độ giảng viên và sinh viên Nhóm cũng đưa ra 2 hệ thống quản lý học tập nguồn mở khác là eFront và LRN, so sánh giữa 2 hệ thống này với Moodle
Chương 4 – CÁC HỆ THỐNG E-LEARNING MỞ NỔI TIẾNG: Giới thiệu đến người đọc các hệ thống e-Learning mở nổi tiếng nhất hiện nay bao gồm Coursera, edX và Udacity và một số hệ thống khác
Chương 5 – TỔNG KẾT: Tổng kết các kết quả đạt được và đưa ra nhận định chung về sự phát triển của e-Learning trên toàn cầu
Trang 4(Của giảng viên hướng dẫn)
Trang 5
1 Giới thiệu chung về các mô hình đào tạo sử dụng sử dụng máy tính 1
1.1 Mô hình huấn luyện có sự trợ giúp máy tính 1
1.2 Mô hình lớp học có sự trợ giúp của máy tính và mạng máy tính 1
1.3 Đào tạo từ xa 1
1.4 e-Learning 2
1.4.1 Một số định nghĩa e-learning thông dụng 3
1.4.2 Các kiểu trao đổi thông tin trong e-Learning 4
1.4.3 Đặc điểm của e-Learning 4
1.4.4 Phân loại e-Learning 6
1.4.5 Nghiên cứu các chuẩn e-learning 9
2 Nghiên cứu các hệ thống e-Learning 17
2.1 Hệ thống quản lý học tập (LMS) 18
2.2 Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS) 20
2.3 Các phương thức xây dựng hệ thống e-Learning 20
2.4 Mô hình tổ chức hệ thống cung cấp dịch vụ e-Learning phục vụ đào tạo nguồn nhân lực 21
2.5 Mô hình xây dựng và phát triển hệ thống 22
2.6 Mô hình vận hành 22
2.7 Các tiêu chí xây dựng phần mềm e-Learning 22
2.7.1 Các tiêu chí về Công nghệ Thông tin 22
2.7.2 Các tiêu chí về chuẩn nghiệp vụ 23
2.7.3 Các tiêu chí về tính năng nghiệp vụ 23
2.8 Cấu tạo một hệ thống e-Learning 27
2.8.1 Hệ thống đào tạo từ xa 28
2.8.2 Hệ thống quản lý nghiệp vụ 28
2.8.3 Hệ thống quản lý học viên 28
2.8.4 Hệ thống dịch vụ thông tin học viên 29
2.8.5 Hệ thống nhóm Groupware 29
2.8.6 Bộ phận xây dựng nội dung bài giảng 29
Trang 63.1 Hệ thống Moodle 34
3.2 Các chức năng của phần mềm Moodle 34
3.3 Hướng dẫn sử dụng Moodle 39
3.3.1 Cài đặt 39
3.3.2 Sử dụng các module dành cho giảng viên 44
3.3.3 Sử dụng các module dành cho học viên 49
3.4 So sánh Moodle với các hệ LMS mã nguồn mở khác 52
3.4.1 eFront 52
3.4.2 LRN 54
4 Các hệ thống e-Learning mã nguồn mở nổi tiếng 57
4.1 Coursera 57
4.2 edX 59
4.3 Udacity 60
4.4 Các hệ thống khác 61
5 Kết luận 62
Trang 71 Giới thiệu chung về các mô hình đào tạo sử dụng sử dụng máy tính
1.1 Mô hình huấn luyện có sự trợ giúp máy tính (CBT – Computer Basic
1.2 Mô hình lớp học có sự trợ giúp của máy tính và mạng máy tính
Khi mạng máy tính (PC) xuất hiện, đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi giá thiết
bị còn đắt, các mạng máy tính sử dụng máy trạm không có thiết bị lưu trữ riêng được
sử dụng tương đối phổ biến Dựa trên cấu trúc các mạng này, người ta đã thiết kế mạng cộng sinh dùng cho lớp học
Đặc điểm của các mạng loại này là sử dụng một hệ thống bus mạng dải thông rộng song song với hệ thống mạng quy ước Mạng song song này cho khả năng truyền tải dữ liệu multimedia khi dải thông của mạng quy ước thấp
Điển hình của loại mạng cộng sinh này là mạng WinSchool (đã được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1997) và HiClass (sử dụng ở Việt Nam từ 1999)
Ngày nay cùng với sự phát triển của mạng LAN tốc độ cao (mạng 100 Mbps, mạng Gigabit), các tính năng của mạng cộng sinh đã có thể được thực hiện bằng phần mềm (ví dụ NetOp School) thông qua bus mạng, không cần bus chuyên dụng
1.3 Đào tạo từ xa
Thuật ngữ “đào tạo từ xa” không phải là thuật ngữ mới Từ lâu, hệ thống đào tạo
từ xa qua thư tín thường sử dụng hệ thống bưu chính đã được triển khai ở nhiều nước Hình thức đào tạo từ xa cũng có thể tiến hành qua hệ thống truyền thanh/truyền hình
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông, hình thức đào tạo
từ xa đã có một một cơ hội khác để phát triển Từ năm 1994, tại một số nước công nghiệp như Canada, Mỹ các lớp học từ xa cho vùng sâu vùng xa đã được tiến hành qua hệ thống truyền hình trực tiếp sử dụng vệ tinh truyền thông Ngày nay, khi nói đến đào tạo từ xa, người ta thường hình dung đến một hệ thống sử dụng Internet và CBT để thực hiện công tác đào tạo Dần dần đào tạo từ xa được nhiều người hiểu đồng nhất với
Trang 8e-learning
Ngoài ưu điểm không bị hạn chế bởi giới hạn địa lý, đào tạo từ xa còn có các ưu điểm sau:
Thời khoá biểu mềm dẻo
Thoát khỏi biểu thời gian ngặt nghèo của việc lên lớp hàng ngày, nhờ đó học viên có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, vì thông thường ngay cả với các khoá học tiến hành qua hệ thống truyền thanh/truyền hình, các chương trình học cũng được phát lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian xác định
Nhờ vào các ưu điểm này mà đào tạo từ xa cũng như các phương thức làm việc
từ xa khác càng ngày càng thu hút được nhiều người sử dụng Ví dụ như tính đến năm
2006, chỉ riêng ở Mỹ đã có hơn 25 triệu người sử dụng các phương thức này (Paul & Gochenouer)
Tuy nhiên đào tạo từ xa nói riêng và các phương thức làm việc từ xa khác nói chung cũng có một số nhược điểm Về mặt hiệu quả đào tạo, nó khiến học viên khó phân định rạch ròi môi trường làm việc và môi trường sống, do đó ảnh hưởng đến thái
độ học tập Về mặt xã hội, nó có thể khiến học viên mất động cơ ra khỏi nhà, hoặc biến học viên trở thành người nghiện việc vì luôn luôn ở “nơi làm việc” Về mặt pháp lý, việc chuyền tay giáo trình và tư liệu học tập mà không có kiểm soát có thể dẫn đến các rắc rối về bản quyền và sở hữu trí tuệ
Trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, cộng với sự bùng nổ trong tất cả các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, thông tin, dịch vụ, con người hiện đại đang đứng trước một bài toán: họ cần giành nhiều thời gian cho công việc ở trường học, công
sở, nhưng mặt khác lại phải không ngừng nâng cao kiến thức, kĩ năng làm việc của mình, liên tục cập nhật thông tin mới của thế giới trên mọi phương diện, hay nói cách khác, “học, học nữa, học mãi”!
Sự phát triển của Internet đã làm nảy sinh khái niệm Learning Thuật ngữ Learning được sử dụng phổ biến hiện nay gắn liền với sự phát triển của Internet Đôi khi nó cũng được gọi là web-based learning, hoặc online learning Ngay trong tên gọi,
e-có thể thấy sự biến chuyển về nhận thức đối với việc học tập với sự trợ giúp của máy tính: từ “huấn luyện” chuyển sang “học tập” Tương ứng, từ “thầy giáo” và “học viên” hay “huấn luyện viên” và “người được huấn luyện”, chuyển sang “người chỉ dẫn” và
“sinh viên” (theo khái niệm của IMS, ADL, Cisco), hay “người giới thiệu” và “người tham gia” (theo khái niệm của HP)
E-learning là phương pháp đào tạo có sử dụng Internet và các phương tiện mang tin khác như CD-ROM hay DVD E-learning thường sử dụng cùng với Hệ thống Quản trị Học tập (LMS - Learning Management System, sẽ đề cập ở phần sau) Ở giữa LMS
Trang 9và nội dung đào tạo, người quản trị hệ thống có thể theo dõi quá trình học tập và kết quả của từng học viên E-learning có các ưu điểm sau:
Tham gia khoá đào tạo từ Internet, sử dụng trình duyệt Web
Cập nhật và phát tán nội dung tức thời
Hỗ trợ tự học đến mức tối đa
Có thể đo lường được kết quả học tập dễ hơn bất kỳ phương pháp đào tạo nào khác
Hỗ trợ cho cách đào tạo truyền thống
Tiết kiệm thời gian
Tạo môi trường đào tạo hấp dẫn nhờ tính tương tác giữa người học và bài học
Theo tổ chức Advanced Distributed Learning, thì e-learning có thể làm giảm chi phí đào tạo đến 60%, giảm thời gian giảng dạy/hướng dẫn đến 40%, và tăng hiệu quả giảng dạy/hướng dẫn đến 30% khi so sánh với các khoá học truyền thống do giảng viên/người hướng dẫn trực tiếp thực hiện
E-Learning có thể được thực hiện như một hình thức đào tạo từ xa sử dụng Internet, hoặc như một hình thức đào tạo tập trung sử dụng mạng máy tính cục bộ Ngoài các ưu điểm liệt kê ở trên, tuỳ vào môi trường áp dụng, e-Learning cũng có các ưu điểm
và nhược điểm truyền thống của phương thức đào tạo
1.4.1 Một số định nghĩa e-learning thông dụng
E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton)
E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc)
E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center)
Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT ) ( Sun Microsystems, Inc )
Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân ( e-learningsite)
"Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới e-learning
Trang 10trong doanh nghiệp)
1.4.2 Các kiểu trao đổi thông tin trong e-Learning
Một - Một: Kiểu trao đổi này thường diễn ra giữa :
Học viên với học viên
Học viên với giáo viên
Giáo viên với học viên
Một - Nhiều: Kiểu trao đổi này thường diễn ra giữa :
Giáo viên với các học viên
Học viên với các học viên khác
Nhiều - một: Kiểu trao đổi này thường diễn ra giữa :
Các học viên với giáo viên
Các học viên với một học viên
Nhiều - Nhiều: Kiểu trao đổi này thường diễn ra giữa :
Các học viên với các học viên
Các học viên với các học viên và giáo viên
1.4.3 Đặc điểm của e-Learning
Trang 11Bảng dưới đây là đánh giá về ưu điểm của e-Learning (Các bảng sau đây lấy từ kết quả điều tra của E-Learning Magazine Con số nêu trong các bảng này là tỷ lệ phần trăm số cơ quan trả lời Có, trên tổng số đối tượng điều tra.) Kết quả điều tra cho thấy các cơ quan áp dụng e-Learning đánh giá cao khả năng cho phép học viên tự học và cho phép sử dụng mọi lúc mọi nơi E-Learning cũng được coi là giúp tiết kiệm chi phí đào tạo trong cơ quan, nhất là các cơ quan chính phủ Các ưu điểm khác của e-Learning cũng được đánh giá với mức độ tương tự như nhau ở các cơ quan chính phủ và công ty
Tăng cường khả năng của giảng viên 25 25
Ưu điểm của e-learning (điều tra của E-learning Magazine) Tuy nhiên các trở ngại khi áp dụng e-Learning lại được nhìn nhận với một số khác biệt Trừ trở ngại về cơ sở hạ tầng Internet, tính tương tác và văn hoá, các trở ngại khác được xếp hạng không giống nhau giữa ba loại cơ quan Đối với các cơ sở chuyên đào tạo, mức độ khó khăn khi đo lường Hiệu quả Đầu tư được coi là thấp, trong khi các công ty lại coi đây là một trong các khó khăn tương đối đáng kể khi áp dụng e-learning
chính phủ
Cơ sở (chuyên) đào tạo
Trang 12Thiếu tương tác 42 42 30
Thiếu nội dung lôi cuốn 32 13 19
Hạn chế của trình duyệt 10 13 22
Khó khăn khi thực hiện e-learning (điều tra của E-learning Magazine)
Một hệ thống e-Learning có thể được mô hình hoá như sau:
Mô hình hệ thống e-Learning tổng quát
1.4.4 Phân loại e-Learning
Người ta chia e-Learning ra làm các loại như sau:
Trang 13 Các khóa học (Courses)
Học không hình thức (Informal learning)
Học hỗn hợp (Blended learning)
Các cộng đồng (Communities)
Quản trị tri thức (Knowledge management)
Học trên mạng (Networked learning)
Học theo công việc (EPSS)
Mô tả các loại hình e-Learning Như vậy một hệ thống e-Learning hoạt động theo nguyên tắc: trung tâm phát triển e-Learning sẽ đề ra một số chương trình học tập với mục đích định trước Các giảng viên mạng được tập trung để biên soạn các giáo trình giảng dạy theo giáo án và theo đúng chuẩn thiết kế Nội dung một khóa học gồm nhiều module kiến thức riêng lẻ được sắp xếp theo thứ tự xác định, các bài học độc lập này được hiểu như các đối tượng học tập (Learning Object), dùng để phục vụ cho các khoá học với mục tiêu khác nhau Sau khi biên soạn, các bài học được lưu trữ trong kho chứa nội dung (Content Repository), cùng với nó là các tài liệu tham khảo khác liên quan đến nội dung bài học
Người nào muốn trở thành học viên của khoá học e-Learning phải qua một thủ tục đăng ký, xác nhận và được chấp nhận Các học viên truy cập vào chương trình học của mình thông qua một User và password, hệ thống e-Learning dựa vào User này sẽ
tự động chuyển học viên đến môi trường giao tiếp riêng tương ứng với học viên đó (giao diện, lớp học, các bài học có thể truy nhập, bảng điểm, hồ sơ,…) Thông qua một cơ cấu giao tiếp, học viên truy nhập đến các bài học, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra… của mình trong kho chứa nội dung Trong quá trình học tập, học viên có thể cộng tác với
Trang 14giáo viên hoặc các học viên khác thông qua e-mail, phòng chat, diễn đàn, lớp học ảo…
để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất Sau khi hoàn thành một lượng kiến thức nào đó học viên sẽ phải làm các bài kiểm tra (trực tuyến hoặc offline tại lớp học e-Learning) Kết quả học tập của các học viên trong khoá học được lưu trong kho chứa hồ sơ học viên cùng với toàn bộ hồ sơ của học viên đó Dựa theo kết quả học tập này hệ thống quyết định học viên đó có hoàn thành khoá học hay không, có đủ điều kiện lên lớp, nhận học bổng, bằng tốt nghiệp, … Sau khi kết thúc khoá học, User cùng hồ sơ của học viên
có thể vẫn được lưu trong kho chứa hồ sơ học viên trong một khoảng thời gian nào đó, trong thời gian đó “cựu” học viên vẫn có thể truy cập tới các bài học trong thư viện
Với e-Learning, việc học trở nên linh hoạt tối đa, các học viên có thể yên tâm giành thời gian cho công việc chính của mình, sau đó chủ động sắp xếp thời gian, địa điểm cho việc học Thêm vào đó, các học viên có thể tự xác định mục tiêu học tập của mình, lựa chọn các lĩnh vực kiến thức mình cần Việc đối thoại, thảo luận giữa học viên với nhau và với giáo viên trở nên rất dễ dàng với sự hỗ trợ của các công cụ giao tiếp như e-mail, phòng chat, diễn đàn (forum), hội thảo audio, video, phòng học ảo,… việc liên lạc, trao đổi thông tin, sinh viên, tài liệu giảng dạy giữa các trường đại học trên toàn thế giới cũng diễn ra dễ dàng hơn
Dưới đây là một số so sánh giữa mô hình giáo dục truyền thống và ứng dụng Learning:
Lớp học Phạm vi vật lý giới hạn Không giới hạn
Mọi lúc – mọi nơi
Nội dung PowerPoint Slides
Sách giáo trình Video
Cộng tác
Văn bản HTML đơn giản, audio, ảnh động, video, bộ giả lập, tài nguyên online hoặc bản in, cùng hợp tác và chia sẻ online
hệ thống phát thanh, vô tuyến truyền hình, nhưng trong suốt thời gian đó việc tương tác giáo viên – học viên chủ yếu diễn ra một chiều, đến nay, thế hệ thứ ba – thời kỳ của e-
Trang 15Learning, với sự trợ giúp của các công cụ giao tiếp đa phương (phòng chat, lớp học ảo, hội nghị truyền hình,…) giáo viên và học viên trên toàn thế giới có thể “trực tiếp” liên lạc, thảo luận, trao đổi với nhau một cách cởi mở và dễ dàng hơn rất nhiều
1.4.5 Nghiên cứu các chuẩn e-learning
Việc xây dưng hệ thống theo chuẩn cho phép thao tác giữa các thành phần trên các nền (platform) khác nhau Mỗi bộ phận hoàn thành nhiệm vụ của mình theo các cách khác nhau, trên các nền thiết bị khác nhau, nhưng do tất cả đều thực hiện theo chuẩn do vậy các module sau đó có thể lắp ghép với nhau dễ dàng và hoạt động đồng
bộ
Tiết kiệm được vốn đầu tư vào việc phát triển nội dung Các bài học một khi đã thiết kế có thể dùng lại nhiều lần, dễ dàng thay đổi, cập nhật và tương thích với việc nâng cấp hệ thống, hay khi ta thay đổi các LMS (Learning Management System – Hệ thống quản lý giảng dạy) khác nhau
Cuối cùng, nếu các hệ thống e-Learning đều được thiết kế theo một chuẩn, việc trao đổi nội dung giữa các hệ thống quản trị e-Learning sẽ được thực hiện dễ dàng, cả trong phạm vi khu vực lẫn trên toàn cầu
Dưới đây chỉ đề cập đến các chuẩn e-Learning liên quan là AICC, IMS và SCORM, các chuẩn đang được thừa nhận và áp dụng rộng rãi Các chuẩn này có đặc thù chung là quy định khuôn dạng dữ liệu, và cách khai thác dữ liệu
1.4.5.1 Chuẩn AICC
Sơ đồ dưới đây có thể dùng mô tả ngắn gọn Đặc tả AICC Giao tiếp trình server có thể sử dụng phương thức HACP hoặc API Phương thức giao tiếp này, cộng với các File Cấu trúc Khoá học, là miêu tả đầy đủ một khoá học theo chuẩn AICC
duyệt-Mô tả đặc tả AICC
Lịch sử AICC
Ban đầu, chuẩn AICC được thiết kế nhằm vào phương thức trao đổi file dữ liệu Chính cấu trúc dữ liệu và phương thức trao đổi này làm cho cấu trúc dữ liệu khi sử dụng trên mạng máy tính trở nên đặc biệt Khi file dữ liệu được đưa đến học viên, người này
sử dụng một chương trình chuyên dụng để đọc và hiển thị dữ liệu Chương trình này
Trang 16được cài đặt trên máy tính của người dùng trước khi người dùng sử dụng dữ liệu Tiến trình và kết quả học tập được lưu lại trong file dữ liệu, sau đó chuyển đến server để theo dõi và đánh giá
Khi mạng máy tính ra đời, việc truyền file dữ liệu đến server do chương trình chuyên dụng nói trên đảm nhận Quá trình truyền được thực hiện thông qua mạng máy tính
Khi Web ra đời, nhu cầu khai thác dữ liệu bằng trình duyệt cũng xuất hiện Các phương thức giao tiếp tiêu chuẩn giữa trình duyệt và server không hỗ trợ yêu cầu truyền file theo đặc tả nguyên thuỷ của AICC Vì thế người ta phải tìm cách gắn thêm vào trình duyệt một số bổ sung để nhận, đọc và gửi được dữ liệu
AICC quyết định bổ sung vào chuẩn của mình phương thức truyền file bằng trình duyệt: sử dụng phương thức posting của trình duyệt để gửi thông tin kiểu file đã đóng gói thích hợp
Phương thức giao tiếp server/client trong AICC
Chuẩn AICC quy định hai mô hình giao tiếp chính để tương tác với Web:
Phương thức sử dụng giao thức HACP (HTTP AICC Communication Protocol)
Phương thức sử dụng API
Giao thức HACP (HTTP AICC Communication Protocol) quy định:
o “File” là các thông tin được đóng gói dưới dạng kết quả của một form của trang Web, và post lên server
o Khoá học có thể báo cáo kết quả cho server, hoặc yêu cầu thông tin từ server
o Server đáp lại trình duyệt bằng một thông điệp ở dạng “plain/text”, dưới hình thức một “file” AICC
o Tuy nhiên, một trình duyệt tiêu chuẩn có thể post đi một form, nhưng lại không dịch được thông điệp phản hồi của server, nên sẽ hiển thị toàn bộ thông điệp dưới dạng văn bản hoàn toàn vô ích đối với người
sử dụng
o Để dịch được thông điệp của server, hoặc là trình duyệt phải làm tất
cả các thao tác gửi và nhận thông tin thông qua một Java applet, hoặc phải có một trình trung gian nằm trên giao tiếp giữa trình duyệt và server chịu trách nhiệm chuyển đổi các thông tin phản hồi của server thành dạng mà trình duyệt hiểu được Trình trung gian này có thể làm bằng JavaScript
Phương thức giao tiếp trình duyệt/server sử dụng API có đặc điểm sau:
o Khi người sử dụng truy xuất một khoá học, nội dung khoá học chỉ giao
Trang 17tiếp với parent frame trong trang Web
o Các hàm chức năng cần thiết để đọc/gửi/dịch nội dung được định nghĩa trong parent frame
o Khoá học có thể lấy thông tin trực tiếp từ parent frame
o Parent frame giao tiếp với server
o Giao thức để parent frame giao tiếp với server không được định nghĩa trước Điều này có nghĩa là mọi giao thức đều có thể dùng được, kể cả HACP
o Thông thường, parent frame sử dụng một Java applet để thực hiện giao tiếp
o Khi một khoá học bắt đầu, parent frame sẽ lấy tất cả các thông tin về môi trường hoạt động (bao gồm cả các thông tin về tiến trình và kết quả học tập trước đó từ server)
Điểm khác giữa hai phương thức giao tiếp HACP và phương thức giao tiếp API là:
Dạng thông tin phản hồi từ server về trình duyệt, theo phương thức API, không nhất thiết thông tin này phải ở dạng plain/text; nó có thể ở dạng khác (ví dụ XML)
Số trang Web hiển thị (phương thức giao tiếp HACP chỉ có 1 trang, trong khi phương thức giao tiếp API có ít nhất 2 trang gồm một parent frame và một child frame) Điều này có nghĩa là: theo phương thức giao tiếp HACP mỗi lần trình duyệt nạp một trang nội dung mới, nó cũng nạp lại Java applet và/hoặc JavaScript Theo phương thức giao tiếp API, mỗi lần trình duyệt nạp một trang nội dung mới, nó chỉ lấy nội dung từ server mà không cần khởi tạo lại Java applet và JavaScript nếu có
Nhược điểm của AICC
Vì AICC chỉ là một trong nhiều uỷ ban của hiệp hội Công nghiệp Hàng không Hoa Kỳ, nên đặc tả chuẩn AICC không quy định được chi tiết phương cách thực hiện
hệ thống mà tự giới hạn ở những yêu cầu chung nhất Vì thế nó có một số nhược điểm như sau:
Mỗi khi kết quả học tập của một học viên được gửi lên server, nó sẽ ghi đè lên kết quả trước đó lưu trong LMS Điều ấy có nghĩa là mỗi khi bắt đầu một phiên làm việc, trình duyệt phải lấy toàn bộ các kết quả từ trước, xử lý
nó, và sau đó lại gửi lại cho server Như thế trình duyệt phải làm quá nhiều việc mà lẽ ra server làm thì sẽ có hiệu quả hơn (vì trình duyệt không lưu lại được thông tin, trong khi server có thể xử lý thông tin ấy rất dễ dàng nhờ
cơ sở dữ liệu)
Phần lớn các LMS theo chuẩn AICC chỉ hỗ trợ phần Lõi của dữ liệu Điều
Trang 18đó có nghĩa là với các LMS này, không thể lấy được kết quả của một số câu hỏi kiểm tra cụ thể nào đó, mà chỉ có thể lấy được tổng điểm của bài kiểm tra
Khi áp dụng phương thức sử dụng giao thức HACP, trình duyệt không thể hiểu được giao tiếp giữa server đến trình chuyên dụng nếu không có Java applet hoặc một loại plugin nào khác Một số plugin hiện hành lại làm công việc diễn dịch này theo các chuẩn AICC không cập nhật, nghĩa là không phải lúc nào cũng làm việc được với mọi LMS hỗ trợ AICC Ngược lại, một số LMS tự xưng là tương thích AICC cũng chỉ hỗ trợ các chuẩn AICC
cũ, nghĩa là không làm việc với các plugin phiên bản mới
Về mặt kỹ thuật, khái niệm “tương thích AICC” không có ý nghĩa, vì:
o Nhiều khoá học tự xưng là tương thích lại không bao gồm các bài kiểm tra, nghĩa là thực ra không cần đến giao tiếp giữa bài học và server
o Theo ràng buộc của AICC, một LMS được coi là tương thích AICC là một LMS được một bên tư vấn độc lập chứng nhận rằng đã được thực hiện theo đặc tả riêng của LMS đó, với cấu trúc khoá học riêng (các trường của file cấu trúc khoá học không quy định bắt buộc dạng dữ liệu) Vì thế hai LMS tương thích AICC không phải bao giờ cũng tương thích với nhau
o Các Mức AICC chỉ liên quan đến các file cấu trúc khoá học, mà không liên quan gì đến khối lượng thông tin hay chất lượng thông tin truyền
đi giữa trình duyệt và server
1.4.5.2 Chuẩn IMS
Chuẩn IMS do tổ chức IEEE LTSC đưa ra Đặc tả IMS phiên bản 1.1 mô tả cách đóng gói dữ liệu Nó không bao gồm các mô tả về phương thức trao đổi thông tin giữa server và trình duyệt
Để mô tả một khoá học, IMS phiên bản 1.1 quy định các file sau đây là file mô
tả khoá học:
Manifest: Là danh sách các file tạo nên khoá học
Manifest cũng chứa mô tả cho từng “tài nguyên”
Một “tài nguyên” có thể là hình ảnh, trang HTML, một chương trong giáo trình, hoặc toàn bộ một giáo trình
Nội dung manifest được định dạng theo đặc tả của XML
Cấu trúc của manifest bao gồm các phần:
Metadata: Mô tả định dạng của manifest
Organization: bao gồm cấu trúc của khoá học, và trỏ đến các tài nguyên của khoá học
Trang 19 Danh sách các tài nguyên: Bao gồm vị trí của từng tài nguyên, mô tả của từng tài nguyên, và kiểu dữ liệu của từng tài nguyên
IMS hiện đang là chuẩn được sử dụng rộng rãi để đóng gói nội dung khoá học,
vì hai lý do:
IMS sử dụng XML, do đó có tính mềm dẻo rất cao
Khi sử dụng trong môi trường Internet, thực tế sẽ không có bất kỳ giới hạn nào đối với nội dung của một khoá học Người soạn giáo trình thậm chí không cần viết ra một dòng nội dung nào cả, mà chỉ cần tìm được các nội dung thích hợp từ Internet, rồi soạn một manifest cho khoá học của mình Cũng nhờ đó, việc trao đổi nội dung giữa các cơ sở đào tạo không còn yêu cầu những lượng dữ liệu khổng lồ và khó cập nhật nữa; hai cơ sở đào tạo khi trao đổi giáo trình chỉ cần trao đổi các manifest là đủ
Để sử dụng nội dung theo đặc tả IMS, có thể dùng một LMS hỗ trợ IMS (ví dụ một LMS xây dựng theo SCORM), hoặc dùng các công cụ độc lập kiểu như Microsoft LRN
1.4.5.3 Chuẩn SCORM
Là một sáng kiến của chính phủ Hoa Kỳ, SCORM do ADL (thành lập năm 1997) đưa ra từ kết quả nghiên cứu của hai phòng thí nghiệm: Một thuộc về trường đại học Wisconsin, một thuộc về quân đội Hoa Kỳ
SCORM là viết tắt của cụm từ “Sharable Content Object Reference Model”, có nghĩa là “Mô hình tham khảo đối tượng nội dung chia sẻ được”
Có thể định nghĩa chuẩn SCORM như sau:
Chuẩn SCORM là tập các chuẩn và các đặc tả được điều chỉnh từ nhiều nguồn
để cung cấp một bộ thông minh các khả năng học trực tuyến mà cho phép các khả năng tương tác bên trong, truy cập và tái sử dụng nội dung học trên Web
Đó là một mô hình phần mềm định nghĩa ra mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần khoá học, các mô hình dữ liệu, các giao thức, coi chúng như các “đối tượng nội dung” có thể chia sẻ được giữa các hệ thống được xây dựng theo cùng một mô hình như nhau
Ý tưởng để đưa ra SCORM là nội dung có thể sử dụng lại được: Có thể lấy được tài nguyên từ nhiều khoá học khác nhau, và nội dung lấy được này do server gộp chung lại trong khi chuyển đến người dùng Điều này cũng tương tự như một cuốn sách được tạo nên từ nhiều bài báo của nhiều tờ báo khác nhau, đem đóng lại với nhau
SCORM là một bộ khung dựa trên XML được dùng để định nghĩa và truy cập thông tin các đối tượng học (learning object), mục đích của nó là chia sẻ các đối tượng này một cách dễ dàng giữa các hệ thống quản lý học khác nhau (LMSs – Learning Management Systems, sẽ được đề cập ở phần nghiên cứu sau)
Trang 20SCORM được thiết kế nhằm để di chuyển nội dung khóa học và thông tin liên quan (vd: các bảng ghi về sinh viên) từ nơi (platform) này sang nơi khác, chuyển nội dung khóa học thành các đối tượng chuẩn hóa có thể tái sử dụng trong các khóa học khác nhau, và cho phép bất kỳ LMS nào tìm ra nội dung khóa học hữu ích từ các hệ thống quản trị khác
Chuẩn SCORM tập hợp trong nó nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật công nghiệp của các
tổ chức khác nhau như AICC, IMS, IEEE, ARIADNE, ADL,…
Đặc tả SCORM theo ý kiến nhóm ADL (Advanced Distributed Learning), định nghĩa:
Các phương tiện dựa theo XML mô tả các cấu trúc khóa học
API (Application Programming Interface)
Mô hình dữ liệu từ nội dung đến LMS
Đặc tả nội dung,
Đặc tả các bảng siêu dữ liệu cho tất cả các thành phần của hệ thống
Cơ cấu giao tiếp giữa trình duyệt và server dựa trên chuẩn AICC API nhờ đó người xây dựng LMS có thể tự chọn phương thức thực hiện giao tiếp giữa trình duyệt
và server Nó cũng bắt người xây dựng LMS phải sử dụng parent frame để gọi hàm API
Trong SCORM, một số thủ tục gọi hàm quy định trong AICC bị thay đổi đôi chút Dữ liệu “thừa” của AICC, ví dụ như đường dẫn, bị bỏ đi không dùng nữa
Các file mô tả khoá học sử dụng đặc tả IMS phiên bản 1.1 Như thế, các file này tránh được cấu trúc ngặt nghèo như trong AICC, và chứa được nhiều thông tin hơn về chính chúng Trong đặc tả 1.1 trở đi, SCORM cũng đề nghị lưu trữ toàn bộ nội dung khoá học dưới dạng file nén ZIP
Để hỗ trợ người phát triển LMS theo SCORM, ADL cung cấp một LMS đơn giản có tên là ADL Sample Runtime Environment LMS này sử dụng Web server Apache Tomcat Các giao tiếp API giữa trình duyệt và server được thực hiện bằng Java applet
ADL Sample Runtime Environment cũng hỗ trợ khai thác khoá học được nén dưới dạng ZIP
Chuẩn SCORM cung cấp cho hệ thống các tính năng sau:
Khả năng truy cập được: nội dung có thể được chỉ ra và xác định vị trí khi cần thiết
Thao tác giữa các phần: nội dung sẽ hoạt động trong nhiều trình ứng dụng, môi trường và các cấu hình phần mềm / phần cứng khác nhau mà không chịu ảnh hưởng bởi các công cụ và platform được dùng để tạo lập
Khả năng tái sử dụng: nội dung tuỳ thuộc vào bối cảnh học tập và có thể
Trang 21được sử dụng cho nhiều người học với mục đích, thời gian khác nhau
Tính lâu bền: nội dung không đòi hỏi sự thay đổi, sửa chữa để hoạt động khi cải tiến hệ thống, hay phải thay thế hoặc nâng cấp các hệ thống phần mềm
SCORM chuẩn hoá những nội dung:
Đóng gói – Packaging: các đối tượng nội dung học tập được đóng trong các
“thùng chứa” và di chuyển qua chỗ này chỗ khác, việc đóng gói cho phép các đối tượng được trao đổi giữa các hệ thống khác nhau
Siêu dữ liệu – Metadata: hay là LOM – Learning Object Metadata, đó là các dữ liệu mô tả dữ liệu: ở đây là dữ liệu mô tả các đối tượng nội dung Metadata dùng để chia sẻ các thông tin mô tả bản chất và mục đích của một đối tượng nội dung, do đó thông tin metadata này có thể được phục vụ cho nhiều mục đích: phân loại, tìm kiếm, kiểm tra các yêu cầu kỹ thuật…
Giao tiếp: Hướng dẫn việc liên lạc, theo dõi nội dung trong môi trường Web
Sắp thứ tự: Định nghĩa một phương thức trình bày hoạt động định trước của một chương trình học thực tế, ví dụ như một LMS có thể sắp xếp các thao tác học tập riêng rẽ theo một cách cố định
Các điểm quan trọng cần lưu ý trong chuẩn SCORM:
Chuẩn SCORM cần được chuẩn hóa cách khởi đầu và lưu vết các kinh nghiệm học có hướng và nó cần định nghĩa xu hướng hành vi và tính logic trong các kinh nghiệm học phức tạp, để từ đó có thể tái sử dụng, di chuyển, tìm kiếm, tái hiện ngữ cảnh nội dung
Chuẩn SCORM cho phép các kinh nghiệm học có hướng phức hợp được thực hiện trên nội dung web đơn giản
Việc đóng gói sẽ định nghĩa cách học nội dung theo tất cả các kiểu có thể trao đổi giữa các hệ thống theo một dạng chuẩn Việc đóng gói là nén tất cả các tập tin liên quan và phần mô tả XML định nghĩa tất cả các nội dung và các mối quan hệ thành một dạng có thể truyền tải trên mạng
Phần tổ chức gói là một bản kế hoạch chi tiết thiết kế một kinh nghiệm học
cụ thể Nó thể hiện được định hướng khi tạo ra kinh nghiệm học
Mô hình dữ liệu chuẩn hóa cách các hệ thống LMS lưu vết các học viên
Việc sắp xếp là cần thiết để mô tả các hành vi phức tạp trong các kinh nghiệm học theo một dạng chuẩn
Chuẩn SCORM giới thiệu và quy định những chuẩn của mình về việc xây dựng hệ thống e-Learning gồm 3 phần:
o Mô hình tập kết nội dung (Content Aggregation Model): cách đặt nội dung học đi chung với nhau để có thể di chuyển và tái sử dụng
Trang 22o Môi trường thực thi (Run Time Environment): lấy nội dung như thế nào, lưu vết và phản hồi quá trình học của học viên
o Sắp thứ tự và dẫn đường (Sequencing and Navigation)
Mô hình khái quát của một Hệ quản trị học tập (Learning Management System – LMS) theo chuẩn SCORM:
Mô hình hệ thống quản trị học tập chuẩn SCORM
Trang 232 Nghiên cứu các hệ thống e-Learning
Mô tả kiến trúc của một hệ thống e-Learning Quan sát trên hình vẽ, dễ dàng thấy:
Học tập sẽ dựa trên mạng Internet là chủ yếu, thông qua World Wide Web (WWW)
Hệ thống e-Learning sẽ được tích hợp vào portal của trường học hoặc doanh nghiệp Như vậy hệ thống e-Learning sẽ phải tương tác tốt với các hệ thống khác trong trường học như hệ thống quản lý sinh viên, hệ thống quản lý giáo viên, lịch giảng dạy…cũng như các hệ thống của doanh nghiệp như là ERP, HR…
Một thành phần rất quan trọng của hệ thống chính là hệ thống quản lý học tập (Learning Management System), gồm nhiều module khác nhau, giúp cho quá trình học tập trên mạng được thuận tiện và dễ dàng phát huy hết các điểm mạnh của mạng Internet
ví dụ như:
Diễn đàn để trao đổi ý kiến giữa các thành viên của một lớp
Module khảo sát lấy ý kiến của mọi người về một vấn đề nào đó
Module kiểm tra và đánh giá
Module chat trực tuyến
Module phát video và audio trực truyến
…
Một phần nữa rất quan trọng là các công cụ tạo nội dung Hiện nay, có 2 cách tạo nội dung là trực tuyến (online), có kết nối với mạng Internet và offline (ngoại tuyến), không cần kết nối với mạng Internet Những hệ thống như hệ thống quản trị nội dung
Trang 24học tập (LCMS – Learning Content Management System) cho phép tạo và quản lý nội dung trực tuyến Các công cụ soạn bài giảng (authoring tools) giáo viên có thể cài đặt ngay trên máy tính cá nhân của mình và soạn bài giảng Với những nước và khu vực
mà cơ sở hạ tầng mạng chưa tốt thì việc dùng các công cụ soạn bài giảng là một sự lựa chọn hợp lý Một hệ thống tạo nội dung mềm dẻo thường cho phép kết hợp giữa soạn bài giảng online và offline
Với các trường và cơ sở có quy mô lớn cần phải quản lý kho bài giảng lớn và muốn chia sẻ cho các trường khác thì phải nghĩ đến giải pháp kho chứa bài giảng Kho chứa bài giảng này cho phép lưu trữ, quản lý thông tin về các bài giảng (thường dùng các chuẩn của IEEE, IMS, và SCORM) Hơn nữa, thường có phần mềm tìm kiếm đi kèm, tiện cho việc tìm kiếm các bài giảng (hoặc tổng quát hơn là đối tượng học tập) Đôi khi các LCMS cũng đủ mạnh để thực hiện việc quản lý này hoặc cũng có các sản phẩm chuyên biệt cho nhiệm vụ này
Các chuẩn/đặc tả là một thành phần kết nối tất cả các thành phần của hệ thống Learning LMS, LCMS, công cụ soạn bài giảng, và kho chứa bài giảng sẽ hiểu nhau và tương tác được với nhau thông qua các chuẩn/đặc tả Chuẩn và đặc tả e-Learning cũng đang phát triển rất nhanh tạo điều kiện cho các công ty và tổ chức tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm e-Learning, và người dùng có rất nhiều sự lựa chọn
e-Trong các hệ thống e-Learning, người sử dụng cần lưu ý:
- Tính đồng thời: đảm bảo tính nhất quán về nội dung khi học bất cứ lúc nào, bất
cứ nơi nào và trong bất ký hoàn cảnh nào
- Phân phối và các công cụ: hệ thống LMS, LCMS, các công cụ cộng tác, công cụ nhận dạng, các kho dữ liệu, các công cụ VoIP, các công cụ khác (như wikis, blogs…)
- Các kiểu phân phối rơi vào hai dạng sau: đồng bộ, bất đồng bộ thông qua hệ thống LMS, các không gian cộng tác và các bảng thảo luận
2.1 Hệ thống quản lý học tập (LMS)
Hệ thống Quản lý Học tập là “hệ điều hành” dành riêng cho e-learning Nó giúp
tự động hoá việc quản trị các hoạt động đào tạo: kiểm soát thời khoá biểu, kiểm soát đăng ký học viên, chuyển giao nội dung đào tạo, cung cấp giao tiếp giữa các học viên
và giữa học viên với giảng viên, theo dõi quá trình học tập và tạo báo cáo về tiến trình học tập cũng như điểm số của học viên Một LMS có thể dùng để kiểm soát các khoá học do nhiều người cung cấp (lấy từ các cơ sở đào tạo khác nhau chẳng hạn)
Có nhiều công ty đang cung cấp LMS đặt trên server, dưới hai hình thức chủ yếu:
1 Chỉ cung cấp LMS mà không cung cấp nội dung
2 Cung cấp nội dung thông qua LMS của riêng họ
Trang 25Ngoài việc bán phần mềm/nội dung và cung cấp license để sử dụng cho mục đích riêng của khách hàng, nhiều công ty cung cấp LMS hoạt động như một nhà cung cấp dịch vụ ứng dụng
Các LMS làm nhiệm vụ chuyển giao nội dung học tập từ hệ thống đến người dùng, dưới hình thức các “đối tượng nội dung” Phần lớn LMS được xây dựng có kèm theo các tính năng của LCMS, nhưng cũng có công ty cung cấp tính năng LMS và LCMS trên hai server khác nhau
Các LMS phát triển về sau này thường được tích hợp các công cụ biên soạn và tích hợp nội dung Người ta cũng thử nghiệm một số tính năng trình diễn thông minh
và học tập tuỳ biến theo trình độ, sở thích và thói quen của người học Trình diễn thông minh sử dụng trí tuệ nhân tạo để có một bản trình diễn tuỳ biến tại chỗ theo yêu cầu của người học, thậm chí phân tích và trả lời các câu hỏi tuỳ ý của người học Học tập tuỳ biến được dùng để tạo ra nội dung học tập cho một người học cụ thể trong quá trình học tập của người ấy
Vì LMS ngày càng được sử dụng nhiều trong quy mô xí nghiệp, nên các công ty chuyên phát triển ERP như SAP hay PeopleSoft hiện đang cố gắng xây dựng modul e-Learning trong sản phẩm của mình Một số LMS còn có giao diện với các ứng dụng không dây và ứng dụng thương mại điện tử (hệ thống tích hợp với CRM của Siebel)
Nhìn từ khía cạnh chức năng, LMS cho phép người dùng truy cập được từ một điểm đến các nguồn tư liệu học tập rất khác nhau Nó cũng phải có các tính năng phục
vụ quản lý, quản trị và đo lường kết quả học tập, cho phép kiểm soát định lượng ở mức
độ nhất định
Hệ thống quản trị học tập Nhìn từ khía cạnh kỹ thuật, LMS chỉ là một phần mềm móc nối và tích hợp các giải pháp kỹ thuật khác nhau và các nguồn dữ liệu khác nhau
Tầm quan trọng của LMS đối với một cơ quan là ở chỗ: nó tích hợp hay hiệp đồng ra sao với hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning) và HR (Humance resource) mà cơ quan ấy sử dụng Vì nó đụng chạm đến mọi cấp trong cơ quan, nên lựa chọn và sử dụng một LMS sẽ là một quyết định chiến lược khi xây dựng hệ thống đào
Trang 26tạo cho cơ quan
2.2 Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS)
LCMS, khác với LMS, là hệ thống tạo ra, lưu giữ, kết hợp và chuyển tải nội dung
e-Learning đã được cá nhân hoá (personalised) dưới dạng các đối tượng học tập (learning object)
LCMS và LMS làm những việc khác nhau và hỗ trợ cho nhau Trong khi LMS quản lý và quản trị mọi dạng học tập trong một tổ chức, LCMS hướng đến kiểm soát nội dung học tập trực tuyến Nó có thể sử dụng nhiều dạng tài liệu học tập, được lưu trữ trong một kho đối tượng nội dung trung tâm, và quản lý chủ yếu dưới dạng XML Các đối tượng này được đưa đến cho người dùng dựa trên học bạ (do người dùng tự khai hoặc do các hệ thống học tập khác cung cấp), hoặc dựa trên các kiểm tra học lực đầu vào, hoặc dựa trên yêu cầu của người dùng, nhờ đó có thể có một lộ trình học tập thích hợp với từng người một
Như trên đã nói, ngày nay phần lớn LMS được xây dựng kèm theo các tính năng của LCMS, hoặc ít nhất cũng kèm theo cơ cấu liên thông giữa LMS và LCMS Nói chung, các LCMS hiện nay đều được phát triển theo hướng tương thích với các chuẩn đối tượng nội dung như AICC hay SCORM, đã được đề cập ở trên
2.3 Các phương thức xây dựng hệ thống e-Learning
Bảng dưới đây cho thấy phương thức xây dựng nội dung e-Learning (trích từ Learning Magazine) của các cơ quan đang áp dụng e-Learning Cho đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức về phương thức vận hành e-Learning, ví dụ như phương thức
E-sử dụng LMS/LCMS (thuê bao hay tự xây dựng )
Cách xây dựng nội dung Công ty Cơ quan
chính phủ
Cơ sở (chuyên) đào tạo Kết hợp nội dung có sẵn, tự xây
Nội dung e-Learning được truyền tải qua môi trường mạng máy tính và Internet dưới các dạng HTML, phần mềm trình diễn, hội nghị, multimedia Bảng sau đây cho thấy tỷ lệ sử dụng các kiểu dữ liệu này:
Nội dung Công ty Cơ quan chính phủ Cơ sở (chuyên)
Trang 27đào tạo
Nội dung streaming trên
Như thế, các cơ quan áp dụng e-learning thường:
Kết hợp nội dung có sẵn với nội dung mới tự xây dựng hoặc thuê ngoài
Sử dụng Internet làm môi trường vận hành hệ thống e-learning
2.4 Mô hình tổ chức hệ thống cung cấp dịch vụ e-Learning phục vụ đào tạo
nguồn nhân lực
Từ mô hình kiến trúc hệ thống e-Learning, hệ thống cung cấp dịch vụ e-Learning phục vụ đào tạo nguồn nhân lực sẽ bao gồm ba thành phần: LMS tập trung, LMS cục
bộ, và chương trình khai thác chuyên dùng
Mô hình tổ chức hệ thống cung cấp dịch vụ e-learning phục vụ đào tạo
LMS tập trung, hay LMS chính, là một LMS theo chuẩn SCORM đặt trên Internet Người dùng giao tiếp với LMS tập trung bằng cách sử dụng trình duyệt Web Mọi thao tác quản lý học tập và cập nhật dữ liệu được thực hiện bằng trình duyệt Web với môi trường giao tiếp là Internet
LMS cục bộ, hay LMS phụ, giống với LMS chính về tính năng, cài đặt trên mạng cục bộ của người sử dụng dịch vụ Các khoá học và kho nội dung mà LMS này cung cấp được cài đặt trước trên mạng cục bộ Các khoá học và kho nội dung được cập nhật
Trang 28từ LMS chính đến LMS phụ theo yêu cầu của người dùng trong mạng cục bộ Người dùng giao tiếp với LMS cục bộ bằng cách sử dụng trình duyệt Web
Việc phân cấp hai hệ thống LMS sẽ giảm được tải trên hệ thống chính (LMS tập trung) Việc này cũng giúp hạn chế nhược điểm về dải thông và chất lượng đường truyền
Phần mềm chuyên dùng được cài đặt trên máy tính cá nhân của người dùng Phần mềm này đọc ra nội dung khoá học từ CD-ROM, DVD… do hệ thống e-Learning cung cấp cho người dùng Kết quả học tập được gửi lưu trữ trong máy tính cá nhân của người dùng, và gửi lên LMS chính hoặc LMS phụ
Kho nội dung cho các khoá học mà hệ thống e-Learning cung cấp được lưu sẵn trên CD-ROM (DVD) Các khoá học mà học viên đăng ký tham dự lưu trên máy tính
cá nhân của học viên dưới dạng các “bản kê” (manifest) Khi có yêu cầu đối với các khoá học mới, các bản kê mới sẽ được gửi đến máy tính cá nhân của học viên Phương thức này có thể gọi là “e-Learning ngoại tuyến” (offline e-learning)
Khi học viên sử dụng phương thức “e-Learning ngoại tuyến”, kết quả học tập được lưu giữ ở hai địa điểm: kết quả chính thức dùng để đánh giá học viên được lưu trên LMS chính (hoặc phụ), kết quả mới nhất lưu trên máy tính của học viên Học viên cập nhật kết quả chính thức bằng cách kết nối với LMS chính (hoặc phụ), và tiến hành ghi đè thông tin chính thức lưu trữ tại LMS nhờ phần mềm chuyên dùng Phần mềm này cũng đảm nhiệm việc cập nhật kho nội dung trên máy tính của học viên
2.5 Mô hình xây dựng và phát triển hệ thống
Với mô hình tổ chức như trên, việc xây dựng và phát triển nội dung, cũng như việc xây dựng và phát triển hệ thống e-Learning, được tiến hành theo ba bước:
1 Xây dựng nội dung ban đầu, cùng với việc triển khai LMS chính
2 Khi kho nội dung đã tương đối đầy đủ, sẽ tiến hành triển khai các LMS phụ
và cung cấp dịch vụ “e-Learning ngoại tuyến”
3 Cập nhật kho nội dung tại LMS chính
Trong điều kiện hạ tầng truyền thông cho phép, máy chủ đặt LMS chính có thể đóng vai trò máy chủ ứng dụng, cung cấp dịch vụ ứng dụng cho các cơ quan có nhu cầu
2.7 Các tiêu chí xây dựng phần mềm e-Learning
2.7.1 Các tiêu chí về Công nghệ Thông tin
Nguyên tắc thiết kế: Phần mềm phải đảm bảo được thiết kế, xây dựng và vận hành theo mô hình mở (dễ dàng nâng cấp, thay đổi, bổ sung, kết nối), với khả năng tích hợp cao, đồng thời phải tuân thủ chặt chẽ các chuẩn về công nghệ thông tin và các tiêu
Trang 29chuẩn e-learning cũng như cho phép tuỳ biến dễ dàng theo yêu cầu của từng đơn vị áp dụng
Tính chuẩn hoá: Phần mềm phải tuân thủ các chuẩn công nghệ thông tin hiện đại, trong nước cũng như Quốc tế
Khả năng đa ngôn ngữ về giao diện và nội dung (hỗ trợ Unicode toàn diện với hơn 100 bảng chữ cái của các ngôn ngữ khác nhau)
Hỗ trợ các tiêu chuẩn về e-learning, chuẩn mô tả nội dung, chuẩn trao đổi thông tin AICC, SCORM 1.2, 2004…
Môi trường và Mô hình ứng dụng: Phần mềm chạy trên mạng theo các chuẩn công nghệ về truyền thông của môi trường Internet/Intranet theo mô hình Client/Server, với các máy chủ quản lý học tập (Learning Management System), máy chủ nội dung (Content Server) trong đó các client ở máy trạm là các trình duyệt Web, với giao diện nhất quán, tùy chọn đa ngôn ngữ
Hệ điều hành: Phần mềm hoạt động được trên môi trường đa năng: hệ điều hành Microsoft, hệ điều hành Unix (Linux)…
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: Phần mềm phải hoạt động được trên các hệ quản trị CSDL như My SQL, Posgret, MS SQL server, Oracle 8/9i…, đồng thời phải đảm bảo được khả năng chuyển đổi dữ liệu một cách toàn vẹn giữa các
hệ CSDL này Việc sử dụng hệ cơ sở dữ liệu nào hoàn toàn do người sử dụng tự lựa chọn
Máy trạm: Các trạm làm việc qua trình duyệt Web để đơn giản việc sử dụng, bảo trì, nâng cấp và mở rộng hệ thống cũng như đảm bảo tương thích với các máy trạm có cấu hình cao, thấp khác nhau, không yêu cầu cài đặt phức tạp
2.7.2 Các tiêu chí về chuẩn nghiệp vụ
Phần mềm phải hỗ trợ đầy đủ các chuẩn cần thiết để có thể mở rộng, phát triển
và trao đổi giữa hệ thống e-learning ở Việt nam và thế giới
Chuẩn trao đổi thông tin: Tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn AICC, SCORM 1.2,
2004
Chuẩn mô tả nội dung: IEE-LTSC, IMS Global Consortium, ADL SCORM
Chuẩn thiết kế : E-learning Courseware Certificate của ASTD
Chuẩn bảng mã: Hỗ trợ tiếng Việt theo tiêu chuẩn mới Unicode 6909) Có khả năng đa ngôn ngữ
(TCVN-2.7.3 Các tiêu chí về tính năng nghiệp vụ
Phần mềm cần có các tiêu chí chung về tính năng sau đây:
Trang 30 Quản lý khoá học: Tải, phát hành, theo dõi và quản lý các khóa học theo chuẩn AICC & SCORM 1.2, 2004 và các chuẩn khác xây dựng trên nền Web Hỗ trợ khả năng học trực tuyến, trực tiếp và phức hợp Kết hợp với khóa học với các trung tâm kiến thức như (các knowledge center, FAQ, online support) Lập kế hoạch giảng dạy và chương trình học Phần mềm cần hỗ trợ cho nhiều định dạng nội dung học tập khác nhau (hỗ trợ multimedia)
Tạo và phân quyền: mềm dẻo và an toàn, hệ thống hỗ trợ khả năng định nghĩa các vai trò quản lý và gán quyền truy nhập tương ứng với các vai trò
Quản trị và giám sát: các hoạt động xảy ra trong hệ thống qua hệ thống ghi nhật ký tự động
Tuỳ biến giao diện: quản lý và tuỳ biến giao diện người dùng theo sở thích
Quản lý tài nguyên: cho p số mức đặc quyền
Sao lưu: Phương án sao lưu và an toàn dữ liệu
Đa ngôn ngữ: về giao diện người dùng cũng như khả năng khai thác những khóa học trên những ngôn ngữ khác nhau
Khả năng liên vận: Phần mềm phải có giải pháp liên vận với các phần mềm quản lý hành chính đào tạo hay các hệ thống ERP, HR, CRM hay các hệ thống e-learning khác
Các tiêu chí về tính năng nghiệp vụ:
Quản lý học viên:
o Tạo người dùng và cấp quyền truy cập hệ thống
o Tạo người dùng và cấp quyền đơn lẻ (single)
o Quản trị hệ thống khởi tạo, ghi lại và cấp quyền truy cập hệ thống cho
từng người dùng đã có đăng ký
o Tạo người dùng và cấp quyền theo lô (batch)
o Quản trị hệ thống khởi tạo, ghi lại và cấp quyền truy cập hệ thống cho
nhóm người dùng đã có đăng ký
o Quản trị hệ thống khởi tạo, ghi lại và cấp quyền truy cập hệ thống cho
nhóm người dùng đã có đăng ký
o Danh sách nhóm người dùng được lấy từ:
Danh sách người dùng đăng ký/tự đăng ký trực tiếp qua Web
Danh sách người dùng đăng ký tập thể gửi tới hệ thống (theo khuôn dạng quy định bởi hệ thống, ví dụ, file CVS, )
o Tạo người dùng và cấp quyền tự động
o Đối với một số khoá học được chỉ định, hệ thống tự động khởi tạo, ghi lại và cấp quyền cho người dùng đã có đăng ký, theo hình thức đơn lẻ hoặc theo lô
Trang 31 Tổ chức giảng viên và học viên thành từng nhóm để gán quyền/báo cáo/nội dung
Cung cấp nội dung theo quyền truy cập và theo đăng ký học viên
Quản lý các tài nguyên liên quan đến lớp học, bao gồm cả phòng học (thực và ảo) và giảng viên
Tích hợp các công cụ hỗ trợ thích hợp, bao gồm bài tập, tài liệu tham khảo, bài thực tập, bài kiểm tra
Cung cấp phương tiện hợp tác và phương tiện quản lý hợp tác giữa các giảng viên, hoặc giữa các học viên, hoặc giữa giảng viên
và học viên
Việc gán nội dung
o Tổ chức các khoá học trong một danh mục trực quan và tìm kiếm được
Sắp xếp khoá học theo nhóm (section), mục (category), chuỗi (sequence) với cấu trúc miêu tả hình cây
Cung cấp công cụ tìm kiếm theo các tiêu chí định nghĩa trước và full-text
Cung cấp từ điển quy chiếu (glossary) chung cho các khoá học
và riêng cho từng khoá học
o Nhắm đúng mục tiêu là các cá nhân hay nhóm người dùng
Phục vụ đúng nội dung được yêu cầu
Khả năng phân tích hồi quy trên nhận thức của học viên theo phương pháp được phân tích
o Cho phép học viên tuỳ biến khoá học theo ý mình
Khả năng cung cấp các nội dung học tập ngoài giáo trình
Khả năng theo vết học viên trên các nội dung ngoài giáo trình…
Phân phối các khoá học trực tuyến có thầy giáo hướng dẫn (Instructor
Led Training), trong chế độ đồng bộ hoặc dị bộ, bao gồm các tính năng
thiết đặt khoá học, hiển thị chương trình học, đăng ký và theo vết
Hỗ trợ đánh giá trình độ của học viên, sử dụng phương pháp Skill Gap Analysis / 360-Degree Evaluation
o Khả năng xây dựng các bài kiểm tra pre-test, pos-test cho từng module
học tập
o Khả năng chỉ định bài kiểm tra dựa trên kết quả học tập của học viên
Cung cấp các khoá học có (a) tích hợp các tài liệu tham khảo đặc thù vào
hệ thống; và (b) cho phép truy cập đến các tài nguyên nằm ngoài hệ thống
Khả năng lên lịch linh động cho các khoá học
Về giao tiếp
o Cho phép giao tiếp giữa quản trị và học viên:
Trang 32 Giao tiếp thông qua e-mail
Giao tiếp qua diễn đàn học tập
Giao tiếp một-một/một-nhiều thông qua tin nhắn tức thời (instance messege, private message)
Giao tiếp nhiều-nhiều thông qua phòng thảo luận (thực và ảo)
Khả năng mở rộng giao tiếp hội nghị từ xa đa phương tiện
o Tìm kiếm và xác định học viên để chuyển cho họ các khoá học, tin tức, tài liệu tham khảo và các thông tin khác để liên tục lôi kéo học viên tiếp tục khoá học
Sử dụng công nghệ đẩy (pushing technology) để cung cấp thông tin cho học viên
Khả năng mở rộng hệ thống sang các phương tiện giao tiếp ngoài PC (điện thoại di động, TV,…)
Đề xuất những khóa đào tạo nâng cao, những khóa học ưu tiên theo mức
độ quan tâm/kỹ năng của học viên
o Dễ dàng tích hợp với các hệ thống quản lý hành chính đào tạo (Union, ) quản lý nhân lực HRIS hay hỗ trợ lập kế hoạch ERP
Theo vết và báo cáo
o Theo vết và lập báo cáo về tiến trình học tập của học viên/các hoạt động của học viên
Theo vết tiểu sử khai thác khoá học của học viên
Theo vết tiểu sử khai thác hệ thống (tham gia các khoá học do hệ thống cung cấp) của học viên
o Theo vết và báo cáo tiến trình phát triển kỹ năng/kiến thức của các học viên so với mục tiêu đào tạo
Xây dựng các bài trắc nghiệm/phiếu thăm dò nhằm mục đích phân tích về khía cạnh sư phạm để xây dựng khoá học
o Theo vết và báo cáo về mức độ phù hợp của giáo trình và giảng viên đối với học viên
Xây dựng các bài trắc nghiệm/phiếu thăm dò đánh giá của học viên đối với nội dung học tập và giảng viên
Tạo (chiết xuất) báo cáo về trình độ tiếp thu của học viên từ thông tin theo vết và kết quả trắc nghiệm
o Xác định lợi ích của khoá học đối với học viên
Công cụ theo dõi (follow-up) học viên sau khi kết thúc khoá học
Khả năng đánh giá hiệu quả của khoá học đối với học viên, bằng cách so sánh mục đích sử dụng kiến thức/kỹ năng mà khoá học cung cấp với thành quả thực tế
Trang 33 Hỗ trợ phát triển nội dung
o Cho phép phát triển nội dung
Xây dựng khoá học (course) từ các SCO
Nhập các khoá học từ nguồn bên ngoài (các hệ thống e-learning, khóa học
từ nhà cung cấp khác), theo chuẩn đã nêu ở trên
Sử dụng phương tiện giao tiếp trong việc hợp tác xây dựng nội dung
Khai thác dưới hình thức SCO thông tin trao đổi trong khoá học
Khả năng xuất các khóa học theo tiêu chuẩn AICC, SCORM 1.2 hoặc
2004
Khả năng xuất các khóa học ra CD-ROM cho phương án học tập offline
o Cho phép sử dụng template để phát triển nhanh
Tạo mới template: Nhập các template từ bên ngoài theo chuẩn của hệ thống, Sửa template, Xoá template
Áp dụng template từ kho template và nội dung (khoá học)
Quản lý kho template, truy cập kho template, đóng góp cho kho template: Tuân theo các chuẩn công nghiệp để tăng cường tính tương thích giữa khoá học và hệ thống
Chuẩn bắt buộc: AICC, SCORM 1.2 trở lên: Chuẩn đóng gói dữ liệu xuất: IMS 1.2 và các chuẩn e-learning, IEEE Data Model For Content Object Communication, IEEE ECMAScript API cho nội dung với dịch vụ liên lạc run-time, IEEE Learning Object Metadata (LOM), IEEE Extensible Markup Language (XML) Schema Binding for Learning Object Metadata Data Model, IMS Simple Sequencing
Tích hợp các khoá học mới xây dựng một cách trơn tru
Khả năng hỗ trợ multiple domains
Khả năng tuỳ biến giao diện cho các miền ứng dụng khác nhau
Khả năng mở rộng để cung cấp đồng thời nhiều giao diện cho các miền ứng dụng khác nhau, với cùng một hệ thống dữ liệu thống nhất
2.8 Cấu tạo một hệ thống e-Learning
Để quản lý, điều hành một hệ thống e-Learning, thông thường chúng ta cần có một hệ thống quản lý LMS – Learning Manangement System (đã được đề cập ở trên)
Hệ thống này đảm nhận các công việc:
Học viên đăng ký vào một course học e-Learning, sau khi hoàn tất các thủ
tục (thi đầu vào, đóng học phí…), học viên đó sẽ được kết nạp
Thu thập và lưu trữ dữ liệu về hoạt động của học viên (số giờ học tham gia,
các bài kiểm tra đã hoàn thành, điểm từng bài, từng kỳ học…)
Báo cáo quá trình học tập của học viên thông qua khoá học đã được ấn định
Trang 34của họ
Quản lý học viên và các khoá học (danh sách, profile các học viên, kết nạp,
loại bỏ, sắp xếp khoá học…)
Một cách tổng quát, hệ thống e-Learning gồm các module:
Hệ thống đào tạo từ xa – Distant Learning System
Hệ thống quản lý nghiệp vụ – Business Management System
Hệ thống quản lý học viên – Student Management System
Hệ thống dịch vụ thông tin học viên – Student Information Service System
Hệ thống nhóm – Groupware System
Bộ phận xây dựng nội dung bài giảng – Content Building Area
Hệ thống thư viện điện tử – Digital Library System
2.8.1 Hệ thống đào tạo từ xa
Giáo viên có thể thiết kế các bài học tại nhà hay tại phòng lab biên soạn giáo trình, sau đó tải lên hệ thống e-Learning (tải lên web server) Nội dung các bài giảng được soạn theo đúng giáo án, chương trình Trong mỗi bài giảng về từng vấn đề lại có các link đến các tài liệu tham khảo có liên quan, các tài liệu tham khảo này có thể nằm ngay trong thư viện điện tử hoặc nằm trên các server khác ngoài hệ thống Nội dung của bài giảng có thể bị sửa đổi hoặc xoá bỏ bất cứ khi nào cần thiết Các bài giảng có thể được thiết kế bằng các công cụ như PowerPoint, HTML, Adobe Acrobat, Java, Flash,…
Các học viên có thể truy cập đến các bài học từ mọi địa điểm, mọi thời gian thông qua Internet, khi đó, các bài giảng được truy cập thông qua hệ thống LOD (Lecture On Demand – bài giảng theo yêu cầu)
2.8.2 Hệ thống quản lý nghiệp vụ
Bộ phận nghiệp vụ làm nhiệm vụ hành chính, quản lý bộ máy e-Learning hoạt động trơn tru, hiệu quả Các nhân viên quản lý nghiệp vụ cũng duy trì mối liên lạc với học viên và giáo viên thông qua e-mail, bảng thông báo, diễn đàn… nhằm hỗ trợ thông tin kịp thời, đưa ra các thông báo cần thiết
2.8.3 Hệ thống quản lý học viên
Các khoá học trong e-Learning được thông báo thông qua Internet, từ đó học viên có thể chọn các khoá học cho mình Học viên có thể đăng ký các khoá học thông qua Internet Nếu một khoá học đòi hỏi học viên phải đăng ký, học viên có thể đăng ký trực tuyến với trung tâm e-Learning qua mạng Tuy nhiên, sau khi chấp nhận đăng ký, học viên phải hoàn tất học phí để được thừa nhận tham gia khoá học này
Các khóa học e-Learning chỉ giành cho các học viên đã trúng tuyển đầu vào và
đã làm đầy đủ thủ tục đăng ký khoá học