Cát cánh hay kết cánh (danh pháp hai phần: Platycodon grandiflorum hay Platycodon grandiflorus, đồng nghĩa: P. autumnale, P. chinense, P.sinensis) là một loài thực vật có hoa sống lâu năm thuộc họ Hoa chuông (Campanulaceae) và có lẽ là loài duy nhất trong chi Platycodon. Nó có nguồn gốc tại khu vực đông bắc châu Á (Trung Quốc, Đông Siberi, Triều Tiên và Nhật Bản) với các hoa lớn màu xanh lam, mặc dù các thứ (biến chủng) có hoa màu trắng hay hồng cũng được trồng. Trong tiểu luận này, xin được trình bày một cách tổng quan nhất về dược liệu Cát cánh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN DƯỢC LIỆU
TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ: TỔNG QUAN DƯỢC LIỆU CÁT CÁNH
Họ và tên :……….
MSV :………
Trang 2MỤC LỤC
Trang Đặt vấn đề………03
I. Tổng quan………03
1. Đặc điểm thực vật……… 03
2. Bộ phận sử dụng………05
3. Phân bố……….06
II Nghiên cứu thành phần hóa học của cây………06
1. Thành phần hóa học……….06
2. Phương pháp nghiên cứu………07
Định tính………07
Định lượng………08
Kiểm nghiệm………08
III Tác dụng và công dụng……… 09
IV. Một số bài thuốc có thành phần cát cánh……….10
V Tài liệu tham khảo………12
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Cát cánh hay kết cánh (danh pháp hai phần: Platycodon grandiflorum hay Platycodon
grandiflorus, đồng nghĩa: P autumnale, P chinense, P.sinensis) là một loài thực vật có
hoa sống lâu năm thuộc họ Hoa chuông (Campanulaceae) và có lẽ là loài duy nhất trong
chi Platycodon Nó có nguồn gốc tại khu vực đông bắc châu Á (Trung Quốc,
Đông Siberi, Triều Tiên và Nhật Bản) với các hoa lớn màu xanh lam, mặc dù các thứ (biến chủng) có hoa màu trắng hay hồng cũng được trồng Cát cánh còn có tên là Khổ cát cánh, Bạch cát cánh, Ngọc cát cánh, dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh là rễ khô của cây Cát cánh có tên thực vật là Platycodon grandiflorum (Jacq.) A.DC.
Cây Cát cánh mọc nhiều ở các tỉnh An huy, Giang tô và Sơn đông của Trung quốc Cây trồng bằng hạt đang được di thực vào nước ta Sau khi đào rễ về rửa sạch, bỏ tua rễ, bỏ
vỏ ngoài hoặc không bỏ vỏ phơi khô, tẩm nước cắt lát dùng Chích Cát cánh là Cát cánh chế mật sao vàng.
Rễ cát cánh (radix platycodi) được sử dụng trong y học cổ truyền khu vực châu Á để làm
chất kháng viêm để điều trị các chứng ho, viêm phế quản, viêm amiđan, viêm họng, trừ đờm và chống cảm lạnh Rễ của nó chứa nhiều saponin Các thành phần có thể tách ra bằng thủy phân: platycodigenin (saponin chính), một lượng nhỏ các axít như axít
polygalacic, axít platycogenic A, axít platycogenic BC, axít platycogenic C Từ các saponin thì các chất sau có thể được tách ra: prosapogenin, 3-O-β-glucoza, platycodozit C,
platycogenin-3-O-β-glucozit platycodigenin, glucoza, xyloza, platycidin, platycodinin, betulin, v.v
Tại Triều Tiên, loài cây này được gọi là doraji (có thể dịch thành hoa chuông) và rễ của nó,
hoặc là khô hay dưới dạng tươi, là thành phần phổ biến trong các món xà lách và trong các kiểu chế biến thảo mộc truyền thống Tuy nhiên, cát cánh và hoa chuông Triều
Tiên thật sự (Campanula takesimana) là các loài khác nhau.
Loài cây này cũng được trồng làm cây cảnh khá phổ biến ở một số khu vực khác Theo phân loại về độ chịu lạnh cho thực vật của USDA Hoa Kỳ thì nó ở khu vực 3 và cần ít sự chăm sóc.( Tài liệu dẫn: Cây thuốc Việt Nam - Võ văn Chi - Trang 186 )
I TỔNG QUAN
1 Đặc điểm thực vật
Cây thảo, sống lâu năm, cao 50 - 80cm Rễ củ đôi khi phân nhánh, vỏ ngoài màu vàng nhạt Thân đứng, nhẵn, màu lục xám, chứa nhựa mủ Lá gần như không cuống, hình
Trang 4trứng, dài 3 - 6cm, rộng 1 - 2,5cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép khía răng Lá phía dưới mọc đối hoặc mọc vòng 3 - 4 cái, lá phía trên nhỏ, có khi mọc so le Hoa hình chuông, màu lam tím hoặc trắng, mọc riêng lẻ hoặc thành bông thưa ở kẽ lá gần ngọn Ðài có 5 thuỳ màu lục Tràng gồm 5 cánh hợp Nhị 5 Bầu 5 ô
Hình 1: Hoa cát cánh
Quả nang, hình trứng bao bọc bởi đài tồn tại, chứa nhiều hạt nhỏ, hình bầu dục, màu đen nâu Mùa hoa: tháng 5 - 7, mùa quả: tháng 8 - 9 Rễ đào vào mùa đông, lúc cây tàn lụi ở những cây đã trồng được 2 năm (vùng cao) hoặc 1 năm (ở vùng đồng bằng) loại bỏ thân,
lá, rễ con, rửa sạch đất cát Cạo bỏ lớp vỏ ngoài rồi phơi hay sây khô Rễ hình trụ có khi phân nhánh dài 5 - 13cm, đường kính 1-2cm Mặt ngoài màu trắng ngà có những nếp nhăn dọc, có vết sẹo của rễ con, vị đắng Rễ Cát cánh dễ bị mốc, mọt cần được bảo quản nơi khô ráo.( Tài liệu tham khảo: TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA DƯỢC HỌC )
Trang 5Hình 2: Hình ảnh cây và rễ cát cánh
2 Bộ phận sử dụng
Bộ phận dùng: Rễ, củ - Radix Platycodi; thường gọi là Cát cánh phân bố và thu hái: Cây của miền ôn đới Bắc: Nga, Trung Quốc, Triều Tiên Được trồng nhiều ở Trung Quốc
Ta di thực vào trồng ở vùng cao như ở Lào Cai (Sapa, Bắc Hà) và Vĩnh Phú (Tam Đảo) Gần đây, cũng được trồng ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình ) Cây mọc khoẻ và thích nghi với khí hậu và đất đai của nước ta Ở đồng bằng có thể gieo trồng vào tháng 10-11, ở miền núi vào tháng 2-3 Nếu gieo vào đất quá khô hay đất quá ướt bị nén chặt thì hạt lâu mọc Cây trồng ở vùng cao hai năm đã cho thu hoạch, còn trồng ở đồng bằng thì sau một năm đã có thể thu hoạch được Vào mùa đông khi cây tàn lụi hay sau khi thu quả để làm giống thì chọn ngày nắng ráo, dùng cuốc đào lấy rễ củ, sau khi đã cắt bỏ thân lá, rễ con, rửa sạch đất cát, ngâm vào nước rồi lấy ra dùng dao tre nứa cạo bỏ lớp vỏ ngoài, mang phơi hay sấy khô Có thể xông lưu huỳnh Thông thường người ta hay dùng sống nhưng có thể tẩm mật sao qua Nếu dùng làm hoàn tán thì thái lát sao qua rồi tán bột mịn Cần bảo quản nơi khô ráo, tránh mốc mọt
Trang 6Hình 3: Rễ sấy khô
3 Phân bố
Phân bố và thu hái: Cây của miền ôn đới Bắc: Nga, Trung Quốc, Triều Tiên Được trồng nhiều ở Trung Quốc Ta di thực vào trồng ở vùng cao như ở Lào Cai (Sapa, Bắc Hà) và Vĩnh Phú (Tam Đảo) Gần đây, cũng được trồng ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc bộ (Thái Bình ) Cây mọc khoẻ và thích nghi với khí hậu và đất đai của nước ta.
II NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY
1 Thành phần hoá học
Thành phần chủ yếu trong rễ Cát cánh là các saponin triterpenoid nhóm oleanan Sau khi thuỷ phân thu được các sapogenin: acid platycogenic A, B, C , platycodigenin , acid
polygalacic
Trang 7Một số saponin trong cát cánh có cấu trúc sapogenin đặc biệt như cấu trúc ester nội phân
tử (vòng lacton) giữa chức acid ở C-23 và OH ở C-2( như ở trong platycosid M1,M2,M3) Ngoài ra Trong rễ Cát cánh còn các flavonoid (luetolin 7- O- glucosid,luetolin và apigenin) 3,4-dimethyoxycinnamic,các acid thơm( acid
caffeic,chlorogenic,ferulic,isoferulic,homovanillic,alpha-resorcylic,m-coumaric,p-coumaric,p-hydroxybenzoic,2-hydroxy-4-methoxybenzoic và 2,3-dihydroxybenzoic)| Mazol
I et al.,Acta Pol Pharm.(2004) 61(3):203-8] phytosterol, inulin và một lượng đáng kể các chất thuộc nhóm tanin.
2 Phương pháp nghiên cứu hóa học
2.1 Định tính
Sử dụng các phương pháp chung định tính saponin:
A Soi lát cắt dược liệu dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm, phần vỏ phát quang sáng trắng hơi vàng, phần lõi không phát quang.
B Bột dược liệu, thêm ethanol 70%, đun cách thuỷ trong 5 phút, lọc, cô dịch lọc (dịch A) Nhỏ vài giọt dịch lọc A lên giấy lọc, nhỏ tiếp một giọt natri hydroxyd 5%, sấy nhẹ cho khô, che nửa vết dịch A bằng miếng kim loại mỏng và soi dưới ánh sáng tử ngoại có bước sóng 365 nm trong vài phút, lấy miếng kim loại ra, phần không bị che có phát quang sáng hơn, tiếp tục chiếu tia tử ngoại, phần bị che sẽ sáng dần lên như phần kia.
Trang 8Lấy dịch A pha loãng với nước, lắc mạnh trong 15 giây, có bọt bền.
C Bột dược liệu, thêm nước, đun cách thuỷ trong 5 phút, lọc Lấy dịch lọc, thêm dung dịch acid hydrocloric đậm đặc và vài tinh thể resorcin, đun cách thuỷ vài phút, xuất hiện tủa màu đỏ sẫm.
Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) để kiểm nghiệm Cát cánh
(Xem: Sắc ký đồ dịch chiết các dược liệu chứa saponin - vệt 9, ảnh I, II, III )
2.2 Định lượng
Chiết kiệt saponin từ một lượng dược liệu (cân chính xác) bằng dụng cụ Soxhlet và dung môi MeOH, làm đậm đặc dịch chiết bằng cách đun trên cách thuỷ, để nguội, thêm ether lắc đều, để lắng để tủa saponin Tủa lại hoà tan bằng MeOH rồi lặp lại như trên (để tinh chế), Tủa lần hai lại hoà tan trong methanol, bốc hơi dịch này tới cắn, sấy khô ở 105 o C tới khối lượng không đổi, cân Tính lượng phần trăm của saponin trong dược liệu Hàm lượng saponin toàn phần của Cát cánh không được ít hơn 5,0%.
2.3 Kiểm nghiệm
2.3.1 Ðặc điểm dược liệu
Rễ hình trụ thuôn dần về phía dưới, đôi khi phân nhánh, phần trên còn sót lại gốc thân, có nhiều sẹo nhỏ là vết tích của rễ con, dài 5 - 15 cm, đường kính 0,7 - 2 cm Mặt ngoài màu vàng nhạt hay vàng nâu nhạt, có nhiều rãnh nhăn nheo theo chiều dọc và những nếp nhăn ngang Thể chất giòn, mặt bẻ không có xơ Mặt cắt ngang màu trắng ngà, vùng tầng phát
sinh libe - gỗ thành vòng rõ, màu vàng nâu nhạt; có vân như hoa cúc Không mùi, vị ngọt
sau hơi đắng ( Vị thuốc ) Tài liệu tham khảo: CÁT CÁNH,Trang 709 Dược điển Việt Nam
IV Hà Nội XB lần thứ 4)
2.3.2 Vi học
- Ðặc điểm vi phẫu: Mặt cắt dược liệu tròn, từ ngoài vào trong có lớp bần còn sót lại gồm nhiều hàng tế bào hình chữ nhật Mô mềm vỏ hẹp gồm những tế bào to nhỏ không đều, xếp lộn xộn với những khuyết nằm rải rác Libe xếp thành tia, thỉnh thoảng có những vùng đậm lên đều đặn giống như libe kết tầng Mạch gỗ nằm rải rác hay tụ thành đám, xếp thành những dải xuyên tâm nằm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ Trong cùng là mô mềm ruột gồm những tế bào gần như tròn
- Đặc điểm bột dược liệu
Mảnh bần gồm những tế bào màng dày, màu nâu nhạt Mảnh mô mềm có các tinh thể calci oxalat hình kim, Tinh thể inulin hình tròn hay hình quạt trong mô mềm hay bên ngoài Mảnh mạch vạch, mạch mạng.
Trang 9Hình 4: Vi phẫu thân cát cánh
Đặc điểm bột dược liệu
Mảnh bần gồm những tế bào màng dày, màu nâu nhạt Mảnh mô mềm có các tinh thể calci oxalat hình kim, Tinh thể inulin hình tròn hay hình quạt trong mô mềm hay bên ngoài Mảnh mạch vạch, mạch mạng.
III TÁC DỤNG VÀ CÔNG DỤNG
Saponin có trong Cát cánh có tác dụng phá huyết mạnh, có tác dụng chữa ho, long đờm, tiêu đờm, có tác dụng hạ đường huyết, dịu thần kinh, giảm sốt
Trang 10Tính vị, tác dụng: Vị hơi ngọt, sau đắng, tính bình, có tác dụng thông khí ở phổi, tiêu đờm, làm cho mủ độc vỡ ra ngoài Người ta đã chứng minh được rằng các saponin của Cát cánh có tác dụng tiêu đờm, phá huyết làm tan máu Rễ Cát cánh có tác dụng như giảm đau, làm trấn tĩnh, hạ nhiệt, giảm ho và khử đờm Đồng thời, nó có tác dụng làm dãn các mạch máu nhỏ, làm hạ đường huyết, chống loét và chống viêm.
- Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cát cánh dùng chữa ho có đờm hôi tanh, ho ra máu, viêm đau họng, khản tiếng, hen suyễn, tức ngực, khó thở, nhọt ở phổi, kiết lỵ Ngày dùng 4-20g, dạng thuốc sắc Người ta còn dùng Cát cánh chữa mụn nhọt và chế thuốc mỡ dùng ngoài để chữa một số bệnh ngoài da.
IV MỘT SỐ BÀI THUỐC CÓ SỬ DỤNG CÁT CÁNH
1 Ngoại cảm, ho mất tiếng: Cát cánh, Bạc hà, Mộc thông, Bươm bướm, Chiêu liêu, mỗi vị bằng nhau, 6g sắc uống (Bách gia trân tàng).
2 Ho nhổ ra mủ và nước rãi hôi thối, lồng ngực căng tức: Cát cánh, Cam thảo, Chỉ xác, mỗi vị 4-6g sắc uống Tài liệu tham khảo Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - NXB Yhọc - 2003 Tr 716.
3 Chữa ho, tiêu đờm: Cát cánh 4 g, Cam thảo 8g, nước 250ml, sắc còn 150ml, chia làm ba lần uống trong ngày.
4 Cam răng, miệng hôi: Cát cánh, Hồi hương, mỗi vị 4g tán bột nhỏ, bôi.
5 Bệnh ngoài da: Cát cánh 6g, Cam thảo 4g, Gừng 2g, Táo ta (quả) 5g, nước 600ml, sắc còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Ghi chú: trường hợp phổi nóng khô háo không nên dùng Cát cánh Nếu sắc uống phần đầu của rễ củ, nơi giáp với thân cây thì dễ bị nôn.
Cát cánh còn có tên: Bạch dược, Kết cánh, Cánh thảo Với bệnh nhân bị loét dạ dày, ruột cần thận trọng khi dùng Cát cánh
6 Ho lâu ngày: 12 gr bách bộ, 4 gr cam thảo, 8 gr trần bì, bạch tiền, kinh giới, cát cánh mỗi
vị 10 gr, 12 gr tử uyển Sắc kỹ lấy nước, chia uống hai lần sang tối (uống sau bữa ăn 45 -
60 phút) Hoặc 12 gr bách bộ, tỳ bà diệp, ngũ vị tử mỗi vị 8 gr, mạch môn, tang bạch bì, thiên môn, xuyên bối mẫu mỗi vị 10 gr, tử uyển 12 gr Sắc uống sau khi ăn 45 - 60 phút Chủ trị: trị ho, trừ đờm.
Bào chế:
Theo Trung Y:
- Dùng Cát cánh bỏ đầu cuống, thái nhỏ, giã nát Bách hợp cho vào nước ngâm lẫn với cát cánh 1 đêm, vớt ra sấy khô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Luận).
Trang 11- Cạo bỏ vỏ ngoài ngâm nước vo gạo một đêm, thái lát, sao qua (Bản Thảo Cương Mục) Theo kinh nghiệm Việt Nam: Khi thu mua, mậu dịch đã cắt bỏ đầu cuống, rửa sạch, để ráo,
ủ một đêm; hôm sau thái lát mỏng, phơi khô dùng sống (cách này thường dùng) có khi theo đơn tẩm mật sao qua Dùng vào hoàn tán, thái lát sao qua, tán bột mịn.
7 Một số bệnh thường gặp
Thang – Thương Hàn Luận).
chén nước còn 1 chén, uống nóng (Nam Dương Hoạt Nhân Thư).
Bán hạ, Trần bì mỗi thứ 12g, Gừng 5 lát, sắc với 2 chén rưỡi nước, còn 1 chén, uống nóng (Cát Cánh Bán Hạ Thang – Nam Dương Hoạt Nhân Thư).
Trị ho suyễn có đàm: Cát cánh 60g, tán bột, sắc với nửa chén Đồng tiện, uống lúc nóng (Giản Yếu Tế Chúng phương).
nước, lâu lâu nhổ bọt tanh hôi như đờm cháo: Cát cánh 40g, Cam thảo 80g, sắc với 3 thăng nước còn 1 thăng, chia uống nhiều lần, lúc nóng Buổi sáng uống thuốc mà buổi chiều nôn ra mủ, máu đặc là tốt (Cam Cát Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
Trị hầu tý, họng viêm, họng sưng đau: Cát cánh 80g, sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, uống (Thiên Kim phương).
Trị bị đánh đập hoặc té ngã gây nên ứ huyết trong ruột, không tiêu lâu ngày, thỉnh thoảng vết thương bị động đau: Cát cánh, tán bột Mỗi lần uống 12g với nước cơm (Trửu Hậu phương).
Trị có thai mà ngực và bụng đau, đầy tức: Cát cánh 40g, gĩa lấy nước 1 chén, sắc với 3 lát Gừng sống còn 6 phân, uống nóng (Thánh Huệ Phương).
Trị răng sâu, răng sưng đau: Cát cánh, Ý dĩ nhân, 2 vị tán bột, uống (Vĩnh Loại Kiềm phương).
Trị chân răng sưng đau, lợi răng loét: Cát cánh tán bột, trộn với nhục Táo làm thành viên, to bằng hạt Bồ kết, xong lấy bông bọc lại, ngậâm thêm với nước Kinh giới (Kinh Nghiệm phương).
Trị cam ăn làm răng lở thối: Cát cánh, Hồi hương 2 vị bằng nhau, tán bột, xức vào (Vệ Sinh Giản Dị phương).
Tán bột, làm hành viên, to bằng hạt ngô đồng Mỗi lần uống 40 viên với nước nóng, ngày 2 lần (Cát Cánh Hoàn – Bảo Mệnh Tập).
Trị mũi chảy máu: Cát cánh, tán bột Mỗi lần uống 1 muỗng canh với nước, ngày 4 lần (Phổ Tế Phương).
Trị trúng độc, tiêu ra phân như gan gà, ngày đêm ra hàng chậu: Khổ Cát cánh tán bột Ngày 3 lần, mỗi lần 12g với rượu, liên tục 7 ngày, xong ăn gan heo, phổi heo
để bồi dưỡng(Cổ Kim Lục Nghiệm phương).
Trang 12 Trị trẻ nhỏ khóc đêm, khóc không ra hơi gần chết: Cát cánh đốt, tán bột 12g, uống với nước cơm, cần uống thêm 1 ít Xạ hương (Bị Cấp phương).
Trị ho nhiệt, đàm dẻo đặc: Cát cánh 8g, Tỳ bà diệp 12g, Tang diệp 12g, Cam thảo 4g, sắc uống ngày 1 thang, liên tục 2-4 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
uống liên tục 4 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Trị amidal viêm: Cát cánh 8g, Kim ngân hoa, Liên kiều mỗi thứ 12g, Sinh Cam thảo 4g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
dĩ nhân 32g, Ngư tinh thảo 340g, Tử hoa địa đinh 32g Chế thành rượu chừng 450ml [mỗi lần uống 10ml, ngày 3 lần] (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Ngư tinh thảo 8g, Cam thảo (sống) 4g, Ý dĩ nhân 20g, Đông qua nhân 24g, Bối mẫu 8g, Ngân hoa đằng 12g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Hương phụ 12g, Đương quy 20g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Trị cam răng, miệng hôi: Cát cánh, Hồi hương, lượng bằng nhau, tán bột, trộn đều Dùng bôi vào chân răng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Âm hư hỏa nghịch không có phong hàn ở phế cấm dùng Ghét bạch cập, Long đờm thảo, Kỵ thịt heo Trần bì làm sứ càng tốt.
Bảo quản: dễ mốc mọt, để nơi cao ráo, tránh ẩm mốc, có thể sấy hơi diêm sinh nếu thấy chớm mốc, mọt Nên kiểm tra thường xuyên.
Kiêng ky : âm hư gây ho thì không nên dùng.
V TÀI LIỆU THAM KHẢO
Dược liệu học tập I NXB y học Hà Nội 2011 trang 227-231
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam Tập I - NXB Khoa học và kỹ thuật
2004 Tr 345-348.
CÁT CÁNH,Trang 709 Dược điển Việt Nam IV Hà Nội XB lần thứ 4
Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam - NXB Yhọc - 2003 Tr 716.