1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng tiêu chuẩn dược liệu cây rau má

28 1,2K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 860,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đây là mẫu báo cáo về rau má, từ tài liệu này bạn có thể cop nhặt để làm bài báo cáo dễ dàng, hiệu quả hơn.Bài này đã được qua chỉnh sữa và chắc lọc cặn kẻ. Hi vọng bạn có thể thực hiện tốt nhờ những tài liệu tôi chia sẽ

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y – DƯỢC ĐÀ NẴNG

Trang 2

12.Phan Xuân Hiến

13.Lê Minh Hiền

Trang 3

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU CÂY RAU MÁ 6

1. Đặc điểm thực vật chi Centella 6

2 Những nghiên cứu về cây Rau Má 7

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

1 Đối tượng nghiên cứu 13

2 Hóa chất - Thuốc thử - Dung môi - Phương tiện nghiên cứu 13

3 Phương pháp nghiên cứu 13

3.1 Đặc điểm thực vật 13

3.2 Thành phần hóa học 15

3.3 Định lượng 18

3.4 Độ ẩm 19

3.5 Độ tro 19

3.6 Tạp chất 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

1 Về mặt thực vật 21

2 Về mặt vi phẫu 21

3 Bột 22

4 Thành phần hóa học 22

4.1 Kết quả phân tích sơ bộ 22

4.2 Kết quả sắc ký lớp mỏng 22

5 Định lượng 22

6 Thử tinh khiết 23

CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN DƯỢC LIỆU 25

Tài liệu tham khảo: 27

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vai trò của cây thuốc đối với cuộc sống con người đã được chứng minhhàng ngàn năm qua Từ xa xưa con người đã biết sử dụng các loài động thựcvật làm các bài thuốc chữa bệnh Ngày nay các bài thuốc có nguồn gốc từthiên nhiên ngày càng được ưa chuộng và chiếm được lòng tin người tiêudùng Nước ta có lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn động thựcvật làm thuốc vô cùng phong phú, đó là đề tài nghiên cứu luôn hấp dẫn cácnhà khoa học trong và ngoài nước

Cây rau má là một trong những cây thuốc phổ biến, dễ trồng, rẻ tiền màlại mang lại hiệu quả kinh tế cao Rau má sinh trưởng tốt ở vùng khí hậu nhiệtđới Người dân vẫn hay dùng rau má như một loại thực phẩm hằng ngày Cáchoạt chất sinh học trong rau má tập trung chủ yếu ở nhóm saponintriterpenoid, có tác dụng sát trùng, giải độc, thanh nhiệt, và tái tạo các mô liênkết giúp lên da non ở các vết thương nhanh chóng, tác dụng chống oxy hóalàm chậm quá trình lão hóa Ngoài ra còn giúp tăng cường trí nhớ, cải thiện vituần hoàn và chữa một số bệnh ngoài da… Như vậy rau má có ứng dụng rộngrãi trong lĩnh vực dược phẩm và mỹ phẩm

Ngày nay khi ngành công nghiệp dược phẩm phát triển càng nhanh thìchất lượng của dược phẩm ngày càng được quan tâm hơn Chất lượng dượcliệu là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả điềutrị của các chế phẩm chiết xuất từ dược liệu Chất lượng dược liệu có thể bịảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: giống, điều kiện nuôi trồng, mùa thu hái,quy trình sơ chế và bảo quản…

Hiện nay các dược liệu kém chất lượng đang được mua bán tràn lan như:dược liệu giả, dược liệu bị chiết kiệt hoạt chất… các chế phẩm từ dược liệuchưa rõ nguồn gốc được người dân truyền tay nhau sử dụng Điều này có thểgây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh, đồng thời gây mấtlòng tin của người dùng vào các chế phẩm từ dược liệu khi không nhận thấy

Trang 5

hiệu quả điều trị Vì vậy xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho dược liệu là điềurất quan trọng để nâng cao hiệu quả điệu trị của các chế phẩm từ dược liệu.

Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dược liệu cây rau má” Đề tài được thực hiện với ba mục tiêu sau:

- Quan sát vi học để đề xuất đặc điểm nhận diện dược liệu rau má.

- Chiết xuất và phân tích sơ bộ thành phần hóa học, đối chiếu với kết quả đã công bố.

- Tổng hợp tài liệu, đề xuất các chỉ tiêu kiểm nghiệm dược liệu rau má.

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU CÂY RAU MÁ

1 Đặc điểm thực vật chi Centella

Loài Centella asiatica Urb [1]

1.2 Đặc điểm thực vật họ hoa tán (Apiaceae) và chi Centella

Họ hoa tán là họ lớn trong hệ thực vật trái đất Các cây trong họ hoa tán là cây thân thảo một hay nhiều năm Thân thường có gióng và mấu Lá mọc so le có bẹ lá, phiến lá chẻ thùy lông chim 1 hay nhiều lần, mọc cách, không có lá kèm, thường có mùi thơm Hoa nhỏ, cụm hoa tán đơn hay tán kép Hoa đều, lưỡng tính mẫu 5, đài 5, tràng 5, một số rụng sớm Nhị 5 xếp xen kẽ với cánh hoa Bộ nhụy 2 lá noãn dính ở mặt trong, 2 vòi tự do với đầu nhụy hơi phồng lên Đỉnh bầu có đĩa mật loe Quả bế thường có cánh dẹt do hai mảnh ghép lại, khi chín thì tách thành 2 quả bế dính nhau

ở đỉnh [1]

Họ hoa tán với hơn 400 chi, 3800 loài Việt Nam có khoảng 20 chi trên 30 loài, phần lớn được trồng để làm gia vị, hương liệu, lấy tinh dầu (Thìa là, Rau mùi,

Cần Tây, Mùi tàu), làm thuốc [1]

Theo APG II, họ hoa tán chia làm bốn phân họ: phân họ Apioideae với khoảng

400 chi, 3200 loài; phân họ Azorelloideae với khoảng 21 chi, 155 loài; phân họ

Mackinlayoideae với 10 chi, 98 loài; phân họ Saniculoideae với 10 chi, 355 loài [6,

7]

Chi Centella - Rau má thuộc phân họ Mackinlayoideae, gồm 20 loài Đặc

điểm thực vật: cây cỏ, mọc bò, lá mọc so le, phiến lá hình thận, gân chân vịt, cụm

Trang 7

2 Những nghiên cứu về cây Rau Má

2.1 Danh pháp

Tên khoa học: Centella asiatica Urb.

Tên tiếng Việt: Rau má.

Tên khác: Tinh tuyết thảo.

2.2 Đặc điểm thực vật

Rau má là loại cỏ mọc bò, rễ mọc ở các mấu của thân.

Lá hình mắt chim, rộng 2 cm đến 4 cm, khía tai bèo, gân lá hình chân vịt, gốc

lá hình tim Cuống lá dài 2 cm đến 4 cm ở những nhánh mang hoa và 8 cm đến 12

cm ở những nhánh thường

Cụm hoa tán đơn gồm các hoa rất nhỏ, mọc ở nách lá

Quả rủ mọc đôi, dẹt, tròn, rộng 3 mm đến 5 mm, có cạnh dọc nhô lên và vân lưới nhỏ rõ rệt, cuống quả rất ngắn

Dược liệu khô thường cuộn lại thành khối Rễ dài 2 cm đến 4 cm, đường kính

1 mm đến 1,5 mm; mặt ngoài màu nâu vàng nhạt hoặc màu vàng xám Thân dài nhỏ, cong queo, màu vàng nâu, có vân nhăn dọc, trên mấu thường thấy rễ Phiến lá

có nhiều vết nhăn rách, đường kính 1 cm đến 4 cm, màu lục xám, mép có răng thô.

Cuống lá dài 3 cm đến 6 cm, cong queo Mùi nhẹ, vị nhạt [2, 3, 4].

Hình 1: Cây Rau má Centella asiatica Urb

Trang 8

2.3 Phân bố và sinh thái

Cây mọc hoang ở ruộng vườn, bãi cỏ… ở các vùng nhiệt đới như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Srilanka, Ấn Độ, Pakistan… Ở nước ta, Rau

má được trồng từ Bắc vào Nam, đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung, nơi khí hậu có độ ẩm cao và có loại đất sét pha cát rất thích hợp cho loại cây này phát triển.

[4]

2.4 Bộ phận dùng

Phần trên mặt đất [2,3,4]

2.5 Thành phần hóa học

2.5.1 Nghiên cứu trong nước

Phần trên mặt đất của Rau má có các saponin triterpen 5 vòng và các sapogenin của chúng, chủ yếu thuộc nhóm ursan Một số ít thuộc nhóm olean và lupan Ngoài ra, Rau má còn có các flavonoid, tinh dầu, và một số hợp chất khác với hàm lượng thấp

Saponin: Các hợp chất triterpenoid nhóm ursan được xem là hoạt chất chính

trong Rau má Cho đến nay, hơn 20 chất đã được phân lập với phân nửa trong số đó

là các saponoid Các saponin quan trọng trong Rau má là asiaticosid và madecassoid Hàm lượng asiaticosid thay đổi nhiều phụ thuộc vào nơi mọc, có thể

từ 1% đến 6,4%

Một số saponin có cấu trúc ursan khác với hàm lượng thấp như: methyl asiatat, methyl brahmat, brahmol, acid madasiatic, acid isothankunic, acid 2α-3β- 20,23-tetrahydroxy-urs -28-oic, acid 2α-3β-23-trihydroxy-urs-20-en-28-oic, asiaticosid B-F, centellasaponin B và C, brahminosid, isothankunisid, arabinosid 3-

O-α-L [ 3]

Trang 9

Các dẫn chất oleanan như acid terminolic, acid en-28-oic, acid 3β-6β-23-trihydroxyolean-12-en-28-oic, centellasapogenol A, asiaticosid B, centellasaponin A,D và dẫn chất lupan là acid betulinic acid cũng

2α-3β-23-trihydroxy-olean-12-được phân lập từ Rau má [3]

Flavonoid: đã được xác định có trong cây Rau má ở cả dạng tự do hoặc gắn

kết với các gốc đường qua nhóm chức hydroxyl như: glucuronid, kaempferol, quercetin, kaempferol-3-O-β-D-glucoside, quercetin-3-O-

quercetin-3-O-β-D-β-D-glucoside [3]

Tinh dầu: Một nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính kháng khuẩn

của tinh dầu Rau má Kết quả thành phần hóa học chính trong tinh dầu ra má được

tìm thấy và so sánh với những nghiên cứu khác trên thế giới như sau: [5]

ST

T

Hợp chất Hàm lương % GC/MS

Việt Nam

Malaysi a

Banglases h

Sri Lank a

Himalay a

Ấn Độ

Nam Phi

1 0,27

3 19,8

Trang 10

10 α-Humulen 33,7 23,9 9 23,1 11,

3 21,06

Các nhóm hợp chất khác: Trong Rau má còn có các carbohydrat (như

mesoinositol, một oligosaccharid là centellose và một pectin là S3A), một alcaloid chưa được xác định cấu trúc là hydrocotylin (C 23 H 33 O 8 N) Ngoài ra còn có các hợp

chất polyacetylen (acetonxycentellymol), sterol, lipid, vitamin C, carotenoid [3]

2.5.2 Nghiên cứu ngoài nước

Brinkhaus và cộng sự đã tóm tắt các công thức hóa học của cây rau má trước

năm 2000 [8] Shukla và cộng sự đã tách được triterpenoid khung ursane mới từ cây Rau má [9] Sau đó, Matsuda và cộng sự đã phân lập được một olean-13-ene

triterpenoid mới, centellasapogenol A, và oligoglycoside từ cây Rau má trồng ở

Việt Nam [10]

Từ dịch chiết n-BuOH của cây Rau má, Jiang và cộng sự đã tách được 4

triterpenoid glycoside mới là asiaticoside C, D, E, F [11]

Từ cây rau má ở Sirilanka, nhóm tác giả người Nhật (Hisashi Matsuda Trường đại học Dược Kyoto-Nhật Bản) đã phân lập được 8 triterpene glycoside là: centellasaponin A, centellasaponin B, centellasaponin C, centellasaponin D,

-madecassoside, asiaticoside, asiaticoside B và sceffoleoside [12]

Wan-Joo-Kim và các cộng sự - Trường đại học Seoun, Hàn Quốc đã phân lập được 4 triterpenoid từ cây rau má của Indonesia là: madecassoside,

asiaticoside, asiatic acid và madecassic acid, với hàm lượng khá cao [13]

Yu Q.L và cộng sự đã phân lập được một hợp chất mới là acid

2α-3β-20,23-tetrahydroxy-urs-28-oic.[14] Năm 2007, nhóm này còn phân lập được

docosyl ferulat, bayogenin, 3β,6β,23-trihydroxy-olean-12-en-28-oic acid , 3β,6β,23-trihydroxy-urs-12-en-28-oic acid, D-gulonic acid Đây là những chất lần

đầu tiên được tìm thấy ở cây rau má [15]

Theo nghiên cứu của O A Oydefi và A J Afolayan năm 2005 thì hàm lượng tinh dầu trong rau má là xấp xỉ 0,1% tính theo khối lượng khô Thành phần monoterpene chính gồm: α-pinene, β-pinene, micrene, γ- terpinene,

Trang 11

borneol, các sesquiterpene chính gồm: α-copaene, β- elemene, β-caryophyllene,

trans-β-farnesene, germacrene và bicycloelemene [16]

2.6 Tác dụng dược lý

2.6.1 Hoạt tính kháng khuẩn

Năm 2004, Mamtha và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn đường ruột của dịch chiết của Rau má với methanol ở nồng độ 100, 200, 300 và 400 mg/ml Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt tính kháng khuẩn tốt nhất của dịch chiết Rau má chống lại mầm mống của bệnh đường ruột ở nồng độ 400 mg/ml Hoạt tính kháng khuẩn này được đánh giá tương tự như một loại thuốc điều trị bệnh tiêu chảy.

[17]

2.6.2 Hoạt tính giảm đau và kháng viêm

Nhóm nghiên cứu của Somchit đã nghiên cứu hoạt tính giảm đau của dịch chiết nước cây Rau má với chuột nhắt trắng (10, 30, 100 và 300 mg/kg trọng lượng trên hai mô hình gây đau với acetic acid và đĩa nóng Đồng thời, hoạt tính kháng viêm được nghiên cứu trên chuột cống gây viêm bàn chân bằng prostaglandin E2 Kết quả cho thấy, hoạt tính giảm đau của dịch nước cây Rau má tương tự như aspirin, nhưng yếu hơn morphine Đáng chú ý, hoạt tính kháng viêm của dịch

nước tương tự như các thuốc kháng viêm không steroid và meferamic acid [18]

2.6.3 Hoạt tính chống oxy hóa

Năm 2000, Cheng và Koo đã nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết Rau má trong việc phòng, chống tổn thương dạ dày ở chuột gây ra bởi tác nhân ethanol Với liều dùng (0,05 g/kg, 0,25 g/kg và 0,50 g/kg) bằng cách cho uống, trước khi dùng ethanol Kết quả cho thấy dịch chiết từ Rau má ngăn ethanol gây ra tổn thương niêm mạc dạ dày bằng cách tăng cường các hàng rào niêm mạc và giảm

thiểu các tác hại của các gốc tự do.[19]

2.6.4 Tác dụng bảo vệ thần kinh

Năm 2005, Subathra cùng với các cộng sự đã nghiên cứu về khả năng chống oxy hóa của dịch chiết từ Rau má đối với vùng não của những con chuột già, khi cho chúng uống với liều (300 mg/kg trọng lượng cơ thể/ngày) trong 60 ngày Kết quả cho thấy dịch chiết Rau má đã làm giảm nồng độ chất per-oxy hóa lipid

(LPO) và cacbonyl protein (PCO) trong vùng não của chuột [20]

Trang 12

2.6.5 Hoạt tính chống xơ vữa động mạch

Trong bằng độc quyền sáng chế đăng ký tại Hoa Kỳ US 2007/0010459A1, 11/01/2007, nhóm nghiên cứu đã sử dụng asiatic acid hoặc hỗn hợp asiatic acid /asiaticoside để điều trị bệnh xơ vữa động mạch và xơ vữa phổi trên động

vật thực nghiệm là chó và chuột cống Các kết quả là rất khả quan [21]

2.7 Công dụng

Y học hiện đại sử dụng Rau má và saponin toàn phần trong Rau má trong điều trị bỏng độ II và III, vết thương và các tổn thương ngoài da Nó cũng được dùng đẻ ngăn ngừa sự sừng hóa tạo sự lồi Dịch chiết được dùng ngoài để tăng cường sự lành vết thương hay hậu phẫu mãn Sử dụng đường uống Rau má có tác dụng điều trị loét dạ dày tá tràng do stress Các sản phẩm của Rau má còn được dùng trong bệnh tĩnh mạch mãn

Ngoài ra, Rau má được sử dụng trong điều trị các vết loét trong bệnh phong, eczema, các rối loạn tĩnh mạch Rau má có tác dụng giảm viêm ứ ở bệnh nhân xơ gan.

Trong y học cổ truyền, Rau má được sử dụng trong nhiều loại bệnh khác nhau Nhân dân ta dùng Rau má để làm rau sống để ăn Nước Rau má là loại nước giải khát phổ biến ở các tỉnh phía Nam Kinh nghiệm nhân dân cho rằng Rau má có tác dụng giải nhiệt, giải độc, thông tiểu, dùng để chữa sốt, rôm sẩy, mẫn ngứa, các bệnh về gan, thổ huyết, đi lỏng, lỵ, viêm họng, viêm phế quản, viêm đường tiểu tiện.

Trong đời sống, Rau má thường được dùng làm nước giải khát, chế biến các nước sâm mát cùng với các dược liệu khác nhau hay dùng làm rau xanh Dược liệu được dùng tươi bằng cách xay với nước sôi để nguội, lọc lấy dịch, thêm đường để

uống, ngày dùng 30-40g [2]

Trang 13

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Dùng phần trên mặt đất của cây Rau má thu hái tại phường Điện NamTrung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Cây Rau má được cắt nhỏ phơi hoặc sấy khô, đóng gói và bảo quản đểtiến hành thí nghiệm

2 Hóa chất - Thuốc thử - Dung môi - Phương tiện nghiên cứu

Thuốc thử, dung môi, hóa chất đạt theo tiêu chuẩn DĐVN V

Phương tiện nghiên cứu: Kính hiển vi Leica, cân phân tích OhausPA213, tủ sấy, máy xay dược liệu, tủ hút, bếp cách thủy, đèn soi UV 2 bướcsóng, lò nung

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm thực vật

Phân tích hình thái thực vật, vi phẫu

Nghiên cứu đặc điểm vi học dựa theo dược liệu

3.1.1 Vi phẫu

a Chọn mẫu:

Thường là mẫu tươi hoặc mẫu ngâm trong cồn 70 độ

Đối với mẫu vật là lá thì hình dạng lá phải còn nguyên vẹn, chọn những

lá không già quá nhưng cũng không non quá (lá bánh tẻ)

Đối với mẫu vật là cành, thân hoặc rễ cây thì nên chọn những đoạntương đối thẳng, có đường kính từ 0,1 – 0,5cm

Các mẫu khô nên được luộc hay ngâm nước sôi trước khi cắt, thời gianngâm hay luộc tùy thuộc vào mức độ rắn chắc của mẫu vật

b Phương pháp cắt mẫu:

Cắt trực tiếp

Mẫu được đặt lên một “thớt” (làm bằng vật liệu có độ cứng nhỏ hơnlưỡi dao cạo như gỗ hoặc khoai lang, v.v.), dùng lưỡi dao cạo cắt thành nhữnglát mỏng

Trang 14

Các lát cắt sau đó được ngâm ngay vào đĩa petri đã có sẵn nước cất.

c Tẩy và nhuộm mẫu :

Tẩy:

Tẩy mẫu bằng dung dịch Cloramin B trong thời gian ít nhất là 30 phút.Rửa sạch Cloramin 3 lần bằng nước cất Nếu mẫu chứa nhiều tinh bột có thểngâm trong dung dịch cloran hydrat trong 30 phút, sau đó rửa sạch Ngâmmẫu trong acid acetic trong 15 phút Rửa sạch mẫu 3 lần bằng nước cất

Nhuộm:

Nhuộm màu xanh bằng dung dịch xanh Methylen Thời gian từ 5-30giây Rửa sạch mẫu 3 lần bằng nước cất Nhuộm màu đỏ bằng cách ngâmmẫu vào dung dịch đỏ Carmin khoảng 30 phút Rửa sạch mẫu 3 lần bằngnước cất

Ngày đăng: 06/10/2019, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w