1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN dược LIỆU CHỨA ALKALOID cà độc dược – datura metel l

13 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG DƯỢC LIỆU CÀ ĐỘC DƯỢC Hầu hết các bộ phận của cây đều chứa alkaloid, trong đó alkaloid chính là - – scopolamine hay còn được gọi là hyoscine, ngoài ra còn c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BỘ MÔN DƯỢC LIỆU

TIỂU LUẬN DƯỢC LIỆU CHỨA ALKALOID

CÀ ĐỘC DƯỢC – Datura metel L

Nhóm thực hiện: Đàm Hoàng Anh – 1501003 Giảng viên hướng dẫn

Lớp A5K70 Lê Minh Anh – 1501006 PGS TS Nguyễn Thu Hằng

Trần Nhật Minh – 1501332

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

I GIỚI THIỆU

1 Đặt vấn đề và mục tiêu

Cà độc dược, tên khoa học là Datura metel L., thuộc họ Cà (Solanaceae), là cây

thảo nhỏ, mọc hàng năm Trong nền y học cổ truyền của Việt Nam cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, từ lâu cà độc dược đã trở thành một vị thuốc quen thuộc và phổ biến Bài tiểu luận này sẽ trình bày một cách tổng quan nhất về cà độc dược cũng như giới thiệu một số công dụng chữa bệnh của dược liệu này trong Y học

2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp các tài liệu đã được công bố trên các sách, báo và tạp chí khoa học

II TỔNG QUAN VỀ CÂY CÀ ĐỘC DƯỢC

1 Vị trí phân loại và tên gọi

Cà độc dược, tên khoa học: Datura metel L., thuộc chi Datura, họ Cà

(Solanaceae), bộ Cà (Solanales), giới Thực vật (Plantae)

Tên thường gọi: cà độc dược, cà dược, cà diên, mạn đà la Tên nước ngoài: devil’s trumpet, metel (tiếng Anh)

2 Đặc điểm thực vật

Căn cứ vào màu sắc của hoa và thân cây người ta chia ra thành nhiều dạng cà độc dược Ở nước ta có 3 loại cà độc dược: cây cà độc dược với hoa trắng thân xanh,

cành xanh (Datura metel L forma alba), cây cà độc dược với hoa đốm tím, cành và thân tím (Datura metel L forma violacea) và dạng lai của 2 dạng trên

Các dạng cà độc dược đều là những cây thảo nhỏ, mọc hang năm, cao tầm 1-2m Toàn thân gần như nhẵn, có nhiều bì khổng Cành non và các bộ phận non có nhiều lông tơ ngắn Thân cây có màu xanh hoặc màu tím tùy theo dạng Lá đơn, mọc cách nhưng gần đầu cành trông như mọc đối hay mọc vòng Phiến lá hình trứng dài 9-10cm, rộng từ 4-9cm, ngọn lá nhọn, phía đáy lá hơi hẹp lại Hai bên của đáy lá không đều nhau Mép lá ít khi nguyên, thường lượn song hay hơi xẻ răng cưa (độ 3-4 răng cưa) Mặt lá màu xanh xám, mặt dưới màu xanh nhạt, gân chính và phụ màu xanh hoặc tím tùy theo dạng Cuống lá dài 4-8cm, mặt lá non có nhiều lông, sau rụng dần

Hoa to, mọc riêng ở kẽ lá, cuống hoa dài 1-2cm, đài hoa hình ống có 5 gân nổi lên rõ rệt, dài 5-8cm, rộng 1.5-2cm Khi hoa héo, một phần còn lại trưởng thành với quả giống hình cái mâm Tràng to, hình phễu có màu trắng hoặc tím Loại hoa tím có

Trang 3

đốm tím ở trên Quả hình cầu, mặt ngoài có gai, đường kính chừng 3cm, khi non có màu xanh, khi chín có màu nâu Quả khi già nứt theo 3-4 đường hay nứt lung tung ở phía trên Hạt rất nhiều, hình trứng, dẹt, màu vàng đen, dài 3-5mm, dày 1mm, ở cạnh

có những vân nổi lên

Vi phẫu: (Prabhakar & Kumar, 1994)

Phần gân lá: Biểu bì trên và biểu bi dưới gồm một lóp tế bào mang nhiều lông

che chở có bề mặt lấm tấm, lông tiết có đầu đa bào và chân đơn bào Mô dày nằm sát biểu bì trên và biểu bì dưới Mô mềm cấu tạo bởi những tế bào có thành mỏng, hình tròn hay đa giác không đều, rải rác có những tế bào chứa tinh thể calci oxalat dạng cát,

Bó libe-gỗ hình cung ở giữa gân lá, libe tạo thành vòng bao quanh gỗ

Phần phiến lá: Biểu bì trên và biểu bì dưới gồm một lớp tế bào mang lông che

chở và lông tiết Mô giậu gồm các tế bào hình chữ nhật, xếp vuông góc với biểu bì trên, phía dưới là mô khuyết, rải rác có các tinh thể calci oxaỉat hinh cầu gai nằm giữa

mô giậu và mô khuyết

Trang 4

3 Phân bố, thu hái, chế biến [Sách giáo trình]

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam, Cam-pu-chia,

Lào, Ấn Độ, Trung Quốc,… để làm cảnh và làm thuốc Cây thường mọc ở những nơi đất hoang, đất mùn, hơi ẩm Ở nước ta có nhiều ở Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Bình, Ninh Thuận…

Thu hái: Thu hái lá vào lúc cây sắp và đang ra hoa (Tháng 4, 5, 6 đến hết tháng

9, 10) Hoa hái vào các tháng 8, 9, 10 Hạt lấy ở những quả chín ngả màu nâu

Chế biến: Sau khi phơi, sấy khô tán thành bột, có thể chế cao lỏng hay có khi

làm thuốc thang sắc uống

III DƯỢC LIỆU CÀ ĐỘC DƯỢC

Bộ phận chủ yếu dùng làm thuốc của Cà độc dược là Lá (Folium Daturae metelis), Hoa (Flos Daturae metelis), Hạt (Semen Daturae metelis)

Đặc điểm bột dược liệu:

Lá: Bột màu lục xám, mùi hăng đặc biệt, vị đắng Mảnh biều bì mang lỗ khí,

mang lông tiết hoặc lông che chở Lông che chở đa bào cấu tạo bởi 3 đến 4 tế bào thành mỏng, bề mặt lấm tấm Thỉnh thoảng có một sổ lông che chở đa bào có eo thắt Lông tiết đầu đa bào, chân đơn bào Mảnh mạch xoắn Mảnh mô mềm hình giậu Tinh thể calci oxalat hình cầu gai

Hình 2.4.2a: Vi phẫu lá Cà độc dược

1 Biểu bì; 2 Mô mềm giậu; 3 Mô khuyết; 4 Gỗ; 5 Libe; 6 Libel; 7 Mô dày; 8 Tinh thể canxi oxalat hình cầu gai; 9 Lông tiết chân đơn bào đầu đa bào; 10 Lông che chở

đa bào có chấm như sạn

Trang 5

Hoa: Bột màu vàng nhạt, vị hơi đắng Hạt phấn gần hình cầu hoặc hình bầu dục

dài, đường kính 39 µm đến 42 µm, có cấu tạo 3 lỗ rãnh, bề mặt có đường gân nhỏ phân nhánh, tạo thành hình mạng lưới ở hai cực Lông che chở của đài có 1 đến 3 tế bào, thành tế bào sần sùi Mỗi lông tiết có 1 đến 5 tế bào ở đầu và 1 đến 5 tế bào ở chân Các lông che chở ở mép cánh hoa có 1 đến 10 tế bào, thành tế bào hơi sần sùi Lông che chở ở gốc chỉ nhị dày, có 1 đến 5 tế bào, đường kính chân lông đạt tới 128

µm, đỉnh tròn tù Trong các tế bào tràng và đài hoa có tinh thể calci oxalat dạng cát, lăng trụ và cụm calci oxalat

IV CÁC THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG DƯỢC LIỆU CÀ ĐỘC DƯỢC

Hầu hết các bộ phận của cây đều chứa alkaloid, trong đó alkaloid chính là (-) – scopolamine (hay còn được gọi là hyoscine), ngoài ra còn có hyoscyamine, atropine, norhyoscyamine

Hình 2.4.2b: Một số đặc điểm bột Cà độc dược

1 Lông che chở đa bào có chấm như sạn; 2 Lông tiết chân đơn bào đầu

đa bào; 3 Mảnh biểu bì có

lỗ khí; 4 Mảnh phiến lá (nhìn nghiêng); 5 Tinh thể canxi oxalat hình cầu gai; 6 Mảnh phiến là có tiunh thể canxi oxalat và mạch xoắn

7 Mảnh mạch xoắn

Trang 6

Hàm lượng alkaloid toàn phần ở lá: 0,10 – 0,60%, rễ: 0,10 – 0,20%, hạt: 0,20 – 0,50%, quả: 0,12%, hoa: 0,25-0,60% Hàm lượng alkaloid thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng của cây và cách trồng trọt chăm sóc, thường cao nhất vào lúc cây ra hoa Khi quả chính các alkaloid di chuyển từ vỏ quả vào trong hạt Việc bón phân đạm đã làm tăng hàm lượng alkaloid toàn phần Nếu tỉa bớt cành hoặc cắt ngọn thì lượng alkaloid sẽ giảm

Bảng 1: Hàm lượng alkaloid của cây cà độc dược trồng tại Hà Nội

(Theo Viện Dược liệu)

Bộ phận cây Alkaloid toàn phần

(%)

Scopolamine (%)

Hyoscyamine (%)

Trong cà độc dược, ở lá, rễ còn có flavonoid, saponin, coumarin, tanin, với hàm lượng thấp; ở hạt còn có chất béo (khoảng 14,72%)

V KIỂM NGHIỆM

1 Các phương pháp định tính:

1.1 Định tính: hoa

 Phương pháp sắc kí lớp mỏng

- Bản mỏng: Silica gel G

- Hệ dung môi khai triển: ethyl acetat – methanol - amoniac đậm đặc (17: 2: 1)

Trang 7

- Dung dịch thử: Lấy 1g bột dược liệu, thêm 1 ml amoniac đậm đặc (TT), trộn

kỹ, thêm 25ml chloroform (TT) khuấy kỹ, để lắng qua đêm, lọc, bốc hơi dịch lọc đến khô Hòa tan cặn trong 1ml cloroform (TT), được dung dịch thử

- Dung dịch đối chiếu: Hòa tan atropin sulfat chuẩn và scopolamin hydrobromid chuẩn trong methanol để được dung dịch có chứa mỗi chất 4mg/ml Nếu không có 2 chất chuẩn trên, dùng 1g bột hoa Cà độc dược (mẫu chuẩn), tiến hành chiết như dung dịch thử

- Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng mỗi dung dịch 10 µl Triển khai sắc ký xong, lấy bản mỏng ra, phơi khô ngoài không khí, phun thuốc thử Dragendorff (TT) Sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết atropin và scopolamin của dung dịch đối chiếu Nếu dùng hoa Cà độc dược để chiết dung dịch đối chiếu thì trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng màu và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu

1.2 Định tính: lá

Lấy khoảng 3g bột dược liệu cho vào một bình nón khô có nút mài dung tích

100 ml Thấm ẩm bằng vừa đủ amoniac đậm đặc (TT) Thêm 15 ml hỗn họp ether cloroform (3:1) Để yên từ 45 phút đến 1 giờ; thỉnh thoảng lắc đều Lọc dịch chiết ether -cloroform vào một bát sứ nhỏ, lấy bã dược liệu chiết như trên 2 lần nữa, gộp các dịch chiết ether-cloroform vào một bát sứ nhỏ, bốc hơi trên nồi cách thủy tới khô Hòa tan cắn với 3 giọt đến 5 giọt acid nitric (TT) rồi bốc hơi trên nồi cách thủy đến khô, cắn có màu vàng Để nguội, nhỏ vào cắn 5 gìọị aceton (TT) và 1 đến 2 giọt dung dịch kaỉi hydroxyd 10 % trong ethanol 90 % (TT) vừa mới pha sẽ xuất hiện màu tím không bền

2 Một số phương pháp định lượng:

- Phương pháp đo thể tích

- Phương pháp đo acid trong môi trường khan (mấy cái này ở Dược đỉn VN 4)

VI CÔNG DỤNG CỦA CÀ ĐỘC DƯỢC

Công dụng trong dân gian/ y học cổ truyền: Cà độc dược được sử dụng như một tác nhân có khả năng an thần, chống co thắt và giãn đồng tử Toàn cây, đặc biệt là lá

và hạt, có tác dụng gây mê, gây ảo giác, chống hen, chống co thắt, giãn phế quản, giảm

Trang 8

ho, gây ngủ và giãn đồng tử Ở Ấn Độ, cà độc dược được dùng trong điều trị động kinh, cơn hysteria, tâm thần, bệnh tim, sốt, tiểu chảy, và các bệnh về da Lá cây giã rồi đắp lên vết thương có thể làm giảm đau Ở Việt Nam, hoa và lá khô được cắt nhỏ và được nhồi thành thuốc chữa hen dạng điếu Khoảng 3-5g cao hoa có thể dùng gây mê đường uống, có thể khởi mê trong vòng 5 phút và tác dụng kéo dài 5-6 giờ Hoa còn được dùng trong điều trị đau, viêm phế quản mạn và hen Ngoài ra còn dùng trị bỏng (Lal Ratan, 2011)

VII TÁC DỤNG DƯỢC LÝ VÀ ỨNG DỤNG

1 Kháng vi sinh vật

Kháng vi khuẩn: Dịch chiết methanol và dịch chiết ethyl acetate của Datura

metel khi được thử nghiệm tác dụng với các vi sinh vật gây bệnh trong nhiễm trùng cơ hội khi mắc HIV cho kết quả ức chế tốt Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumonia, Escheriachia coli, Staphylococcus aureus và Salmonella typhi (Bharathi B, 2010) Hoạt chất chiết xuất từ lá cà độc dược có khả năng ức chế Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Proteus mirabis, Salmonella typhi, Bacillus subtilis

và Klebsiella pneumonia nhưng không có tác dụng trên Escherichia coli (Okwu DE, 2009)

Kháng nấm: Khi thử tác dụng với Aspergillus fumigatus, A niger và A flavus,

trong các dịch chiết hexane, methanol, chloroform và acetone của cà độc dược thì dịch chiết chloroform cho tác dụng kháng nấm tốt nhất (không thấy nấm phát triển bằng mắt thường) còn các dịch chiết khác chỉ cho kết quả bất hoạt nấm Dù hiệu lực kháng nấm của dịch chiết chloroform kém 9.2 lần so với amphotericin B nhưng lại có độc tính đối với tế bào thấp hơn 117.8 lần, hứa hẹn có thể phát triển thuốc kháng nấm mới

từ Datura metel (Rajesh, 2002)

Kháng virus: Khả năng kháng virus của atropine được đánh giá với virus

Herpes, virus cúm, virus bệnh New Castle, Sindbis, Vaccinia, Adenovirus và virus viêm não Nhật Bản Atropine chỉ ức chế sự phát triển của virus có vỏ độc lập với phần acid nucleic trong nó và đồng thời ức chế sự glycosyl hóa protein của virus Herpes, ảnh hưởng đến việc tạo hạt virus mới (Alarcon B, 1984) (Yamazaki Z, 1980)

2 Chống viêm, giảm đau, hạ sốt

Trang 9

Chống viêm: Dịch chiết ethanol và ethyl acetate của rễ cà độc dược được thử

nghiệm với chân chuột phù nhồi carrageenan Trong đó dịch chiết ethanol cho tác dụng tốt hơn với liều đáng kể là 200mg/kg so với 10mg/kg của indomethacin (Nivedhitah S, 2010)

Giảm đau: Dịch chiết nước của lá và hạt cà độc dược được đánh giá về khả

năng giảm đau trên chuột làm đau bằng acid acetic và thử nhiệt độ cao bằng đĩa nóng Kết quả cho thấy liều 400 hoặc 800mg/kg theo đường uống có tác dụng giảm đau (Abena AA M L., 2003)

Hạ nhiệt: Dịch chiết lá có khả năng hạ nhiệt ở trực tràng và tăng lượng nước

nhập (Abena AA M L.-A., 2004)

3 Chống oxy hóa – chất béo dọn gốc tự do

Hạt cà độc dược có chứa nhiều acid béo như acid linoleic, oleic, palmitic và stearic cùng một số chất có hoạt tính sinh học tan trong dầu như tocopherol có khả năng dọn gốc tự do, có tiềm năng chống oxy hóa (Ramadan MZ, 2007)

4 Ức chế cholinesterase

Lá cà độc dược có scopolamine là hoạt chất chính, có khả năng ức chế in vitro men cholinesterase ở ruột non chuột Chiết xuất từ rễ cây cùng với lá lại có khả năng

ức chế cao hơn nữa, gợi mở tác dụng mạnh lên cholinesterase từ rễ cà độc dược (Prabhakar E a., 1992)

5 Chống co thắt và gây co thắt:

Dịch chiết xuất từ lá, scopolamine, có tác dụng chống co thắt trong khi dịch chiết xuất từ rễ, acetycholine, có tác dụng ngược lại khi thử nghiệm trên tử cung và ruột non của chuột [15]

6 Tác dụng trên hệ thần kinh:

- Công dụng trên hệ thần kinh của chiết xuất từ lá và hạt được nghiên cứu trên

chuột Sử dụng chiết xuất ở liều dùng 400 và 800 mg/kg làm tăng khả năng lái xe, … Kết quả cũng cho thấy Cà độc dược có đặc tính chống trầm cảm ở liều thấp [4]

- Tiềm năng sử dụng làm chất gây mê đường miệng của chiết xuất methanol: Chó thí nghiệm phục hồi mà không gặp vấn đề gì Liều gây mê 2,4g/kg, gây tăng nhịp tim và nhịp thở Tác dụng gây mê tương tự như thiopentone sodium

Trang 10

- Gây ảo giác khi sử dụng liều trên 100 ppm và nguy cơ tổn thương hệ thần kinh trung ương

7 Độc tính tế bào:

Khảo sát hóa tính của chiết xuất methanol từ hoa Cà độc dược cho ta 10 withanolide, withametelin mới Bốn trong mười withanolide có độc tính đối với các tế bào ung thư A549 (phổi), BGC-823 (dạ dày) và K652 (leukemia), với giá trị IC50 nằm trong khoảng từ 0.05 – 3.5 µM [18]

8 Làm lành vết thương:

Dẫn xuất ethanol của Cà độc dược được đánh giá công dụng làm lành vết thương trên chuột bạch Wistar, sử dụng mô hình vết cắt Dẫn xuất được làm dưới dạng dược dụng là thuốc bôi, thành hai nồng độ (5% và 10% w/w) Thuốc bôi Nitofurazone (0.2% w/w) được sử dụng làm chất chuẩn Các thông số được sử dụng để đánh giá là phần trăm các vết thương đã đóng, thời gian bắt đầu hình thành tế bào biểu mô, hydroxyproline, DNA và nồng độ protein Kết quả cho thấy thuốc bôi nồng độ 10% w/w từ Cà độc dược có tác dụng lớn hơn rất nhiều so với chất chuẩn (Dược điển Việt Nam IV, 2009) [6]

9 Chống tiểu đường:

- Bột từ hạt Cà độc dược được thử nghiệm khả năng làm giảm nồng độ đường trong máu trên chuột bị tiểu đường Sử dụng đường uống với liều 25, 50 và 75 mg/kg khiến nồng độ glucose máu sau 8h giảm đáng kể trên cả chuột bình thường và chuột bị tiểu đường Nghiên cứu cho thấy công dụng này phụ thuộc vào nồng độ [10]

- Khả năng ức chế xanthin oxidase

10 Độc tính và tác dụng phụ:

Cà độc dược có liều dùng an toàn lên đến 2000 mg/kg trọng lượng cơ thể, không cho thấy triệu chứng ngộ độc nào cũng như tử vong Dẫn xuất methanolic được cho là tương đối an toàn khi thử nghiệm liều cao nhất (5000 mg/kg) trên chuột mà không cho biểu hiện ngộ độc nào cũng như không có trường hợp tử vong nào được ghi nhận Tuy vậy, mọi phần của Cà độc dược đều độc vì có sự có mặt của tropane anticholinergic alkaloid gây độc lên thần kinh Các dấu hiệu của ngộ độc bao gồm chóng mặt, sốt cao, tăng nhịp tim, da khô rát, giãn đồng tử, miệng khô, ảo giác, đau đầu, mạch nhanh và yếu, bất tỉnh và cuối cùng là tử vong [8] [9]

Ngày đăng: 18/07/2021, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w