Rào cản về luật pháp trong thương mại quốc tế 15 CHƯƠNG II MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ LUẬT PHÁP VÀ VĂN HOÁ ĐỐI 26 VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 1 Tìm hiểu về thị trườ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Hoàng Ánh
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Hà
Lớp : Anh 2 K37 - ĐHNT
Hà Nội 12 - 2002
MỤC LỤC
Trang 2Trang
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN VĂN HOÁ VÀ LUẬT 1
PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1 Vấn đề rào cản trong thương mại quốc tế 1
2 Rào cản văn hoá trong thương mại quốc tế 4
3 Rào cản về luật pháp trong thương mại quốc tế 15
CHƯƠNG II MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ LUẬT PHÁP VÀ VĂN HOÁ ĐỐI 26
VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG MỸ
1 Tìm hiểu về thị trường Mỹ và tầm quan trọng của thị trường 26
Mỹ đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
tế đối ngoại của Việt Nam
2 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ 37
3 Nhận diện một số rào cản về luật pháp và văn hoá đối với hoạt 43
động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ
động xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM VƯỢT QUA RÀO CẢN LUẬT 69
PHÁP VÀ VĂN HOÁ ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM SANG MỸ
1 Triển vọng phát triển hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang 69
thị trường Mỹ
2 Phương hướng phát triển hoạt động xuất khẩu của Việt Nam 74
nói chung
Trang 33 Một số giải pháp vượt qua rào cản luật pháp và văn hóa 78
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường Mỹ với dung lượng nhập khẩu khổng lồ nhiều chủng loạihàng hoá là một thị trường mà bất kỳ một nước xuất khẩu nào cũng muốnhướng tới Thị trường Mỹ đã và đang là thị trường chủ yếu và mục tiêu củanhiều nước Tuy nhiên, đối với Việt Nam, thị trường Mỹ vẫn còn rất mới mẻ
Kể từ khi Mỹ tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt Nam vào năm
1995 cho đến nay, quan hệ Việt-Mỹ đã có những bước tiến vượt bậc Tronghoạt động xuất khẩu của Việt Nam, Mỹ đang ngày càng trở thành đối tácchiến lược quan trọng Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ không ngừng tănglên trong những năm qua Đặc biệt, Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ được kýkết đã nâng quan hệ thương mại giữa hai nước lên một tầm cao mới, mở ra cơhội mới cho hàng xuất khẩu Việt Nam Tuy vậy, trên thực tế tốc độ phát triểnhoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chưa tương xứng với những tiềmnăng và lợi thế cho thấy vẫn còn rất nhiều rào cản, hạn chế mà phía Việt Namchưa thể khắc phục Thêm vào đó, qua nhiều vụ tranh chấp lớn xảy ra trongthời gian gần đây như vụ Catfish, vụ cà phê Trung Nguyên,…, người ta đã cóthể nhận diện những rào cản chủ yếu Vấn đề đặt ra cho phía Việt Nam là làm
Trang 4sao khắc phục, vượt qua những rào cản ấy để xuất khẩu vào thị trường Mỹmột cách hiệu quả nhất.
Trong số các rào cản đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ cóhai loại rào cản quan trọng là rào cản văn hoá và rào cản luật pháp Hai loạirào cản này hết sức phức tạp và có tác động rất lớn đến hoạt động xuất khẩucủa Việt Nam Những rào cản này hiện nay không chỉ tồn tại trên lý thuyết
mà đang ngày càng hiện rõ, phát tác trong thực tiễn, cản trở thực tế đến việcthâm nhập thị trường Mỹ của doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam Thựctrạng này đòi hỏi Nhà nước và Doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóngnhận thức rõ những rào cản đó, từ đó có những giải pháp đối phó phù hợp.Với việc lựa chọn đề tài “Một số rào cản về văn hoá và luật pháp đối với hoạtđộng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ- Thực trạng và giải pháp”làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình, em chỉ mong góp phần khiêmtốn đưa ra một số nhận định và đề xuất một số biện pháp để cùng giải quyếtvấn đề cấp bách trên
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, Thạc sĩ Nguyễn HoàngÁnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này Em cũngxin chân thành cảm ơn các thày cô và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ em trongquá trình tìm hiểu đề tài, thu thập tài liệu cũng như đã có những ý kiến đónggóp bổ ích
Mặc dù đã rất cố gắng song do khuôn khổ thời gian nghiên cứu và kiếnthức còn hạn chế nên khoá luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Emrất mong nhận được sự phê bình đóng góp của các thầy cô và bạn đọc để khoáluận được hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN VĂN HOÁ VÀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1 VẤN ĐỀ RÀO CẢN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm rào cản
Hiện nay, khi xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại ngày càngdiễn ra mạnh mẽ trên thế giới, vấn đề rào cản trở thành một nội dung đượccác nhà kinh tế thảo luận và bàn cãi rất nhiều Đơn giản là vì muốn đẩy mạnhquá trình tự do hoá, toàn cầu hoá thì trước hết phải tìm ra các giải pháp để loại
bỏ, hạn chế hoặc vượt qua những rào cản đó
Trong nhiều tài liệu, khái niệm “rào cản” được định nghĩa là tất cả
những gì gây trở ngại, khó khăn cho hoạt động tiếp cận một đối tượng nào
đó Ngày nay khi giao lưu kinh tế và văn hoá ngày càng phổ biến, người ta
nhắc nhiều đến “rào cản ngôn ngữ”, “rào cản văn hoá”, “rào cản thươngmại”
1.2 Rào cản trong thương mại quốc tế
Trang 6Trong thương mại quốc tế có một thuật ngữ tiếng Anh được dùng rất
phổ biến là “Barrier of trade”, nghĩa là hàng rào thương mại Hàng rào
thương mại là tất cả các hoạt động của một Chính phủ nhằm hạn chế, ngăn cấm sự tự do của hàng hoá ra vào lãnh thổ nước đó Theo cách định nghĩa
này rào cản chỉ mang tính chủ quan, xuất phát từ hoạt động có chủ ý, có mụcđích rõ ràng của các Chính phủ Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm rào cản rấtrộng, bao gồm cả các rào cản chủ quan lẫn khách quan Bên cạnh những ràocản, hạn chế do Chính phủ các nước đặt ra một cách rõ ràng minh bạch bằngvăn bản còn có các rào cản vô hình tồn tại khách quan Ví dụ như: những ràocản về mặt văn hoá, rào cản do sự khác biệt về luật pháp, chế độ chính trị, ràocản do chênh lệch về trình độ phát triển, giữa các quốc gia Tuy những ràocản này không được quy định cụ thể song lại chi phối rất lớn đến hoạt độngthương mại giữa các quốc gia
Như vậy, xét theo nghĩa rộng, rào cản trong thương mại quốc tế là tất
cả những gì chủ quan hay khách quan, cụ thể hay trừu tượng có tác động cản trở, ngăn chặn , hạn chế hoạt động thương mại quốc tế.
1.3 Tính tất yếu của rào cản trong thương mại quốc tế
1.3.1 Tính tất yếu do sự khác biệt giữa các quốc gia:
Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có sự tham giacủa các quốc gia khác nhau với rất nhiều khác biệt Các quốc gia khác nhau
về mọi lĩnh vực: văn hoá, chính trị, luật pháp, trình độ phát triển, điều kiện tựnhiên, xã hội, vị thế trên thế giới, Nếu như sự khác biệt giữa các quốc gia
về tài nguyên, nguồn lực, lợi thế là nguyên nhân cơ bản dẫn đến phân cônglao động quốc tế và hoạt động thương mại quốc tế thì chính những khác biệt
ấy lại trở thành những rào cản gây trở ngại cho hoạt động thương mại quốc tế
Thử xét riêng góc độ ngôn ngữ, trong quá trình đàm phán ký kết một hợp
đồng mua bán giữa các đối tác thuộc các nước khác nhau, do ngôn ngữ bất
Trang 7đồng nên có nhiều vấn đề bên này khó có thể truyền đạt đầy đủ đến bên kia vìtrong các ngôn ngữ khác nhau có thể không có cách diễn đạt tương đương,hoặc nếu theo ngôn ngữ này chỉ cần một từ là đủ thì sang ngôn ngữ khác phảigiải thích rất dài dòng Đây là một trở ngại không nhỏ khiến các đối tác khó
có thể thông hiểu nhau để tiến tới một thoả thuận chung
Sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các quốc gia cũng là một rào
cản lớn Tại các nước có trình độ phát triển cao như Tây Âu và Nhật Bản, thịtrường của họ thường rất khó tính Hàng hoá muốn nhập khẩu vào các thịtrường này phải đáp ứng được những tiêu chuẩn rất khắt khe về chất lượng,
vệ sinh, kiểm dịch, Trong khi đó, hàng từ các nước đang phát triển với trình
độ sản xuất còn yếu kém, công nghệ lạc hậu khó có thể đảm bảo được nhữngyêu cầu này
Sự cách biệt về mặt địa lý hay điều kiện tự nhiên khí hậu cũng có thể
gây trở ngại cho hoạt động thương mại quốc tế Mặc dù hiện nay sự phát triểncủa các phương tiện thông tin liên lạc, giao thông vận tải đã rút ngắn một cáchtương đối khoảng cách tự nhiên giữa các quốc gia song rõ ràng là việc buônbán với một bạn hàng ở quá xa còn rất nhiều điểm bất lợi Chẳng hạn như thờigian vận chuyển hàng hoá, thời gian lưu chuyển chứng từ kéo dài đồng nghĩavới chi phí và rủi ro nhiều hơn
1.3.2 Tính tất yếu do nhu cầu bảo hộ của từng quốc gia
Bên cạnh những rào cản tồn tại khách quan do sự khác biệt giữa cácquốc gia, rào cản tồn tại còn là do nhu cầu bảo hộ của từng quốc gia Mặc dùhiện nay, các quốc gia trên thế giới hầu hết chủ trương tự do hoá thương mại,
mở cửa nền kinh tế để thông thương nhưng điều này không có nghĩa là tự dohoá, mở cửa tràn lan
Trong trường hợp các nước mở cửa, tự do hoá thương mại tràn lan, cáctác nhân xấu sẽ dễ dàng xâm nhập gây hại cho không chỉ nền kinh tế mà cho
Trang 8mọi mặt của đời sống xã hội nước đó Chẳng hạn như, chiến tranh và khủng
bố sẽ leo thang nếu như các nước không có những biện pháp ngăn cấm hayhạn chế hoạt động buôn bán vũ khí, đạn dược Mặt khác, để bảo vệ an ninhtrật tự xã hội, các quốc gia phải có những rào cản nhất định đối với hoạt độngbuôn bán những mặt hàng có hại như chất kích thích, thuốc nổ, hoá chấtđộc ; để bảo vệ môi trường, các quốc gia phải duy trì những hạn chế đối vớihoạt động buôn bán động vật, thực vật, khoáng sản,
Không chỉ cấm hay hạn chế các mặt hàng có hại, các nước còn cần hạnchế ở một chừng mực nào đó hoạt động mua bán các mặt hàng được phépxuất nhập khẩu Nguyên nhân là do việc xuất khẩu quá nhiều một mặt hàngnào đó sẽ khiến hoạt động sản xuất trong nước mất cân đối, nguyên nhiên liệu
để sản xuất mặt hàng đó sẽ bị khai thác quá mức đến không thể phụchồi, Việc một nước nhập khẩu quá nhiều những mặt hàng trong nước có thểsản xuất được sẽ có khả năng bóp nghẹt hoạt động sản xuất nội địa hoặc gâythâm hụt nghiêm trọng cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế củanước đó
Ngoài ra, các quốc gia còn cần có biện pháp hạn chế nhập khẩu đối vớihàng nhập từ các nước bạn hàng không thực sự thân thiết trong quan hệthương mại hoặc để trả đũa lại những hành vi thương mại không “đẹp “củaphía bên kia Tóm lại, có rất nhiều lý do giải thích sự tồn tại của rào cản trongthương mại quốc tế
2 RÀO CẢN VỀ VĂN HOÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
2.1 Yếu tố văn hoá trong thương mại quốc tế
2.1.1 Khái quát về văn hoá
1/ Khái niệm về văn hoá:
Trang 9Văn hoá là một phạm trù lịch sử gắn liền với sự ra đời và phát triển củatoàn nhân loại Cho đến nay nền văn hoá Thế giới đã có một bề dày lịch sửlâu đời Bản thân khái niệm văn hoá rất rộng lớn, bao quát mọi mặt của đờisống xã hội, các nhà khoa học khác nhau lại có các cách tiếp cận văn hoá khácnhau cho nên đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về nội dung thuậtngữ văn hoá Xét một cách tổng thể thì có hai cách hiểu cơ bản về văn hóa
Theo cách hiểu phổ thông trong mọi tầng lớp nhân dân, khái niệm vănhoá được nhìn nhận thông qua các hiện tượng với nội dung rất phong phú.Văn hoá chỉ về những thực thể của đời sống tinh thần (chùa chiền, di tích lịch
sử văn hoá ), văn hoá chỉ trình độ học vấn (trình độ văn hoá phổ thông, trình
độ văn hoá đại học) hoặc chỉ các sinh hoạt cộng đồng (sinh hoạt văn hoá), Cách hiểu này rất phổ biến trong quần chúng nhân dân, tuy chưa đầy đủ songrất cụ thể và mang đậm bản sắc văn hoá của từng dân tộc
Theo cách hiểu khoa học, khái niệm văn hoá được nhìn nhận về mặtbản chất, cội nguồn sự vật Theo đó, khái niệm văn hoá cũng rất đa dạng docách tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu, các trường phái nghiên cứuthuộc các lĩnh vực, dân tộc khác nhau
Theo thống kê thì hiện nay trên thế giới có khoảng gần 300 định nghĩakhác nhau về văn hoá Vì khái niệm văn hoá rất rộng, rất bao quát nên có rấtnhiều cách định nghĩa trong số đó hầu như chỉ đề cập đến một khía cạnh nào
đó của văn hoá, hoặc bao quát song quá trừu tượng Chỉ có một số cách địnhnghĩa được công nhận rộng rãi
Hiện nay, trên Thế giới nhiều nhà khoa học đồng tình với cách định
nghĩa của Frederico Mayor, tổng giám đốc UNESCO đưa ra, theo đó: “Văn
hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng phong tục tập quán, lối sống và lao động” Định nghĩa khái niệm văn hoá này có ưu điểm là nêu
Trang 10bật khái niệm văn hoá một cách vừa bao quát, lại vừa cụ thể Có lẽ vì vậy màđịnh nghĩa này hiện nay đang được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong rấtnhiều tài liệu nghiên cứu cũng như trong cách hiểu thông thường.
Ở Việt Nam, một định nghĩa về văn hóa được nhiều người tán thành vàcũng rất phổ biến trong những tài liệu về văn hoá (Cụ thể là cuốn Cơ sở văn
hoá Việt Nam) định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội” Định nghĩa trên đã khái quát được văn hoá, đã nhấn mạnh
được yếu tố chủ thể con người và nguồn gốc sự hình thành văn hoá
Tóm lại, trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá ngày nay có thể coi là “tổng
thể những nét tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, từ đó chi phối suy nghĩ
và hành động của con người trong xã hội đó” Vì vậy văn hóa mang những
nét đặc sắc của từng cộng đồng, từng dân tộc (Định nghĩa văn hoá củaUNESCO)
2/ Các yếu tố cấu thành văn hoá
Có nhiều cách phân loại các yếu tố cấu thành văn hoá Ttrong khoá luậnnày, người viết muốn đưa ra một cách phân chia khoa học và hợp lý của cácchuyên gia kinh tế phương Tây, hiện đang nhận được đông đảo sự đồng tìnhtrên Thế giới Theo cách phân chia này, văn hoá bao gồm :
+/Ngôn ngữ
+/Tôn giáo
+/Các giá trị và quan điểm
+/Phong tục tập quán và thói quen
+/Đời sống vật chất
Trang 11+/Nghệ thuật
+/Giáo dục
+/Cấu trúc xã hội
Để thành công trên trường quốc tế, các nhà kinh doanh không chỉ cần
có cái nhìn tổng quát về nền văn hoá nước mình, nước đối tác và các quốc gialiên quan mà còn cần phải có một cái nhìn chi tiết cụ thể về văn hoá Đó là vìmọi yếu tố cấu thành văn hoá, dù là nhỏ nhất cũng có tác động đến hoạt độngkinh doanh, cũng có vai trò nhất định trong việc làm nên thành công hay thấtbại của các thương vụ
a Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là một yếu tố rất quan trọng trong văn hoá Ngôn ngữ là hệthống các âm thanh, từ ngữ, mẫu vẽ, được con người sử dụng để truyền đạtsuy nghĩ và cảm xúc Về tầm quan trọng và ý nghĩa của ngôn ngữ đối với vănhoá, ngôn ngữ được ví như những viên gạch xây nên bức tường văn hoá.Chính nhờ ngôn ngữ mà con người mới có thể xây dựng và duy trì văn hoácủa mình Ngôn ngữ bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời Bêncạnh ngôn ngữ chính thức là ngôn ngữ có lời trong giao tiếp còn có thể biểuđạt các nội dung bằng cử chỉ, tư thế, ánh mắt Ngôn ngữ là một bộ phận rấtquan trọng của văn hoá nên nó có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinhdoanh, đặc biệt là giao tiếp trong kinh doanh
b Tôn giáo
Tôn giáo là một hệ thống các tín ngưỡng và nghi thức liên quan đếnlĩnh vực thần thánh Tôn giáo góp phần tạo nên lối sống, nó tạo ra các mốiquan hệ, quyền lực, trách nhiệm và bổn phận của mỗi cá nhân Tôn giáo cóảnh hưởng sâu sắc đến thói quen, cách nhìn và hành động của con người trongmọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có kinh doanh
Trang 12c Các giá trị và thái độ
Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người màđược các thành viên chấp nhận Thái độ là sự đánh giá những giải pháp khácnhau dựa trên những giá trị này Ngày nay khi xu thế toàn cầu hoá diễn ramạnh mẽ, người ta lại chú ý nhiều hơn đến các giá trị dân tộc với những nétđặc sắc và riêng biệt Giá trị và thái độ có tác động mạnh mẽ đến hành vi kinhdoanh nên phải được nhìn nhận như là các yếu tố làm cơ sở cho các quyếtđịnh kinh doanh của các doanh nghiệp
d Phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức:
Phong tục tập quán và chuẩn mực đạo đức là những luật lệ xã hội đểkiểm soát hành động của người này đối với người kia Phong tục tập quán(folkways) là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng ngày Nómang nặng tính lề thói, thói quen sinh hoạt Phong tục tập quán quy định cáccách cư xử được coi là phù hợp nên việc vi phạm phong tục tập quán khôngphải là vấn đề nghiêm trọng Khác với phong tục tập quán, các chuẩn mựcđạo đức là những cách cư xử được coi là đúng đắn và có tính chất bắt buộcchung đối với các thành viên trong xã hội Vì vậy, các doanh nghiệp phảituyệt đối tuân thủ các chuẩn mực đạo đức trên các thị trường mà mình đangtham gia Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần chú ý đến các phong tục tậpquán vì tuy không bắt buộc nhưng các phong tục tập quán rất đa dạng và cóảnh hưởng bao trùm đối với mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
e Đời sống vật chất:
Một nền văn hoá vật chất được coi là kết quả của công nghệ và cáchthức tổ chức hoạt động kinh tế của một xã hội Văn hoá vật chất thể hiện quađời sống vật chất của một quốc gia Khái niệm văn hoá vật chất bao trùm cảtri thức, công nghệ, phương pháp, công cụ lao động để sản xuất, phân phối vàtiêu thụ sản phẩm Với vai trò là một tác nhân kinh tế, văn hoá vật chất tác
Trang 13động mạnh mẽ đến mức cầu, chủng loại sản phẩm, chất lượng, tính năng củasản phẩm cũng như khâu sản xuất và các kênh phân phối.
f Nghệ thuật- Thẩm mỹ
Nghệ thuật bao gồm hội hoạ, tạo hình, văn hoá dân gian, kịch nghệ vànhững vũ điệu truyền thống Mục đích chủ yếu của nghệ thuật là truyền tảikhái niệm cái đẹp trong một nền văn hoá Do đó, tìm hiểu nghệ thuật của mộtnền văn hoá sẽ giúp chúng ta nắm được quan niệm thẩm mỹ nói chung củangười dân trong một nền văn hoá Quan niệm thẩm mỹ của một xã hội thểhiện ở các màu sắc, biểu tượng, động tác, và có ảnh hưởng chi phối đến mọihoạt động trong đời sống Trong kinh doanh, quan niệm thẩm mĩ có ảnhhưởng rất lớn đến các khâu: thiết kế, chế tạo sản phẩm và quảng cáo,
g Giáo dục
Giáo dục là một thành tố rất quan trọng trong văn hoá Hệ thống giáodục khác nhau ở mỗi nước cũng góp phần duy trì và tạo nên sự khác biệt vềvăn hoá Giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc đến trình độ văn hoá, nhận thức, tinhthần và kỷ luật, năng lực làm việc của người dân trong một xã hội Trongkinh doanh, yếu tố này có ảnh hưởng đặc biệt đến công tác tuyển dụng và đàotạo lao động của các doanh nghiệp
k Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội là cách thức tổ chức cơ bản của xã hội đó Cấu trúc xãhội gồm nhiều khía cạnh song các cấu trúc xã hội khác nhau có thể được phânbiệt căn cứ vào hai yếu tố đặc trưng là: mức độ coi trọng tính cá nhân và mức
độ phân chia giai cấp, đẳng cấp trong xã hội Yếu tố này có ảnh hưởng quyếtđịnh đến sự lựa chọn cơ cấu mặt hàng chiến lược và thị trường mục tiêu củacác doanh nghiệp
2.1.2 Văn hoá trong thương mại quốc tế
Trang 14Thương mại quốc tế là một hoạt động trong đó một doanh nghiệp sẽtiến hành xuất khẩu hàng hoá hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng ở một quốcgia khác hay nhập khẩu hàng hoá dịch vụ từ quốc gia khác về phục vụ chongười tiêu dùng ở nước mình Hàng hoá và dịch vụ sản xuất tại một quốc gia
chính là sản phẩm của nền văn hoá quốc gia đó, vì vậy dưới góc độ văn hoá
thì thương mại quốc tế chính là sự chuyển giao sản phẩm và dịch vụ được sản xuất từ nền văn hoá này cho những người ở nền văn hoá khác sử dụng Chính vì vậy văn hoá có ảnh hưởng rất lớn đến thương mại quốc tế
Qua phần khái quát về văn hoá, ta có thể thấy chính văn hoá đã tạo nênlối sống của một cộng đồng Văn hoá có tác động mạnh mẽ đến tất cả, từphong cách giao tiếp, làm việc, cách thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho đếnnhu cầu cần được thoả mãn và cách thoả mãn nhu cầu của con người sốngtrong nền văn hoá đó Những nền văn hoá khác nhau sẽ tạo nên những lốisống, những cách tiêu dùng khác nhau Vì vậy các nhà kinh doanh, đặc biệt làcác nhà loạt động thương mại quốc tế cần nghiên cứu kĩ về văn hoá khi thâmnhập vào thị trường mới
Hãy xét quá trình diễn tiến của một thương vụ mua bán hàng hoá quốc
tế Từ khâu nghiên cứu tìm hiểu thị trường để xác định cung cầu đến giaodịch đàm phán ký kết hợp đồng, thiết kế mẫu mã sản phẩm, sản xuất, đónggói bao bì, định giá, xúc tiến bán hàng, tạo kênh phân phối, muốn thực hiệntốt tất cả các khâu này đều phải dựa trên sự hiểu biết về văn hoá Do vậy, nhàkinh doanh phải nắm được các yếu tố văn hoá ảnh hưởng như phong tục tập
quán, tôn giáo, giáo dục, đời sống vật chất, Phải xác định đời sống của
nhân dân nơi đó cao hay thấp để biết họ cần chủng loại hàng hoá nào, xa xỉ, thông thường hay thứ cấp và để biết mục tiêu hàng đầu của họ là giá cả hay chất lượng Các nhà xuất khẩu Trung Quốc đã nắm rất chắc về vấn đề này khi
thâm nhập thị trường Việt Nam- nơi mà đời sống nhân dân còn tương đốithấp Đối với đa số người Việt Nam, hàng hoá chỉ cần đảm bảo chức năng,
Trang 15mẫu mã hình thức chỉ cần tương đối, chất liệu không nhất thiết phải bền, miễn
là giá thấp Các nhà xuất khẩu Trung Quốc đã triệt để khai thác khía cạnh này,sản xuất những mặt hàng với khối lượng lớn, phát huy lợi thế quy mô vànguồn nguyên liệu sẵn có Nhờ vậy, sản phẩm họ làm ra có thể bán với giáthấp ngoài sức tưởng tượng, được người Việt Nam tiêu dùng rất nhiều Có thểnói yếu tố lớn nhất dẫn đến thành công của Trung Quốc là do họ nắm rất chắcthị hiếu, thói quen tiêu dùng cũng như đời sống vật chất của người Việt Nam
Phong tục tập quán quyết định nhu cầu và thẩm mỹ, thị hiếu Phong tục tập quán có ảnh hưởng trực tiếp đến các nghi thức, lễ tiết giao tiếp trong gặp
gỡ, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng Điều này đòi hỏi những nhà kinh
doanh ngoại thương phải am hiểu văn hoá các nước, từ đó có cách cư xử đúngđắn, phù hợp, gây thiện cảm với đối tác để việc thương lượng trở nên dễ dànghơn
Khâu xúc tiến bán hàng, tạo kênh phân phối cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hoá Ở nơi đời sống vật chất của dân cư còn thấp, ít các
phương tiện truyền thông hiện đại như ti vi, máy tính, như một số nướcChâu Phi, việc quảng cáo trên các phương tiện này rõ ràng là không hiệu quả
Mặc dù một số nước Châu Phi hiện nay còn nghèo đói, lạc hậu nhưng
tình hình này hoàn toàn có thể thay đổi trong tương lai Văn hoá là một phạm
trù lịch sử nên nó cũng biến đổi theo thời gian Chúng ta có thể thấy rõ nhất
là ở khía cạnh đời sống vật chất của văn hóa Kinh tế luôn vận động và khoa
học kĩ thuật ngày càng tiến bộ hơn Vì thế, để thành công trên thương trường,
các doanh nhân phải thường xuyên cập nhật về kiến thức văn hoá cho phù hợp với sự phát triển đó Thí dụ, những bé gái Nhật Bản trước kia chỉ thích
chơi búp bê bằng vải mặc những bộ quần áo cầu kỳ với mắt nhỏ và tóc tết.Tuy vậy, do sự du nhập của văn hoá và lối sống phương Tây, trẻ em Nhật bâygiờ thích chơi búp bê Barbie với mắt to chân dài hơn con búp bê truyền thống
Trang 16nhiều Vài chục năm trước đây, ý tưởng kinh doanh búp bê Barbie ở Nhật Bản
có thể bị coi là quá phiêu lưu, xa rời thực tế Mặc dầu vậy, hiện nay ý tưởng
ấy lại đem lại thành công lớn
Ví dụ trên đã cho chúng ta thấy một điều: hoạt động thương mại không
chỉ chịu ảnh hưởng của văn hoá một cách bị động Do đặc tính của văn hoá là
năng động nên các nhà kinh doanh có thể đón trước những trào lưu biến
động của văn hoá để hướng dẫn tiêu dùng, tung ra những sản phẩm mới, góp phần thúc đẩy văn hoá biến động nhanh hơn.
Trong xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, nền văn hoá của cáckhu vực, các quốc gia đang xích lại gần nhau Tuy nhiên, các nền văn hoá hoà
nhập mà không hoà tan Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc vẫn cần giữ nguyên bản
sắc văn hoá của mình vì các giá trị văn hoá riêng có đó chính là thế mạnh của họ khi hoà nhập vào quá trình thương mại quốc tế Ví dụ, nền văn hoá
Mỹ- với những đặc trưng như: coi trọng yếu tố cá nhân, sống tốc độ, phongcách người dân nhanh nhẹn, linh hoạt- là yếu tố chủ đạo tạo nên tính năngđộng và bứt phá của nền kinh tế Mỹ Trong khi đó, các thương gia Nhật Bảnvẫn rất thành công với phong cách làm ăn khôn ngoan cẩn trọng, phong cáchđàm phán khéo léo, tỉ mỉ, nhiều thủ thuật vốn là đặc tính của người Nhật Bản
từ xưa đến nay Ngày nay, khi cạnh tranh trên thương trường quốc tế diễn ragay gắt, trình độ sản xuất của các nước ngày càng tiến gần đến nhau, giá cả vàchất lượng đều được tiêu chuẩn hoá, quốc tế hoá, người mua có nhiều cơ hội
để lựa chọn hơn thì việc am hiểu về nền văn hoá nước đối tác, đặc biệt làphong tục tập quán sẽ là lợi thế đáng kể để các thương nhân giành được cáchợp đồng với những điều kiện thuận lợi Nói chung, nghiên cứu tìm hiểu vănhoá là một công việc thiết yếu và rất có ý nghĩa đối với tất cả các bên tronghoạt động kinh doanh nói chung và thương mại quốc tế nói riêng
2.2 Rào cản văn hoá trong thương mại quốc tế
Trang 17Như đã phân tích ở phần trước, rào cản có thể phát sinh do những sựkhác biệt giữa các quốc gia, cũng có thể phát sinh do cơ chế bảo hộ riêng củacác quốc gia Trong những rào cản phát sinh do sự khác biệt giữa các quốcgia, rào cản văn hoá là một bộ phận lớn và có tác động mạnh mẽ đến hoạtđộng thương mại quốc tế Ở đây, người viết đề cập đến những loại rào cảnvăn hoá sau:
2.2.1 Rào cản do sự khác biệt trong cách suy nghĩ
Cách tư duy có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các nhà kinh
doanh xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất và người tiêu dùng Một trong số các
rào cản tư duy rõ ràng nhất là sự khác biệt về tư duy kinh tế giữa các nước TBCN và các nước XHCN Nền văn hoá các nước tư bản phát triển đặc biệt
coi trọng yếu tố cá nhân, coi trọng thành công của cá nhân Do đó mỗi doanhnhân khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế thì mục tiêu đầu tiên làlợi ích của chính cá nhân người đó chứ không phải lợi ích xã hội, môi trường,
… Họ có thể thẳng thắn thừa nhận động cơ kinh doanh của họ chỉ là lợi nhuận
và họ được tự do đưa ra các quyết định kinh doanh Do đó, khi làm ăn với cácdoanh nghiệp này, phía đối tác chỉ phải thông qua rất ít “cửa”, mà chủ yếu làthông qua được doanh nghiệp bên kia là xong Trái lại, mặc dù hiện nay tưduy kinh tế ở các nước XHCN cũ đã thay đổi, không còn nặng nề như trướcsong vấn đề lợi ích công luôn phải được đặt lên hàng đầu Doanh nghiệpmuốn xuất khẩu hay nhập khẩu còn tuỳ thuộc quyết định của rất nhiều cơquan quản lý cấp trên Do đó, làm ăn vói các doanh nghiệp này phải qua rấtnhiều “cửa”, phải tuân thủ rất nhiều thủ tục và luật lệ nhưng có ưu điểm làkhá an toàn do có sự quản lý chặt chẽ, để tâm sát sao của Chính phủ và các bộngành…
2.2.2 Rào cản do sự khác biệt trong giao tiếp
Trang 18Trong giao tiếp, vấn đề cần đề cập đến hàng đầu là ngôn ngữ, đặc biệt
là ngôn ngữ có lời, bao gồm cả ngôn ngữ nói và viết Thương mại quốc tế là
hoạt động thương mại giữa các quốc gia khác nhau, thường là khác nhau vềngôn ngữ Bản thân ngôn ngữ bất đồng là một bất lợi lớn trong hoạt độngthương mại quốc tế Ví dụ, chỉ xét quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, quátrình này có thể do các bên trực tiếp bày tỏ quan điểm, có thể phải qua thôngdịch viên nếu hai bên không biết tiếng nhau Thông dịch viên không thể hiểu
rõ về tình hình của mỗi bên như các doanh nhân- “người trong cuộc” nên họkhó có thể dịch một cách chính xác hoàn toàn, do đó rất dễ dẫn đến hiểu lầmlẫn nhau
Không chỉ trong giao tiếp đàm phán, yếu tố ngôn ngữ còn là một ràocản đáng kể trong nhiều trường hợp khác Ví dụ như trong việc làm nhãn mácsản phẩm tiêu thụ trên thị trường nước ngoài Hãng General Motors đã rất khókhăn trong việc tiếp cận thị trường Puerto Rico khi quảng cáo sản phẩm mớivới nhãn hiệu Cheverolet Nova Đây là một loại xe đời mới, có nhiều ưu điểm
và giá cả hợp lý song không hiểu sao rất ít người mua Sau một thời gian, cácnhà nghiên cứu thị trường đã tìm ra nguyên nhân “tuy nhỏ mà không nhỏ” là:đối với người Tây Ban Nha, Nova có nghĩa là ngôi sao, song khi phát âm nótương tự như “nova” có nghĩa là không chạy Do vậy, sau đó hãng GeneralMotors lập tức đổi tên xe thành Caribe Rõ ràng trong khó khăn của GeneralMotors có sự hiện diện của một rào cản quan trọng, rào cản ngôn ngữ trongthương mại quốc tế
Hiện nay trên thế giới, tiếng Anh được dùng rất phổ biến song không
có nghĩa là tất cả đều dùng tiếng Anh, đặc biệt là người Nhật Bản và TrungQuốc vẫn giữ tư tưởng khá cực đoan về tiếng mẹ đẻ Do đó, rào cản ngôn ngữvẫn đang và sẽ là một rào cản lớn phải tính đến trong hoạt động thương mạiquốc tế Trong giao dịch quốc tế, tốt nhất là các doanh nhân nên am hiểu càngnhiều thứ tiếng của các nước đối tác càng tốt Bên cạnh đó, họ cũng nên tuân
Trang 19theo những quy tắc an toàn khác như: xác nhận bằng phương tiện nghe nhìn,tránh dùng thuật ngữ, tiếng lóng…
Trong giao tiếp, ngôn ngữ không lời như điệu bộ, động tác, cử chỉ, nét mặt,…cũng là một bộ phận quan trọng Sự khác biệt về ngôn ngữ không lời
cũng có thể trở thành rào cản đáng kể trong thương mại quốc tế Ngoài ra, sựkhác biệt về những thói quen tập quán trong giao tiếp như sự đúng giờ, bốicảnh sắp xếp những cuộc gặp mặt, thói quen tặng quà cũng có thể trở thànhrào cản trong thương mại quốc tế Trong giao tiếp, cũng như người ở NhậtBản, người ở Trung Đông và Mỹ La Tinh hầu như chỉ có thể giao tiếp khihiểu biết tương đối rõ về người đối thoại, nắm được các đặc điểm chủ yếu vềnhân thân như tuổi tác, vị thế xã hội, mục đích giao tiếp,… Đối với họ, mộtcuộc gặp bất ngờ và những lời mời làm ăn đường đột thường khiến họ có cảmgiác như bị “bỏ bom” Do đó những thương nhân nước ngoài có thể gặp thấtbại nếu định ký kết một hợp đồng quan trọng với họ chỉ trong một ngày, vộivàng đi ngay vào vấn đề chính
2.2.3 Rào cản do sự khác biệt về tiêu dùng
Có thể hai sản phẩm tương tự nhau được vào một nước mà một sảnphẩm bán chạy còn sản phẩm kia thì ế ẩm Cùng một mặt hàng đưa vàonhững nước khác nhau mà ở nước này tiêu thụ nhanh trong khi ở nước khácthì hầu như không có doanh số Vì sao có hiện tượng này? Câu trả lời chính là
sự khác biệt về tiêu dùng giữa các quốc gia Sự khác biệt có thể trở thành ràocản rất lớn đối với các doanh nghiệp có ý định thâm nhập thị trường nướcngoài Ví dụ, trong lĩnh vực thiết kế chế tạo sản phẩm: công ty General Milksđưa vào thị trường Nhật Bản loại bột làm bánh hiệu Bitty Cracker có thể nấuthành bánh trong nồi cơm điện Sản phẩm mới này có thể thành công trên một
số thị trường châu Á song lại thất bại thảm hại trên thị trường Nhật Nguyên
Trang 20nhân chính là do người Nhật luôn tôn trọng sự tinh khiết trong nồi cơm của họ
và họ không có thói quen nấu những thứ khác trong nồi cơm
Sự khác biệt trong tiêu dùng cũng là vấn đề các doanh nghiệp gặp phảikhi thiết lập hệ thống phân phối Hãng Mỹ phẩm Avon thành công trong việc
sủ dụng phương pháp bán hàng tại nhà và các phương pháp bán hàng trực tiếpkhác tại Mỹ song lại không thành công ở châu Âu Nguyên nhân là do người
Mỹ có thói quen mua hàng trực tiếp, kể cả mua tại nhà trong khi phụ nữ châu
Âu lại không có thói quen ấy Thậm chí, họ còn phản ứng gay gắt vì cho rằngđời tư của họ bị xâm phạm
Tóm lại, rào cản văn hoá trong thương mại quốc tế rất đa dạng và phứctạp Yếu tố rào cản có thể xuất hiện trong từng khâu và xuyên suốt quá trình
Do vậy, các nhà kinh doanh ngoại thương trước khi có ý định làm ăn với thịtrường, với đối tác nào thì nên cố gắng tìm hiểu nền văn hoá của thị trường,của nước đối tác đó
3 RÀO CẢN VỀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
3.1 Yếu tố luật pháp trong thương mại quốc tế
3.1.1 Khái quát về luật pháp
1/ Khái niệm luật pháp
Văn hoá có từ buổi bình minh của xã hội loài người còn luật pháp chỉthực sự ra đời khi xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định Nóiđến pháp luật là nói đến Nhà nước vì pháp luật ra đời cùng với sự phân hoágiai cấp, cùng với sự ra đời của Nhà nước Khái niệm pháp luật có thể đượcđịnh nghĩa như sau:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, chủ yếu và trước hết thể
Trang 21hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội ("Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật", NXB Giáo dục)
2/ Tính chất của luật pháp
+ Pháp luật có tính giai cấp
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết là ở chỗ pháp luật phảnánh ý chí Nhà nước của giai cấp thống trị Ví dụ, pháp luật tư sản là ý chí củagiai cấp tư sản được đề lên thành luật
+ Pháp luật có tính xã hội
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọingười Tính giai cấp của xã hội còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan
hệ xã hội, quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp Với ý nghĩa hướng các quan hệ
xã hội theo một trật tự phù hợp với ý chí giai cấp thống trị, bảo vệ, củng cốđịa vị giai cấp thống trị, pháp luật chính là công cụ để thể hiện sự thống trịgiai cấp Tuy nhiên, vì pháp luật do Nhà nước, đại diện cho toàn xã hội banhành nên nó còn mang tính chất xã hội, nghĩa là ở mức độ ít hay nhiều, phápluật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội
Tóm lại, pháp luật là hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể
hiện tính xã hội Luật pháp là một bộ phận lớn thuộc kiến trúc thượng tầng, có
ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của con người trong xã hội nói chung Khôngchỉ tác động như những yếu tố văn hoá, mọi yếu tố luật pháp mang tính bắtbuộc và cưỡng chế thi hành, mọi cá nhân phải tuân theo pháp luật, pháp luậtđiều chỉnh mọi hoạt động của con người
3/ Các hình thức pháp luật
Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng
ý chí của giai cấp mình lên thành pháp luật Trong lịch sử đã có 3 hình thức
pháp luật là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản pháp luật mà chúng ta có
Trang 22thể thấy sự hiện diện của chúng trong hệ thống luật pháp các nước hiện nay.Tuy vậy, không phải mọi hệ thống luật pháp đều có đủ 3 hình thức pháp luậtnày, có những hệ thống chỉ công nhận hình thức văn bản pháp luật song cũng
có những hệ thống công nhận cả hình thức bất thành văn
+ Tập quán pháp
Tập quán pháp là hình thức Nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu truyền trong xã hội, phối hợp với lợi ích của giai cấp thống trị này thành những quy tắc sử xự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện Đây là hình
thức pháp luật xuất hiện sớm nhất và được sử dụng nhiều trong các nhà nướcchủ nô và phong kiến Trong Nhà nước tư sản, hình thức này vẫn được sửdụng nhiều, nhất là ở các nước theo chế độ TBCN
+ Tiền lệ pháp
Tiền lệ pháp là hình thức Nhà nước thừa nhận các quyết định của các quan hành chính khi xét xử giải quyết những vụ viêc cụ thể để áp dụng đối với các vụ việc tương tự Hình thức này đã được sử dụng trong các Nhà nước
chủ nô, được sử dụng rộng rãi trong các Nhà nước phong kiến và hiện nayvẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật tư sản, nhất là ở Anh, Mỹ vànhững nước theo hệ thống Common Law mà đặc biệt là trong bộ phận dânluật
Tiền lệ pháp có điểm đặc biệt là nó hình thành không phải do hành
động của cơ quan lập pháp mà xuất hiện từ hành động của cơ quan hành
pháp và tư pháp Vì vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tuỳ tiện không phù hợp
với những nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao củaluật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máyNhà nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật
+ Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 23Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tiến bộ nhất Văn
bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành trong đó quy định những nguyên tắc sử xự chung (quy phạm đối với mọi người) được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội Có nhiều loại văn bản
pháp luật Ở mỗi nước trong những điều kiện cụ thể lại có những quy địnhriêng về tên gọi và hiệu lực pháp lý của các loại văn bản pháp luật Nhưngnhìn chung các văn bản pháp luật đều được ban hành theo một trình tự và thủtục nhất định và chứa đựng những quy định cụ thể (các quy phạm pháp luật).Trong pháp luật chủ nô và phong kiến, các văn bản pháp luật còn chưa hoànchỉnh và kĩ thuật xây dựng chưa cao, nhiều đạo luật chỉ là sự ghi chép lại mộtcách có hệ thống các án lệ và các tập quán đã được thừa nhận Pháp luật tưsản đã có nhiều hình thức phong phú và được xây dựng với kỹ thuật cao, đặcbiệt ở giai đoạn đầu, sau khi Cách mạng Tư sản thành công, nguyên tắc phápchế được đề cao làm cho pháp luật tư sản có hệ thống văn bản tương đốithống nhất dựa trên cơ sở của luật Nhưng với bản chất của nó, sau thắng lợihoàn toàn đối với chế độ phong kiến, giai cấp tư sản tự mình phá vỡ nguyêntắc pháp chế do mình đề ra bằng nhiều cách hạ thấp vai trò của nghị viên, mởrộng quyền của Tổng thống và Chính phủ, sử dụng rộng hình thức tập quán vàtiền lệ pháp (thấy rõ ở các nước theo hệ thống Common Law)
Trái lại, pháp luật Xã hội chủ nghĩa có hệ thống các văn bản pháp luậtthống nhất xây dựng theo những nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôntrọng tính tối cao của hiến pháp và pháp luật Sự khác nhau về nguyên tắc nàychính là cơ sở dẫn đến những khác biệt giữa các hệ thống pháp luật
Tóm lại, qua tìm hiểu chung về pháp luật, đặc biệt là các hình thứcpháp luật được sử dụng ở các nước có hệ thống luật khác nhau, chúng ta cóthể có được một cái nhìn tổng quan nhất về pháp luật trên toàn Thế giới Đây
sẽ là cơ sở để tiếp tục tìm hiểu pháp luật và những rào cản pháp luật trongthương mại quốc tế
Trang 243.1.2 Các nguồn luật chủ yếu điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế
Khác với các hoạt động thương mại diễn ra trong nội bộ một quốc gia,giữa các chủ thể trong cùng một quốc gia chỉ chịu sự điều chỉnh của luật pháp
quốc gia đó, hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động mua bán có yếu tố
nước ngoài nên rất phức tạp, chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau như luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán quốc tế, án lệ Hoạt động
thương mại quốc tế được thực hiện chủ yếu qua các hợp đồng mua bán quốc
tế Tính chất phức tạp của luật pháp điều chỉnh hoạt động thương mại quốc cóthể thấy ngay trong những cách định nghĩa khác nhau của các hệ thống luật về
hợp đồng mua bán quốc tế Chẳng hạn với Pháp: “hợp đồng mua bán quốc tế
là hợp đồng ký kết giữa các chủ thể có quốc tịch khác nhau, hàng hoá đối tượng có sự di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia và quy trình ký kết, đàm phán được thực hiện ở các lãnh thổ khác nhau” Trong khi đó, theo luật của
Ý, Hà Lan thì “hợp đồng mua bán quốc tế là hợp đồng ký kết giữa các chủ
thể có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau” Ngay trong vấn đề xác
định yếu tố nước ngoài của chủ thể, luật các quốc gia quy định khác nhau vàcác nguồn luật quốc tế cũng quy định không giống nhau Chẳng hạn Công
ước La Hague 1964 và Công ước Viên 1980 đều khẳng định tiêu chuẩn: “chủ
thể hợp đồng là các bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau”.
Tuy vậy tiêu chuẩn thứ hai lại khác nhau: theo Công ước La Hague, hàng hoá
là đối tượng hợp đồng phải là hàng hoá chuyển được qua biên giới (loại trừ bất động sản), trong khi đó, theo Công ước Viên, đối tượng hợp đồng là hàng hoá có thể chuyển qua biên giới (gồm cả hàng hoá trao đổi với khu chế xuất,
có thể không cần di chuyển vật chất qua biên giới).
Chỉ qua một định nghĩa hợp đồng mua bán quốc tế, chúng ta đã có thểthấy được tính chất phức tạp và đa dạng của các nguồn luật điều chỉnh hoạt
Trang 25động thương mại quốc tế Sau đây ta sẽ xem xét cụ thể hơn những nguồn luậtchủ yếu điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế mà cụ thể là các hợp đồngmua bán quốc tế:
+ Luật quốc gia
Một điều đặc biệt là trong hoạt động thương mại quốc tế, luật quốc gia
là luật nước ngoài đối với ít nhất một bên đương sự Có thể luật quốc gia áp
dụng là luật nước của một bên đương sự, song cũng có thể không phải là củabên nào mà là luật của quốc gia thứ ba được dẫn chiếu đến
Luật quốc gia được áp dụng trong những trường hợp sau: (1)Hợp đồngmua bán quốc tế quy định luật quốc gia áp dụng, (2)Điều ước quốc tế hữuquan quy định luật quốc gia áp dụng, (3)Một bên dẫn chiếu luật quốc giatrong đơn kiện ra toà và bên kia chấp nhận bằng các hình thức như im lặng,không phản bác , (4)Hai bên không thống nhất được, toà án sẽ lựa chọn luậtquốc gia nào đó liên quan dựa vào nguyên tắc của tư pháp quốc tế
Một số hệ thống luật quốc gia chủ yếu trên thế giới:
Trên thế giới, luật quốc gia của các nước có thể theo một số hệ thốngluật chủ yếu sau:
Đặc điểm luật quốc gia của các nước theo hệ thống luật này là: chủ yếu
là luật bất thành văn như tập quán pháp và án lệ (Case law) Ở Mỹ có quá
nhiều Case Law khác nhau Mặc dù Bộ luật Thương mại thống nhất đầu tiêncủa Mỹ ra đời năm 1982, song nó không có giá trị tuyệt đối mà chỉ tuỳ ý, cáctoà án áp dụng Case Law là chủ yếu
Civil Law (các nước châu Âu lục địa, Pháp, Ý, Hà Lan )
Luật các quốc gia theo Civil Law là luật thành văn, được quy định bài
bản, logic, hệ thống tới mức cụ thể chi tiết.
Trang 26Ngoài ra còn có các hệ thống luật Islamic Law (luật của các quốc giaHồi giáo), Chinesse Law (luật của Trung Quốc), Indian Law (luật Ấn Độ) và
Hệ thống luật XHCN
+ Luật quốc tế
Luật quốc tế điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế là các điều ướcquốc tế hữu quan Các điều ước quốc tế cũng là nguồn luật quan trọng điềuchỉnh hoạt động mua bán quốc tế
Điều ước quốc tế được áp dụng trong các trường hợp sau: (1) Khi điềuước quốc tế được các chính phủ ký kết và/hoặc phê chuẩn, (2)Chính phủ đãtham gia hoặc mặc nhiên thừa nhận điều ước quốc tế theo trình tự công khai
Điều ước quốc tế gồm 2 loại chủ yếu:
Điều ước quốc tế có tính nguyên tắc:
Chỉ đưa ra những nguyên tắc có tính chất chỉ đạo, bao trùm để điều tiếthoạt động thương mại giữa 2 quốc gia, đưa ra các chế độ pháp lý quốc tế màngười bán và người mua có thể hưởng lợi thông qua đó Chẳng hạn Hiệp địnhthương mại Việt- Mỹ (HĐTM Việt- Mỹ) vừa có hiệu lực đưa ra các chế độpháp lý quốc tế như: cho nhau hưởng nguyên tắc Tối Huệ quốc, nguyên tắcĐối xử Quốc gia
Điều ước quốc tế có tính cụ thể:
Đây là loại điều ước quốc tế trực tiếp đưa ra những điều chỉnh quy định
về việc ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế bằng cách quy địnhquyền người bán- mua một cách cụ thể Chẳng hạn Công ước Viên 1980 quyđịnh cụ thể về: trình tự ký kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của người bán,mua, chế độ trách nhiệm cụ thể do vi phạm nghĩa vụ của cả hai bên
+ Tập quán thương mại quốc tế:
Trang 27Tập quán thương mại là những thói quen thương mại được công nhận rộng rãi Thông thường, các tập quán thương mại quốc tế được chia thành ba nhóm: các tập quán có tính chất nguyên tắc, các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực Tập quán có tính chất nguyên tắc
là những tập quán cơ bản, bao trùm được hình thành trên cơ sở của nguyên
tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng giữa các dân tộc Ví dụ: “toà
án (hoặc trọng tài) của nước nào thì có quyền áp dụng các quy tắc tố tụng của nước đó khi giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán Ngoại thương”
Tập quán thương mại quốc tế chung là các tập quán thương mại đượcnhiều nước công nhận và áp dụng ở một nơi, nhiều khu vực Ví dụ các điềukiện quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế tập hợp và soạn thảo (gọi tắt làIncoterms 1953- 1980- 1990- 2000) trong đó quy định các điều kiện thươngmại khác nhau (như điều kiện FOB, CFR…) được rất nhiều nước trên thếgiới thừa nhận và áp dụng Các tập quán thương mại khu vực (địa phương) làcác tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực vàtừng cảng Ví dụ, ở Mỹ cũng có điều kiện FOB nhưng theo điều kiện FOB
Mỹ, nghĩa vụ của người bán sẽ nặng nề hơn nhiều (như người bán phải thuêtàu hộ người mua) so với nghĩa vụ của người bán FOB trong Incoterms 2000
Tập quán quốc tế về thương mại sẽ được áp dụng cho hợp đồng muabán ngoại thương trong các trường hợp: (1) Khi chính hợp đồng mua bánNgoại thương quy định; (2) Khi các điều ước quốc tế liên quan quy định; (3)Khi luật thực chất (luật quốc gia) do các bên thoả thuận lựa chọn, không cóhoặc có nhưng không đầy đủ, còn khiếm khuyết về vấn đề tranh chấp, về vấn
đề cần được điều chỉnh
Ngoài 3 nguồn luật nói trên, thực tiễn buôn bán của các nước phươngTây còn thừa nhận cả án lệ (tiền lệ xét xử) và các bản điều kiện chung, các
Trang 28hợp đồng mẫu chuyên nghiệp làm nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bánNgoại thương.
Luật pháp chi phối rất mạnh mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó cóhoạt động thương mại Hoạt động thương mại quốc tế rất phức tạp nên luậtđiều chỉnh nó cũng hết sức phức tạp Giao dịch giữa các thương nhân Mỹ vàViệt Nam cũng vậy Các giao dịch này có thể chịu sự điều chỉnh của luật pháp
Mỹ (điển hình của hệ thống Common Law) hoặc luật Việt Nam (thuộc hệthống luật pháp XHCN), Hiệp định thương mại song phương hay các tập quánquốc tế hoặc các công ước mà hai bên tham gia Thực tế đó đòi hỏi các nhàkinh doanh ngoại thương phải có sự am hiểu toàn diện và sâu sắc về cácnguồn luật nếu muốn mở rộng hoạt động của mình ra các thị trường ngoài
3.2 Rào cản luật pháp trong thương mại quốc tế
Ở phần trước chúng ta đã đề cập đến vấn đề rào cản văn hoá trongthương mại quốc tế Trong phần này, chúng ta hãy xem xét ảnh hưởng của ràocản luật pháp trong thương mại quốc tế
Khác với rào cản văn hoá chủ yếu là rào cản vô hình, bất thành văn.Rào cản luật pháp phần lớn phát sinh từ những quy định rõ ràng, cụ thể bằngvăn bản có tính chất bắt buộc, cưỡng chế Nhìn chung, rào cản luật pháp trongthương mại quốc tế được phân thành hai loại chính sau:
3.2.1 Rào cản pháp sinh từ sự khác biệt về luật pháp
Sự khác biệt ở đây có thể là khác về luật quốc gia, quốc tế, tập quán, án
lệ Ví dụ, các doanh nhân thuộc các nước tư bản phát triển với hệ thống luậtđơn giản và chặt chẽ rất “dị ứng” với hệ thống luật mơ hồ và chồng chéo, vớihàng loạt thủ tục rườm rà khi làm ăn với doanh nghiệp thuộc các quốc giađang phát triển
Trang 29Những nhà kinh doanh tư bản, vốn quen với việc tự do kinh doanh luônthắc mắc rằng tại sao làm ăn với phía đối tác ở các nước đang phát triển lạiphải qua nhiều cấp từ Chính phủ, bộ, ngành…thẩm duyệt như thế Rõ ràng, hệthống luật quốc gia khác nhau có những quy định khác nhau, rồi trình độ pháttriển luật pháp quốc gia cũng khác nhau cũng dẫn đến những khác biệt trongnhững quy định cụ thể Chẳng hạn Luật Thương mại Việt Nam 1997 quy định
“hình thức hợp đồng mua bán quốc tế có thể là điện tín, fax, thư điện tử, telex
hoặc bất cứ một hình thức thông tin điện tử nào khác và không cho phép ký kết bằng miệng, telephone” Điểm này quy định hoàn toàn trái với luật các
nước tư bản như Anh, Mỹ cho phép hợp đồng ký kết bằng miệng, telephone
Do đó, những doanh nhân Anh, Mỹ khi làm việc với phía Việt Nam phải hếtsức chú ý đến vấn đề này để tránh tranh chấp Một ví dụ nữa là quy định vềnhững điều khoản chủ yếu mà một đề nghị ký kết hợp đồng phải có Luật của
Pháp quy định chỉ cần 3 điều khoản: đối tượng, giá cả, điều kiện giao hàng.
Luật Anh thậm chí chỉ cần điều khoản đối tượng Tuy nhiên, Việt Nam quy
định cần những 6 điều khoản chủ yếu là: tên, số lượng, chất lượng, giá cả,
thời hạn thanh toán, thời hạn giao hàng Sự khác biệt này đòi hỏi các nhà
hoạt động thương mại quốc tế phải tìm hiểu kỹ càng các quy định luật phápnước đối tác và các nước liên quan để khỏi bỡ ngỡ, tránh vấp phải những ràocản do sự khác biệt trong những quy định luật pháp
Ngoài ra, nhắc đến luật pháp trong hoạt động thương mại quốc tếkhông thể không nhắc đến các tập quán quốc tế Các tập quán được sử dụngcũng rất đa dạng, thậm chí trái ngược nhau cũng là một trở ngại không nhỏđối với các thương nhân kinh doanh trên phạm vi quốc tế
3.2.2 Rào cản phát sinh do cơ chế bảo hộ của từng quốc gia
Đối với hoạt động thương mại quốc tế, mọi quốc gia đều cần có cơ chếbảo hộ riêng, dù là đối với hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu Mặc dù đối
Trang 30với hầu hết các quốc gia, xuất khẩu nhìn chung là có lợi, song vượt quá mộtmức nào đó thì tác dụng hoàn toàn ngược lại Bên cạnh đó, nhập khẩu tháiquá cũng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tếnước nhập khẩu như gây thâm hụt cán cân thanh toán, chảy máu ngoại tệ, sảnxuất trong nước bị bóp nghẹt,… Do vậy, các quốc gia cần đưa ra những quyđịnh luật pháp riêng hoặc ký kết những điều ước thống nhất nhằm quản lý vàhạn chế hoạt động xuất nhập khẩu, mà hiện nay chủ yếu là nhằm hạn chếnhập khẩu Những quy định này sẽ trở thành rào cản đối với hoạt động
thương mại quốc tế nói chung Các hàng rào thương mại gồm hai loại: Hàng
rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan Về hàng rào thuế quan, các nước nhập khẩu thường quy định mức thuế suất cao đối với những mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu, hàng hoá từ những nước hoặc khu vực không có quan hệ thương mại thân thiết, hoặc cũng có thể đánh thuế cao để trả đũa, trừng phạt,…mà cuộc chiến tranh về thép giữa Mỹ, Nga, EU vừa qua là một
ví dụ điển hình Để trả đũa lại việc Mỹ đánh thuế rất cao đối với thép nhậpkhẩu (chủ yếu từ Nga và EU), Nga và các nước này đã tuyên bố tăng thuế đốivới một số mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ Hàng rào phi thuế cũng là một rào cản
đáng kể đối với hàng xuất nhập khẩu Hàng rào phi thuế tồn tại dưới nhiều
hình thức như: hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, an toàn thực phẩm, các quy định về nhãn mác, xuất xứ,…
Hiện nay, trước xu thế tự do hoá thương mại quốc tế, các quốc gia đều
đã tiến hành cắt giảm các hàng rào thương mại Tuy nhiên, do nhu cầu bảo hộ,những rào cản thương mại vẫn còn tồn tại Hàng rào thuế quan có xu hướnggiảm bớt và chuyển hoá sang các hàng rào phi thuế Muốn vượt qua cả hailoại rào cản này để đưa hoạt động thương mại phát triển, phải có sự nỗ lực vàkết hợp nỗ lực từ nhiều phía: Nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức,hiệp hội, ngành hàng,…
Trang 31CHƯƠNG II MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ LUẬT PHÁP VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
1 TÌM HIỂU VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG MỸ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về thị trường Mỹ
1.1.1 Vài nét về nước Mỹ
1/ Điều kiện tự nhiên
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America– USA) gọi tắt
là nước Mỹ hay Hoa Kỳ là một quốc gia vô cùng rộng lớn gồm 50 bang vớiphần lớn lãnh thổ nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ Ngoài ra còn có một sốvùng đất và lãnh thổ hải ngoại Mỹ là nước rộng thứ tư thế giới sau Liên bangNga, Canada và Trung Quốc với tổng diện tích là 9.397.000 km2
Do lãnh thổ rộng lớn, khí hậu của nước Mỹ rất đa dạng song đại bộphận là khí hậu ôn đới Mỹ có một nguồn tài nguyên rất đa dạng và dồi dào
Mỹ là một trong số các quốc gia giàu tài nguyên nhất thế giới Những nguồntài nguyên quan trọng của Mỹ là đất đai, rừng, khoáng sản,… Nguồn tàinguyên khoáng sản phong phú là một lợi thế rất lớn để Mỹ phát triển cácngành công nghiệp Tuy nhiên, khoáng sản trong nước vẫn không đủ đáp ứngnhu cầu khổng lồ của nền kinh tế Mỹ, do vậy hàng năm Mỹ vẫn phải nhậpkhá nhiều nguyên nhiên liệu, đặc biệt là dầu mỏ từ nước ngoài
Trang 322 Điều kiện xã hội :
Mỹ là một trong số những nước đông dân nhất thế giới Dân số Mỹtăng rất nhanh qua các năm, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,03% Năm
2002 dân số Mỹ là 273.300.000 người và Mỹ là nước đông dân thứ tư trên thếgiới
Thành phần dân cư Mỹ tương đối phức tạp Những người da trắng gốcChâu Âu là thành phần chính của dân cư Mỹ (75% dân số), Người Mỹ gốcPhi chiếm khoảng 12% dân số, người Mỹ gốc Hispanic (người Tây Ban Nhahay người Mỹ gốc Tây Ban Nha) chiếm khoảng 9% dân số Mỹ Ngoài ra, còn
có một bộ phận đáng kể người Mỹ gốc Châu Á và người da đỏ
Mỹ là một nước Cộng hoà liên bang (50 bang) Nền dân chủ cuả Mỹ làmột nền dân chủ đại nghị (Presidential parliamentary democracy) Cơ quanlập pháp tối cao của nước Mỹ là Quốc hội gồm 2 viện: Thượng viện và Hạviện Người đứng đầu quốc gia đồng thời cầm đầu Chính phủ là Tổng thống.Quyền tư pháp cao nhất thuộc về Toà án tối cao, ngoài ra còn có các toà ánLiên bang Mỗi bang của Mỹ lại có một Chính phủ riêng với một Thống đốccùng với các bộ và một cơ quan lập pháp của bang, các toà án quận và mộttoà án tối cao
Trang 33ngành công nghiệp quan trọng nhất của Mỹ, trong đó ô tô là sản phẩm quantrọng nhất
-Nông nghiệp:
Mỹ là một trong những nước có nền nông nghiệp lớn nhất Thế giới Mỹ
có vị trí nổi bật trên thị trường nông sản Thế giới từ nhiều năm nay, nhất làtrong lĩnh vực xuất khẩu ngũ cốc Xuất khẩu nông sản năm 2000 đem lại cho
Mỹ 46 tỷ USD Mỹ đứng đầu Thế giới về xuất khẩu lúa mì, bắp, đậu tương,thịt các loại và đứng thứ ba về xuất khẩu gạo và thuỷ sản
-Dịch vụ:
Ngành dịch vụ của Mỹ rất phát triển và có vị trí quan trọng trong nềnkinh tế Mỹ Tỉ trọng đóng góp của ngành dịch vụ vào tổng thu nhập quốc dâncủa Mỹ ngày càng tăng Dự tính đến năm 2010, thu nhập từ khu vực nàychiếm khoảng 93% GDP của Mỹ trong khi công nghiệp và nông nghiệp chỉcòn chiếm 7% Ngành dịch vụ của Mỹ rất đa dạng và phong phú về loại hình.Rất nhiều ngành dịch vụ của Mỹ chiếm tỉ trọng lớn trong hoạt động thươngmại dịch vụ Thế giới (khoảng từ 7-22% thị phần dịch vụ quốc tế)
-Tài chínhTrong hơn nửa thế kỉ qua, nước Mỹ luôn duy trì được sức mạnh và khảnăng chuyển đổi của đồng đôla Mỹ Đô la Mỹ hiện nay vẫn là đồng tiền thốngtrị trong hoạt động thương mại và tài chính toàn cầu Cụ thể là gần 50% tổnglưu lượng thanh toán và đầu tư quốc tế được thực hiện thông qua đồng tiềnnày Sở giao dịch chứng khoán NewYork của Mỹ luôn là một trong nhữngtrung tâm giao dịch chứng khoán hàng đầu thế giới Cùng với EU và NhậtBản, Mỹ là một trong ba nước chủ đầu tư lớn nhất toàn cầu
1.1.2 Đặc trưng của thị trường Mỹ
Trang 34Tất cả các yếu tố nêu trên, từ điều kiện tự nhiên, xã hội đến sự pháttriển của nền kinh tế Mỹ đều góp phần hình thành nên các đặc trưng thịtrường Mỹ.
Một điều dễ dàng nhận thấy là thị trường Mỹ là một thị trường đầy tiềm năng
mà bất cứ một nước xuất khẩu nào cũng muốn hướng đến Với quy mô dân số
vào khoảng 280 triệu người và thu nhập bình quân đầu người ước tính hiệnnay vào khoảng 32.000 USD, với một nhu cầu nguyên nhiên liệu khổng lồcho việc phát triển nền công nghiệp trong nước, thị trường Mỹ được xem là
thị trường có sức tiên thụ lớn nhất trong các nước phát triển Hàng năm kim
ngạch nhập khẩu của Mỹ là vào khoảng 900 tỷ đôla (số liệu năm 2000)
Thị trường Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng rất đa dạng và không quá
khó tính như thị trường Tây Âu và Nhật Bản Hàng nhập khẩu vào Mỹ đa
dạng về chủng loại do nhu cầu tiêu dùng khác nhau của các nhóm người, cácchủng tộc và do cơ cấu đa dạng, nhiều ngành nghề của nền kinh tế Mỹ Mỹnhập khẩu đủ loại hàng từ hàng nông sản cho đến các sản phẩm tinh vi hiệnđại, từ nguyên nhiên liệu cho đến thành phẩm Hàng nhập khẩu vào Mỹ cũngrất linh hoạt về chất lượng vì dân Mỹ có mức thu nhập rất khác nhau Chínhnhờ vậy mà hàng nhập khẩu có thể dễ dàng tiếp cận thị trường Mỹ để phục vụcho các phân đoạn thị trường khác nhau
1.1.3 Tìm hiểu về nền văn hoá Mỹ
Nền văn hoá Mỹ là một nền văn hoá độc đáo và đa dạng Tính đa dạng
của nền văn hoá Mỹ có được là do dân cư Mỹ bao gồm người từ khắp mọi nơitrên thế giới Những con người đến từ các nước, các dân tộc, chủng tộc khácnhau mang theo những phong tục tập quán, lối sống, giá trị khác nhau hoànhập vào nền văn hoá Mỹ tạo nên một sự pha trộn văn hoá của các dân tộc
toàn cầu Điểm nổi bật của nền văn hoá Mỹ là tính trẻ trung, sống động,
Trang 35chống công thức và luôn luôn thay đổi Tuy nền văn hoá Mỹ rất đa dạng song
có thể nêu lên một số các giá trị văn hoá tiêu biểu sau:
+Bình đẳngĐối với người Mỹ, “nhất thân nhì thế” không quan trọng bằng khả năng
cá nhân Hầu hết người Mỹ tin tưởng rằng cơ hội trở thành Tổng thống củamọi người là ngang nhau, ai cũng có thể trở thành Tổng thống, bất kể giàunghèo hay thuộc thành phần nào
+Lạc quan và luôn hướng tới tương laiKhác với người châu Á thường hay hoài cổ, hay lấy dĩ vãng làm chuẩnmực hay người Ả Rập hay tin vào định mệnh dẫn đến cách sống xa rời thực tế
và dễ buông xuôi trước hoàn cảnh, người Mỹ chỉ gắn bó với hiện tại và luônhướng tới tương lai
và sở thích Trong xã hội, mức độ thành đạt trong nghề nghiệp và số của cảitạo ra do lao động cá nhân là một trong các tiêu chí chủ yếu để đánh giá mộtngười Mỹ
+Quý trọng thời gianĐối với người Mỹ, thời gian đúng là tiền bạc Xã hội Mỹ luôn khẩntrương và sôi động, người dân Mỹ luôn biết cách tận dụng thời gian Cácchương trình làm việc được xếp kín mít và dày đặc, nhiều người Mỹ thậm chícòn không có thời gian để nghỉ ngơi hưởng thụ kết quả lao động của mình
+Một xã hội không an bài
Trang 36Tại Mỹ, người ta luôn tìm cách vươn lên và không tự thoả mãn vớichính mình, ít phụ thuộc vào tập thể, kể cả gia đình Với tâm lý tự lực, ở Mỹkhông có thành kiến giai cấp như nơi khác Người Mỹ rất coi trọng những nỗlực cá nhân vươn lên, nhiều người nổi tiếng không ngần ngại khi tiết lộ gốcgác hèn kém của mình.
+Chủ nghĩa cá nhân và đa nguyênTrong xã hội Mỹ, cá nhân rất được ưu tiên, thành công cá nhân rấtđược coi trọng Người Mỹ quan niệm cá nhân có nhiệm vụ thành công để đẩy
cả xã hội đi lên Chủ nghĩa cá nhân đi kèm với đa nguyên Ở Mỹ, tất cả các tưtưởng, khuynh hướng đều có cơ hội được bộc lộ Mỹ có rất nhiều đảng pháichính trị đối lập nhau được tự do hoạt động và đại biểu của các đảng này được
tự do ứng cử
Một số nét về tâm lý của người Mĩ
Mỹ là một “Hợp chủng quốc”, dân cư Mỹ hiện nay bao gồm các nhómngười đến từ các dân tộc, thuộc các chủng tộc khác nhau nên khó có mộtkhuôn mẫu nào cho người Mỹ nói chung Chúng ta chỉ có thể nêu ra đây một
số đặc điểm tâm lý tiêu biểu cho số đông dân chúng Mỹ , đó là nhóm người
da trắng thuộc các tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ:
+Sự thân thiện Người nước ngoài khi tiếp xúc với người Mỹ đều công nhận là người
Mỹ rất cởi mở Người dân Mỹ rất hiếu khách, khi gặp người lạ, ngưòi Mỹluôn mỉm cười và chào một cách thân thiện bằng từ “Hi!”
+Thân thiện nhưng không có nghĩa là bạn bè Người Mỹ rất thân thiện nhưng theo họ thân thiện chẳng qua chỉ thểhiện một hành vi dân chủ Có những người ngoại quốc vội vàng cho đó làtình bạn thì quả là hơi vội Thực sự, bạn với đúng nghĩa của từ này ở Mỹ thìcũng hiếm như ở bất kỳ nơi nào khác
+Tình cảm
Trang 37Người Mỹ cho rằng không cần giấu diếm tình cảm Nhiều khi người
Mỹ biểu lộ tình cảm hơi thái quá Về mặt này thì họ có vẻ như rất bộc trực,khi hài lòng, người Mỹ mỉm cười rạng rỡ, khoa chân múa tay hoặc tuyên bố
ầm ĩ Khác với người châu Á, người Mỹ không mỉm cười để che đậy sự lúngtúng hay thất vọng mà thường thể hiện ra ngoài nét mặt
+Nghi thức xã giaoNgười Mỹ không coi trọng nghi thức xã giao như các nước khác, có lẽ
vì thế mà nước Mỹ mới có thể du nhập được người từ khắp nơi Người Mỹcũng dễ tha thứ cho người nước ngoài về sự vụng về trong xã giao
1.1.4 Tìm hiểu về luật pháp Mỹ
Đặc điểm nổi bật của hệ thống luật pháp Mỹ là tính đa dạng và phức tạp Luật pháp Mỹ bao gồm hệ thống luật pháp liên bang và luật pháp tiểu bang Bản thân luật liên bang của Mỹ đã bao gồm rất nhiều quy định khác
nhau, mỗi bang của Mỹ lại có hệ thống quy chế luật riêng và tự tập hợp cácquyết định đã công bố của họ Luật pháp các tiểu bang quy định về từngtrường hợp cụ thể không giống nhau, điều này gây rất nhiều khó khăn cho cácdoanh nhân nước ngoài khi làm ăn trực tiếp với đối tác Mỹ
Nói đến luật pháp Mỹ, không thể không nói đến tính phổ thông, yếu tố
tình huống trong luật pháp Luật pháp Mỹ là tiêu biểu cho một trong các hệ
thống luật chính trên Thế giới là hệ thống Common Law- Luật bất thành văn Theo đó việc giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể phụ thuộc rất
nhiều vào các quyết định của toà án trong việc giải thích những quy chế luậtpháp của Mỹ Đây là một trong các yếu tố khiến cho hệ thống luật pháp Mỹ
vô cùng phức tạp, khó hiểu và khiến cho vai trò của các luật sư trở nên thiếtyếu trong các cuộc giao dịch giữa đối tác là người nước ngoài và doanh nhân
Mỹ
Trang 38Khi làm ăn với đối tác Mỹ, các nhà kinh doanh nước ngoài cần nắmnhững luật sau:
- Luật Công ty của các tiểu bang
- Luật Thuế (Tax Law)
- Luật Chống độc quyền (Anti- Trust Laws)
- Luật Bảo đảm năm 1933 và Luật Bảo đảm của các tiểu bang
- Luật Quy định về Lao động và hưu trí (Labour and Pension Law)
- Luật Môi trường (Environmental Law)
- Quy định về Đầu tư nước ngoài (Regulation of Foreign Investment)
Và một số đạo luật quan trọng :
+ Luật Clayton của Liên bang (The Federal Clayton Act)
+ Luật Sherman (Sherman Act)
+ Luật Chống độc quyền Hart Rodino năm 1976 (the Rodino Anti- Trust Improvement Act of 1976)
Ngoài ra còn một số các quy định khác như:
- Các quy định về Giao dịch chứng khoán (Stock Exchange
Consideration)
- Quy định về Chế độ kế toán (Accounting Rules)
- Quy định về Sử dụng ngoại hối (Foreign Exchange Issues)
- Toà phán quyết và chọn luật (Submission to Court Jurisdiction,Choice of Laws),
Luật được sử dụng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu :
- Luật Thương mại năm 1974
Trang 39- Luật Thuế suất năm 1930
- Luật về Thương mại và Thuế suất 1984
- Luật tổng hợp về Thương mại và Cạnh tranh năm 1988
- Luật Quản lý Xuất khẩu năm 1979,
Có thể thấy chỉ riêng hệ thống văn bản luật của Mỹ rất phức tạp cũng
đủ gây nhiều khó khăn cho doanh nhân nước ngoài Thêm vào đó, luật Mỹchủ yếu lại là án lệ (case law) mà thực tế các án lệ ở các nơi lại rất khác nhau
và vô cùng phong phú nên việc nắm bắt được hết các án lệ là một điều khôngtưởng Vì thế, khi muốn kinh doanh trên đất Mỹ, nhất thiết thương nhân nướcngoài cần phải có sự tư vấn, hỗ trợ của các luật sư
1.2 Vai trò của Mỹ đối với nền kinh tế thế giới và hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam
1.2.1 Đối với nền kinh tế thế giới
Trật tự Thế giới hiện nay là trật tự nhất siêu đa cực trong đó Mỹ là siêu cường duy nhất Mỹ luôn giữ vị trí bá chủ trên thế giới về kinh tế cũng như chính trị quân sự Nền kinh tế khổng lồ và hết sức năng động của Mỹ
tạo cho Mỹ một vị thế hàng đầu vững chắc và một tiếng nói có trọng lượng
trong mọi mối quan hệ quốc tế Cụ thể là: nền kinh tế Mỹ hiện nay chiếm
khoảng 1/3 GDP toàn cầu và khoảng 1/2 mức tăng trưởng nhập khẩu của cảThế giới Mỹ đồng thời là nước có giá trị FDI ra nước ngoài lớn nhất nhì.Đồng USD- đồng tiền của Mỹ luôn là đồng tiền mạnh nhất thống trị các quan
hệ giao dịch thương mại, đầu tư và các quan hệ kinh tế khác trên Thế giới.Nền công nghệ Mỹ là một nền công nghệ hiện đại luôn ở vị trí dẫn đầu vàđồng thời Mỹ cũng là nước chuyển giao công nghệ nhiều nhất trên Thế giới
Một vài nét đó cũng đủ cho thấy sức mạnh kinh tế Mỹ và tiềm năng tolớn của nó Hơn nữa,vai trò chi phối của nền kinh tế Mỹ đối với Thế giới, đặc
Trang 40biệt là đối với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có được không chỉ nhờ quy
mô khổng lồ của nó mà quan trọng hơn là nhờ vào quan hệ mật thiết của nềnkinh tế Mỹ đối với nền kinh tế Thế giới và khu vực Trong lịch sử, Mỹ đã dựavào thế mạnh tuyệt đối của mình để thành lập hoặc tham gia thành lập một số
tổ chức kinh tế và chính trị trong đó Mỹ giữ vai trò khống chế, chẳng hạnnhư: Khối Quân sự Bắc Đại Tây Dương NATO, Quỹ Tiền tệ Thế giới IMF,Ngân hàng Thế giới WB,…Vì thế, bất kỳ động thái nào của nước Mỹ cũng cóảnh hưởng nhất định đến cục diện toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung, từ
đó ít nhiều cũng có tác động đến nền kinh tế các quốc gia nói riêng Điều này
có thể thấy rõ qua một số cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ và đặc biệt là vụkhủng bố xảy ra vào 11/9/2001 ở Mỹ đã khiến nền kinh tế thế giới biến độngmạnh trong một thời gian dài
1.2.2 Đối với Việt Nam
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương,đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hội nhập với kinh tế Thế giới
Do đó Việt Nam không thể không coi Mỹ là một trong những đối tác chiến
lược trong các mối quan hệ nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng.
Trước năm 1995, khi Mỹ còn duy trì cấm vận kinh tế đối với Việt Nam,hoạt động kinh tế thương mại giữa hai nước hầu như không phát triển Tuykhông có một quan hệ mua bán chính thức nào song hàng hoá hai bên vẫngián tiếp được trao đổi Vào năm 1992 ước tính Mỹ xuất sang Việt Namkhoảng 2 triệu USD trị giá hàng và trong năm 1993 con số này tăng lên 3,8triệu USD, chủ yếu là thông qua con đường viện trợ nhân đạo
Sau khi lệnh cấm vận được chính thức dỡ bỏ, quan hệ thương mại hainước đã có bước chuyển biến rõ rệt Vai trò của Mỹ đối với nền kinh tế thếgiới đã có những tác động mạnh mẽ đối với hoạt động kinh tế đối ngoại của
Việt Nam Hai nước cùng hướng tới nhau trong mối quan hệ về nhu cầu