1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ton giao hoc dai cuong

11 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 232,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: TÔN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG Đề bài: Hãy phân tích sự ra đời, giáo lý cơ bản của Phật

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN: TÔN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG

Đề bài: Hãy phân tích sự ra đời, giáo lý cơ bản của Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đối với Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt Nam.

Môn học : Tôn giáo học đại cương Giảng viên : PGS TS Trần Thị Kim Oanh Sinh viên : Vũ Trường Giang

Hà Nội, năm 2021

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

“Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.

Chỉ có ta làm ta tránh được điều tội lỗi, chì có ta gội rửa cho ta.

Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.

Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.

Kinh pháp Cú – Đức Phật dạy.

Trong Kinh Pháp cú – Đức Phật đã chỉ cho chúng ta con đường đi tìm sự thực và chân lý xuyên qua tu tập của người Phật Tử chân chính

Đó là con đường giác ngộ - người đi trên con đường đó cần có một tư duy chân chính, tinh thần tự lực và quyết tâm sống đạo đức, dùng trí tuệ để cân nhắc và giải quyết sự việc – để hướng tới một cuốc sống của sự từ bi, hỷ sả và bao dung

Chính bởi lẽ đó – Đạo Phật như là đạo giác ngộ, là đạo của con người, là đạo của tình thương, vì con người Đạo Phật đem lại niềm an vui, hạnh phúc cho những ai có đầy đủ nhân duyên Muốn có được niềm an vui, hạnh phúc thật sự người Phật tử cần có ý chí vững vàng, cầu tiến trong sự quyết tâm cao độ

Đạo Phật là con đường đưa chúng ta đến với quê hương của sự bình yên, hạnh phúc, hay đạo Phật là phương pháp, là tấm bản đồ định hướng giúp ta đi đến giác ngộ và giải thoát

I. KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO

I.1. Hoàn cảnh ra đời của Phật Giáo.

Đạo Phật xuất hiện ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nêpan) vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên

Trong thời kỳ ấy: Ấn Độ cổ đại là một vùng đất rộng lớn với điều kiện tự nhiên phong phú

và đa dạng, một vùng đất đa dạng về văn hoá Kết cấu kinh tế xã hội Ấn Độ khi đó theo mô hình “công xã nông thôn” và chế độ phân chia giai cấp khắc nghiệt theo đạo Bà-la-môn, mỗi người thuộc một đẳng cấp nhất định: Bà-la-môn (đẳng cấp có địa vị cao nhất, gồm những người hoạt động tôn giáo); quý tộc (vua quan và các tầng lớp võ sĩ); bình dân (gồm người buôn bán, thợ thủ công, nông dân) và nô lệ

Trang 3

Ấn Độ thời kỳ này tồn tại 9 trường phát triết học – tôn giáo trong đó có 6 trường phái được coi là chính thống (thừa nhận kinh Veda và đạo Bà-la-môn) và 3 trường phái tôn giáo không chính thống (bác bỏ kinh Veda và đạo Bà-la-môn) trong đó có đạo Phật

Đạo Phật ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các trào lưu tôn giáo triết học nổi tiếng của Ấn Độ cổ đại và được coi là học thuyết xã hội chống lại sự phân chia giai cấp Thể hiện rõ tinh thần phản kháng của những người nghèo, chống lại thuyết bốn đẳng cấp của đạo Bà la môn, tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ

Người sáng lập Đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni - đây là tên gọi khi thành đạo Tên thật của Thích Ca Mâu Ni là Siddhartha (Tất đạt đa) nghĩa là “người thực hiện được mục đích”, họ là Gautama (Cù Đàm), vốn là con đầu vua Tịnh Phạn Thích Ca Mâu Ni sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước công nguyên, và mất năm 483 trước công nguyên Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả của một thái tử để đi tu, tìm đường diệt khổ cho chúng sinh Sau 6 năm tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và tìm ra chân lý, Ngài nhận ra chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất Ngài tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý và bỏ lối tu khổ hạnh để đi sâu và tư duy trí tuệ Sau 49 ngày đêm thiền định dưới gốc cây bồ đề, Ngài đã đạt được Đạo vô thượng và tự xưng là Phật (Buddha – giác ngộ) hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni – năm 35 tuổi Từ đó Đức Phật truyền bá đức tin, thành lập các đoàn truyền giáo Năm 544 trước CN lúc 80 tuổi, Phật tịnh

I.2. Sự phát triển của Phật giáo

Sau một năm ngày Phật tịch, Đại hội tăng đoàn lần thứ I được triệu tập với 500 tì kheo, kéo dài 7 tháng (chủ tọa đại hội là Ma-ha-ca-diếp, A-nan-đa đọc lại lời Phật nói về giáo lý Ưu-bà-ly đọc lại lời Phật nói về giới luật tu hành và Ma-ha-Ca-diếp đọc về những lời luận giải của Phật về giáo lý, giáo luật)

Đại hội tăng đoàn lần thứ II được triệu tập khoảng thế kỷ IV TCN với khoảng 700 tì kheo, kéo dài 8 tháng Nội dung chủ yếu là giải quyết những bất đồng về thực hành giới luật và luận giải kinh điển Hình thành hai phái Trưởng lão bộ (Tiểu th a) và Đại chúng bộ (Đại th a)

Đại hội tăng đoàn lần thứ III vào giữa thế kỷ III TCN do vua Asoka triệu tập với 1.000 tì kheo, kéo dài 9 tháng Kết quả ghi thành văn bản, nhà vua bảo hộ Phật giáo các tăng đoàn phát triển nhanh

Trang 4

Đại hội tăng đoàn lần thứ IV vào khoảng 125 - 150 sau CN dưới triều vua Kaniska có 500 tì kheo đến dự Kết quả là hoàn chỉnh kinh điển Phật giáo, gồm Kinh, Luật, Luận (Tam tạng kinh điển)

Phật giáo phát triển thịnh hành khắp Ấn Độ từ thời Asôka cho đến thời Kaniska, đến thời vua Gúpta (thế kỷ IV - VI TCN) đạo Phật suy thoái và bị tiêu vong Tuy nhiên đạo Phật đã kịp lan nhanh ra các nước Bắc Á Nam Á và các nước trên thế giới với số lượng tín đồ đông đảo và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội

Trong quá trình phát triển đạo Phật có hai trường phái lớn là Đại thừa và Tiểu thừa

Phật Đại thừa (Mahayyana), còn gọi là Phật giáo Bắc tông Phật giáo Đại thừa chủ trương

“không luận” vạn pháp tuy có nhưng thực ra không; họ cho rằng ngay trong quá trình sinh tử con người có thể chứng ngộ cảnh giới Niết Bàn nếu như tu tốt Họ chủ trương “tự độ tự tha,

tự giác giác tha” nghĩa là tự giác ngộ, tự giải thoát, và giác ngộ và giải thoát cho chúng sinh -con đường cứu vớt rộng, cỗ xe lớn chở nhiều người Phật giáo Đại thừa thờ Phật và các vị

Bồ tát người tu hành mặc áo màu nâu và tự kiếm sống

Phật giáo Tiểu thừa (Nihayana), còn gọi là Phật giáo Nam tông Phật giáo Tiểu thừa chủ trương “hữu luận” vạn pháp vô thường nhưng vẫn có một cách tương đối chứ không thể nói

là không có Họ cho rằng chỉ khi nào giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử con người mới có thể đạt đến được cảnh giới Niết bàn Phật giáo Tiểu thừa cho rằng chỉ có “tự độ, tự tha” Phật giáo Tiểu thừa chỉ thờ Phật và mặc áo màu vàng và sống bằng khất thực

I.3. Giáo lý cơ bản của Phật giáo

Phật giáo có nhiều tông phái và trong quá trình phát triển, giáo lý liên tục được bổ sung, hoàn thiện; nhưng các tông phái đều đề cập đến vấn đề căn bản như: Pháp Bản thể, Tâm, Vật

Vô thường, Vô ngã, Nhân duyên, Sắc – Không, Luân hồi, Nghiệp báo, Giải thoát, Niết bàn Đều hướng con người đến chân – thiện – mỹ, vị tha, với tinh thần Tứ đại vô lượng tâm Từ

-Bi – Hỉ - Xả, cứu khổ cứu nạn

Giáo lý cơ bản của Phật Giáo được thể hiện qua các luận giải: Vô tạo giả, Vô thường, Vô ngã, Tứ diệu đế

I.3.1. Vô tạo giả

Đạo Phật cho rằng thế giới do các loại vật chất tạo thành Mọi sự vật trong vũ trụ không do bất kì thần linh nào tạo ra bằng những phép màu mà là do phần tử vật chất nhỏ nhất tạo ra

Trang 5

Giáo lí Đạo Phật lại cho rằng thế giới mà con người nhận biết chỉ là ảo, là giả tạo chứ nó không tồn tại , không đúng với thế giới tồn tại ấy Bởi cái thế giới vạn vật ấy luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng, không có gì là trường tồn bất biến, nó chỉ là nó trong từng satna(đơn vị thời gian rất nhỏ) Con người chỉ nhận biết được nó trong từng satna Nó chính là kết quả từ sự vô minh của con người, không nhận ra nó luôn luôn biến đổi

Đây là điểm được rút ra từ luận điểm vô tạo giả Đạo Phật cho rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng xung quanh ta cũng như chính ta là không phải thực, chỉ là ảo giả, do vô minh đem lại Thế giới, nhất là thế giới con người hữu tình, được cấu tạo do sự hội tụ của các yếu tố vật chất (Danh) và tinh thần (Sắc) Tóm lại Đạo Phật cho rằng thế giới vạn vật không có cái tôi cá nhân, không có gì là bản ngã Bởi Danh và Sắc chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian rất ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, do vậy không hề có cái tôi cá nhân(vô ngã) Con người có cái tâm thường trụ, bất biến và bao hàm vũ trụ Tâm của chúng sinh do bị Vô minh che lấp nên chỉ là cái tâm mê loạn, vì vô minh nên không thấy được chân lí của vũ trụ là

“chư hành vô thường, chư pháp vô ngã”; vì vô minh nên chúng sinh tưởng lầm mọi cái , kể

cả xác thân ta là có thật Mọi sự vật, kể cả con người đều chỉ là giả tưởng, không có thật Để khắc phục vô minh cần diệt trừ cái sai lầm của Chấp ngã(chấp có ta) Khi thân xác chết đi(chấp đoạn), linh hồn sẽ được đầu thai vào kiếp khác(chấp trường) Cứ như vậy luân hồi sinh tử không dứt Và bản chất của thế giới là một dòng biến chuyển không ngừng, liên tục, không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên Thế nên lại có quan niệm về vô thường

I.3.3. Vô ngã

Mọi sự vật trong vũ trụ bao la không đứng yên, không bất biến mà luôn trong trạng thái biến đổi không ngừng: thành- trụ -hoại- không đối với vạn vật trong vũ trụ và sinh- trụ-dị-diệt đối với các sinh vật.Phật giáo cho rằng chết không phải là hết mà là chuẩn bị cho sự sinh thành mới Sinh-diệt là hai quá trình diễn ra đồng thời trong từng sự vật hiện tượng, không gian và thời gian gọi là sắc- không.Quá trình này diễn ra theo luật nhân- quả và tùy theo duyên Đạo Phật tiếp thu tư tưởng này của kinh Veda, giải thích sự tồn tại của vạn vật là tồn tại trong mối liên hệ nhân- quả chặt chẽ Thuyết Nhân- Qủa: “Không có sự vật, hiện tượng nào mà lại không do đâu sinh ra, nó sinh ra tất có nguyên nhân của nó, tới lượt nó thì lại là nguyên nhân

để sinh ra những kết quả khác” Trong quá trình liên tục đó thì duyên đóng vai trò là điều

Trang 6

kiện để nguyên nhân sinh ra kết quả Nhân là một tạo quả còn duyên là phương tiện tạo ra tạo quả đó Khi nhân duyên hòa hợp thì sự vật sinh Khi nhân duyên tan rã thì sự vật diệt các nhân duyên trong sự vật hiện tượng tác động chi phối lẫn nhau.Như vậy thế giới luôn biến đổi vô thủy vô chung, không có bắt đầu cũng không có kết thúc Thế giới sự vật biến đổi không phải do thần thánh, mà là do tự thân nó vận động(tự kỉ nhân quả) Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giả tạm Do đó thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực, là vô thường

I.3.4. Tứ diệu đế

Phật giáo tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp của Upanisa là bộ phận kinh Veda của đạo Bà

la môn phần nói về tri thức Theo Phật giáo, sự vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác Quá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả

Theo quan niệm của đạo Phật, để đến được sự giải thoát, mọi người phải nhận thức Bốn chân lý thiêng liêng tuyệt diệu (Tứ diệu đế) Đó là:

+ Khổ đế

Phật giáo cho rằng đời là bể khổ Cái khổ ấy không ngoài 8 nỗi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly (yêu mà phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải ở gần), sở cầu bất đắc (muốn mà không được), thủ ngũ uẩn (khổ vì có sự tồn tại của thân xác)

+ Tập đế (Nhân đế)

Mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân Phật giáo đưa ra “Thập nhị nhân duyên” để chỉ ra nguyên nhân của sự khổ Đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử

+ Diệt đế: Phật giáo khẳng định có thể tiêu diệt nỗi khổ và chấm dứt luân hồi

+ Đạo đế: Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (sự tăm tối, không sáng suốt), gồm 8 con đường (Bát chính đạo) Đó là:

Chính kiến : Hiểu biết đúng Chính tư duy: suy nghĩ đúng Chính ngữ: giữ lời nói chân chính

Chính nghiệp : Nghiệp có hai loại là tà nghiệp và chính nghiệp Tà nghiệp phải sửa, chính nghiệp phải giữ Nghiệp có thân nghiệp (do hành động gây ra), khẩu nghiệp, ý nghiệp

Chính mệnh: tiết chế dục vọng, giữ điều răn

Chính tinh tiến: hăng hái truyền bá chân lý của Phật Chính niệm: hằng nhớ Phật, niệm Phật

Trang 7

Chính định: tĩnh tâm, tập trung tư tưởng nghĩ về Tứ diệu đế, vô ngã, vô thường…

Theo Bát chính đạo, con người có thể diệt trừ vô minh, giải thoát, nhập vào cõi niết bàn Nirvana Niết Bàn là trạng thái yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử, luân hồi Như vậy Phật giáo có tư tưởng biện chứng, mang tính duy tâm chủ quan

Đặc điểm của Phật giáo là không đề cập vị thần sáng tạo thế giới và con người Đây là nét độc đáo trong thế giới quan Phật giáo Về nhân sinh quan, Phật giáo đề cao vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực

I.4. Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam

Phật giáo truyền vào Việt Nam rất sớm Một số sách sử ghi rằng nơi đầu tiên là Luy Lâu (Bắc Ninh) vào cuối thế kỷ thứ hai Phật giáo vào Việt Nam bằng hai con đường: đường thủy thông qua việc buôn bán với thương gia Ấn Độ và đường bộ qua sự giao lưu văn hóa với Trung Quốc

Đạo Phật đến với Việt Nam thông qua con đường hòa bình, mặt khác giáo lý của Phật giáo chuyển tải tư tưởng bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn… gần gũi tín ngưỡng, văn hóa Việt Nam nên được các cư dân Việt Nam dễ dàng chấp nhận

Trải qua gần 2000 năm tồn tại, Phật giáo lúc thịnh lúc suy và trải qua nhiều bước thăng trầm

Có thời kỳ Phật giáo được coi là quốc đạo Tư tưởng, văn hóa, đạo đức Phật giáo đã bám rễ

và ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội Việt Nam

Vào những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, do yêu cầu nội tại của Phật giáo Việt Nam và do tác động của các cuộc chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, Phật giáo Việt Nam đi vào chấn hưng và có sự khởi sắc Một bộ phận Phật giáo duy trì hoạt động có tổ chức, một số cơ

sở đào tạo tăng tài lần lượt ra đời và Phật giáo đã tạo ra được những phong trào lớn cho lịch

sử Phật giáo và lịch sử dân tộc

Phật giáo Việt Nam có truyền thống đoàn kết trong cộng đồng dân tộc Do có sự biến đổi và phân hóa mà lịch sử đã để lại đa số chức sắc tín đồ Phật giáo có nguyện vọng thống nhất trong một Giáo hội Phật giáo toàn quốc Sau khi cả nước thống nhất, năm 1981 các tổ chức

hệ phái Phật giáo trong cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất làm một và lấy tên: “Giáo hội

Trang 8

Phật giáo Việt Nam” Đại hội đã thông qua hiến chương, chương trình hành động và bầu ra

cơ quan lãnh đạo

Giáo hội Phật giáo Việt Nam bao gồm hai Hội đồng ở Trung ương: Hội đồng chứng minh và Hội đồng trị sự Ở các tỉnh, thành phố có các Ban trị sự, dưới nữa có các Ban đại diện Phật giáo Quận, Huyện, Thị

- Hiện nay số tín đồ Phật giáo khoảng 7,6 triệu người với 21 ngàn chức sắc và tu hành, 14 ngàn nơi thờ tự Đa số chức sắc tín đồ Phật giáo tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách nhà nước theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Gần đây, Phật giáo bắt đầu chú ý đến việc nâng cao hiểu biết cho tăng ni và tín đồ bằng các lớp học, các buổi thuyết giảng, in ấn các loại sách, tham gia vào các công tác xã hội từ thiện… và vào cả các công việc của nhà nước, chính quyền địa phương với tư cách là đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, ủy viên Hội đồng nhân dân các cấp Phật giáo cũng góp phần tích cực vào việc giữ gìn truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc và sự lành mạnh của xã hội

II. ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở

VIỆT NAM

II.1. Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt Nam

Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng

Tổ tiên - theo quan niệm của nhiều người, “Tổ tiên” là những người đã qua đời trong một dòng họ “Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống nhưng đã mất như cụ, kị, ông bà, cha mẹ… những người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần tới thế hệ con cháu

Trong quá trình phát triển của lịch sử khái niệm tổ tiên cũng có sự biến đổi phát triển Nó không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi huyết thống gia đình, họ tộc… mà đã mở rộng ra phạm

vi cộng đồng, xã hội Sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc thường gắn liền với tên tuổi của những người có công tạo dựng, giữ gìn cuộc sống của cộng đồng Họ là những anh hùng, danh nhân mà khi sống được tôn sùng, kính nể, khi mất được tưởng nhớ,

Trang 9

thờ phụng trong các không gian tôn giáo Ở Việt Nam, họ là những tổ sư, tổ nghề, thành hoàng làng, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa…

Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng mà thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập “mối

liên hệ” giữa người sống với người chết, giữa người ở thế giới hiện tại và thế giới tâm linh Các nghi thức thờ cúng tổ tiên ở nước ta tuy phần lớn phỏng theo nghi lễ Nho giáo, nhưng lại có những yếu tố rất gần gũi với Phật giáo hay Đạo giáo Mặt khác, với tính chất một tín ngưỡng dân dã, các hành vi lễ thức thường được thực hiện theo tâm thức dân gian và cũng không hoàn toàn thống nhất ở các gia đình, các địa phương Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức hợp những yếu tố: ý thức về tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và

lễ nghi thờ cúng tổ tiên trong không gian thờ cúng

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân

gian, được hình thành từ lâu đời Đó là sự biết ơn, tưởng nhớ và tôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như: cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ, tổ sư tổ nghề, thành hoàng, tổ nước…

Con cái thành kính, tôn thờ tổ tiên là tỏ lòng biết ơn Ý thức về tổ tiên về cội nguồn Thờ cúng tổ tiên là sự ảnh ánh liên tục của thời gian là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lại

Nội dung tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống) bằng con đường: hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ

Trong tín ngưỡng này, đạo lý là nội dung nổi trội Một trong những đạo lí đó là đạo lí “uống

nước nhớ nguồn” Một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh thành lúc họ đã

chết cũng như khi còn sống; mặt khác, nó cũng thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên Con cháu nhớ về ông bà tổ tông, ông bà cha mẹ đã sinh thành gây dựng nên cuộc đời cho mình cả về thể xác, linh hồn, và khả năng kinh tế Đó là sự thiêng liêng tỏ lòng thành kính dâng lễ cúng tế vong hồn ông bà tổ tiên

Như vậy, thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam ta về mặt bản chất vừa là phong tục văn hoá đặc sắc của dân tộc, vừa là một loại hình tín ngưỡng tôn giáo

II.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam

II.2.1. Ảnh hướng đến tư tưởng và nhận thức người Việt

Trang 10

Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, quan điểm và nhận thức, nó ăn sâu và dần trở thành lối sống, quan điểm sống hằng ngày của người Việt

Những giá trị chủ đạo của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là đạo lý: “Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” đó trở thành những đạo lý sống của người Việt Đạo Phật đề cao chữ Hiếu – tội ác lớn nhất của đời người là bất hiếu Quan điểm Phật giáo như: “ Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa”, “tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu”, quan điểm cho rằng chữ Hiếu chính là nguồn gốc của đạo đức, bồn phận giữ trọn đạo làm còn làm gốc cần hoàn thành đầu tiên

Ngoài đạo lý “Uống nước nhớ Nguồn”, chữ Hiếu làm đầu thì những triết lý, giáo lý của Phật Giáo như: Luật Nhân Quả, Duyên lành, Nghiệp báo…cũng đi sâu vào tư tưởng người Việt

và trở thành những đạo lý sống không thể thiếu, qua đó người Việt có cho mình những niềm tin, hệ giá trị sống để tạo dựng cuộc sống hướng đến giá trị chân – thiện – mỹ

Tóm lại, thông qua tín ngưỡng tổ tiên, nó không chỉ là đạo lý Uống nước nhớ nguồn, nó còn

là lòng thánh kính, một lòng khởi tạo duyên lành, tu thân tích đức

Đối với cá nhân tôi, Phật Giáo cũng có ảnh hưởng rất lớn tới quan điểm sống của tôi, mỗi khi đứng trước ban thờ hay đứng trước Đức Phật – điều tôi muốn nói là: “Mong rằng tổ tiên, các vị thần linh đưa đường chỉ lối để bản thân nhìn ra lỗi lầm của mình và sửa chữa, mong cho quốc thái dân an” Phật Giáo như là kim chỉ nam để tôi luôn lạc quan, vững vàng và sống lương thiện, sống có ý nghĩa cho xã hội

II.2.2. Ảnh hướng đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên biểu hiện qua các hình thức nghi lễ, thờ tự.

Nhìn nhận và quan sát kỹ lưỡng chúng ta có thể thấy: Hầu hết các nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Việt mang đậm những màu sắc của Phật Giáo

Trước tiên là về cách bố trì ban thờ tự: Nhìn chung trên bàn thờ các gia đình thường có: thứ nhất là ông bà tổ tiên, thứ 2 là thờ các vị thần linh cai quản nơi này, thứ 3 là thờ Phật, trên bàn thờ bố trí 2 bình hoa, 2 ngọn đèn hoặc 2 cây nến – điều này thể hiện sự đảm bảo cân đối trên bàn thờ sắp xếp đối xứng nhau - biểu tượng cho con đường trung đạo của Phật Giáo Ngoài ra những hoa văn hay cách thiết kế bát hương, sử dụng bát hương và thắp hương cũng

có nguồn gốc từ Phật Giáo, khi để ý ta thấy: thắp hương thường thắp 3 nén, vãi lễ thường lễ

ba vái – tượng trung cho Phật – Pháp – Tăng Về các đề bày trí trên bàn thờ như: ống hương,

Ngày đăng: 05/10/2021, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w