Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế tuyệt đối Adam Smith Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và
Trang 3Ngoại thương phải thực hiện xuất siêu
Nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia
Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công
cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp…
Trang 4Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế tuyệt đối
Adam Smith
Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi.
Mô hình đơn giản nhất theo giả định sau:
Thế giới có hai quốc gia và mỗi quốc gia sản xuất hai mặt hàng.
Đồng nhất chi phí sản xuất với tiền lương cá nhân.
Giá cả hoàn toàn do chi phí sản xuất quyết định.
Từ đây rút ra kết luận:
Quá trình trao đổi trên cơ sở lợi thế tuyệt đối làm khối lượng tổng sản phẩm toàn xã hội tăng lên, làm cho các nguồn lực trong nước được sử dụng một cách có hiệu quả hơn.
Thương mại quốc tế sẽ tạo điều kiện để phát triển những ngành có lợi thế và thu hẹp
Trang 5Giá cả tương quan 1 thép = 0,4 vải 1 vải = 0,5 thép
Tỷ lệ trao đổi 1 thép = 1 vải
Trang 6Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế tuyệt đối
Adam Smith
Ưu điểm :
Khắc phục hạn chế của lý thuyết trọng thương đó là khẳng định cơ
sở tạo ra giá trị là sản xuất chứ không phải là lưu thông
Chứng minh thương mại đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia
Tuy nhiên, lý thuyết này có một số điểm bất ổn, chẳng hạn:Không giải thích được hiện tượng chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế và TMQT sẽ xảy ra như thế nào đối với những nước không có lợi thế tuyệt dối nào
Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị,là đồng nhất
và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá
Trang 7Giá cả tương quan
Tỷ lệ trao đổi 2 thép = 1 vải
Lợi ích
Trang 8Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh
David Ricardo
Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác)
Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa
Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm
1970 Paul Samuelson đã viết: "Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi
Trang 9Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh
David Ricardo
Nhật Bản Việt Nam
Giá cả tương quan 1 thép = 0,4 vải 1 vải = 0,6 thép
Tỷ lệ trao đổi 1 thép = 1 vải
Trang 10Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh
Trường hợp có nhiều nước thì có thể gộp chung tất cả các nước khác thành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trên vẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó
Lợi thế so sánh không những áp dụng trong trường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng trong một quốc gia một cách hoàn toàn tương tự
Trang 11Lý thuyết cổ điển về TMQT
Hạn chế?
Giả thiết của lý thuyết?
Vận dụng thực tiễn?
Trang 12Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh
trong TMQT
Quá trình thương mại quốc tế sẽ diễn ra và tất cả các thành viên tham gia đều tiết kiệm được chi phí sản xuất khi từng nước tập trung nguồn lực vào sản xuất các ngành hàng mà họ có chi phí "tương đối" thấp hơn
Một điểm chung thống nhất giữa Adam Smith và David Ricardo là đều ủng hộ cơ chế thị trường tự
do và giảm thiểu can thiệp của Chính phủ trong điều tiết thương mại quốc tế.
Trang 13Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh
trong TMQT
Kinh tế học Tân cổ điển (thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)
coi thị trường là công cụ điều tiết hiệu quả nhất để tối đa hóa lợi ích của người sản xuất (lợi nhuận) và người tiêu dùng (độ thoả dụng) thông qua điểm cân bằng giá trên thị trường
Can thiệp của Chính phủ sẽ làm lệch lạc tín hiệu giá trên thị trường và làm cho nguồn lực sản xuất không được phân bổ theo cách hiệu quả nhất
Trang 14Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh
Nếu nền kinh tế thế giới chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh, về dài hạn, lợi ích của các nước đang phát triển sẽ giảm dần và thậm chí có thể bằng không
Trang 15Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh
trong TMQT
Nguyên nhân:
• Việc giá hàng hóa nông sản liên tục giảm sẽ làm cho lợi thế so sánh ban đầu của các nước đang phát triển trong dài hạn sẽ mất đi
• Chính sách bảo hộ CN không hợp lý
Trang 16Lý thuyết tân cổ điển về TMQT
Lý thuyết chi phí cơ hội:
Theo nhà kinh tế học Gottfield Harberler, chi phí cơ hội của mặt hàng X là số lượng mặt hàng Y cần được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa X Xét hai quốc gia thì quốc gia nào có chi phí cơ hội của X thấp hơn sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng này
Về thực chất, chi phí cơ hội chỉ là cách phát biểu khác của giá cả tương quan
Ưu, nhược điểm của lý thuyết và vận dụng vào thực tiễn.
Trang 17Lý thuyết chi phí cơ hội
Trang 18Lý thuyết chi phí cơ hội
T
20 15
50
A’
B
Trang 19Lý thuyết chi phí cơ hội
Trang 20Lý thuyết tân cổ điển về TMQT
Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có ( Lý thuyết H –
ở chổ các quốc gia có sự khác nhau về mức độ trang bị, cũng như
về mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất Cụ thể là, các quốc gia được trang bị với mức độ khác nhau các yếu tố như đất đai, lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên, và điều này dẫn đến sự hình thành lợi thế so sánh
Trang 21V HỌC THUYẾT NGUỒN LỰC
SẢÎN XUẤT VỐN CÓ
(Heckscher – Ohlin)
http://nobelprize.org/educational_games/economics/trade/ohlin.html
Trang 22Một số khái niệm
Sản phẩm thâm dụng (Intensive Product)
• Sản phẩm thâm dụng lao động (Labor Intensive
Product): là sản phẩm sử dụng nhiều (một cách tương đối) lao động so với các yếu tố SX khác.
• Sản phẩm thâm dụng vốn (Capital Intensive
Product): là sản phẩm sử dụng nhiều (một cách tương đối) vốn so với các yếu tố SX khác.
Trang 23Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Vốn (K) Lao động (L) Tỷ lệ K/L
Sản phẩm X là sản phẩm thâm dụng vốn
Sản phẩm Y là sản phẩm thâm dụng lao động
Sản phẩm X là sản phẩm thâm dụng vốn
Sản phẩm Y là sản phẩm thâm dụng lao động
Trang 24Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Vốn (K)Triệu đồng
Trang 25Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Yếu tố dư thừa:
Một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về lao động (hay về vốn) nếu tỷ lệ giữa tổng lượng lao động (hay tổng lượng vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng của các quốc gia khác.
Trang 26Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Trang 27Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Trang 28Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Country A - having more capital than labor - has specialized in producing more cell phones Country B - having more labor
In this case, neither country has specialized in producing more of one of the two
particular products - both countries produce about the same number of jeans and cell phones
Trang 29Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có
Một quốc g ia s e î xuất khẩ u như îng
mặt hàng mà việc s ản xuất đo ìi ho íi
nhiề u một các h tư ơng đối yếu tố
s ản xuất dồ i dào của quốc gia
Việt Nam sẽ xuất khẩu sản phẩm gì ?
Thư ơng mại tư û do s e î làm cho g iá cả
các yếu tố s ản xuất c o ï xu hư ớng
trở nên cân bằ ng
Tiền lương và lãi suất sẽ trở nên cân bằng giữa hai nước
Thư ûc tế ?
Trang 30Lý thuyết hiện đại về TMQT
Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô
Đối với những nước có điều kiện sản xuất giống nhau, một trong những lý do quan trọng dẫn đến trao đổi thương mại quốc tế là tính hiệu quả tăng dần theo quy
Trang 32Lý thuyết hiện đại về TMQT
Thương mại dựa trên yếu tố công nghệ
Lý thuyết trên có thể giải thích cho hai dạng thương mại.
Thứ nhất, nếu cả hai quốc gia đều có tiềm năng công nghệ như nhau thì vẫn có thể hình thành thương mại, bởi vì phát minh sáng chế trong chừng mực nào đó sẽ đối lại được trò tiên phong của nước kia trong một lĩnh vực khác Dạng thương mại này thường diễn ra giữa các nước phát triển
Dạng thương mại thứ hai được hình thành khi một nước tỏ ra năng động hơn về công nghệ so với nước kia Khi đó, nước thứ nhất thường xuất khẩu những mặt hàng mới và phức tạp để đổi lấy những mặt hàng đã chuẩn hóa từ nước thứ hai
Trang 33Thương mại dựa trên yếu tố công nghệ
Nhập khẩu
Trang 34Lý thuyết hiện đại về TMQT
Lý thuyết thương mại liên quan đến cầu
Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng, các dạng biến tướng khác nhau của cùng một loại sản phẩm đòi hỏi tỷ lệ các yếu tố sản xuất dùng để sản xuất ra chúng là khác nhau Cách tiếp cận thứ hai gắn liền sự phân hóa sản phẩm với hiệu suất tăng dần theo quy mô Cách thức hiệu quả nhất
để cung cấp các dạng biến tướng của sản phẩm là thực hiện chuyên môn hóa sản xuất từng dạng biến tướng và sau đó tiến hành trao đổi
Trang 35Diễn đàn kinh tế thế giới WEF sử dụng
tám nhóm yếu tố chủ yếu:
Mức độ mở cửa hay mức độ hội nhập
Sự phát triển của thể chế kinh tế thị trường Công nghệ
Trang 36The Global Competitiveness Index rankings and 2007–2008
Trang 37Percentage of Nation’s Exports in Natural Resources Versus
Purchasing Power Parity (PPP) per Capita, 1992
Germany
France Japan
Sweden UK
India Pakistan
Turkey
Lithuania RussiaIreland
Trang 38Bảy hình thức thể hiện sự giàu có của một dân tộc
Văn hoá Nhân lực
Thể chế Tài chính Công trình người tạo ra