Trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế, đầu tư là một lĩnh vực đặc biệt có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan và cá nhân, đầu tư là phương thức thực hiện các ý tưởng, chiến lược phát triển hoặc làm tăng giá trị tài sản. Đầu tư mang tính dài hạn, liên quan đến quá trình huy động, sử dụng các nguồn lực khác nhau để trong tương lai thu được lợi ích lớn hơn chi phí đã bỏ ra. Hoạt động đầu tư liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau và được chế định bởi luật pháp và các quy định quản lý của Nhà nước. Nghiên cứu tiếp cận đối với hoạt động đầu tư có nhiều góc độ hình thành nên các môn học khác nhau về đầu tư. Môn học “Quản lý nhà nước về đầu tư” tiếp cận hoạt động đầu tư như một đối tượng quản lý của Nhà nước. Môn học có đối tượng là quan hệ quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nói chung cũng như đối với dự án đầu tư nói riêng được tiếp cận, trình bày trong giáo trình với một lô gic tuần tự: chương 1 nghiên cứu khái quát về đầu tư và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường, vốn đầu tư và các lý thuyết về đầu tư; chương 2 nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về đầu tư; chương 3 nghiên cứu chính sách đâu tư là công cụ chính sách quan trọng trong quản lý nhà nước về đầu tư; chương 4 nghiên cứu về đầu tư công và quản lý đầu tư công; chương 5 nghiên cứu về dự án đầu tư (hình thức thực hiện đầu tư) và việc quản lý của chủ đầu tư và Nhà nước đối với các dự án. Môn học “Quản lý nhà nước về đầu tư” là một môn học chuyên ngành trong chương trình đào tạo cao học mã ngành “Quản lý kinh tế”. Giáo trình này là tài liệu bắt buộc đọc trong quá trình học môn học này.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN KINH TẾ––––––––––––––
Tên giáo trình:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ
(Hệ đào tạo: Cao học Quản lý kinh tế)
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Người biên soạn:
1 Kim Văn Chính
Chức danh khoa học, học vị: Phó giáo sư, tiến sỹ kinh tế
Nơi làm việc: Viện Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ: Viện Kinh tế, 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà NộiĐiện thoại: 0912046874; Email: kim_vanchinh@yahoo.com
1
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………
Chương 1: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP MÔN HỌC, KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ … 1.ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP MÔN HỌC………
2.KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ, VAI TRÒ VÀ PHÂN LOẠI………
3.ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN………
4.VỐN VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ………
5.CÁC LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ………
Chương 2: NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ………
1.KHÁI NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ………
2.QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ………
3.QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ 4.NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ……….
5.KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO TOÀN BỘ NỀN KINH TẾ ……….
Chương 3: CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ……….
1.KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ……….
2.CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ………
3.CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN NƯỚC NGOÀI………
4.CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC………
Chương 4: ĐẦU TƯ CÔNG………
1.KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐẦU TƯ CÔNG………
2.CÁC LĨNH VỰC VÀ HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CÔNG………
3.CÁC CHỦ THỂ THAM GIA ĐẦU TƯ CÔNG………
4.ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM………
Chương 5: DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ……….
1.DỰ ÁN ĐẦU TƯ………
2.CÁC CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ………
3.QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
1 2 2 6 23 31 55 66 66 84 91 97 108 111 111 121 130 141 146 146 152 156 168 178 178 187 209 219
2
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế, đầu tư là một lĩnh vực đặc biệt cóvai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Đối với các doanhnghiệp, tổ chức, cơ quan và cá nhân, đầu tư là phương thức thực hiện các ýtưởng, chiến lược phát triển hoặc làm tăng giá trị tài sản Đầu tư mang tính dàihạn, liên quan đến quá trình huy động, sử dụng các nguồn lực khác nhau đểtrong tương lai thu được lợi ích lớn hơn chi phí đã bỏ ra Hoạt động đầu tư liênquan đến nhiều chủ thể khác nhau và được chế định bởi luật pháp và các quyđịnh quản lý của Nhà nước
Nghiên cứu tiếp cận đối với hoạt động đầu tư có nhiều góc độ hình thànhnên các môn học khác nhau về đầu tư Môn học “Quản lý nhà nước về đầu tư”tiếp cận hoạt động đầu tư như một đối tượng quản lý của Nhà nước Môn học
có đối tượng là quan hệ quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trongđiều kiện nền kinh tế thị trường Các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạtđộng đầu tư nói chung cũng như đối với dự án đầu tư nói riêng được tiếp cận,trình bày trong giáo trình với một lô gic tuần tự: chương 1 nghiên cứu kháiquát về đầu tư và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường, vốn đầu tư và các
lý thuyết về đầu tư; chương 2 nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước vềđầu tư; chương 3 nghiên cứu chính sách đâu tư là công cụ chính sách quantrọng trong quản lý nhà nước về đầu tư; chương 4 nghiên cứu về đầu tư công
và quản lý đầu tư công; chương 5 nghiên cứu về dự án đầu tư (hình thức thựchiện đầu tư) và việc quản lý của chủ đầu tư và Nhà nước đối với các dự án.Môn học “Quản lý nhà nước về đầu tư” là một môn học chuyên ngànhtrong chương trình đào tạo cao học mã ngành “Quản lý kinh tế” Giáo trình này
là tài liệu bắt buộc đọc trong quá trình học môn học này
Trang 5Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP MÔN HỌC,
KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ
1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP MÔN HỌC
1.1 Đối tượng nghiên cứu của học phần
Đầu tư là một lĩnh vực đặc thù và có vai trò quan trọng trong phát triểnkinh tế Đối với các cá nhân và doanh nghiệp, đầu tư là sự bỏ vốn nhằm mụcđích thu lợi ích lớn hơn trong tương lai Xét về hành vi, đầu tư là sự hy sinhtiêu dùng giá trị và tài sản tạo ra nhằm mục đích sản xuất ra các tài sản mới cógiá trị lớn hơn Trên giác độ xã hội, đầu tư là việc sử dụng luồng tiết kiệm đểmua sắm các tư liệu sản xuất, tạo ra năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Một nền kinh tế muốn tăng trưởng và phát triển phải có đầu tưvới quy mô ngày càng lớn, hiệu quả ngày càng cao Quản lý nhà nước về đầu
tư là một trong những nội dung quản lý của Nhà nước gắn với thể chế luậtpháp, thủ tục, chính sách có vai trò quan trọng trong kích thích hoặc kìm hãmđầu tư, do vậy có vai trò trong thúc đẩy kinh tế phát triển
Có nhiều môn học nghiên cứu về đầu tư Quản lý nhà nước về đầu tư làmôn học thuộc chuyên ngành quản lý công, quản lý kinh tế, thuộc lĩnh vựckhoa học xã hội, nghiên cứu các quan hệ, nội dung, thể chế quản lý của Nhànước trong lĩnh vực đầu tư Nó cũng nghiên cứu các vấn đề về hình thức,nguồn vốn trong lĩnh vực đầu tư
Quá trình tiến hành một dự án đầu tư kể từ khâu ý tưởng, thực hiện huyđộng vốn, sử dụng các nguồn lực cho đến khi tiến hành xây dựng công trình, sửdụng các các thành quả của quá trình đầu tư… có rất nhiều công việc phải làm,đòi hỏi phải sử dụng kiến thức của rất nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật, phải biết
sử dụng và phối hợp đội ngũ các chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên môn
Trang 6khác nhau Nguồn lực cho dự án đầu tư thường rất đa dạng về hình thức, nguồngốc Kết quả đầu tư lại sau một thời gian dài mới thể hiện Lợi ích tương laicủa đầu tư khi so sảnh với các chi phí về nguồn lực rất khó chứng minh tínhvượt trội về giá trị
Do đó, để bảo đảm cho đầu tư có hiệu quả thực sự, tức là bảo đảm sửdụng các nguồn lực đầu tư một cách tiết kiệm và hiệu quả, những người trựctiếp làm công tác quản lý đầu tư ở các cơ quan, doanh nghiệp và cơ quan quản
lý nhà nước phải được trang bị một cách có hệ thống và toàn diện các kiến thức
về kinh tế đầu tư, về tổ chức quản lý hoạt động đầu tư, về khai thác các nguồnlực cho đầu tư Biết đánh giá các kết quả và hiệu quả của đầu tư, biết quản lýhoạt động đầu tư theo dự án, biết tiến hành các hoạt động nhằm xác lập, triểnkhai và quản lý các hoạt động đầu tư, biết phát hiện các vấn đề trong quan hệđầu tư để có biện pháp kịp thời là yêu cầu tất yếu đối với cán bộ làm công tácquản lý đầu tư
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý Việc quản lý nhànước về đầu tư theo cơ chế thị trường mới được quy định và thi hành chú ýtrong những gần đây (sau khi ban hành Luật Đầu tư 2005) Tuy nhiên, việctrang bị các kiến thức này cho các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệpvẫn mang tính chắp vá Do đó, năng lực và hiệu quả quản lý hoạt động đầu tưcủa đất nước chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển đầu tư một cách cóhiệu quả, những hạn chế trong quản lý hoạt động đầu tư là khá nhiều làm chonhững thất thoát, lãng phí trong đầu tư khá lớn, hiệu quả đầu tư chưa cao Điềunày có thể nhận thấy ở cả các dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân
Trong điều kiện mới về cơ chế, vấn đề trang bị một cách có hệ thống,toàn diện các kiến thức về quản lý nhà nước đối với đầu tư cho đội ngũ nhữngngười đang làm việc trong lĩnh vực đầu tư, cho sinh viên và học viên cao học là
Trang 7rất cần thiết Do vậy, việc biên soạn giáo trình này có ý nghĩa thiết thực cho sựnghiệp đào tạo sau đại học của ngành học quản lý kinh tế.
1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của học phần
Học phần nghiên cứu các vấn đề quản lý nhà nước đối với đầu tư trướchết xem xét những vấn đề lý luận chung về đầu tư như khái niệm, bản chất củađầu tư nói chung và đầu tư phát triển nói riêng; vai trò và đặc điểm của đầu tưphát triển trong nền kinh tế; xem xét các nguồn vốn và các giải pháp huy độngcác nguồn vốn cho đầu tư; xem xét các nội dung của vốn đầu tư và phân loạicác hoạt động đầu tư nhằm đáp ứng các yêu cầu của quản lý và nghiên cứukinh tế
Tiếp đến, học phần xem xét các nội dung quản lý nhà nước về đầu tư,các vấn đề về môi trường đầu tư; về đầu tư công; về tổ chức quản lý nhà nước
và quản lý của chủ đầu tư đối với các hoạt động đầu tư, về kế hoạch hóa đầu tư.Học phần còn xem xét bản chất của dự án đầu tư, phương pháp luận và phươngpháp đánh giá kết quả và hiệu quả của dự án đầu tư
Học phần có các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở khoa học của các vấn đề chung về kinh tế trong hoạtđộng đầu tư
- Làm rõ cơ sở của các vấn đề về môi trường, chính sách đầu tư và tácđộng của môi trường, chính sách đầu tư đến hoạt động đầu tư
- Làm rõ cơ sở lý luận về đầu tư công và đầu tư phát triển
- Làm rõ cơ sở khoa học của các vấn đề quản lý nhà nước về đầu tư
- Làm rõ cơ sở khoa học và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư
- Làm rõ cơ sở khoa học, phương pháp luận về quản lý đầu tư của chủđầu tư và của Nhà nước theo dự án
Trang 8Cùng nghiên cứu các hiện tượng diễn ra trong lĩnh vực đầu tư và liênquan đến đầu tư có nhiều môn khoa học như: quản trị học, kinh tế học, kinh tếđầu tư, tài chính công, phân tích tài chính, quản lý dự án…
Các học phần liên quan khác với học phần quản lý nhà nước về đầu tư ởđối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, nhưng lại có quan hệ với nhau, hỗtrợ cho nhau trong khi tiến hành nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ củatừng học phần
1.3 Phương pháp nghiên cứu học phần
Là một môn khoa học kinh tế thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, cho nêncũng như các môn khoa học kinh tế, xã hội khác, học phần quản lý nhà nước vềđầu tư lấy kinh tế chính trị học Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đườnglối chính sách của Đảng và kinh tế học hiện đại làm cơ sở lý luận xem xét cácvấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của mình Các môn khoa học này cung cấpcác kiến thức về các phạm trù kinh tế, các quy luật kinh tế, quy luật phát triển
xã hội, về kinh tế thị trường… các quy luật và đường lối phát triển hoạt độngđầu tư… để xem xét khi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, quản lý của mình
Trong quá trình nghiên cứu đối tượng và thực hiện các nhiệm vụ củamình, học phần quản lý nhà nước về đầu tư áp dụng phép biện chứng, coi chủnghĩa duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận Ngoài ra, để xem xét cácvấn đề kinh tế về quản lý thuộc lĩnh vực đầu tư, môn học quản lý nhà nước vềđầu tư còn áp dụng các phương pháp của thống kê học, phương pháp toán kinh
tế, mô hình hóa, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp phân tích tổnghợp, tư duy lôgic và một số các phương pháp khác
Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành học phần
- Phương pháp tổng hợp và phân tích sử dụng trong đánh giá khái quátcác vấn đề quản lý nhà nước đối với đầu tư
Trang 9- Phương pháp so sánh để đối chiếu các quy trình, nội dung, cơ chế quản
lý nông nghiệp của Việt Nam với các nước khác có chế độ quản lý nhà nước vềđầu tư đã được đánh giá cao
- Phương pháp mô hình để trình bày các đề xuất quản lý được khái quátthành những mô hình như mô hình tổ chức quản lý, mô hình tác động củachính sách…
2 KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ, VAI TRÒ VÀ PHÂN LOẠI
2.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư (investment) là một loại hình đặc thù rất phổ biến trong hoạt độngkinh tế Trước hết, đầu tư là hành vi của dân cư, doanh nghiệp chi phí từ thunhập của mình không phải để tiêu dùng mà để hy vọng thu được lợi ích lớnhơn trong tương lai Do vậy người ta thường quan niệm đầu tư là việc “bỏ vốn”trong hiện tại để mong thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai Tuy nhiên kếtquả tương lai luôn có những yếu tố bất định làm cho đầu tư luôn gắn với rủi ro
mà nhà đầu tư khó biết trước được Vì vậy có thể quan niệm rằng, đầu tư là sựđánh bạc với tương lai, đánh đổi rủi ro lấy lợi nhuận kỳ vọng
Trong kinh doanh, đầu tư được coi là một phương thức kinh doanh và pháttriển kinh doanh Đó là việc bỏ vốn để mua và sử dụng những tài sản cố địnhnhư đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị với hy vọng sẽ làm cho sản nghiệpkinh doanh của mình tốt hơn hiện tại
Nhiều người còn phân biệt đầu tư với đầu cơ Tuy nhiên, theo những quanniệm hiện đại, mặc dù khái niệm đầu tư có sự khác biệt nhất định với khái niệmđầu cơ nhưng trong nhiều trường hợp đầu cơ được coi là một hình thức thựchiện đầu tư (ví dụ đầu tư mua cổ phiếu chờ giá lên rồi bán lại)
Dưới góc độ toàn bộ nền kinh tế, đầu tư là một lĩnh vực phân biệt với lĩnhvực tiêu dùng, tiết kiệm hoặc phân phối lưu thông Đầu tư của toàn bộ nền kinh
tế là tập hợp các hoạt động đầu tư của các chủ thể riêng lẻ Tuy nhiên, đầu tư
Trang 10của nền kinh tế không phải là phép cộng đơn thuần các hoạt động đầu tư củacác chủ thể riêng lẻ mà nó chỉ tính đến các hoạt động thực sự làm tăng năng lựcsản xuất của các chủ thể và toàn bộ nền kinh tế nói chung
Về mặt thống kê, đầu tư (của một thời kỳ) được coi là “sự gia tăng tài sản
cố định gộp” Gọi là “gộp” vì chưa tính phần hao mòn mất mát vì tuổi thọ giảm
và vì năng suất giảm của tài sản cố định theo thời gian cũng như sự lạc hậu củatài sản - phần mất mát này có thể gọi tạm là khấu hao tài sản cố định Ngoài ra,đầu tư không tính các khoản chuyển dịch tài sản Đầu tư là một đại lượngluồng (flow) chứ không phải là đại lượng kho (stock) như tài sản hoặc tư bản(vốn) Người ta chỉ có thể tính được lượng đầu tư cho một thời kỳ nhất địnhchứ không thể tính đầu tư cho một thời điểm
Nếu gọi Kt là lượng tài sản cố định (vốn) tại thời điểm t; Kt-1 là tài sản cốđịnh tại thời điểm t-1; I là đầu tư của thời kỳ, ta có công thức:
I = Kt – Kt-1
Mặc dù ở mỗi góc độ khác nhau có thể đưa ra các quan niệm khác nhau vềđầu tư, nhưng nhìn chung đầu tư phải bao gồm các đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, có sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để chi phí một khoản tiền hoặc
tài sản cho mục đích tương lai Hiện tượng này được gọi là bỏ “vốn” ban đầu.Vốn ở đây chính là các tài sản có khả năng sử dụng để mang lại giá trị tăngthêm trong tương lai
Thứ hai, đầu tư luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm Có thể coi hoạt động
đầu tư là hoạt động rủi ro nhất của nhà kinh doanh Do vậy các nhà đầu tư phảinhìn nhận trước những rủi ro để lượng hóa sự đánh đổi rủi ro với lợi nhuận kỳvọng sẽ thu được Thông thường các hoạt động đầu tư rủi ro cao luôn kèm theokhả năng mang lại lợi nhuận cao và ngược lại
Trang 11Thứ ba, đầu tư luôn mang tính dài hạn nếu so với các hoạt động sản xuất
hay tiêu dùng Một hoạt động đầu tư thường bao gồm nhiều chu kỳ sản xuấtkéo dài vài năm đến vài chục năm
Thứ tư, tính sinh lợi (hiệu quả) của đầu tư Mục tiêu của đầu tư là sinh lợi
thể hiện ở kết quả thu được trong tương lai phải lớn hơn chi phí Đó chính làhiệu quả đầu tư Nhưng ở những góc nhìn khác nhau, người ta cũng nhìn nhậnvấn đề hiệu quả không giống nhau Đối với các doanh nghiệp và doanh nhân
họ chỉ coi trọng hiệu quả tài chính, tối đa hoá lợi nhuận Còn đối với Nhà nước
và cộng đồng lại muốn hiệu quả phải gắn liền với các chi phí và lợi ích xã hội
2.2 Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế
Từ trước tới nay khi nói về đầu tư, các nhà kinh tế từ cổ điển đến đươngđại đều coi trọng vai trò to lớn của đầu tư đối với nền kinh tế Có thể nói rằngđầu tư là cốt lõi là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Điều
đó thể hiện ở các nội dung sau
Thứ nhất, tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
Đầu tư là hoạt động sử dụng các tài sản cho mục đích mang lại giá trị caohơn cho tương lai Việc tiêu dùng các tài sản trong đầu tư không phải là tiêudùng trực tiếp mà là tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa khác trong tương lai Vìvậy nó có tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, cả trongngắn hạn và dài hạn Mức độ tác động cũng như thời gian ảnh hưởng đến tổngcung và tổng cầu là khác nhau
Đối với tổng cung: tác động của đầu tư mang tính dài hạn làm thay đổimức tổng cung (tăng năng lực sản xuất) Hoạt động đầu tư đòi hỏi sử dụng cácnguồn lực, một khối lượng vốn lớn, đòi hỏi một thời gian khá dài mới có thểphát huy tác dụng Khi các kết quả đầu tư phát huy tác dụng làm cho năng lựcsản xuất và sản lượng của nền kinh tế tăng lên Như vậy , đầu tư có tác động
Trang 12dài hạn đến tổng cung và làm cho đường tổng cung dài hạn của nền kinh tếtăng lên, mức sản lượng tiềm năng cũng tăng lên.
Đối với tổng cầu: đầu tư là một yếu tố quan trọng cấu thành tổng cầu,thường chiếm tỷ trọng từ 10-40% cơ cấu tổng cầu tùy từng quốc gia Bởi vì,đầu tư chính là quá trình thực hiện (tiêu thụ và thanh toán) các hàng hoá vàdịch vụ trong quá trình thực hiện đầu tư Tác động này mang tính ngắn hạn Dovậy, xét về mặt ngắn hạn đầu tư có tác động trực tiếp tới tổng cầu
Thứ hai, đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Ta thấy rõ rằng đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu và tácđộng đến cân bằng của nền kinh tế Như vậy, đầu tư có tác động rõ rệt đến tăngtrưởng và phát triển của nền kinh tế
Trước hết, về tác động đến tăng trưởng, đầu tư tác động làm dịch chuyểnmức sản lượng tiềm năng và đường tổng cung dài hạn sang bên phải, như vậy
nó có tác động cùng chiều đến sản lượng cân bằng và tăng trưởng của nền kinh
tế Mô hình hàm Harrod- Domar đã chứng mình mối quan hệ giữa tốc độ tăngtrưởng và vốn đầu tư
Trong đó:
- ICOR - hệ số gia tăng tư bản – đầu ra (Incremental Capital - OuputRatio)
- K – Tư bản tích lũy của nền kinh tế
- I – Đầu tư trong năm
- Q – Sản lượng của nền kinh tế
- k – Tỷ lệ đầu tư trên sản lượng của nền kinh tế
- g – Tốc độ tăng trưởng
Từ công thức trên ta có:
Trang 13Chỉ số ICOR có thể tính cho các ngành kinh tế và các nguồn vốn khácnhau Thông thường ICOR trong ngành nông nghiệp thường là rất thấp, ICORtrong ngành công nghiệp là cao nhất Về nguồn vốn, ICOR của khu vực tưnhân là thấp nhất, còn khu vực nhà nước và FDI thường cao do các đầu tư khuvực này thường là các công trình thâm dụng vốn.
Ngoài ra, khi làm tăng năng lực sản xuất, đầu tư còn làm tăng năng suấtlao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm giá thành các sản phẩm công nghiệp
và dịch vụ, do vậy nó làm thay đổi tốc độ phát triển kinh tế Vì vậy đối với mỗiquốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu tư có hiệuquả nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nước mình
Trang 14Thứ ba, đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là công cụ thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một quốc gia được coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đạivới 3 ngành công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, trong đó công nghiệp và dịch
vụ chiếm một tỷ lệ cao trong GDP của nước đó Bởi vì nông nghiệp do nhiềuhạn chế về điều kiện tự nhiên và khả năng sinh học của cây trồng vật nuôi nênchỉ có tốc độ tăng trưởng tối đa từ 5-6%, khả năng mang lại việc làm và thunhập chỉ cho dưới 1/3 dân số Phát triển công nghiệp và dịch vụ là con đườngtất yếu mang tính chiến lược cho các quốc gia đang phát triển Muốn đạt tới cơcấu kinh tế mới bắt buộc phải đầu tư phát triển những ngành công nghiệp vàdịch vụ có lợi thế và cả những ngành mới Cần tăng mạnh vốn đầu tư cho côngnghiệp và dịch vụ và có nhiều chính sách phát huy hiệu quả của đầu tư thì mới
có cơ cấu kinh tế công nghiệp và dịch vụ hiện đại và phát triển
Trong nông nghiệp, cũng cần có đầu tư để tăng ngành chăn nuôi bởi chănnuôi thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trồng trọt Cần đầu tư để phát triểnnông nghiệp theo hướng tiên tiến, hiện đại, gắn với nhu cầu thị trường
Đối với cơ cấu vùng lãnh thổ một quốc gia, đầu tư chính là công cụ pháttriển lãnh thổ cân đối giữa các vùng trong cả nước Do vậy bên cạnh việc đầu
tư trọng điểm để phát triển thành thị và các vùng đồng bằng cần có chính sách
để đầu tư phát triển kinh tế các vùng núi và nông thôn để vừa phát triển kinh tế
xã hội vừa tạo sự cân bằng ổn định trong nước Nước Mỹ đã có chính sách đầu
tư hợp lý trong việc phát triển các bang miền Tây từ khu vực hoang vu kémphát triển thành những vùng kinh tế với những thế mạnh về các ngành côngnghiệp cơ khí, phần mềm, giải trí, du lịch… Việt Nam cũng đã áp dụng chínhsách đầu tư để phát triển một số vùng duyên hải Miền Trung với những côngtrình và khu công nghiệp như Dung Quất, Nghi Sơn…
Trang 15Như vậy, đầu tư là công cụ để thực hiện chính sách và chiến lược chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Thứ tư, đầu tư góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ
Trong điều kiện hiện nay, khoa học - công nghệ có ý nghĩa quyết địnhnăng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của các quốc gia Ở các nướcphát triển, đầu tư cho khoa học - công nghệ ở cả cấp nhà nước và cấp doanhnghiệp thường rất lớn, do vậy trình độ khoa học công nghệ của họ đã cao lạicàng tăng cao, hơn hẳn các nước khác trên thế giới Còn đối với các nước đangphát triển, do sử dụng công nghệ lạc hậu, lại không có điều kiện để đầu tư chonghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ nên trinh độ khoa học công nghệngày càng tụt hậu, năng suất lao động thấp, kinh tế phát triển thấp, ngày càngphụ thuộc vào các nước công nghiệp Muốn thoát khỏi tình trạng này thì cácnước phải tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu tư với công nghệ hiện đại
và công nghệ cao từ bên ngoài (FDI) vào nền kinh tế Đầu tư ở đây được hiểu
là các nước thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù hợp, đồng thời tổ chứcnghiên cứu để phát minh ra các công nghệ mới tiên tiến Quá trình công nghiệphoá, hiện đại của các nước có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vàoviệc đầu tư phát triển khoa học công nghệ Có thể khẳng định rằng đầu tư khoahọc công nghệ là một yếu tố quan trọng số một trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội
Ngoài các vai trò chính yếu trên, đầu tư còn có một số vai trò khác nhưlàm tăng thu ngân sách cho Nhà nước, góp phần ổn định xã hội, giải quyết việclàm, an sinh xã hội, mở rộng ảnh hưởng của quốc gia
Đầu tư ở Việt Nam từ khi có cơ chế, chính sách mới (năm 1990), đã tăngmạnh và đóng góp quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển
Trang 16Nguồn: Tổng cục Thống kê
Hình 1.1: Động thái đầu tư thời gian qua
Đầu tư trong 20 năm qua đã tăng mạnh cả về số tuyệt đối và tỷ trọng.Trước hết về số tuyệt đối, đầu tư của toàn bộ xã hội đã tăng gần 5 lần trong 10năm 1990 – 2000 và tăng trên 4 lần trong 10 năm 2000 – 2010 Về tỷ trọng, tỷ
lệ đầu tư của nền kinh tế đã tăng từ mức 14% năm 1990 lên 28% vào năm 2000
và đạt trên 40% năm 2010 Trong 3 năm 2011-2013 tỷ lệ này có giảm xuốngcòn 30 - 32% do tác động của khủng hoảng tài chính và khó khăn chung vềphát triển Về nguồn vốn, nếu như trong đầu thập niên 1990, nguồn lực đầu tưchủ yếu dựa vào vốn nhà nước thì gần đây vốn tư nhân và FDI đã tăng mạnh
Hình 1.2: Hệ số ICOR của Việt Nam qua các thời kỳ
Trang 17Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư của Việt Nam trong 20 năm qua đã giảm mạnhthể hiện ở hệ số ICOR tăng từ mức 3,5 trong đầu thập niên 1990 lên 5,2 vàođầu thập niên 2000 và 7,5-8,0 vào đầu thập niên 2010 Điều này phù hợp vớiquá trình phát triển công nghiệp của Việt Nam từ một nước nông nghiệp đangtrong quá trình công nghiệp hóa Tuy nhiên mức ICOR cao bất thường trongnhững năm gần đây ở trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt ở khu vựcđầu tư công và FDI là một thực tế đáng báo động Nó chứng tỏ Việt Nam đãkhông còn cơ hội về khai thác hiệu quả vốn đầu tư và năng suất tổng hợp cácyếu tố sản xuất.
Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, Hội thảo Ủy ban Ngân sách của Quốc hội
Hình 1.3: Động thái cơ cấu vốn đầu tư
Cơ cấu và động thái vốn đầu tư ở Hình 1.3 cho thấy, vẫn còn bất hợp lý ở chỗ đầu tư công vẫn ở mức cao hơn so với vốn tư nhân và FDI trong những năm đầu thập niên 2010 Vốn tư nhân có tốc độ tăng trưởng khá nhưng chủ yếu
sử dụng ở các dự án nhỏ và phát triển các lĩnh vực, ngành nghề không quan trọng Vốn FDI có tăng nhưng chưa ổn định
Trang 182.3 Phân loại đầu tư
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư tuỳ theo bản chất, nguồn vốn,tác động, thời hạn đầu tư, phương thức đầu tư
2.3.1 Phân loại theo bản chất của đầu tư
Theo bản chất của đầu tư, người ta thường chia đầu tư thành 3 loại
- Đầu tư sản xuất
Đây là các hoạt động đầu tư hình thành tài sản vật chất xây dựng hoặc cải
tạo năng lực sản xuất hàng hóa, dịch vụ Loại đầu tư này là phổ biến nhất, theo
đó chủ đầu tư bỏ vốn để tiến hành xây dựng, phát triển hoặc cải tạo các nhàmáy, công trình, cơ sở kinh doanh… nhằm tạo ra tài sản mới, năng lực sản xuấtmới Đầu tư theo loại này làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh, tạo thêm việclàm mới, nâng cao đời sống của người dân trong cộng đồng Loại đầu tư nàyđược gọi là đầu tư phát triển (theo cách phân loại bên dưới) Đầu tư loại nàyquyết định mức tăng vốn đầu tư của xã hội, quyết định hiệu quả chung của hoạtđộng đầu tư, góp phần chủ yếu trong chuyển dịch cơ cấu và phát triển khoa họccông nghệ
Hiện nay ở Việt Nam, các dự án đầu tư phổ biến ở ngành công nghiệp, sau
đó đến ngành dịch vụ, cuối cùng là lĩnh vực nông nghiệp Đầu tư xây dựng mớinăng lực sản xuất thường phải hình thành ý tưởng và thực hiện đầu tư theo dự
án, theo đó chủ đầu tư là người có sáng kiến vè ý đồ đầu tư, các cơ quan quản
lý nhà nước và công đồng là các chủ thể tham gia thẩm định để chấp thuận đầu
tư hoặc cấp giấy đăng ký đầu tư
- Đầu tư tài chính
Là loại hình đầu tư, theo đó nhà đầu tư thông qua cấp vốn cho vay hoặcthị trường chứng khoán hoặc mua trực tiếp, bỏ vốn mua các chứng chỉ có giá
để hưởng lợi tức, giá trị tăng thêm của cổ phiếu và quyền của cổ đông Có thểhiểu, hoạt động đầu tư tài chính là các hoạt động đầu tư mua các tài sản tài
Trang 19chính nhằm mục đích tận dụng cơ hội thu lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro trongkinh doanh Nói cách khác, đây là hình thức doanh nghiệp tận dụng mọi tàisản, nguồn vốn nhàn rỗi hoặc sử dụng kém hiệu quả và các cơ hội kinh doanhtài chính trên thị trường để nâng cao hiệu quả kinh doanh vốn.
Đầu tư tài chính có 2 loại: đầu tư ngắn hạn là việc chủ đầu tư mua chứngkhoán và các chứng chỉ có giá rồi bán đi trong tương lai để hưởng chênh lệchgiá Cũng có thể nhà đầu tư đầu tư giá xuống tức là vay chứng khoán để bántrước rồi khi giá xuống mua lại để hoàn trả cho ngân hàng cho vay Loại thứhai là đầu tư dài hạn, theo đó nhà đầu tư mua chứng khoán với mong đợi giá trị
cổ phiếu sẽ tăng trong dài hạn và thu được lợi tức cao trong tương lai
Theo lĩnh vực đầu tư, đầu tư tài chính có 4 loại
Loại thứ nhất là đầu tư chứng khoán bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu
Cổ phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ xác nhận vốn góp của chủ sở hữu vàodoanh nghiệp đang hoạt động hoặc bắt đầu thành lập, cổ phiếu có thể là cổphiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi Đây là loại đầu tư chính trong đầu tư tàichính Trái phiếu là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn và có lãi do Nhà nước hoặcdoanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển Tráiphiếu gồm có: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, tráiphiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty Lãi suất của trái phiếu có thể
là lãi suất cố định cho cả thời hạn của trái phiếu, có thể là lãi suất cố định ápdụng hàng năm, có thể là lãi suất hình thành qua đấu giá Trái phiếu doanhnghiệp phổ biến hiện nay là trái phiếu chuyển đổi, tức là sau một thời hạn nhấtđịnh, trái phiếu sẽ được tự động chuyển thành cổ phiếu
Loại thứ hai là đầu tư góp vốn liên doanh Đây là việc góp vốn theo thoảthuận bằng hợp đồng liên doanh của hai hoặc nhiều bên để cùng thực hiện hoạtđộng kinh tế sinh lời nào đó mà không cần lập pháp nhân riêng Hoạt động liêndoanh được đồng quản lý và kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh Kết
Trang 20quả kinh doanh là lãi kinh doanh được chia cho các bên góp vốn theo thỏathuận Các hình thức hoạt đồng liên doanh gồm: Hợp đồng hợp tác kinh doanhdưới hình thức liên doanh hoạt động kinh doanh được đồng kiểm soát; hợpđồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh tài sản được đồng kiểmsoát; hợp đồng liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh doanh đượcđồng kiểm soát Trường hợp nhà đầu tư góp vốn vào liên doanh đồng kiểm soátnhưng nhà đầu tư không có quyền đồng kiểm soát trong liên doanh đó thì đượccoi là đầu tư dài hạn khác hoặc góp vốn vào công ty liên kết tùy theo tỷ lệ nắmgiữ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong liên doanh.
Loại thứ ba là đầu tư vào công ty con Đây là kiểu đầu tư của nhà đầu tưgiữ trên 50% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư Khi đó nhà đầu tư đượcgọi là công ty mẹ, và bên nhận đầu tư chịu sự kiểm soát của công ty mẹ đượcgọi là công ty con trừ trường hợp đặc biệt khi xác định rõ là quyền sở hữukhông gắn với quyền kiểm soát Trong các trường hợp sau đây, quyền kiểmsoát còn được thực hiện ngay cả khi công ty mẹ nắm giữ ít hơn 50% quyềnbiểu quyết tại công ty con: i) Các nhà đầu tư khác thỏa thuận dành cho công ty
mẹ hơn 50% quyền biểu quyết; ii) Công ty mẹ có quyền chi phối các chínhsách tài chính và hoạt động theo quy chế thỏa thuận; iii) Công ty mẹ có quyền
bổ nhiệm hoặc bãi miễn đa số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc cấp quản
lý tương đương; iv) Công ty mẹ theo điều lệ công ty con có quyền bỏ đa sốphiếu tại các cuộc họp của Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương.Loại thứ tư là đầu tư vào công ty liên kết Đây là khoản đầu tư của nhà đầu
tư giữ từ 20% đến dưới 50% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư mà không
có thoả thuận khác Khi đó nhà đầu tư được coi là nhà đầu tư chiến lược, cóảnh hưởng đáng kể đến công ty liên kết và bên nhận đầu tư được gọi là công tyliên kết, bao gồm cả trường hợp nhà đầu tư nắm giữ dưới 20% quyền biểu
Trang 21quyết nhưng có thỏa thuận giữa bên nhận đầu tư và nhà đầu tư và việc nhà đầu
tư có ảnh hưởng đáng kể và được gọi là nhà đầu tư chiến lược
Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới, năng lực sản xuất mới cho nềnkinh tế quốc dân mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhânđầu tư, đồng thời làm thay đổi phương cách quản lý của các công ty được đầu
tư, cuối cùng có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn nói chung Với sự hoạtđộng của các hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễdàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng Điều đó khuyến khích cácdoanh nhân có vốn nhàn rỗi tham gia đầu tư Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu
tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít vốn (thực hiện nguyên tắc không bỏ trứng vàomột rổ) Thông qua đầu tư tài chính, thị trường vốn hoạt động nhộn nhịp, tạokhả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển
- Đầu tư thương mại
Loại này rất gần với hoạt động vẫn được gọi là đầu có Đay là loại đầu tưtheo đó người có tiền vốn bỏ tiền ra để mua hàng hoá, tài sản và sau đó bán vớigiá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán Loạihình đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăngtài sản của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sởhữu hàng hoá giữa người bán và người đầu tư và người đầu tư với khách hàngcủa họ Tuy nhiên, đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thôngcủa cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển,tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanhdịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung Cần lưu ý là đầu cơ trongkinh doanh cũng thuộc đầu tư thương mại xét về bản chất, nhưng nếu vi phạmnhững quy định pháp luật cấm, sẽ bị Nhà nước không cho phép: nếu gây ra tìnhtrạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lí lưu
Trang 22thông phân phối, gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi phí của người tiêudùng.
Cần chú ý rằng, trước khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005, khái niệm đầu
tư chưa được hiểu và định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật LuậtĐầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinhdoanh, đã định nghĩa: "Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sảnhữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư".Đặc biệt Luật Đầu tư còn đưa ra định nghĩa về hoạt động đầu tư làm cơ sở đểphân biệt giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó hoạt động đầu tư được hiểu
là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bịđầu tư, thực hiện và quản lí dự án đầu tư Cần phân biệt khái niệm đầu tư kinhdoanh với khái niệm kinh doanh Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, kinhdoanh được định nghĩa là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả cáccông đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cungứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Bên cạnh khái niệm kinhdoanh, pháp luật hiện hành còn đưa ra định nghĩa pháp lý về hoạt động thươngmại Theo nghĩa kinh điển thì hoạt động thương mại là hoạt động mua bán, làcầu nối giữa sản xuất với tiêu thụ và tiêu dùng Tuy nhiên, cùng với sự pháttriển của kinh tế thị trường, khái niệm thương mại đã được mở rộng đến cáclĩnh vực sản xuất, phân phối, dịch vụ, đầu tư với mục đích tìm kiếm lợinhuận Vì lẽ đó, việc xác định ranh giới giữa hoạt động thương mại và hoạtđộng kinh doanh ngày càng khó khăn và ít có ý nghĩa Có thể đồng nhất giữakhái niệm kinh doanh và khái niệm thương mại ở chỗ, chúng đều là hoạt độngcủa các chủ thể kinh doanh, thương mại nhằm mục đích lợi nhuận LuậtThương mại năm 2005 đã định nghĩa hoạt động thương mại thuộc phạm vi điềuchỉnh của luật này là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, trong đó có hoạtđộng đầu tư Với cách hiểu về thương mại như vậy, hoạt động đầu tư kinhdoanh được coi là một bộ phận của hoạt động thương mại
Trang 232.3.2 Phân loại theo thời hạn đầu tư
Theo thời hạn, đầu tư thường chia thành 2 loại:
Đầu tư dài hạn
Là hoạt động đầu tư mang tính chất dài hạn hơn 5 năm Thường kế hoạchđầu tư dài hạn có thời gian đầu tư từ 5-10 năm trở nên và thường có quy môlớn Do có thời hạn đầu tư dài và mang ý nghĩa định hướng lâu dài trong chiếnlược phát triển của doanh nghiệp nên đầu tư dài hạn có khối lượng tài sản sốlượng lao động huy động là rất lớn Đầu tư dài hạn là hoạt động chủ yếu nhằmxây dựng cơ sở vật chất lâu dài cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp Đồng thờidựa trên các mục tiêu kế hoạch của đầu tư dài hạn, doanh nghiệp, nền kinh tế
sẽ đào tạo xây dựng được một đội ngũ cán bộ công nhân viên kỹ thuật, cán bộquản lí có trình độ cao hơn Thông qua các kế hoạch dài hạn, doanh nghiệp sẽ
có chiến lược mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu cho mình Kế hoạchđầu tư dài hạn đòi hỏi những người lập kế hoạch đầu tư dài hạn của công typhải rất cẩn thận và có tầm nhìn chiến lược thật tốt nếu không sẽ làm cho kếhoạch đầu tư không được thành công và kéo theo là sự sụp đổ của doanhnghiệp hoặc làm cho doanh nghiệp không thể phát triển được Do thời hạn củađầu tư dài hạn là rất dài so với sự thay đổi của tình hình phát triển của nền kinh
tế thị trường nên bên cạnh các kế hoạch đầu tư dài hạn có tính chất định hướng,doanh nghiệp còn luôn luôn phải đề ra những kế hoạch ngắn hạn nhằm từngbước hiện thực hoá kế hoạch đầu tư dài hạn, tránh sự phát triển lệch lạc và bámsát hơn với sự phát triển của nền kinh tế
Đầu tư ngắn hạn
Là đầu tư có thời gian đầu tư ngắn, thường là dưới 5 năm Đầu tư ngắnhạn có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty tuỳ theo mỗi thời kìngắn Là cách mà doanh nghiệp có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch phát triển dàihạn Thông qua đầu tư ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ có đối sách tốt hơn, phản
Trang 24ứng nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị trường Đầu tư ngắn hạn củadoanh nghiệp sẽ sớm thu hồi vốn và lợi nhuận hơn so với đầu tư dài hạn Đầu
tư ngắn hạn không yêu cầu phải huy động một khối lượng vốn đầu tư lớn vàmột số lượng nhân lực nhiều nhưng đòi hỏi những nhà quản lí của doanhnghiệp phải có một cái nhìn, một phản ứng nhanh nhạy đối với thị trường trongmỗi sự biến động của thị trường
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn bổ sung những khuyết điểm của nhau
và tạo cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế
2.3.3 Phân loại theo nguồn vốn
Theo tiêu chí nguồn vốn đầu tư chi thành 3 loại, mỗi loại lại chia thànhcác loại nhỏ hơn (xem các mục sau về nguồn vốn đầu tư):
Đầu tư công (đầu tư nhà nước)
Là đầu tư nguồn vốn thuộc sở hữu nhà nước từ ngân sách nhà nước hoặccác quỹ tín dụng công và các doanh nghiệp nhà nước
Đầu tư tư nhân trong nước
Đây là đầu tư mà chủ sở hữu vốn là tư nhân trong nước
Đầu tư nước ngoài
Đây là đầu tư mà chủ sở hữu vốn thuộc các doanh nghiệp, tư nhân và địnhchế nước ngoài, kể cả các tổ chức tài chính quốc tế
2.3.4 Theo tính chất tác động
Khi tiếp cận đầu tư dưới góc độ nền kinh tế người ta thường quan tâmđến tác động của đầu tư đến tăng trưởng của nền kinh tế nói chung Theo tiêuchí này, đầu tư được chia thành 2 loại:
Đầu tư phát triển
Khái niệm đầu tư phát triển là đầu tư theo đó sử dụng các nguồn lực tàichính, vật chất, lao động để xây dựng tạo mới, cải tạo năng lực sản xuất cho
Trang 25nền kinh tế Các lĩnh vực đầu tư phát triển là công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặtthiết bị tăng sản xuất Kết quả của đầu tư phát triển là cải tạo năng lực của các
cơ sở đang tồn tại hoặc tạo năng lực mới cho nền kinh tế, tạo ra việc làm mới
và nâng cao đời sống, thu nhập cho cộng đồng Đầu tư phát triển làm gian tăngtài sản cho nền kinh tế
Đầu tư chuyển dịch
Đối lập với đầu tư phát triển là đầu tư chuyển dịch, theo đó, các hoạtđộng đầu tư chỉ làm chuyển dịch sở hữu tài sản đầu tư từ chủ này sang chủkhác mà không làm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế Về hình thức, đó làđầu tư thông qua mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (đầu tư tàichính) hoặc mua bán lại toàn bộ nhà máy, doanh nghiệp hoặc thiết bị máy móc(M&A)
2.3.5 Theo phương thức đầu tư
Phương thức đầu tư là cách thức nhà đầu tư thực hiện việc bỏ vốn và kémtheo đó là trách nhiệm quản lý vốn và công trình đầu tư Theo tiêu chí này, đầu
tư chia thành 2 loại
Đầu tư trực tiếp
Là loại hình đầu tư theo đó chủ đầu tư phải trực tiếp bỏ vốn, thành lậppháp nhân và trực tiếp quản lý, chịu trách nhiệm về hoạt động của pháp nhân.Đây là hình thức đầu tư phổ biến Hầu như toàn bộ các doanh nghiệp trongnước đều là kết quả của đầu tư trực tiếp Đối với vốn nước ngoài, đầu tư trựctiếp (FDI) cũng là phương thức chính
Đầu tư gián tiếp
Là phương thức đầu tư, theo đó thông qua mua cổ phiếu, trái phiếu để nhàđầu tư rót vốn vào nền kinh tế và doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu
Về bản chất đầu tư gián tiếp là đầu tư tài chính Tuy nhiên, đầu tư gián tiếp nếu
Trang 26thực hiện liên tục và có mục tiêu kiểm soát doanh nghiệp thì đầu tư gián tiếpchính là phương thức để thực hiện đầu tư trực tiếp Các hoạt động M&A (muabán và sáp nhập) chính là thể hiện điều này
Ranh giới giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp chỉ mang tính quy ướctùy thuộc vào luật pháp và thông lệ quản trị từng quốc gia Ở Việt nam, ranhgiới này được quy định là 30%
3 ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
3.1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốntrong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sảnxuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mụctiêu phát triển
Đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó, quá trìnhđầu tư làm gia tăng giá trị và năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tài sản.Thông qua hành vi đầu tư này, năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của nềnkinh tế cũng gia tăng
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp,
nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồnlực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên.Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt độngđầu tư phát triển cần tính đúng, tính đủ các nguồn lực tham gia
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư
bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân
công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành
và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượngđầu tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và côngtrình phi lợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư
Trang 27chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu
tư và loại bị cấm đầu tư Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: nhữngtài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình Tài sản vật chất, ở đây, lànhững tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình như phát minh sáng chế, uytín, thương hiệu…
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà
xưởng thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹthuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) Các kếtquả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xãhội thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó Kết quả và hiệu quả đầu tư pháttriển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kếthợp hài hòa giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu
tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tàisản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục,xóa đói giảm nghèo… nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộcsống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng được xem là đầu tư phát triển
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm vànâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệpnhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chấtlượng nguồn nhân lực…
Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định.
Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói
Trang 28chung và vốn đầu tư nói riêng Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giaoquản lý, sử dụng vốn đầu tư (Luật đầu tư 2005) Theo nghĩa đầy đủ, chủ đầu tư
là người sở hữu vốn, ra quyết định đầu tư, quản lý quá trình thực hiện và vậnhành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi từ thành quả đầu tư đó Chủ đầu tưchịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về nhữngsai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi sinh và do
đó, có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.Thực tế quản lý còn có những nhận thức không đầy đủ về chủ đầu tư
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài
và tồn tại vấn đề "độ trễ thời gian" Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa
thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư hiện tạinhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai Đặc điểm này của đầu
tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả hoạt động củađầu tư phát triển
Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh
tế có thể khác nhau Trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm giatăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải là hiện tượng chu chuyển tài sảngiữa các đơn vị Ví dụ, việc mua bán tài sản cố định giữa các đơn vị, vẫn đượcxem là hoạt động đầu tư của các đơn vị này, nhưng trên phương diện nền kinh
tế, không có đầu tư tăng thêm mà chỉ chuyển quyền sở hữu từ đơn vị này sangđơn vị khác
Đầu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính Đầu tư tài chính(đầu tư tài sản chính) là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vayhoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để hưởnglãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lợi nhuận tùythuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành (mua
cổ phiếu…) Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng tài
Trang 29sản thực (tài sản vật chất) cho nền kinh tế (của không xét đến quan hệ quốc tếtrong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư.Mua cổ phiếu (đầu tư cổ phiếu) gắn với việc chuyển quyền sở hữu và hoạtđộng cho vay dẫn đến chuyển quyền sử dụng, do vậy, hai loại đầu tư này đềuthuộc hoạt động đầu tư dịch chuyển Đầu tư tài chính thường được thực hiệngián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, công ty chứngkhoán Đầu tư tài chính còn có đặc điểm là: chủ đầu tư thường có kỳ vọng thuđược lợi nhuận cao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể tănggiảm không theo ý muốn Tuy nhiên, đầu tư tài chính là kênh huy động vốn rấtquan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển và là một trong những loại hình đầu
tư lựa chọn để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro cho các chủ đầu tư
3.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn Vốn đầu tư lớn lại nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình
thực hiện đầu tư Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn vàhuy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tưđúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thựchiện đầu tư trọng tâm, trọng điểm
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự ántrọng điểm quốc gia Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộcần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từngloại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất nhữngảnh hưởng tiêu cực do vấn đề "hậu dự án" tạo ra như việc bố trí lại lao động,giải quyết lao động dôi dư…
- Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện
dự án đến khi hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát
Trang 30triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lại nằm khê đọngtrong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cầntiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứtđiểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắcphục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các
kết quả đầu tư tính từ khi đầu tư công trình cho đến khi kết thúc khai thácthường kéo dài hàng chục năm Trong suốt quá trình vận hành, các thành quảđầu tư chịu tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị, kinh tế, xã hội… Để thích ứng với đặc điểm này, công tác quản lý đầu
tư cần chú ý một số nội dung sau: Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phươngpháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối vớisản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòngđời dự án Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thànhquả đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồivốn, tránh hao mòn vô hình Thứ ba, chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thờigian trong đầu tư Đầu tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã pháthuy tác dụng ngay năm đó mà từ những năm sau kéo dài trong nhiều năm Đây
là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lýhoạt động đầu tư
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên Không thể dễ dàng di chuyển các
công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác quản lý hoạt độngđầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước hết, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng Đầu
tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng,dựa trên những căn cứ khoa học
Trang 31Ngoài ra, khâu lựa chọn địa điểm đầu tư có vai trò và ý nghĩa rất quantrọng Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên những căn cứkhoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môitrường, văn hóa Cần xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau và nhiều phương án
so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất, saocho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể, tạo điềukiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Các cơ quan quản lý nhà nước phải cùngvới chủ đầu tư phối hợp trong việc xác định địa điểm đầu tư cho hợp lý Đầu tưphát triển hiện nay do cấp chính quyền địa phương (tỉnh) quyết định là chính
Do đó, các địa phương phải có các biện pháp cạnh tranh, ganh đua nhau trong
thu hút đầu tư phát triển
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ
đầu tư kéo dài, thời gian vận hành dự án để đạt các kết quả đầu tư cũng dài,lĩnh vực đầu tư chủ yếu là các lĩnh vực mới nhiều bất trắc hoặc hàng hóa côngcộng nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao hơn Rủi rođầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó, có nguyên nhân chủ quan từ phía cácnhà đầu tư như quản lý kém, dự báo sai, chất lượng sản phẩm kém Nhưngcũng có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩmgiảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế, thiên tai, thời tiết Chính vì vậy, đầu tư phát triển cũng hứa hẹn mức lợi tức hoặc hiệu quả thuđược cao hơn Đầu tư phát triển đòi hỏi phải tính toán kỹ càng trước khi raquyết định đầu tư và phải có cơ chế giám sát chặt chẽ
3.3 Các lĩnh vực đầu tư của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển rất rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực khácnhau Có mấy cách phân loại để xem xét các lĩnh vực
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm:
Trang 32- Đầu tư phát triển sản xuất các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụtùy theo nhu cầu đầu tư và khả năng đầu tư của các nhà đầu tư.
- Đầu tư phát triển các công trình kết cấu hạ tầng chung của nền kinh tếbao gồm các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, nước,thông tin, các công sở nhà nước… và kết cấu hạ tầng xã hội như các công trìnhvăn hóa, giáo dục, y tế, khoa học và dịch vụ xã hội khác
Theo nội dung, đầu tư phát triển bao gồm đầu tư phát triển những tài sảnhữu hình và đầu tư phát triển những tài sản vô hình Đầu tư phát triển các tàisản hữu hình bao gồm phát triển nhà máy, cầu đường, dây chuyền sản xuất, đầu
tư vào hàng tồn trữ Đầu tư phát triển tài sản vô hình gồm các nội dung nhưđầu tư phát triển thương hiệu, uy tín, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, pháttriển hoạt động khoa học, kỹ thuật
Trong đầu tư phát triển tài sản hữu hình thì đầu tư có xây dựng cơ bản làquan trọng nhất Kết quả của đầu tư này là tạo nên những tài sản cố định là nhàcửa, vật kiến trúc sử dụng lâu dài Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tưnhằm tạo mới hoặc tái tạo tài sản cố định của nền kinh tế hoặc doanh nghiệp.Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính như: xây lắp, mua sắmlắp đặt máy móc thiết bị Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷtrọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế cũng như các doanhnghiệp
Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ (tồn kho) Hàng tồn kho là dự trữ càn thiếtcủa nền kinh tế và các doanh nghiệp để bảo đảm quá trình tái sản xuất không bịgián đoạn khi có những biến động khác nhau Trong doanh nghiệp đó là toàn
bộ dự trữ thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên nhiên vật liệu Đối với nềnkinh tế quốc dân đó là dự trữ quốc gia và các dự trữ chính sách Thực ra dự trữchính là một hình thức hoạt động sản xuất và chi phí dự trữ được tính vào chiphí sản xuất Tuy nhiên, khi tăng dự trữ ở cả góc độ từng doanh nghiệp và toàn
Trang 33bộ nền kinh tế, lượng tăng dự trữ chính là lượng tăng thêm về tài sản cần thiếtcho doanh nghiệp và nền kinh tế, nó được coi như một khoản đầu tư và hạchtoán vào khoản mục đầu tư Trên thực tế, tỷ trọng đầu tư vào hàng tồn khotrong tổng vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp thương mại thường caohơn các loại hình doanh nghiệp khác Do vậy, xác định quy mô đầu tư hàng tồnkho tối ưu cho doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế là rất cần thiết để bảo đảmhiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung.
Đầu tư phát triển thương hiệu gần đây mới được chú ý ở Việt Nam Đây
là hoạt động đầu tư để xây dựng bộ nhận dạng thương hiệu, tuyên truyền,quảng bá hình ảnh thương hiệu, đăng ký và phát triển thương hiệu trên thịtrường trong nước và quốc tế Nhiều thương hiệu hiện nay là sự liên minhthương hiệu các doanh nghiệp hoặc thương hiệu địa phương, thương hiệu quốcgia cũng được chú ý Đó là tên gọi xuất xứ sản phẩm, chỉ dẫn địa lý, thươnghiệu sản phẩm và du lịch quốc gia…
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực hiện nay cũng được coi là lĩnh vựcquan trọng của đầu tư phát triển Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọngtrong nền kinh tế và doanh nghiệp, là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp và nền kinh tế Trong điều kiện toàn cầu hóa, chỉ có nguồn nhânlực chất lượng cao mới đảm bảo giành thắng lợi trong cạnh tranh lâu dài Dovậy, đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực là rất cần thiết Đầu tư phát triểnnguồn nhân lực bao gồm đầu tư gia tăng thể lực người lao động, đầu tư chohoạt động đào tạo, đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y tế, đầu tư cảithiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động
Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệcũng rất quan trọng trong đầu tư phát triển Có thể coi khoa học công nghệ như
là một dịch vụ công hỗ trợ các ngành phát triển nhanh và đột phá Một đấtnước có nền khoa học công nghệ cao sẽ giảm chi phí cho các doanh nghiệp
Trang 34phát triển sản phẩm mới, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm,tăng năng suất lao động…Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ đòi hỏi vốnlớn và độ rủi ro cao nên Nhà nước và doanh nghiệp phải là chủ thể đầu tư có sựphối hợp chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo.
4 VỐN VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
4.1 Khái niệm, hình thức của vốn đầu tư
Hiểu theo nghĩa rộng nhất, vốn là các tài sản hoặc nguồn lực có khả nănghuy động và sử dụng trong hoạt động kinh tế, có thể mang lại lợi tức hay giá trịtăng thêm cho chính tài sản vốn Như vậy, vốn đầu tư chính là các tài sản tàichính hoặc phi tài chính tích lũy được trong quá trình chu chuyển kinh tế Cáctài sản này không sử dụng để tiêu dùng mà được sử dụng để tạo ra năng lực sảnxuất mới sản xuất ra hàng hóa khác
Đầu tư luôn gắn liền với vốn đầu tư Bản chất của đầu tư là quá trình bỏvốn, huy động vốn, sử dụng vốn, thu kết quả của vốn
Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định về vốn đầu tưbao gồm 10 hình thức sau:
- Vốn đầu tư bằng tiền bao gồm đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyểnđổi:
- Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác;
- Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác;
- Các quyền theo hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng chìa khóa trao tay, hợpđồng xây dựng, hợp đồng quản lý, hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc doanhthu;
- Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng;
Trang 35- Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nhãn hiệu thương mại,kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, tên thương mại, nguồn gốc hoặc tên gọi xuấtxứ;
- Các quyền chuyển nhượng, bao gồm cả các quyền đối với thăm dò vàkhai thác tài nguyên;
- Bất động sản; quyền đối với bất động sản, bao gồm cả quyền cho thuê,chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh;
- Các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, bao gồm cả lợi nhuận,lãi cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí;
- Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định của pháp luật
và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
4.2 Đặc điểm của vốn đầu tư
Vốn đầu tư gắn liền với hoạt động đầu tư nên nó có những đặc điểmriêng biệt do tính chất đầu tư mang lại Khác với các hình thức vốn khác, vốnđầu tư có 3 đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tính đa dạng về hình thức
Như trên đã nêu, vốn đầu tư bao gồm rất nhiều hình thức khác nhau từvốn bằng tiền đến vốn hiện vật, từ vốn hữu hình đến vốn vô hình Tất cả cáchình thức vốn khác nhau nếu đứng biệt lập rất khó so sánh và xác định giá trịcủa chúng Tuy nhiên, khi được huy động và sử dụng vào hoạt động đầu tư, tất
cả các hình thức vốn đều được xác định giá trị, lượng giá và làm thủ tục đểchúng tham gia vào quá trình đầu tư Quá trình này được gọi là " vốn hóa" tàisản, kết quả là các tài sản khác nhau ở các hình thức khác nhau được quychuyển theo mặt bằng giá trị vốn (thường bằng đơn vị tiền tệ hợp pháp)
Việc vốn hóa các tài sản tạo vốn đầu tư cần phải chính xác, đúng thờiđiểm và phù hợp với thể chế quản lý đầu tư của cả chủ đầu tư và quốc gia sở
Trang 36tại Việc ghi nhận góp vốn đầu tư có ý nghĩa rất lớn về thủ tục pháp lý liênquan đến quyền sở hữu vốn, sở hữu tài sản và hiệu quả hoạt động đầu tư.
Tính đa dạng và tính động của vốn đầu tư đòi hỏi quản lý đầu tư phải tỷ
mỉ, chính xác và có nghiệp vụ về quản lý vốn Các hiện tượng và vấn đề nhưchuyển giá trong đầu tư, gian lận vốn góp, xác định sai giá trị vốn đều bắtnguồn từ khâu xác định giá trị, làm thủ tục huy động và sử dụng vốn đầu tư
Thứ hai, tính hiệu quả
Bản chất của vốn đầu tư và hoạt động đầu tư là phải hiệu quả, sinh lợi
Do vậy, vốn đầu tư khi được huy động và sử dụng cần phải chú ý đến tính sinhlợi của vốn Toàn bộ quá trình xác định vốn, huy động vốn, sử dụng vốn, quyếttoán vốn đều phải tính đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Đối với các hoạt độngđầu tư công, tính sinh lợi thể hiện trước hết ở hiệu quả xã hội của vốn, sau đóthể hiện ở các chỉ tiêu hiệu quả là lợi ích xã hội thu được phải lớn hơn chi phíđầu tư bỏ ra
Tính hiệu quả của vốn đầu tư chính là một tiêu chí để lựa chọn điềuchỉnh dòng vốn đầu tư kể cả dưới góc độ kinh doanh của chủ đầu tư và góc độphát triển kinh tế của Nhà nước Tiêu chí hiệu quả luôn là thước đo phân bổvốn cho những nơi nào vốn đầu tư có hiệu quả hơn Ngược lại, hoạt động đầu
tư nào có hiệu quả cao, tự nó thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nướctrên thị trường vốn chảy vào để thực hiện đầu tư thu lợi tức cao
Thứ ba, tính dài hạn
Vòng chu chuyển của vốn đầu tư là cả đời dự án Vốn đầu tư được huyđộng và sử dụng khi quyết định đầu tư Việc hoàn trả vốn chỉ thu được sau mộtthời gian dài Chu kỳ thứ nhất là thông qua quỹ khấu hao tài sản cố định, nhàđầu tư tích lũy và thu hồi phần vốn đầu tư vào tài sản cố định để tái sản xuất tàisản cho chính dự án hoặc có thể thu về cho chủ đầu tư Chu kỳ thứ hai là thuhồi thông qua lợi nhuận khai thác tài sản đầu tư (dòng tiền tệ hàng năm) cho
Trang 37đến thời điểm gọi là kỳ hoàn vốn Chu kỳ thứ ba kéo dài cho đến năm cuốicùng của dự án đầu tư, chủ đầu tư thu hồi giá trị ròng (lợi nhuận ròng).
Thời gian tuổi đời của một dự án đầu tư thường kéo dài nhiều năm, cókhi đến vài chục năm tùy theo ngành nghề, đặc điểm và chế độ quản lý nhànước cho phép
Do tính dài hạn của vốn đầu tư nên trong quản lý dự án cần phải cónhững tính toán và quản lý, giám sát vốn dài hạn, bảo đảm khả năng sinh lợicủa vốn, bảo đảm lợi ích cuối cùng của các bên tham gia
4.3 Nguồn vốn đầu tư
Khái niệm nguồn vốn đầu tư dùng để chỉ nơi sở hữu vốn, có khả nănggóp vốn, cấp vốn hoặc tài trợ vốn cho hoạt động đầu tư Ví dụ một chủ đầu tư
tư nhân có thể huy động vốn đầu tư từ 3 nguồn: vốn sở hữu của anh ta (vốnchủ), vốn vay của các định chế tài chính, vốn huy động từ thị trường chứngkhoán thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu
Việc nghiên cứu nguồn vốn đầu tư rất quan trọng Mỗi một nguồn vốn
có những đặc điểm riêng về tính chất, chi phí huy động, mức độ thuận lợi tronghuy động Đứng ở góc độ của chủ đầu tư hoặc Nhà nước, mỗi một nguồn vốnđều có ưu điểm và nhược điểm riêng Do vậy, cần phải thận trọng và khoa họctrong xác định nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư riêng lẻ hoặc toàn bộ nềnkinh tế nói chung
Dưới góc độ toàn bộ nền kinh tế, trước hết cần nhìn lại nguồn vốn trongnước và nguồn vốn nước ngoài Sau đó cần phân biệt nguồn vốn từ Nhà nước
và nguồn vốn của doanh nghiệp và dân cư Việc nhìn lại này rất quan trọng đêgiúp các cơ quan hoạch định chính sách và kế hoạch hóa đầu tư xác định nguồnvốn cho đầu tư phát triển, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Nhà nước chỉ chủ động về vốn đối với nguồn vốn nhà nước, còn cácnguồn vốn khác, Nhà nước phải thông qua chính sách, cơ chế để các doanh
Trang 38nghiệp và dân cư họ tự quyết định đầu tư Nếu muốn khớp nối mức vốn huyđộng của Nhà nước với đầu tư thực của doanh nghiệp, Nhà nước phải có nhữngchính sách và biện pháp về khuyến khích đầu tư phù hợp.
Như vậy nguồn vốn dưới góc độ nền kinh tế có 3 nguồn sau:
4.3.1 Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhànước, nguồn vốn tín dụng nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanhnghiệp nhà nước Tất cả 3 loại nguồn này đều có đặc điểm chung là sở hữuthuộc về Nhà nước, toàn dân, quyền điều phối vốn thuộc về Nhà nước hoặc các
tư của ngân sách nhà nước và từ các doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 75%nguồn vốn đầu tư nhà nước
Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách
nhà nước cho đầu tư Nó chính là một phần thuế của dân hoặc do phát hành tráiphiếu được chi theo nguyên tắc cấp phát không hoàn trả từ ngân sách nhànước Đây là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụngcho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các
dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chicho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn Trong nhữngnăm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô tổng
Trang 39thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng Đi cùng với sự mở rộng quy môngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cũng gia tăngđáng kể Tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2001-2010 tăng bìnhquân 15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước hàng năm bình quân hàngnăm đạt gần 23% GDP Nguồn thu ổn định từ sản xuất trong nước đã bước đầudần dần tăng Tổng chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9% Tỷ lệ chingân sách nhà nước bình quân bằng 28% GDP Trong đó chi cho đầu tư pháttriển đạt bình quân 30,2% tổng chi ngân sách nhà nước Tính chung cho giaiđoạn 2001-2010, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2001-2010 chiếmkhoảng 51% tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước và bằng khoảng 23% tổngvốn đầu tư toàn xã hội Tính theo tỷ lệ trên GDP, vốn đầu tư từ ngân sách nhànước trong giai đoạn 2001-2010 lên đến 9,45%.
Từ năm 2003, để tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng,việc đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu được triển khai thực hiện Đối tượng đượcđầu tư bằng nguồn trái phiếu chính phủ là một số dự án quan trọng, thiết yếuthuộc các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục và các dự án quan trọngđối với nền kinh tế, cần đầu tư song chưa thể cân đối trong kế hoạch đầu tưhàng năm Bình quân giai đoạn 2006-2010, tổng nguồn vốn trái phiếu chínhphủ thực hiện ước bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xuhướng gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu
tư toàn xã hội
Tuy nhiên, từ năm 2011, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã bắt đầuphải thu hẹp cả về tỷ trọng và số tuyệt đối do thu ngân sách không tăng, trongkhi áp lực chi khác tăng mạnh
Nguồn vốn tín dụng nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa,
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong
Trang 40thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nếu như trước năm 1990, vốntín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chưa được sử dụng nhiều thì trong giaiđoạn 1991-2005, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có
vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của Nhà nước Từ năm 2006, cùng vớiviệc chuyển đổi Quỹ Hỗ trợ phát triển thành Ngân hàng phát triển, vốn tíndụng nhà nước tiếp tục tăng cả về quy mô và hình thức đầu tư
Vốn tín dụng đầu tư giai đoạn 2001-2010 ước chiếm khoảng 22,6% tổngvốn đầu tư từ khu vực Nhà nước, tương đương khoảng 4,2% GDP Nguồn vốntín dụng nhà nước trong thời gian qua đã được tập trung hỗ trợ cho các doanhnghiệp thực hiện dự án đầu tư, hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, xúc tiến đầu tư, pháttriển các ngành then chốt như đóng tàu, điện, nước nhằm góp phần nâng caotiềm lực của doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Vốn tín dụng nhà nước khác biệt với vốn ngân sách nhà nước ở chỗ vốncấp đòi hỏi phải hoàn trả với lãi suất ưu đãi Ngoài ra từ vốn này còn chi chocác nghiệp vụ hỗ trợ đầu tư, bảo lãnh đầu tư nên có tác dụng lan tỏa mạnh Vốntín dụng nhà nước theo các quy định hiện hành được tài trợ cho cả khu vựccông và khu vực tư Do vậy, vốn tín dụng nhà nước có tác dụng tích cực trong
việc giảm bao cấp vốn cấp phát trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng,
các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiếtkiệm hơn Vốn tín dụng nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phươngthức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng thương mại đối với các
dự án có khả năng thu hồi vốn
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước còn phục vụcông tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn tín dụng đầu tư,Nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành,vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình Đứng ở khía cạnh là công