luận văn của tôi bảo vệ bằng cử nhân Học viện ngân hàng, tốt nghiệp loại giỏi, điểm bảo vệ 9,5
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, hoạt động kinh doanh củangân hàng thương mại (NHTM) trở nên phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết Bêncạnh các nghiệp vụ ngân hàng mang tính truyền thống thì các ngân hàng đã khôngngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới, hiện đại, trong đó phải kể đến cácnghiệp vụ tài chính phái sinh
Khi tham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ, sự biến động khó lường của lãisuất trên thị trường là những nguyên nhân gây ra các rủi ro cho các ngân hàng khikinh doanh trên thị trường tiền tệ và thị trường tiền tệ liên ngân hàng Để có thể hạnchế được rủi ro lãi suất (RRLS), ngân hàng cần tiến hành các biện pháp phòng ngừarủi ro lãi suất Một trong những công cụ phòng ngừa hiệu quả RRLS chính là cáchợp đồng phái sinh Các hợp đồng phái sinh tiền tệ bao gồm: hợp đồng kì hạn(FORWARD), hợp đồng hoán đổi (SWAP), hợp đồng quyền chọn (OPTION) vàhợp đồng tương lai (FUTURE)
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngàycàng sâu rộng và đa dạng của thị trường tài chính để có thể hạn chế thấp nhất nhữngrủi ro thua lỗ có thể xảy ra đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng như
là doanh nghiệp
Đến nay, trên thị trường tài chính quốc tế, nghiệp vụ phái sinh đã phát triểnrất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh rất đa dạng và được sử dụng rộng rãi ở nhiềuquốc gia, đặc biệt là những nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, ý thức phòng ngừa rủi
ro lãi suất thông qua các công cụ phái sinh (CCPS) của các NHTM Việt Nam cũngnhư chủ thể tham gia trong nền kinh tế còn rất hạn chế Xuất phát từ mong muốnnghiên cứu nhằm định hướng phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh trong quản trị
rủi ro lãi suất của NHTM, em xin lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)” làm nội dung cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ phái sinh
tiền tệ và sự tác động của các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất củaNHTM
Thứ hai, phân tích thực trạng diễn biến lãi suất và phát triển công cụ phái
sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín(Sacombank) từ đó rút ra những mặt tích cực, những hạn chế và nguyên nhân
Thứ ba, từ những nguyên nhân trên đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm
ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại NHTM
cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến
nghiệp vụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại NHTM
Phạm vi nghiên cứu: việc phát triển và ứng dụng Công cụ phái sinh trong
phòng ngừa rủi ro lãi suất tại NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)trong giai đoạn 2008-2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồngthời kết hợp các phương pháp thống kê kinh tế, phân tích kinh tế, phương pháp sosánh, phương pháp định tính Vận dụng những phương pháp trên, bài luận văn đisâu vào phân tích rủi ro lãi suất và việc ứng dụng công cụ phái sinh trong phòngngừa rủi ro lãi suất, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về rủi ro lãi suất và công cụ phái sinh tiền
tệ trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Chương 2: Thực trạng phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro
lãi suất tại NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
Chương 3: Giải pháp phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi
suất tại NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)
Trang 3Theo điều 4 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt
động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngânhàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạtđộng, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hànghợp tác xã”
“NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu
lợi nhuận.”
Như vậy, NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộhoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan NHTM tồn tại dướinhiều dạng sở hữu khác nhau: NHTM quốc doanh, NHTM tư nhân, NHTM liêndoanh, NHTM cổ phần hoặc chi nhánh NHTM nước ngoài Bất cứ hình thức hoạtđộng nào của NHTM cũng bao gồm ba nghiệp vụ: nghiệp vụ nợ (huy động vốn),nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán, tưvấn, bảo lãnh…) Ba loại nghiệp vụ trên có mối quan hệ mật thiết, có tác động hỗtrợ, thúc đẩy cùng phát triển tạo nên uy tín cho ngân hàng
Hiện nay NHTM mang một nét đặc trưng khác biệt so với ngân hàng khác ởchỗ: NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn, vì
Trang 4hoạt động này làm cho NHTM có thể tăng gấp bội số tiền gửi cho khách hàng trong
hệ thống ngân hàng của mình
1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Vai trò thực thi chính sách tiền tệ
Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về ngân hàng Nhà nước (NHNN)thông qua các công cụ điều tiết như: Lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thịtrường mở, hạn mức tín dụng…NHTM chính là các chủ thể chịu sự tác động trựctiếp của các công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếpcác tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng và nền kinh tế.Ngược lại, thông qua NHTM và các định chế tài chính khác, các thông tin của nềnkinh tế được phản hồi về cho NHNN để từ đó Chính phủ và NHNN sẽ có nhữngchính sách điều tiết thích hợp đối với nền kinh tế
Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn với hoạt động kinh doanh của các chủthể trong nền kinh tế Trong mối quan hệ đó, NHTM điều tiết vĩ mô nền kinh tếthông qua các hoạt động như: Tín dụng, cung ứng tiền mặt, thanh toán…, cụ thể:
- Bằng chính sách và những biện pháp tín dụng, NHTM cho vay bổ sung vốnlưu động hoặc đầu tư trung, dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế NHTM cóthể gia tăng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng trong các trường hợp cần thiết Tất cảnhững điều chỉnh đó đều tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp, cá nhân trong nền kinh tế Mặt khác việc sử dụng vốn vay của các chủ thểphải được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn cho NHTM theo cam kếtnên buộc các khách hàng vay phải hết sức cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng khi đi vayvốn ngân hàng Đây chính là công cụ kích thích việc nâng cao hiệu quả hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp
Vai trò điều tiết vĩ mô của NHTM còn được thể hiện thông qua việc tiếpnhận, thu hút khối lượng tiền mặt từ nền kinh tế vào ngân hàng trung ương và đồngthời NHTM cung ứng tiền mặt theo nhu cầu khi các khách hàng đến ngân hàng rúttiền Quá trình thu nhận và cung ứng khối lượng tiền mặt trong nền kinh tế tạo ramối quan hệ lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ giữa các khu vực một cách cầnthiết và hợp lý
Trang 5- Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng và tiền tệ,NHTM còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác trong nền kinh tế Đây chính lànhững dịch vụ trung gian tạo cho NHTM những nguồn lợi đáng kể, đồng thời cũngtạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển toàn diện và thỏa mãn các yêu cầu tronghoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế Với tư cách là trung gianthanh toán, NHTM giúp các chủ thể tham gia thanh toán và tiết kiệm được chi phítrong mua bán, cung ứng dịch vụ, đồng thời giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gianthanh toán tiền bán hàng để tiếp tục thực hiện luân chuyển cho chu kỳ tiếp theonhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh Mặt khác NHTM còn đóng vai trò làtrung gian tài chính đáng tin cậy để đảm bảo an toàn trong thanh toán giữa ngườimua và người bán tạo nên sự “văn minh tiền tệ” cho xã hội.
Như vậy, với vai trò thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết vĩ mô nền kinh tế,NHTM đã xâm nhập vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể và cáclĩnh vực hoạt động kinh doanh của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng,tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt, tư vấn, góp vốn đầu tư…Với các mốiquan hệ thường xuyên đó, NHTM giúp các hoạt động của doanh nghiệp (bao gồm
cả ngân hàng) được tiến hành bình thường và ngày càng phát triển
1.1.1.2 Góp phần vào hoạt động vĩ mô nền kinh tế.
Nội dung quan trọng điều tiết tiền tệ của NHNN là điều hòa khối tiền tệ.Điều hòa khối tiền tệ, nghĩa là điều chỉnh việc tạo tiền và sử dụng tiền trong hệthống ngân hàng hai cấp Trong nền kinh tế, NHNN có thể điều tiết được khốilượng tiền phát hành thông qua các các tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước Phầntiền ngân hàng (tiền ghi sổ, bút tệ) được thực hiện thông qua chức năng tạo tiền củaNHTM nên NHNN chỉ có thể quản lý gián tiếp thông qua các công cụ, chính sáchtiền tệ mà thôi
Tiền ngân hàng do NHTM tạo ra thông qua cấp tín dụng cho nền kinh tế, đặcbiệt là tiền trên các tài khoản thanh toán séc Nó được tạo ra từ sự mở rộng gấpnhiều lần quỹ dự trữ ngân hàng (thông qua hệ số tạo tiền) Khi các nước có nền kinh
tế càng phát triển, tiền của hệ thống NHTM chiếm khối lượng càng lớn trong tổngkhối lượng tiền tệ lưu thông và nền kinh tế càng hiện đại sẽ sử dụng càng nhiều hơn
Trang 6tiền ngân hàng Chính chức năng tạo tiền của NHTM đã góp phần vào hoạt độngđiều tiết vĩ mô nền kinh tế.
1.2 Rủi ro lãi suất và sự phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm lãi suất
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm (%) tính trên số tiền vay mà người đi vay phải trảcho người sở hữu để đổi lấy quyền sử dụng tiền vay trong một thời gian nhất định.Hay nói cách khác, lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong thời giannhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó
Như vậy, khi sử dụng bất kì một khoản tín dụng nào thi người đi vay cũngphải trả thêm một phần giá trị, gọi là lãi, ngoài phần vốn gốc ban đầu Lãi được tínhtrên cơ sở lãi suất Vì tiền tệ có giá trị thời gian nên lãi suất phải được trả nhằm bùđắp chi phí cơ hội của người cho vay
Theo khái niệm trên ta có:
Lãi suất = s ố ti ề n p h ả itr ả sau t h ờ i gian n h ấ t đị n h−s ố ti ề n g ố c ban đầ u s ố ti ề n g ố c ban đầu * 100%
Do là giá cả của hàng hóa đặc biệt nên cũng như những hàng hóa các hànghóa thông thường khác, lãi suất chịu sự ảnh hưởng tương quan cung - cầu vốn trênthị trường, là đối tượng giám sát, chịu sự quản lý của NHNN thông qua việc banhành chính các chính sách,công cụ điều chỉnh lãi suất của các NHTM đối với nềnkinh tế
1.1.2 Khái niệm về rủi ro lãi suất
Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro là khả năng mà các sự kiện, được dự đoántrước hay không thể dự đoán được, có thể gây ra tác động bất lợi đối với vốn và thunhập của ngân hàng Trong đó, rủi ro lãi suất là khoản tiền tổn thất tiềm tàng màngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị trường biến động
Khi lãi suất thị trường thay đổi, rủi ro lãi suất có ảnh hưởng đến ngân hàngtrên hai khía cạnh: thu nhập (khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng) và về giá trị thịtrường của tài sản
Trang 7Sơ đồ 1.1: Vị trí rủi ro lãi suất so với các rủi ro khác theo basel II
1.1.1.1 Rủi ro về thu nhập
Rủi ro về thu nhập là khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng khilãi suất thị trường biến động Rủi ro thu nhập bao gồm:
a Rủi ro định giá lại
Rủi ro phát sinh từ sự khác nhau về thời gian do lãi suất ấn định mới Bao gồm:
Rủi ro tái tài trợ tài sản nợ (TSN)
Khi ngân hàng có kỳ hạn tài sản có (TSC) lớn hơn kỳ hạn của TSN, tức làdùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn, thu nhập của ngân hàng sẽ giảm khilãi suất thị trường tăng lên vào lúc công cụ nợ đáo hạn Khi đó, ngân hàng phải huyđộng thêm vốn chi phí cao hơn để kinh doanh tiếp Ta nói ngân hàng đã gặp rủi rolãi suất
Rủi ro tái đầu tư TSC
Trong nền kinh tế suy thoái, lãi suất ngày càng tăng cao Khách hàng gửi tiền
dự đoán trong tương lai lãi suất sẽ giảm, họ sẽ rút tiền gửi ngắn hạn gửi sang kỳ hạndài hơn Đồng thời khách hàng đi vay chỉ muốn ngắn hạn Khi đó dẫn tới ngân hàng
BASEL II
TRỤ CỘT THỨ NHẤT
RỦI RO
TÍN DỤNG
RỦI RO THỊ TRƯỜNG
RỦI RO
LÃI SUẤT HỐI ĐOÁIRỦI RO
RỦI RO HÀNG HÓA
RỦI RO VẬN HÀNH
TRỤ CỘT THỨ HAI
RỦI RO KINH DOANH
RỦI RO DANH TIẾNG
RỦI RO PHÁP LÝ
RỦI RO THANH KHOẢN
Trang 8huy động dài hạn và cho vay ngắn hạn, tức là kỳ hạn TSC nhỏ hơn kỳ hạn TSN.Nếu lãi suất thị trường giảm, ngân hàng phải huy động vốn với chi phí lớn hơntương đối so với thu nhập từ khoản vay trước đó, khi đó ngân hàng gặp rủi ro.
b Rủi ro cơ bản
Rủi ro cơ bản phát sinh khi việc định giá lại hoàn toàn không hoàn hảo hoặckhông giống nhau với các danh mục khác nhau Có nghĩa là có sự khác nhau vềmức độ thay đổi lãi suất thu được từ TSC và lãi phải trả từ TSN mặc dù những danhmục này có cùng thời gian định giá lại Những thay đổi sẽ ảnh hưởng tới báo cáo tàichính và thu nhập của ngân hàng
Ví du: Ngân hàng B có một khoản cho vay thời hạn 1 năm, định giá lại hàngtháng theo mức lãi suất của tín phiếu Kho bạc 1 tháng Giả sử ngân hàng sử dụngmột khoản huy động có kỳ hạn tương xứng 1 năm, được định giá lại hàng thángtheo Vnibor 1 tháng để tài trợ cho khoản vay này Nếu xét trên phương diện địnhgiá lại thì ngân hàng không gặp rủi ro Nhưng nếu hai mức lãi suất làm cơ sở địnhgiá lại có mức biến động khác nhau ngoài dự kiến thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi lãisuất Vnbor tăng nhanh hơn lãi suất tín phiếu Kho bạc
c Rủi ro lựa chọn
Rủi ro lựa chọn là rủi ro thay đổi về phương thức thanh toán đối với TSChoặc TSN khi lãi suất biến động Khi lãi suất thị trường giảm sẽ ảnh hưởng đến lựachọn của người vay tiền Họ thường thanh toán trước hạn đối với khoản vay dài hạn
và tiếp tục vay mới với lãi suất thấp hơn Điều này sẽ làm giảm thu nhập lãi ròng vàgiảm giá trị tài sản ròng của ngân hàng Hoặc khi lãi suất tăng người gửi tiền sẽ rúttrước hạn và gửi mới với lãi suất cao hơn Tất cả các trường hợp thay đổi phươngthức thanh toán đối với TSC, TSN khi lãi suất biến động đều gây thiệt hại cho ngânhàng
1.1.1.2 Rủi ro giảm giá trị tài sản
Rủi ro giảm giá trị tài sản là khả năng giá trị ròng của ngân hàng bị suy giảmkhi lãi suất thị trường biến động
Trang 9Ví dụ: Ngân hàng A có TSC trị giá 100 nghìn tỷ VNĐ, kỳ hạn 2 năm và TSN
có giá trị tương đương với kỳ hạn 1 năm Giả sử lãi suất tăng từ 12% lên 14% nămthì giá trị hiện tại ròng của TSC, TSN sẽ thay đổi như sau:
∆ NPVA=100(1+14 %)−2−100 (1+12%)−2=−2,773(ng h ìn t ỷ VN Đ)
∆ NPVL=100 (1+14 %)−1−100 (1+12 %)−1=−1,566 (ng hì n t ỷ VN Đ)
Như vậy,giá trị TSC giảm 2,733 nghìn tỷ VNĐ trong khi giá trị TSN chỉgiảm có 1,566 nghìn tỷ VNĐ đã làm cho giá trị ròng của ngân hàng giảm 1,207nghìn tỷ VNĐ
b Rủi ro đường cong lãi suất
Rủi ro đường cong lãi suất là rủi ro của ngân hàng trước sự thay đổi về độdốc và đường cong lãi suất Rủi ro này phát sinh khi những thay đổi không dự đoán
FV: Giá trị tương lai của các khoản đầu tư ở hiện
tại
PV: Giá trị hiện tại của số tiền thu được trong
tương lai của các khoản đầu tư ở hiện tại
i : lãi suất
n : số kỳ hạn
Trang 10trước của đường cong lãi suất tác động làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng do lãisuất có thời hạn khác nhau thay đổi ở những mức độ khác nhau.Ví dụ nếu lãi suấtdài hạn của cá khoản vay tăng lên nhanh hơn lãi suất ngắn hạn của các khoản huyđộng trong cùng thời điểm thì đường cong lãi suất sẽ dốc lên Khi đó giá trị TSC sẽgiảm mạnh hơn giá trị TSN làm cho giá trị ròng của ngân hàng giảm xuống.
1.1.3 Nguyên nhân của rủi ro lãi suất
1.1.1.1 Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và kỳ hạn TSN
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Xuất phát từ nhu cầu đa dạng của khách hàng: số lượng khách hàng giao dịchvới ngân hàng ngày một tăng Mỗi khách hàng có những nhu cầu khác nhau khi gửitiền cũng như vay tiền dẫn đến ngân hàng phải đa dạng hóa kỳ hạn của nhữngkhoản vốn
Ngân hàng thường không quy định khách hàng buộc phải thực hiện cam kếthợp đồng Khách hàng có thể thanh toán nợ vay trước hạn hoặc rút tiền trước hạn
mà không bị ngân hàng ngăn cấm Khách hàng có thể làm như vậy do ngân hàngcũng tính phí cho các khoản sai lệch về kỳ hạn Khách hàng rút tiền trước hạn thì họ
sẽ chỉ được tính lãi suất không kỳ hạn cho khoản tiền rút trước hạn Chính tần suất
vi phạm kỳ hạn các khoản tiền vay và tiền gửi làm tăng khả năng mất cân xứng về
kỳ hạn giữa TSC và TSN
Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngân hàng thường có khuynh hướng duy trì thời hạn TSC lớn hơn TSNnhằm có được lợi thế về lợi nhuận, như việc huy động vốn ngắn hạn với lãi suấtthấp hơn để cho vay trung dài hạn với lãi suất cao hơn Như vậy sự bất cân xứng về
kỳ hạn TSC và TSN là điều luôn có trong các NHTM Chính vì vậy, các NHTMluôn luôn tiềm ẩn rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của mình
1.1.1.2 Sự biến động của lãi suất thị trường
Rủi ro lãi suất luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của NHTM ngay cảkhi ngân hàng cố gắng duy trì sự cân bằng vể kỳ hạn giữa TSC và TSN thì chỉ cóthể hạn chế chứ không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro lãi suất
Trang 11Lãi suất là yếu tố quan trọng bậc nhất trong hoạt động kinh doanh của cácNHTM, nhưng các NHTM không thể kiểm soát được mức độ và xu thế biến độngcủa lãi suất bởi vì:
Thứ nhất, lãi suất của một khoản vay được cấu thành bởi:
L ã i su ấ t=l ã i su ấ t t hự c p h ir ủ iro+ p h ầ n b ù r ủi ro c h o vay c ủ a k h o ả n vay
Trong đó, lãi suất thực phi rủi ro luôn thay đổi theo các biến động cung cầuvốn trên thị trường, còn phần bù rủi ro lại thay đổi theo nhận định và đánh giá củakhách hàng trên thị trường Hai yếu tố này đã làm cho lãi suất trên thị trường biếnđộng
Thứ hai, lãi suất của một khoản vay bất kỳ được xác định trên cơ sở thị
trường thông qua tác động qua lại giữa cung tín dụng và cầu tín dụng Trong đó lãisuất là giá cả của khoản tín dụng được xác định tại mức cân bằng giữa cung tiền vàcầu tiền Do đó, ngân hàng không thể là người tạo giá mà chỉ là người chấp nhận giá
và lập kế hoạch hoạt động trên cơ sở mức độ hiện tại và xu hướng biến động của lãisuất trong tương lai mà không thể dự đoán chắc chắn được
Do lãi suất hình thành tại mức cân bằng giữa cung tín dụng và cầu tín dụngnên các nhân tố ảnh hưởng tới cung-cầu tín dụng cũng là nhân tố ảnh hưởng tới sựbiến động của lãi suất thị trường Các nhân tố bao gồm:
Lợi tức dự tính các cơ hội đầu tư
Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh doanh kì vọng sẽ kiếmđược khoản lợi nhuận như mong muốn,vì thế họ có nhu cầu vay vốn đầu tư sản xuấtkinh doanh nhiều hơn→cầu tín dụng tăng lên ở mọi mức lãi suất→lãi suất tăng
Lạm phát dự tính
Khi mức lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực dự tính của người vay tiền sẽgiảm xuống, người vay vốn được lợi→cầu tín dụng tăng Trong khi đó, thu nhậpthực tế của người gửi tiền giảm→cung tín dụng giảm Điều này làm cho đường cầutiền dịch chuyển sang phải và đường cung tiền dịch chuyển sang trái làm lãi suất thịtrường tăng lên
Trang 12Đồ thị 1.2: Sự tác động của lạm phát tới lãi suất thị trường
Chính sách tiền tệ
Khi nhà nước áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng, lượng cung tiền ra thịtrường tăng lên làm cho đường cung tiền dịch chuyển sang phải.Trong khi mức cầutiền chưa kịp thay đổi, sẽ làm cho lãi suất giảm xuống
Đồ thi 1.3: Sự tác động của chính sách tiền tệ tới lãi suất ngân hàng
Trang 130
MS
MD MD’
Q
Chính sách tài khóa
Khi nhà nước thực hiện chính sách tài khóa mở rộng như cắt giảm thuế, tăngchi tiêu chính phủ mức cầu tiền tăng lên, đường cầu tiền dịch sang phải Trong khimức cung tiền chưa kịp thay đổi sẽ làm cho lãi suất tăng lên
Đồ thị 1.4: Sự tác động của chính sách tài khóa lên lãi suất thị trường
Ngoài ra, lãi suất còn chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau như sựphát triển của thể chế tài chính trung gian, mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng,khả năng tiêu thụ vốn và các yêu tố kinh tế xã hội khác
1.1.4 Công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất
1.1.1.1 Khái niệm về nghiệp vụ phái sinh tiền tệ
Nghiệp vụ phái sinh là nghiệp vụ được sử dụng phổ biến nhằm đối phó vớinhững rủi ro hoặc góp phần giảm thiểu những tổn thất có thể xảy ra cho một ngânhàng trước sự biến động của lãi suất, tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngân hàng,bao gồm các công cụ phái sinh chủ yếu là hợp đồng kỳ hạn (FORWARD), hợpđồng hoán đổi (SWAP), hợp đồng quyền chọn (OPTION), hợp đồng tương lai(FUTURE)
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ phát hành trên cơ sởnhững công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủiro,bảo vệ lợi nhuận và tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ
Trang 14một số công cụ cơ sở như tỷ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãisuất Công cụ phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàntoàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (forwardcontracts), hợp đồng tương lai(future contracts) Những công cụ trên còn có thể kếthợp với nhau, với những khoản vay hoặc những chứng khoán truyền thống để tạonên các công cụ lai tạo.
Mặc dù xuất hiện đầu tiên với tư cách là một công cụ phòng chống rủi ronhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính, các CCPS cũngđược sử dụng nhiều hơn để tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện những hành vi đầu cơ.Chính vì những biến thái như trên nên không phải lúc nào sử dụng CCPS để phòngngừa rủi ro cũng có hiệu quả Các CCPS ngày càng tinh vi và mang theo nó một sốrủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Sự sụp đổ của thị trường tàichính cổ phiếu Mỹ năm 1987 chính được đẩy nhanh nhờ sử dụng rộng rãi kỹ thuật
tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảo hiểm danh mục đầu tư Nhữngngười bảo hiểm này đã đầu tư mạnh hơn vào thị trường nếu như không có kỹ thuậtnày thì có thể họ không làm như vậy Khi sự sụt giảm của thị trường kích hoạt bảohiểm, khối lượng bán đột ngột gây ra một gián đoạn và thị trường sụp đổ Tuy vậy,các CCPS vẫn phát triển mạnh mẽ và sử dụng rộng rãi tại các thị trường tài chínhlớn của thế giới bởi đây là phương thức hữu ích nhất trong phòng ngừa và quản lýrủi ro
1.1.1.2 Vai trò của các công cụ phái sinh
Vai trò của công cụ phái sinh trong việc phòng ngừa rủi ro
a Phòng ngừa rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối
Rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối là những rủi ro thường thấy trong hoạtđộng của ngân hàng Hai loại rủi ro này có thể làm tăng chi phí vay nợ của ngânhàng (trong trường hợp lãi suất tăng hoặc tỉ giá tăng) hoặc có thể làm giảm kết quảhoạt động kinh doanh của ngân hàng (trong trường hợp lãi suất hoặc tỉ giá giảm).Các CCPS là những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa hai loại rủi ro trên Mặt khác,CCSP có thể cho ngân hàng xác định được trước và chính xác chi phí vay nợ, từ đó
có thể xác định được trước kết quả kinh doanh để lên kế hoạch cho phù hợp
Trang 15Các ngân hàng thường kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh với nhau đểphòng ngừa được rủi ro tỉ giá bất lợi cho mình và kiếm lời từ chênh lệch tỉ giá Hơnnữa, các CCPS còn đảm bảo số lượng ngoại tệ bất thường cho ngân hàng, giúp ngânhàng giữ vững tính thanh khoản của mình Ngân hàng có thể sử dụng các CCPS nhưquyền chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi tiền tệ để tự phòng ngừa rủi ro tỉ giá
Nhìn chung, các CCPS mang lại cho ngân hàng nhiều sự lựa chọn hơn trongviệc phòng ngừa rủi ro Nếu có thể kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh, ngânhàng có thể phòng ngừa được rủi ro lãi suất và tỉ giá tại một mức chi phí hợp lí
b Phòng ngừa rủi ro tín dụng
Một trong những rủi ro mà ngân hàng phải quan tâm nhất đó là rủi ro tíndụng Bất kì một khoản tín dụng nào khi được cấp, người cho vay đều hy vọng thuđược một khoản lợi nhuận nhất định từ khoản tín dụng đó Để phòng ngừa rủi ronày, ngân hàng có thể sử dụng hợp đồng phái sinh tín dụng được mua bán trên thị
trường phi tập trung Công cụ phái sinh tín dụng là thuật ngữ chung được sử dụng
để mô tả các hợp đồng quyền chọn và hoán đổi khác nhau nhằm chuyển giao rủi rotín dụng của các khoản vay hoặc tài sản có khác từ một bên là người mua sự an toànsang một bên là người bán sự an toàn Người bán sự an toàn sẽ nhận được mộtkhoản phí hoặc nhận được một khoản thu nhập theo lãi của khoản tín dụng và camkết sẽ thanh toán cho người mua sự an toàn tùy theo độ tín nhiệm của một hoặc một
số tài sản tham chiếu
Hai công cụ được sử dụng nhiều để phòng ngừa rủi ro tín dụng là hoán đổi
vỡ nợ tín dụng và quyền tín dụng Trong đó, hoán đổi vỡ nợ tín dụng là công cụ
hoán đổi mà trong đó một bên nhận được phí vào các khoảng thời gian được địnhtrước cho việc cam kết thanh toán một khoản cụ thể nếu xảy ra sự kiện tín dụng bấtlợi, chẳng hạn như thứ hạng tín dụng của khách hàng vay vốn bị suy giảm Nhưvậy, mặc dù phải trả một khoản phí định kì nhưng ngân hàng lại có được bảo đảm
về chất lượng của khách hàng của mình, hạn chế một phần rủi ro tín dụng, là một sựđảm bảo cho một giao dịch lớn hơn Mặt khác, ngân hàng cũng dễ dàng tính được
chi phí kinh doanh trong kỳ vì sự cố định của hợp đồng dạng này Hợp đồng quyền
tín dụng là một công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong giá trị tài sản
Trang 16tín dụng, giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng củangân hàng giảm sút.
Kinh doanh cung cấp dịch vụ bảo hiểm rủi ro cho khách hàng
Giống như ngân hàng, các doanh nghiệp cũng đứng trước những rủi ro nhưlãi suất, tỷ giá, tín dụng CCPS là một trong những phương tiện rất hiệu quả giúpdoanh nghiệp phòng chống các loại rủi ro này Tuy nhiên, do đối tượng của doanhnghiệp nhắm tới khi sử dụng các CCPS không chỉ đơn thuần là tiền tệ, mà còn làhàng hóa; và quan hệ trao đổi giữa các doanh nghiệp (trong nước với nhau, trongnước và nước ngoài) cũng phức tạp hơn cho nên cách nhìn nhận vai trò của CCSP
để phòng ngừa rủi ro, đầu cơ ở doanh nghiệp cũng phong phú hơn
Đứng trước nhu cầu lớn về sử dụng các CCPS để phòng vệ cũng như đầu cơcủa các doanh nghiệp, ngân hàng có thể thu được lợi nhuận khi cung cấp cho doanh
nghiệp các dịch vụ phái sinh tiền tệ, lãi suất, tỉ giá Thứ nhất, ngân hàng có thể thu
phí từ hoạt động tư vấn cho khách hàng về cách sử dụng các loại hình dịch vụ phái
sinh của ngân hàng Thứ hai, ngân hàng có thể thu lợi trực tiếp từ các hợp đồng đó, như là phí quyền chọn, phí hợp đồng tương lai Ngoài ra, việc tham gia cung cấp
dịch vụ cho các doanh nghiệp sẽ khiến các ngân hàng nâng cao được khả năngchuyên môn của mình để áp dụng cho các danh mục đầu tư khác đồng thời cũngthúc đẩy các nghiệp vụ khác phát triển Tuy nhiên, mọi loại hình dịch vụ và kinhdoanh của ngân hàng liên quan tới CCPS ngoài thu phí lấy lãi ra thì đều mang tínhchất bảo hiểm rủi ro
Khi bản thân các CCPS cũng tiềm ẩn rủi ro cho các bên tham gia, ngân hàng
có thể sẽ nhận rủi ro khi cung cấp các dịch vụ phái sinh cho khách hàng Tuy nhiên,ngân hàng là một chủ thể tài chính có những ưu thế nhất định để có thể xóa bỏnhững rủi ro đơn lẻ bằng việc đa dạng hóa danh mục Trong trường hợp ngân hàngkhông thể tự lập được một vị thế bù lại dịch vụ phái sinh đã cung cấp, nó có thể chỉđóng vai trò là trung gian và tìm một đối tác khác để chuyển nhượng lại rủi ro này.Chính vì vậy mà nhìn chung, việc cung cấp các dịch vụ CCPS tại ngân hàng thườngmang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập khác hơn là gánh lấy rủi ro
Những công cụ quan trọng cho mục đích đầu cơ của các ngân hàng thương mại
Trang 17Đầu cơ bằng các CCPS là tham gia vào một vị thế trong hợp đồng phái sinhnhằm hưởng lợi trên sự biến đổi giá cả của tài sản cơ sở Các công cụ kỳ hạn vàhoán đổi thường được NHTM sử dụng nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro về tỷ giá,lãi suất Bởi vậy, các công cụ nhằm mục đích đầu cơ của NHTM chủ yếu là hợpđồng tương lai và hợp đồng quyền chọn Các NHTM tham gia vào các hợp đồngnày với tư cách là một bên của hợp đồng với mục đích là kinh doanh sinh lợi trên sựbiến đổi giá cả của tài sản cơ sở trong tương lai
1.1.1.3 Ứng dụng công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất
a Hợp đồng kỳ hạn (FORWARD)
Hợp đồng kỳ hạn là những thỏa thuận mua hoặc bán một loại tài sản ở thờiđiểm xác định trong tương lai với mức giá nhất định Đây là những thỏa thuận cánhân qua thị trường phi tập trung OTC giữa hai tổ chức tài chính hoặc một tổ chứctài chính với một công ty Vì vậy hợp đồng kỳ hạn không tuân theo tiêu chuẩn củathị trường riêng biệt
Hợp đồng kì hạn trái phiếu (FFD):
Hợp đồng kỳ hạn trái phiếu là hợp đồng mà ngân hàng sử dụng để hoạt độngkinh doanh trong điều kiện lãi suất thị trường biến động trên cơ sở nghịch biến giữagiá trị trái phiếu và lãi suất thị trường Cụ thể, nếu ngân hàng dự báo lãi suất sẽ tănglên (hoặc giảm xuống) trong thời gian tới, có nghĩa là thị giá của trái phiếu sẽ sụtgiảm (hoặc tăng lên) Ngân hàng có thể tiến hành bán (hoặc mua) kì hạn trái phiếuvới giá hiện tại, sau này khi lãi suất thực tăng lên (hoặc giảm xuống) ngân hàng sẽthực hiện bán trái phiếu cho người mua (hoặc mua trái phiếu của người bán) với giátrị đã thỏa thuận trong hợp đồng kì hạn
Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA):
Hợp đồng kỳ hạn lãi suất là thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm T0theo đóbên mua cam kết gửi một số tiền hư cấu nhất định bằng một loại tiền nhất địnhtrong tương lai (T1đến T2) với mức lãi suất đã ấn định từ trước
Tại thời điểm T1: trên cơ sơ so sánh lãi suất đã ấn định từ trước tại T0với mứclãi suất cho thời hạn từ T1đến T2(lãi suất so sánh) để thanh toán bù trừ bằng tiềnmặt
Trang 18Nếu lãi suất so sánh > lãi suất ấn định, thì bên gửi tiền thanh toán cho bênnhận tiền gửi phần chênh lệch.
Nếu lãi suất so sánh < lãi suất ấn định thì bên nhận tiền gửi thanh toán chobên gửi tiền phần chên lệch
Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi (FFD):
Hợp đồng kỳ hạn tiền gửi là sự thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm hiện tại
T0, theo đó bên mua cam kết nhận và bên bán cam kết gửi một số tiền nhất địnhbằng một loại tiền nhất định trong khoảng thời gian trong tương lai với lãi suất nhấtđịnh Thực chất nghiệp vụ này chính là việc gửi tiền kỳ hạn theo lãi suất kỳ hạn
Cụ thể là, khi ngân hàng dự báo lãi suất thị trường có xu hướng tăng lêntrong khi GAP<0 ngân hàng sẽ tiến hành mua kỳ hạn tiền gửi nhận tiền gửi với mứclãi suất thỏa thuận Sau này khi lãi suất thực cao hơn lãi suất thỏa thuận ngân hàng
sẽ không bị thiệt hại vì đã giảm được chi phí huy động vốn theo mức lãi suất thỏathuận trong hợp đồng FFD Và ngược lại, khi nhân trong trạng thái nhạy cảm với tàisản (GAP>0) sẽ gặp rủi ro khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng sẽ tiến hành bán
kỳ hạn tiền gửi với lãi suất thỏa thuận
Bảng 1.1: Ngân hàng sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoạt động kinh doanh
GAP ∆i HĐ kỳ hạn trái phiếu HĐ kỳ hạn lãi suất HĐ kỳ hạn tiền gửi
> 0 < 0 Mua kỳ hạn trái phiểu Bán kỳ hạn lãi suất Bán kỳ hạn tiền gửi
< 0 > 0 Bán kỳ hạn trái phiếu Mua kỳ hạn lãi suất Mua kỳ hạn tiền gửi
Ví dụ: Một ngân hàng A đang nắm giữ 1 triệu trái phiếu thời lượng 7 năm,thị giá 80$ trên mệnh giá 100$ Ngân hàng dự đoán lãi suất trên thị trường 3 thángtới có xu hướng tăng tử 6% lên 8% Ngân hàng sẽ sử dụng hợp đồng kì hạn để hoạtđộng kinh doanh như sau:
Trang 19Điều này có nghĩa là khi lãi suất tăng lên 2% thì cứ mỗi trái phiếu sẽ giảm thịgiá 10,56$ Vậy với 1 triệu trái phiếu mà ngân hàng nắm giữ, ngân hàng có nguy cơđối mặt với khoản lỗ trị giá 10,56tr $, hay giá trái phiếu giảm 13,2% (∆P/P = -13,2%) tức là giá của trái phiếu giảm từ 80$ xuống còn 69,44$ Để có thể bù đắpđược sự thua lỗ này, tức là giảm rủi ro bằng 0 ngân hàng sẽ tiến hành:
Các nhà quản trị ngân hàng có thể tiến hành bán kỳ hạn 3 tháng trái phiếuvới thị giá hiện tại 80$ Khi lãi suất thị trường tăng thì ngân hàng có thể mua lại1triệu trái phiếu theo mệnh giá hiện tại 69,44$ và giao số trái phiếu này cho ngườimua hợp đồng kỳ hạn trái phiếu, như vậy lợi nhuận của ngân hàng thu được từ việcbán hợp đồng kỳ hạn trái phiếu là 80 - 69,44=10,56 triệu$ Do đó sự thua lỗ trênbảng cân đối tài sản là 10,56 triệu$ sẽ được bù đắp lại từ khoản lợi nhuận từ việcbán hợp đồng kỳ hạn trái phiếu
Hoặc tiến hành mua kỳ hạn 3 tháng tiền gửi, có nghĩa là ngân hàng sẽ nhậntiền gửi từ khách hàng một khoản tiền là 528 triệu$ với mức lãi suất 6% Khi lãisuất thị trường tăng lên, ngân hàng sẽ giảm được khoản chi phí huy động vốn là:
528 × 2% = 10,56 tr$ để bù đắp vào khoản lỗ do nắm giữ trái phiếu ở trên
Hoặc ngân hàng có thể tiến hành mua kỳ hạn 3 tháng lãi suất trên số tiền hưcấu là 528 tr$ với mức lãi suất 6% 3 tháng sau, khi lãi suất tăng lên 8% thì ngườibán (ngươi gửi tiền) sẽ thanh toán cho ngân hàng (người nhận tiền) khoản tiềnchênh lệch là 10,56 tr$ để bù đắp khoản lỗ do nắm giữ trái phiếu ở trên
b Hợp đồng tương lai (FUTURE)
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận để mua hoặc bán một tài sản vào mộtthời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức giá xác định tại ngày hôm nay.Khác với hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai được giao dịch trên Sở giao dịchtương lai nên hợp đồng tương lai được chuẩn hóa Hai bên tham gia hợp đồng phảibiết được những chi tiết về việc chuyển giao hàng hóa Hợp đồng tương lai phảiđược sự chấp thuận của Ủy ban giao dịch tương lai trước khi giao dịch bắt đầu Hơnnữa, giá cả của hợp đồng tương lai lại được điều chỉnh hàng ngày theo giá thịtrường (market to market) để phản ánh những lực lượng thay đổi cung cầu trên thịtrường Do đó hàng ngày người mua và người bán phải quyết toán với nhau những
Trang 20thay đổi của giá trị hợp đồng Để thực hiện được việc điều chỉnh hàng ngày, các nhàđầu tư phải duy trì một tài khoản ký quỹ với các nhà môi giới Mức ký quỹ tối thiểu
va ký quỹ duy trì do thị trường quy định Các mức kỹ quỹ này được xác định bởinhững biến đồng giá cả của tài sản cơ sở, biến động giá cả tài sản cơ sở càng lớn thìmức ký quỹ càng cao Mức ký quỹ duy trì thường khoảng 75% mức ký quỹ yêu cầu.Chính vì vậy khác với hợp đồng kỳ hạn hợp đồng tương lai là hợp đồng songphương, các đối tác tham gia hợp đồng đều phải gánh chịu rủi ro tín dụng
Ngoài những điểm khác biệt trên, hợp đồng tương lai cũng có những điểmgiống với hợp đồng kỳ hạn: có hợp đồng tương lai trái phiếu, hợp đồng tương laitiền gửi, hợp đồng tương lai lãi suất
Ví dụ: Một NHTM có tổng giá trị TSC 100 tỷ, tổng giá trị TSN là 80 tỷ, D A=
3 năm, D L=1,5 năm Ngân hàng đang sở hữu trái phiếu chính phủ có thời lượng 2,5năm và giá trị 10trVNĐ/1 trái phiếu Hiện tại lãi suất thị trường là 10% và ngânhàng dự báo trong 4 tháng tới lãi suất có xu hướng tăng 2%
Khi lãi suất thị trường tăng, với D A- kDL=3-(80/100)×1,5=1,8 > 0 nên ngânhàng dự tính một khoản lỗ làm giảm VTC Theo công thức ta có:
∆F: thay đổi giá trị hợp đồng tương laiDF: thời lượng của trái phiếu
Trang 21là 3,27 tỷ VNĐ do thị giá trái phiếu giảm xuống, ngân hàng sẽ dùng khoản lợinhuận thu từ việc bán 72 hợp đồng tương lai trái phiếu để bù lỗ.
Hoặc ngân hàng sẽ tiến hành mua tương lai tiền gửi hoặc mua tương lai lãisuất với tổng giá trị là 163,5 tỷ tại mức lãi suất thỏa thuận ≤ 10% Khi lãi suất thựctăng lên 2% thì ngân hàng sẽ giảm được chi phí huy động với hợp đồng tương laitiền gửi và nhận được khoản bù chênh lệch của người bán hợp đồng tương lai lãisuất là: 163,5× 2%= 3.65 tỷ đồng bù lỗ cho giảm thị giá trái phiếu
c Hợp đồng quyền chọn (OPTION)
Quyền chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu làquyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hànghóa tại một mức giá xác định và trong một thời gian nhất định Người mua quyềnchọn có quyền thực hiện hợp đồng hoặc không và phải trả phí quyền chọn, cònngười bán quyền chọn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng bất cứ khi nào được yêu cầu
và được nhân khoản phí quyền chọn
Phân loại quyền chọn
- Căn cứ vào tính chất của quyền chọn: quyền chọn được chia làm 2 loại làquyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option)
- Căn cứ vào tính chất thời gian của quyền chọn: thì quyền chọn cũng đượcchia làm 2 loại là quyền chọn kiểu châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ Đối với quyềnchọn kiểu châu Âu người nắm giữ quyền chọn chỉ có thể thực hiện hợp đồng quyềnchọn vào ngày đáo hạn hợp đồng Với quyền chọn kiểu Mỹ thì người nắm giữquyền chọn có thể thực hiện quyền chọn của mình bất cứ lúc nào trước ngày đáohạn hợp đồng
- Căn cứ vào sản phẩm của hợp đồng quyền chọn: thì có quyền chọn lãi suất
và quyền chọn trái phiếu
Trang 22Ngân hàng có thể thực hiện mua hay bán quyền chọn để tao lợi nhuận hay bảo vệlợi thế của mình trước sự biến động của lãi suất thị trường như trong 4 chiến lược sau:
Ngân hàng mua quyền chọn mua:
Nếu ngân hàng có GAP>0, lãi suất được dự đoán trong thời gian tới sẽ giảm,tức là ngân hàng có nguy cơ tổn thất lợi nhuận Ngân hàng có thể bảo vệ tránh tổnthất bằng cách mua quyền chọn mua trái phiếu tại mức giá cố định S đã thỏa thuậntrước Nếu lãi suất giảm, thị giá chứng khoán tăng lên tới F>S, ngân hàng sẽ thựchiện quyền chọn mua và thu lợi nhuận = F-S- phí quyền chọn và thuế
Ngân hàng mua quyền chọn bán
Nếu ngân hàng dự tính lãi suất tăng trong thời gian tới làm cho giá chứngkhoán giảm thì ngân hàng sẽ mua quyền chọn bán tại mức giá thỏa thuận S Khi lãisuất tăng, thị giá chứng khoán giảm xuống F<S, lúc này ngân hàng sẽ thực hiện hợpđồng quyền chọn bán các trái phiếu tại giá S và mua trái phiếu tại giá F và thu đượckhoản lợi nhuận = S-F- phí quyền chọn và thuế
Ngân hàng bán quyền chọn mua
Nếu lãi suất thị trường được dự đoán sẽ tăng, ngân hàng có thể bán quyềnchọn mua ở mức giá thỏa thuận và thu phí quyền chọn Khi lãi suất tăng, giá tráiphiếu giảm xuống F<S và hợp đồng không còn giá trị với người mua, ngân hàngnhận được lợi nhuận là khoản phí quyền chọn
Ngân hàng bán quyền chọn bán:
Nếu lãi suất thị trường dự đoán sẽ giảm, ngân hàng có thể tìm đối tác muaquyền chọn bán tại giá trị S Khi lãi suất giảm, thị giá trái phiếu tăng hợp đồngquyền chọn bán không còn giá trị với người mua Kết quả ngân hàng thu đượckhoản lợi nhuận là phí quyền chọn
a Quyền chọn trái phiếu
Ví dụ: Trong hợp đồng quyền chọn trái phiếu với giá thực hiện là 115000$,mức phí là 2000$
Khi ngân hàng dực báo lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng theo dựtính, ngân hàng sẽ tiến hành mua quyền chọn mua trái phiếu Ngân hàng phải trả phíquyền chọn là 2000$, khi giá trái trên thị trường là 117000$ thì ngân hàng sẽ hòa
Trang 23Lãi (nghìn $) Người mua HĐQC
Người bán HĐQC
Giá thị trường (nghìn $) 115
Đồ thị 1.5: Thu nhập của người mua,bán quyền chon mua trái phiếu
Ngược lại, ngân hàng dự tính trong tương lai lãi suất tăng, ngân hàng sẽ tiếnhành mua quyền chọn bán trái phiếu để phòng ngừa giá trái phiều giảm Ngân hàng
sẽ phải trả phí quyền chọn là 2000$ Tại mức giá thị trường là 113000$ thì ngân cólãi 2000$ do bán được với mức giá 115000$ nhưng phải trả phí quyền chọn nênngân hàng hòa vốn Nếu giá thị trường > 113000$ ngân hàng sẽ không thực hiệnquyền chọn và vẫn phải trả phí 2000$ cố định Nếu giá thị trường < 113000$ thìngân hàng sẽ thực hiện quyền chọn bán và có lãi
Đồ thị 1.6: Thu nhập của người mua, bán quyền chọn bán trái phiếu
Trang 24b Quyền chọn lãi suất
Giao dich CAP
Giao dịch CAP là nghiệp vụ trong đó bên mua thanh toán một khoản phíquyền lựa chọn và nhận được quyền yêu cầu bên bán thanh toán một khoản bù trừchênh lệch giữa lãi suất tối đa đã thỏa thuận và lãi suất so sánh nếu lãi suất so sánhnày cao hơn lãi suất tối đa đã thỏa thuận, tính trên một giá trị danh nghĩa hư cấu vàocuối một kỳ tính lãi nhất định Giao dịch CAP được sử dụng để hoạt động kinhdoanh tăng khi ngân hàng có GAP > 0 hay khi D A-kDL > 0
Giao dịch FLOOR là nghiệp vụ trong đó bên mua thanh toán một khoản phíquyền chọn và nhận được quyền, cứ vào cuối kỳ lãi nhất định yêu cầu bên bánthanh toán một khoản bù trừ chênh lệch giữa lãi suất tối thiểu đã thỏa thuận và laisuất so sánh, nếu lãi suất so sánh< lãi suất tối thiểu thỏa thuận tính trên một giá trịdanh nghĩa hư cấu Giao dịch FLOOR được dùng để hoạt động kinh doanh giảm khingân hàng có GAP < 0 hoặc D A-kDL < 0
Giao dịch này xuất hiện khi ngân hàng thực hiện đồng thời cả hai giao dịchCAP và FLOOR Ngân hàng thực hiện nhiệm vụ mua CAP và bán FLOOR khi dựđoán lãi suất sẽ tăng và do vậy không thể nhỏ hơn mức lãi suất tối thiểu trong hợpđồng FLOOR Mục đích của việc nghiên cứu hợp đồng COLLAR là ổn định mức lãisuất phải trả, thu phí từ hợp đồng FLOOR để tài trợ cho chi phí từ hợp đồng CAP
∆ E=−500 × 1 %
1+9 %×3,6=−16,516 tr $
Trang 25Ngân háng hoạt động kinh doanh bằng cách mua CAP trị giá 16,516 tr$ tạimức lãi suất tối đa thỏa thuận là 9% Như vậy khi lãi suất >9% thì ngân hàng bánCAP luôn sẵn sàng bụ đắp cho ngân hàng mua CAP phần chênh lệch đã thỏa thuận.
Ngược lại giả sử ngân hàng có thời lượng TSC nhỏ hơn thời lượng của TSN
và dự đoán lãi suất trong tương lai giảm, ngân hàng sẽ trả phí mua hợp đồngFLOOR từ một ngân hàng khác Ngân hàng bán FLOOR sẽ thanh toán cho bênngân hàng mua khi lãi suất giảm xuống dưới 5% tại thời điểm nhất định trong hợpđồng để bù đắp tổn thất cho ngân hàng mua FLOOR
Tương tự, ngân hàng sẽ thực hiện giao dịch COLLAR (mua CAP bánFLOOR) sẽ khống chế rủi ro lãi suất trong khoảng từ 5% đến 9%
Nguyên tắc xác định phí giao dịch trong các hợp đồng quyền chọn lãi suấttheo giá trị tiền tệ là: phí quyền chọn bằng tổng giá trị hiện tại cảu các khoản tiềnthanh toán quyền chọn
P h í mua H ĐQC l ã i su ấ t=∑ PV ti ề n t h an h¿á n quy ề n c h ọ n
d Hợp đồng hoán đổi (SWAP)
SWAP bao gồm các quyền hạn và nghĩa vụ ngang nhau của các thành viênthỏa thuận về việc trao đổi lẫn nhau sau một khoảng thời gian theo những điều kiệnđược quy định cụ thể trong hợp đồng, các khoản thu nhập bằng tiền dưới dạng lãisuất, khối lượng ngoại tệ, khối lượng tài sản và các giá trị khác để thực hiện chuyểnđổi đầu tư Trong hợp đồng SWAP một phần thanh toán có thể thực hiện theo giátương lai, chưa xác định khi ký hợp đồng SWAP được thực hiện trên thị trường phitập trung OTC
Đăc điểm của giao dịch SWAP
Các hợp đồng SWAP là những hợp đồng hoán đổi các khoản thanh toánđược xác định phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng bên tham gia giao dịch
Khác với các giao dịch được thực hiện tại thị trường tập trung tất yếu phải có
sự công khai các thông tin trên thị trường, các thông tin liên quan đến giao dịchSWAP được giữ kín trong nội bộ các bên tham gia
Hợp đồng SWAP được giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC)
Hạn chế của giao dịch SWAP
Trang 26Mỗi bên tham gia giao dịch phải tìm được đối tác có vị thế ngược lại vớimình để thực hiện hoán đổi.
Giao dịch SWAP không thể đơn phương chấm dứt hợp đồng theo yêu cầucủa một trong hai bên mà phải đến sự chấp nhận của bên đối tác
Nguy cơ rủi ro cao do một trong các bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ.SWAP lãi suất là thỏa thuận giữa hai bên đối tác về việc hoán đổi các luồngthanh toán lãi khác nhau, phát sinh trên cơ sở một khoản giá trị vốn hư cấu bằngmột đồng tiền nhất định với sự áp dụng các cơ sở tính lãi khác nhau cho mộtkhoangr thời gian nhất định Tại những ngày giá trị giao dịch, người mua thanh toánlãi suất cố định cho người bán, người bán thanh toán lãi suất thả nổi cho người mua
Vì hai bên thực hiện việc thanh toán trong cùng ngày nên thực tế họ thanh toán bùtrừ phần chênh lệch cho nhau
Ví dụ: NHTM A với bảng cân đối kế toán (BCĐKT) có kết cấu nguồn vốnhuy động trái phiếu kỳ hạn 2 năm với lãi suất cố định 10,5%/năm, sử dụng vốn làcác khoản cho vay với lãi suất thả nổi điều chỉnh 1 năm 1 lần Ngân hàng sẽ gặp rủi
ro lãi suất khi lãi suất giảm do có chênh lệch thời lượng âm Để khắc phục tìnhtrạng đó NHTM A có thể thông qua giao dịch hoán đổi lãi suất để làm giảm thờilượng của TSN xuống cho tương xứng với thời lượng của TSC với lãi suất thả nổi.Nghĩa là NHTM A có thể tham gia hợp đồng hoán đổi lãi suất với vai trò là ngườibán SWAP thanh toán lãi suất thả nổi
Ngược lại, tại NHTM B có chênh lệch thời lượng dương, với tính chất củaTSC là lãi suất cố định và TSN là lãi suất thả nổi điều chỉnh 6 tháng 1 lần Ngânhàng B gặp rủi ro khi lãi suất tăng, để hoạt động kinh doanh tăng ngân hàng B cóthể thông qua giao dịch SWAP để làm giảm thời lượng cua TSC với vai trò là ngườimua thanh toán lãi suất cố định
Giả sử giá trị của hợp đồng là 1 tỷVNĐ tương đương với mệnh giá của tráiphiếu phát hành Ngân hàng A
Trang 27NHTM A NHTM B
LS thả nổi VNIBOR+2% 6 tháng/lần
Lãi suất cố định 10,5%/năm
sơ đồ 1.7: Sơ đồ thanh toán theo SWAP lãi suất của NH A và NH B
Bảng 1.2: Các luồng thanh toán giữa hai ngân hàng
Chỉ số VNIBOR cuối 6 tháng
VNIBO
R +2% thanh toán Số tiền A thanh toán Số tiền B
Số tiền thanh toán
từ khoản cho vay lãi suất thả nổi Kết quả cuối cùng NHTM A phòng ngừa được rủi
ro lãi suất và thu được khoản lợi nhuận ròng từ hợp đồng SWAP là 1.273.973 VNĐ
Nguyên tắc: giá trị hiện tại các luồng tiền do ngân hàng B thanh toán lãi cốđịnh phải đúng bằng giá trị hiện tại các luồng tiền do các ngân hàng A toán lãi suấtthả nổi
PV các luồng tiền LSCĐ = PV các luồng tiền LSTN
Trang 281.3 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất về mặt số lượng
1.1.1.1 Các công cụ phái sinh lãi suất mà ngân hàng đang áp dụng
Hợp đồng kỳ hạn
Các giao dịch kỳ hạn đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam là giao dịch ngoại
tệ kỳ hạn theo Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số17/1998/QĐ -NHNN7 ngày 10/01/1998
Các thành viên chủ yếu tham gia thị trường ngoại tệ kỳ hạn là các doanhnghiệp (các tổ chức kinh tế) có nguồn thu hoặc nhu cầu ngoại tệ hợp pháp có mongmuốn bảo hiểm rủi ro về tỷ giá, lãi suất và các tổ chức tín dụng được phép kinhdoanh ngoại tệ thực hiện giao dịch phục vụ nhu cầu khách hàng, bảo hiểm rủi ro tỷgiá và kinh doanh sinh lời
NHNN Việt Nam là cơ quan quản lý trực tiếp, nghiên cứu, ban hành các quyđịnh cụ thể có điều chỉnh hợp lý trong từng thời kỳ Ban đầu việc xác định tỷ giáchịu sự chỉ đạo của NHNN khiến tỷ giá kỳ hạn không đạt được tính linh hoạt
Bảng 1.3: Tổng hợp phương pháp xác định tỷ giá kì hạn theo quy định của NHNN
28/2/98 28/2/98- 6/8/98 26/8/98 6/8/98- 26/8/98- 30/8/00 30/8/00- 18/9/01 18/9/01- 1/7/02 28/5/04 1/7/02-
Trang 29 Hợp đồng tương lai
Nhìn chung, hợp đồng tương lai vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam Đối vớicác giao dịch tương lai ngoại hối, các trung tâm giao dịch thực tế triển khai chưanhiều
Hợp đồng ngoại tệ tương lai vẫn chưa được thực hiện ở Việt Nam Hiện nay,các NHTM đã được phép giao dịch hợp đồng tương lai trên thị trường hàng hóa, vớicác mặt hàng nông sản như: cà phê, chè, đậu tương, lương thực, cao su… và cácloại hàng hóa khác Song ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian môi giới giúpdoanh nghiệp thực hiện các hợp đồng tương lai hàng hóa tại các sở giao dịch nướcngoài
Các hợp đồng tương lai hàng hóa hiện đang được chú ý phát triển hơn Ngày5/9/2004, NHNN lần đầu tiên đã cấp giấy phép cho một ngân hàng Việt Nam làNgân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) được quyền giao dịch hợpđồng tương lai trên thị trường hàng hoá trực tiếp với các sàn giao dịch nước ngoài.Với giấy phép này, Techcombank sẽ đóng vai trò là nhà trung gian môi giới giữacác doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt nam với các sàn giao dịch trên thế giới nhưCBOT, CME, NYBOT, LIFFE, TOCOM để thực hiện các hoạt động phòng ngừarủi ro cho giá hàng hoá
Hợp đồng quyền chọn
Bắt đầu từ ngày 07/09/2004, NHNN thực hiện chương trình thí điểm 1 nămcho phép NHTM thực hiện nghiệp vụ quyền chọn lãi suất Các NHTM phải có quytrình nghiệp vụ quyền chọn lãi suất phù hợp với thông lệ quốc tế và không trái phápluật Việt Nam, trong đó có các biện pháp phòng ngừa rủi ro Số vốn gốc hợp đồngquyền chọn lãi suất tối đa bằng 15% vốn tự có của ngân hàng Tổng số vốn gốc tối
đa của tất cả các hợp đồng quyền chọn lãi suất trong thời gian thí điểm không quá50% vốn tự có
Theo quy định hiện nay, các giao dịch quyền chọn lãi suất được phép thựchiện tại Việt Nam đối với những khoản cho vay và đi vay trung hạn (dưới 5 năm)bằng USD hoặc bằng EUR Đối tác thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất là các
Trang 30doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các NHTM hoạt động tại Việt Nam đượcNHNN cho phép và các ngân hàng nước ngoài.
Hợp đồng hoán đổi
Hoán đổi lãi suất ở Việt Nam khá phát triển, ngân hàng và doanh nghiệp thựchiện giao dịch hoán đổi lãi suất nhằm phòng ngừa rủi ro biến động lãi suất thịtrường
Tuy nhiên, để có thể thực hiện nghiệp vụ này, các ngân hàng phải có đủ cácđiều kiện: có vốn tự có từ 1.000 tỷ đồng hoặc giá trị tương đương trở lên; đảm bảocác tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh theo quy định của NHNN ViệtNam; đã có quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất, trong đó gồm cả biệnpháp phòng ngừa rủi ro; có tổng lãi ròng các giao dịch hoán đổi lãi suất là số dương(nếu là số âm thì tối đa bằng 5% vốn tự có của ngân hàng đó); đối với trường hợpthực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất ngoại tệ, thì phải được NHNN Việt Nam chophép hoạt động ngoại hối; đối với trường hợp thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suấtgiữa hai đồng tiền, phải thực hiện các quy định về quản lý ngoại hối liên quan đếnviệc trao đổi vốn gốc
Theo quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo quyết định củaThống đốc NHNN Việt Nam số 1133/2003/QĐ-NHNN ngày 30/09/2003 quy địnhthời hạn của một hợp đồng hoán đổi lãi suất phải phù hợp với thời hạn của khoảnvay gốc, nhưng tối đa là 5 năm kể từ ngày hợp đồng đó có hiệu lực Kết thúc thờihạn này, các bên có thể gia hạn hợp đồng, hoặc sửa đổi các thỏa thuận bằng phụ lụchợp đồng, hoặc thanh lý hợp đồng để ký kết hợp đồng hoán đổi lãi suất mới
Các ngân hàng bị ràng buộc số nợ gốc của các hợp đồng hoán đổi lãi suất đốivới một doanh nghiệp không vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng
Đến năm 2006, NHNN đã cho phép các tổ chức tín dụng được phép cung cấp
4 loại giao dịch hoán đổi lãi suất: (i) Hoán đổi lãi suất một đồng tiền (đồng ViệtNam hoặc ngoại tệ) (ii) Hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền hay hoán đổi lãi suấttiền tệ chéo, trong đó việc trao đổi vốn gốc đầu kỳ do các bên thỏa thuận thực hiệnhoặc không thực hiện, nhưng bắt buộc phải có trao đổi vốn gốc vào cuối kỳ theo tỷgiá được thỏa thuận từ ngày hợp đồng có hiệu lực (iii) Hoán đổi lãi suất bắt đầu
Trang 31trong tương lai, các bên có thể thỏa thuận về thời điểm trong tương lai mà kể từ thờiđiểm đó giao dịch bắt đầu có hiệu lực thanh toán (iv) Hoán đổi lãi suất cộng dồn,trong đó số lãi phải trả và được nhận được tính theo các mức lãi suất đã thỏa thuận
có kèm theo các điều kiện dựa trên biến động tỷ giá và lãi suất của thị trường
1.1.1.2 Quy mô, khối lượng giao dịch phái sinh lãi suất
Khối lượng giao dịch là số hợp đồng công cụ phái sinh phát sinh trong mộtkhoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm)
Giá trị giao dịch công cụ phái sinh là tổng giá trị phát sinh trên các hợp đồngphái sinh trong một khoảng thời gian nhất định
Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch là một trong những yếu tố quantrọng đánh giá sự phát triển các công cụ phái sinh Năm 2009, tổng giá trị giao dịchphái sinh trên thế giới đạt hơn 600.000 tỷ USD Tại Việt Nam thị trường công cụphái sinh vẫn chưa phát triển mạnh mẽ, nên khối lượng giao dịch và giá trị giao dịchcông cụ phái sinh ở Việt Nam còn thấp
1.1.1.3 Các chủ thể tham gia thị trường phái sinh
Nhà bảo hiểm: là những người nắm giữ trong tay tài sản gốc như hàng hóa,
chứng khoán và sử dụng công cụ phái sinh để giảm thiểu hoặc loại bỏ các rủi rotiềm tàng do sự biến động của giá cả các tài sản do mình nắm giữ (cả trong hiện tại
và tương lai) Nhà tự bảo hiểm có thể là bất cứ ai, các tổ chức như công ty, doanhnghiệp sản xuất hoặc cá nhân như người nông dân, hộ sản xuất nhỏ
Ví dụ: Tại thời điểm 01/07/2011 có hai người, một là người nông dân trồnglúa mỳ và một là người sản xuất bánh mỳ Giá lúa mỳ hiện tại là $250/tấn Cả haingười đều muốn phòng ngừa rủi ro giá lúa mỳ biến động trên thị trường nên hai bêntham gia vào giao dịch kỳ hạn lúa mỳ, trong đó người nông dân là người bán congngười sản xuất là người mua
Nhà đầu cơ: là những người sẵn sàng đối mặt với rủi ro, thu lợi nhuận từ sự
biến động giá cả của tài sản gốc Họ sử dụng công cụ phái sinh như một đòn bẩyđặc biệt Có 3 loại nhà đầu cơ:
Saclpers: là những người xem xét xu hướng ngắn hạn và cố gắng kiếm lời từ
sự thay đổi nhỏ của giá Họ nắm giữ hợp đồng chỉ trong vài phút
Trang 32Day traders: chỉ đầu cơ dựa vào sự biến động giá cả chỉ trong một ngày giaodịch.
Position traders: là những người nắm giữ hợp đồng trong thời gian dài hơn:vài ngày, vài tuần, vài tháng và hy vọng kiếm lợi nhuận đáng kể từ sự biến độnggiá lớn trên thị trường
Nhà kinh doanh chênh lệch giá: là những người kiếm lợi nhuận từ sự chênh
lệch giá của một loại hàng hóa giữa hai hay nhiều thị trường Họ không phải là nhàđầu tư mà cũng không phải nhà đầu cơ và họ không phải gánh chịu bất cứ một loạirủi ro nào cả Nhà kinh doanh chênh lệch giá có thể là cá nhân, tổ chức
Nhà tạo lập thị trường: trong thực tế có rất ít khả năng hai bên liên lạc đượcvới nhau hoặc với trung gian tài chính cung cấp dịch vụ tài chính phái sinh cùngmột lúc để tham gia vào bên đối nghịch của cùng một hợp đồng phái sinh Vì vậy,rất nhiều tổ chức trung gian tài chính đã đóng vai trò là người tạo lập thị trường chohợp đồng phái sinh
1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất về mặt chất lượng.
Quản trị rủi ro
Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi rocủa mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là nhữngnhà đầu cơ Vì vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi rogiữa các nhà đầu tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợpvới bản thân mình Và cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thịtrường tài chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khảnăng huy động vốn và giảm chi phí sử dụng vốn
Lợi nhuận từ các hợp đồng phái sinh lãi suất
Thị trường phái sinh có tính thanh khoản cao hơn thị trường giao ngay.Trước hết đó là yêu cầu một mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp.Thêm nữa, tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào nhưmong muốn
Trang 33Các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn Ngoài ra, các nhà đầu
tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênhlệch lãi suất Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận
1.4 Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới
1.1.1 Bài học từ một số nước trên thế giới
Bài học từ Mỹ
Mỹ là đất nước có đầy đủ điều kiện để phát triển một thị trường phái sinh(TTPS) lớn mạnh: Thị trường hàng hóa và thị trường tài chính phát triển làm nềntảng vững chắc cho các công cụ phái sinh Đồng đô la Mỹ tự do chuyển đổi Cácchuyên gia tại Mỹ đã nghiên cứu về TTPS suốt một thời gian dài và làm chủ đượccông cụ này Tuy nhiên, điểm nổi bật của thị trường phái sinh Mỹ là tính chuẩn hóahình thành trên cơ sở hạ tầng được trang bị tiên tiến
Thị trường phái sinh Mỹ phát triển song hành với các sở giao dịch, trung tâmgiao dịch lớn như Hội đồng Mậu dịch Chicago (CBOT), Sở Thương mại Chicago(CME), Sàn giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE), các thị trường chứng khoánNYSE, AMEX Các sở giao dịch vừa đóng vai trò trung gian vừa là người bảo lãnhtrong các giao dịch phái sinh Ký quỹ trước khi thực hiện giao dịch là bắt buộc với
cả người bán và người mua Giao dịch tại các sở giao dịch này thực hiện bằng đấugiá mở với các công cụ tự động hóa và khớp lệnh liên tục Điều này tạo ra sự minhbạch cho hợp đồng phái sinh giúp thành viên của sở (cổ đông) và khách hàng nhằmphòng ngừa, quản lý rủi ro hoặc đầu cơ Các ngân hàng và các công ty tài chínhthường tham gia giao dịch thông qua việc mua cổ phần của sở để đạt được một tưcách thành viên (một chỗ ngồi) Với tư cách đó, họ có thể vừa là môi giới hưởng phívừa là nhà đầu tư thu lợi nhuận
Bài học từ Trung quốc
Nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng, hàng hóa Trung Quốcđược xuất khẩu đi khắp mọi nơi trên thế giới Vị thế của Trung Quốc trong mua bánquốc tế tạo điều kiện thuận lợi để Trung quốc phát triển các công cụ phái sinh hànghóa Tuy vậy, thị trường phái sinh Trung Quốc có những bước tiến chậm hơn so với
Mỹ do các quy tắc chặt chẽ từ phía ba cơ quan điều chỉnh TTPS: Ủy ban điều tiết
Trang 34chứng khoán Trung Quốc (CSRC); Cơ quan giám sát ngành ngân hàng Trung Quốc(CBRC); và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC).
Tháng 2/2004, CBRC ban hành Luật nới lỏng rất nhiều các quy tắc trong traođổi phái sinh Luật cho phép các thể chế tài chính tham gia giao dịch phái sinhnhằm cả mục đích phòng vệ lẫn đầu cơ Đây là một sự thay đổi quan trọng vì muốnphát triển nhanh chóng TTPS, bắt buộc các công cụ phái sinh phải được sử dụngnhằm cả ba mục đích Luật này còn cho phép ngân hàng nước ngoài trực tiếp làmviệc với các chủ thể Trung Quốc không cần qua các thể chế tài chính trong nước
Vào ngày 8/9/2006, Sàn giao dịch tương lai tài chính Trung Quốc được thànhlập Từ đó, công cụ tương lai chỉ số CSI 300 ra đời Tại Trung Quốc, việc thông quacác quy tắc dành cho hợp đồng tương lai chỉ số thường khó khăn hơn hợp đồngtương lai hàng hóa Điều này là do Trung Quốc yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt vìcho rằng các công cụ phái sinh mang tính mạo hiểm hơn là nhằm thực hiện giao tàisản gốc
Bài học từ Ấn độ
Các công cụ phái sinh trải qua một lịch sử lâu dài tại Ấn Độ với nhiều lần bịchính phủ cấm phát triển Năm 1988, Securities and Exchange Board of India(SEBI) được thành lập, điều chỉnh các tài sản tài chính giao dịch tại Ấn Độ
Một bước đi quan trọng trong sự phát triển của việc giao dịch công cụ phái
sinh tại Ấn Độ là Sắc lệnh các tài sản tài chính có sửa đổi năm 1995 (Securities
Laws Ordinance) Sắc lệnh này đã dỡ bỏ sự ngăn cấm trong các giao dịch quyềnchọn Điều này dẫn tới một khung pháp luật có hiệu lực vào tháng 12/1999, tronggiới hạn đó, những công cụ phái sinh như quyền chọn và tương lai được xem xétnhư những tài sản tài chính có thể giao dịch Đầu năm 2000, nhiều lệnh cấm cácgiao dịch tương lai hàng hóa được dỡ bỏ cùng lúc với trao đổi hàng hóa điện tửđược thiết lập khắp quốc gia Năm 2001, một loạt các sản phẩm phái sinh được đưa
ra như quyền chọn BSE Sensex, quyền chọn chứng khoán riêng rẻ, hợp đồng tươnglai các cổ phiếu, hợp đồng tương lai chỉ số S&P CPN Nifty, quyền chọn chỉ số CảSàn giao dịch chứng khoán Quốc gia tại Mumbai (National Stock Exchange - NSE)
và Sàn giao dịch chứng khoán Mumbai (Stock Exchange Mumbai - BSE) giao dịch
Trang 35hợp đồng tương lai chỉ số, hợp đồng tương lai chứng khoán, quyền chọn chỉ số vàquyền chọn chứng khoán Những giao dịch sử dụng công nghệ phức tạp và hoàntoàn bằng điện Thị trường OTC rất linh hoạt, đặc biệt đối với các sản phầm hoánđổi và lãi suất
1.1.1.4.2 Bài học rút ra cho Việt Nam
Từ TTPS được chuẩn hóa cao của Mỹ có thể thấy để phát triển TTPS tốt cầnchú trọng tới việc phát triển các sở giao dịch, trung tâm giao dịch lớn dành cho cáccông cụ phái sinh cũng như các tài sản cơ sở như chứng khoán, hàng hóa, vàng…Yêu cầu quan trọng trong phát triển các sở giao dịch như vậy là có công nghệ thôngtin tiên tiến, liên tục cập nhật thông tin, tiếp cận các sản phẩm giao dịch quốc tế, đápứng nhu cầu liên kết điện tử và thương mại 24/24 giờ
Từ thị trường Ấn Độ ta có thể thấy công nghệ cũng là một yếu tố then chốttrong việc phát triển thị trường phái sinh OTC khi các giao dịch yêu cầu sử dụngcông nghệ phức tạp và hoàn toàn bằng điện Trao đổi hàng hóa điện tử cần đượcthiết lập trên cả nước và được tạo điều kiện phát triển
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Những biến động của lãi suất thị trường có thể tác động làm giảm giá trị tàisản và thu nhập ròng của ngân hàng từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng Các ngân hàng nếu không có sự quan tâm thíchđáng đến việc quản lý rủi ro lãi suất trong đó có vấn đề cốt lõi là áp dụng các biệnpháp phòng ngừa và hạn chế một cách phù hợp với tiềm lực ngân hàng thì có cácngân hàng có khả năng phải đối mặt với những thiệt hại nặng nề dẫn đến phá sản
Trên cơ sơ nghiên cứu những vấn đề lý luận về rủi ro lãi suất trong hoạt độngkinh doanh ngân hàng, chương 1 của khóa luận nghiên cứu về rủi ro lãi suất, lý luậnứng dụng công cụ phái sinh trong hoạt động kinh doanh Kết quả nghiên cứu củachương 1 là cơ sở để phân tích đánh giá thực trạng rủi ro lãi suất và việc ứng dụngcác biện pháp hoạt động kinh doanh từ lý thuyết vào thực tiễn tại ngân hàng TMCPSài Gòn Thương Tín (Sacombank)
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT TẠI
NGÂN HÀNG SACOMBANK
2.1 Khái quát về ngân hàng Sacombank và hoạt động của ngân hàng Sacombank
2.1.1 Khái quát về ngân hàng Sacombank
2.1.1.1 Giới thiệu khái quát về ngân hàng Sacombank
Thông tin chung
Tên tiếng Việt : NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Tên tiếng Anh : Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank
Tên giao dịch : Sacombank
Ngày thành lập : 21/12/1991
Vốn điều lệ : 10.739.676.640.000 đồng (tại thời điểm 31/12/2011)
Trụ sở chính : 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP.HCM
Trang 37Sau 20 năm phát triển, Sacombank đã trưởng thành về nhiều mặt, từ 3 tỷđồng vốn điều lệ ban đầu đến nay đã lên 10.740 tỷ đồng, từ 100 cán bộ nhân viênban đầu đến nay Sacombank tự hào có đội ngũ kế thừa hùng hậu gần 10.000 conngười đầy năng lực và nhiệt huyết Sacombank hiện là một trong những NHTM cổphần hàng đầu Việt Nam với mạng lưới hoạt động gồm 408 điểm giao dịch trêntoàn khu vực Đông Dương, thiết lập mối quan hệ với 14.721 đại lý thuộc 811 ngânhàng tại 86 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Ra đời trong thách thức (1991-1995)
Đầu những năm 90, trong bối cảnh rối ren của cuộc khủng hoảng tín dụng,Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp cùng với 3 hợp tác xã (HTX) tín dụng là TânBình, Thành Công va Lữ Gia đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép sáp nhậpthành Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) vào ngày 21/12/1991với số vốn điều lệ 3 tỷ đồng Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại
cổ phần đầu tiên được thành lập ở Việt Nam, chứng tỏ bước đổi mới quan trọng củaNgân hàng Nhà nước theo hướng tạo ra một thị trường mở cửa, thúc đẩy khu vựcdịch vụ ngân hàng nhằm đóng góp nhiều hơn và chủ động hơn vào sự phát triểnchung của nền kinh tế
Được ra đời khi nền kinh tế của đất nước đang chuyển mình, khi thị trườngtín dụng còn bất ổn và ngành tài chính - ngân hàng hiện đại ở Việt Nam chưa đượcđịnh hình, có thể nói, đây là giai đoạn vừa học vừa làm, vừa tự điều chỉnh củaSacombank Ở giai đoạn này, Sacombank đã đạt được một số mục tiêu tái cấu trúc
hệ thống, tổ chức, cải tiến hiệu quả hoạt động của bộ máy, từng bước khắc phụcnhững hạn chế của cơ chế cũ Qua đó, Ngân hàng đạt được nhiều hiệu quả phát triển
cụ thể như hạ thấp tỷ lệ nợ xấu đảm bảo sự an toàn trong điều tiết nguồn vốn, công
cụ lãi suất cơ bản, đảm bảo về chất lượng tín dụng, kế toán, kiểm toán và kiểm soát
Tiên phong đổi mới (1996-2000)
Sacombank đã xoay chuyển tình thế bằng cách thuyết phục cơ quan quản lý
để phát hành cổ phiếu ra công chúng với mệnh giá mệnh giá 200.000 đồng/cổphiếu Sáng kiến đột phá và nỗ lực toàn phần đã đem lại cho Sacombank kết quảngoài mong đợi Chiến dịch huy động vốn lần đầu tiên và chưa có tiền lệ tại Việt
Trang 38Nam đa diễn ra thành công với kết quả đạt được ngoài mong đợi với hơn 9.000 cổđông tham gia góp vốn bằng việc mua cổ phiếu Sacombank trở thành ngân hàngTMCP đầu tiên ở Việt Nam có cổ đông đại chúng Đây được coi là một trường hợpđộc đáo của ngành tài chính – ngân hàng Việt Nam lúc bấy giờ và đặt nền móng chonhững cơ hội huy động vốn mạnh mẽ khác, kể cả sự tham gia của các đối tác nướcngoài.
Vươn cao, đi xa (2001-2005)
Với quan điểm và định hướng cấp tiến xem hợp tác quốc tế là yêu cầu và nhucầu tất yếu của doanh nghiệp Việt Nam trong nỗ lực phát triển hướng tới tính toàncầu, Sacombank bắt đầu công cuộc hợp tác với các đối tác quốc tế lớn từ khá sớm –
từ năm 2001 Tổ chức quốc tế đầu tiên mà Sacombank hợp tác là Dragon Capital,thuộc Tập đoàn tài chính Dragon Financial Holdings (Anh quốc) Sự kiện này đã
mở đường cho việc tham gia góp vốn cổ phần của Công ty tài chính quốc tế (IFC)
và Ngân hàng ANZ sau này Với sự đồng hành của các đối tác chiến lược nước ngoài,Sacombank đã sớm nhận được sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, quản lý rủi ro, đào tạophát triẻn nguồn nhân lực và kinh nghiệm quản lý ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế
Tháng 6/2004, Sacombank ký kết hợp đồng triển khai hệ thống CorebankingT-24 với công ty TEMENOS (Thụy Sĩ), khởi đầu cho quá trình hiện đại hóa côngnghệ ngân hàng trong tiến trình phát triẻn và hội nhập Hệ thống Core Banking T-24
đã góp phần đưa Sacombank tiếp cận với những thành tựu công nghệ ngân hàngtiên tiến nhằm phục vụ nhu cầu thị trường tài chính – tiền tệ ngày càng chuyênnghiệp trong một nền kinh tế đang có nhịp độ phát triển nhanh
Khẳng định vị thế (2006-2010)
Ở giai đoạn 2006–2010 nay, Sacombank tập trung vào 4 nhóm giải pháp lớn: (i)gia tăng năng lực tài chính, (ii) mở rộng mạng lưới hoạt động, (iii) hiện đại hóa công nghệngân hàng, (iv) phát triển nguồn nhân lực có chất lượng nhằm nhanh chóng bắt nhịp hộinhập và phát triển cùng tốc độ của ngành tài chính - ngân hàng thế giới
Bên cạnh việc gia tăng năng lực tài chính thông qua niêm yết cổ phiếu trênthị trường chứng khoán năm 2006, trong giai đoạn này Sacombank đã hiện thực hóachiến lược mở rộng mạng lưới ra ngoài biên giới Nhận diện đúng cơ hội va tầm
Trang 39quan trọng của hai thị trường chiến lược Lào va Campuchia, Sacombank là mộttrong những Ngân hàng TMCP Việt Nam tiên phong mở chi nhánh tại 2 nước lánggiềng, tạo được thế kiềng ba chân vững chắc, khẳng định được vị thế là một ngânhàng bán lẻ Việt Nam hiện đại của khu vực Đông Dương.
Bước vào thập niên thứ III xây dựng Sacombank, với hành trang, lộ trình,giải pháp và các kịch bản đã được chuẩn bị cho cuộc hành trình mới; với bản lĩnhcủa tuổi 20; với tâm thế vững vàng và tự tin vào khả năng vượt khó sau khi trải qua
ba cuộc khủng hoảng tài chính trong nước, khu vực và toàn cầu chỉ trong vòng haithập kỷ; cùng với chủ trương hoạt động an toàn – kinh doanh hiệu quả - và pháttriển bền vững, Sacombank hoàn toàn tự tin trong giai đoạn 5 năm tiếp theo, hướng
về mục tiêu không xa – trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu khu vực Đông Dương
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
1991: Sacombank là một trong những NHTM cổ phần (TMCP) đầu tiên được
thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) từ việc hợp nhất 04 tổ chức tín dụng
1993: Là ngân hàng TMCP đầu tiên của TP.HCM khai trương chi nhánh tại
Hà Nội, phát hành kỳ phiếu có mục đích và thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh từ
Hà Nội đi TP.HCM và ngược lại, góp phần giảm dần tình trạng sử dụng tiền mặtgiữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất nước
1995: Tiến hành Đại hội đại biểu cổ đông cải tổ, đồng thời hoạch định chiến
lược phát triển đến năm 2010 Ông Đặng Văn Thành được tín nhiệm bầu làm Chủtịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đại hội là bước ngoặt mở ra thời kỳ đổi mớiquan trọng trong quá trình phát triển của Sacombank
1997: Là ngân hàng đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá
200.000 đồng/cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên 71 tỷ đồng với gần 9.000 cổ đôngtham gia góp vốn
1999: Khánh thành trụ sở tại 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP.HCM, là
thông điệp khẳng định Sacombank sẽ gắn bó lâu dài, cam kết đồng hành cùng kháchhàng, cổ đông, nhà đầu tư và các tổ chức kinh tế trên bước đường phát triển
2001: Tập đoàn Tài chính Dragon Financial Holdings (Anh Quốc) tham gia
góp 10% vốn điều lệ của Sacombank, mở đường cho việc tham gia góp vốn cổ phần
Trang 40của Công ty Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation – IFC, trực thuộcWorld Bank) vào năm 2002 và Ngân hàng ANZ vào năm 2005 Nhờ vào sự hợp tácnày mà Sacombank đã sớm nhận được sự hỗ trợ về kinh nghiệm quản lý, công nghệngân hàng, quản lý rủi ro, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ các cổ đông chiếnlược nước ngoài.
2002: Thành lập Công ty trực thuộc đầu tiên - Công ty Quản lý nợ và Khai
thác tài sản Sacombank-SBA, bước đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa các sảnphẩm dịch vụ tài chính trọn gói
2003: Là doanh nghiệp đầu tiên được phép thành lập Công ty Liên doanh
Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VietFund Management - VFM), làliên doanh giữa Sacombank (nắm giữ 51% vốn điều lệ) và Dragon Capital (nắm giữ49% vốn điều lệ)
2004: Ký kết hợp đồng triển khai hệ thống Corebanking T-24 với công ty
Temenos (Thụy Sĩ) nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, quản lý và phát triển cácdịch vụ ngân hàng điện tử
2005: Thành lập Chi nhánh 8 Tháng 3, là mô hình ngân hàng dành riêng cho
phụ nữ đầu tiên tại Việt Nam hoạt động với sứ mệnh vì sự tiến bộ của phụ nữ ViệtNam hiện đại