Khi tham gia hoạt động trên thị trường tiền tệ cũng như thị trường liênngân hàng thì những rủi ro lãi suất là không hề tránh khỏi, do vậy để hạn chếtổn thất và ngăn chặn rủi ro thì các h
Trang 1Họ và tên sinh viên : Nguyễn Ngọc Anh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Thanh Quế Các nội dung nghiên cứu,kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thứcnào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi
rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũngnhư số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chúthích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về nội dung luận văn của mình
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Ngọc Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ v
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ SỬ DỤNG CCPS TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTM 4
1.1. Rủi ro tài chính 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Tác động của rủi ro tài chính đối với NHTM 10
1.2 CCPS trong phòng ngừa rủi ro tài chính 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Các loại CCPS 12
1.2.3 Thị trường và người giao dịch 21
1.2.4 Chức năng 24
1.2.5 Quy trình phòng vệ 24
1.2.6 Hạn chế của CCPS 28
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CCPS 29
1.3.1 Thuế 29
1.3.2 Kiệt quệ tài chính 29
1.3.3 Vấn đề đại diện 30
1.3.4 Đầu tư dưới mức 31
1.3.5 Quy mô NHTM 32
1.3.6 Các biện pháp thay thế 32
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SNH TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTM VIỆT
NAM 33
2.1 Tổng quan về rủi ro tài chính tại các NHTM Việt Nam 33
2.2 Thực trạng sử dụng CCPS trong phòng ngừa rủi ro tài chính tại các NHTM 34
2.2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến sự phát triển các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại Việt Nam 34
2.2.2 Thực trạng sử dụng CCPS tại các NHTM ở Việt Nam trong những năm gần đây 36
2.3 Đánh giá chung 38
2.3.1 Kết quả đạt được 38
2.3.2 Những mặt còn hạn chế 48
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 49
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THÚC ĐÂY VIỆC SỬ DỤNG CCPS TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTM Ở VIỆT NAM 54
3.1 Định hướng chung 54
3.2 Một số giải pháp 55
3.2.1 Yêu cầu về đăng ký và lập báo cáo tài chính 56
3.2.2 Hoàn thiện những quy định tài chính kế toán liên quan nâng cao tính thanh khoản của sản phẩm phái sinh 59
3.2.3 Phát triển các đối tác sử dụng CCPS 63
3.3 Một số kiến nghị 63
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 5DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐÒ
Bảng 2.1 Một số tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực
hiện giao dịch các CCPS 37
Bảng 2.2 Thu nhập và lợi nhuận từ CCPS tại 39
Bảng 2.3 Doanh số thực hiện hợp đồng phái sinh tại một số NHTM Việt Nam .41
Bảng 2.4 Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại hối 44
Bảng 2.5 Tỷ trọng giao dịch phái sinh tiền tệ trong tổng giao dịch 45
Bảng 2.6 Các hợp đồng kỳ hạn được NHTM sử dụng 47
Hình 1.1 Các CCPS và thị trường giao dịch 23
Hình 1.2 Quy mô thị trường phái sinh 23
Hình 2.1 Các nguyên nhân dẫn đến việc hạn chế sử dụng CCPS 52
Trang 6CCPS Công cụ phái sinh
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng thương mại (NHTM) trở nên phong phú và đa dạng hơnbao giờ hết Bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống thì các ngânhàng đã không ngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới, hiện đại trong
đó phải kể đến các nghiệp vụ sử dụng công cụ tài chính phái sinh
Khi tham gia hoạt động trên thị trường tiền tệ cũng như thị trường liênngân hàng thì những rủi ro lãi suất là không hề tránh khỏi, do vậy để hạn chếtổn thất và ngăn chặn rủi ro thì các hợp đồng phái sinh góp một phần quantrọng thiết yếu trong hoạt động quản trị rủi ro của các NHTM Các hợp đồngphái sinh bao gốm: hợp đồng kỳ hạn (FORWARD), hợp đồng tương lai(FUTURE), hợp đồng quyền chọn (OPTION) và hợp đồng hoán đổi (SWAP)
Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triểnngày càng sâu rộng và đa dạng của thị trường tài chính đẻ có thể hạn chế thấpnhất được những rủi ro thua lỗ của có thể xảy ra với hoạt động kinh doanh củangân hàng cũng như các NHTM
Đến nay, nghiệp vụ tài chính phái sinh đã phát triển rộng khắp và mạnh
mẽ trên toàn thế giới.Tuy nhiên việc ý thức sử dụng công cụ phái sinh(CCPS) của các NHTM còn có nhiếu mặt hạn chế và bất cập Xuất phát từmong muốn nghiên cứu nhằm định hướng và phát triển nghiệp vụ tài chínhphái sinh trong quản trị rủi ro tài chính của các NHTM, em xin lựa chọn đề
tài: “GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM”.
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnquyết định sử dụng CCPS của các NHTM Việt Nam và đưa ra một số giảipháp phù hợp Khóa luận này sẽ tiến hành kiểm định một số giả thuyết sau:
Giả thuyết thứ nhất là việc sử dụng CCPS phụ thuộc vào quy môNHTM Quy mô NHTM được đo lường bằng doanh thu và tổng tài sản.NHTM càng lớn thì khả năng sử dụng càng cao
Giả thuyết thứ hai là việc sử dụng CCPS liên quan đến tình trạng kiệtquệ tài chính Khả năng kiệt quệ tài chính càng cao thì xác suất sử dụngCCPS càng cao Kiệt quệ tài chính được đo lường bằng đòn bẩy, khả năng trảlãi và tính thanh khoản Những NHTM có tỷ lệ đòn bẩy cao hơn, khả năng trảlãi thấp hơn và thanh khoản kém hơn sẽ có thể sử dụng phái sinh để phòng vệnhiều hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp sử dụng CCPS trong phòng ngừarủi ro tài chính Có nhiều giả thuyết mô tả lợi ích của việc sử dụng phái sinhdựa trên các nhân tố như kiệt quệ tài chính, thuế, vấn đề quản lý, vấn đề đầu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, khóa luận kết hợp sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:
Trang 9Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp như các sách, giáo trình, đề tài nghiêncứu khoa học, các bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước nhằm thu thập các thông tin lý luận và có hiểu biết về các
mô hình định lượng thực tế về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụngCCPS của các NHTM phi tài chính Từ đó kế thừa các nghiêm cứu trước vàđưa những yếu tố mới vào nghiêm cứu này
Các dữ liệu khác được lấy từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niêncủa các NHTM Việt Nam
5 Kết cấu của đề tài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG CCPS TRONGPHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTM
SNH TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTMVIỆT NAM
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THÚC ĐÂY VIỆC SỬ DỤNGCCPS TRONG PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTM ỞVIỆT NAM
Trang 10CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ SỬ DỤNG CCPS TRONG
PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NHTM
1.1 Rủi ro tài chính
1.1.1 Khái niệm
Rủi ro tài chính là những rủi ro liên quan đến các thiệt hại có thể xảy
ra đối với thị trường tài chính do sự thay đổi của các biến số tài chính: giá
cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, chứng khoán và những rủi ro do ngân hàngthương mại (NHTM) trong hoạt động kinh doanh tiền tệ hằng ngày củamình
Các NHTM ngày nay thường xuyên phải đối mặt với những thay đổi
từ các nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứngkhoán Độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá,giá cả hàng hóa và chứng khoán tác động lên thu nhập của NHTM được gọi
là rủi ro kiệt giá tài chính
Khái niệm rủi ro tài chính và rủi ro kiệt giá tài chính gần như nhaunhưng rủi ro tài chính có ý nghĩa rộng hơn Rủi ro tài chính vừa hàm ý loạirủi ro như tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, là những rủi ro màNHTM gặp phải thường xuyên do đặc thù hình thức kinh doanh có mộtkhông hai của mình
Trong phạm vi đề tài này, em chỉ tập trung vào giới thiệu những vấn
đề liên quan đến rủi ro tài chính mà một NHTM thường xuyên có thể gặpphải như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản và vai trò củaCCPS trong việc giúp các NHTM có thể phòng ngừa các rủi ro này nhưthế nào
Trang 11Các loại rủi ro tài chính
Trước khi ban quản trị đưa ra bất kỳ một quyết định nào về phòng ngừarủi ro, họ cần phải nhận diện được tất cả những rủi ro mà NHTM có thể gặpphải Hầu hết các NHTM đều phải đối mặt với rủi ro tài chính, là những rủi ro
có liên quan đến bản chất của các hoạt động kinh doanh thông thường của cácNHTM
1.1.1.1 Rủi ro tín dụng
Là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn khôngtrả được nợ cho Ngân hàng Trong kinh doanh Ngân hàng rủi ro tín dụng làloại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫnđến phá sản Ngân hàng
Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiếntrang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuấtkinh doanh luôn tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phảiluôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điêu đó có nghĩa là rủi ro tín dụngcũng phát sinh nhiều hơn
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa
nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi ro tíndụng nếu không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác
Đó là loại rủi ro khi người vay không trả được nợ ngân hàng Đây là loại rủi
ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại nhiều nhất cho ngân hàngthương mại Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là hoạt động tíndụng đầu tư Thông thường đối với các ngân hàng trên thế giới nó mang lại2/3 phần thu nhập, còn ở Việt nam là 81 % thu nhập của NHTM Tuy manglại nhiều thu nhập nhưng trong lĩnh vực này nếu gặp rủi ro thì hậu quả lại rất
Trang 12lớn, nhiều khi dẫn đến một ngân hàng “Các khoản tiền cho vay có xác suất
vỡ nợ cao hơn các tài sản có khác nên ngân hàng thu được lợi tức cao nhấtnhờ vào các món cho vay” Bất cứ một rủi ro nào của người đi vay đều có thểđưa đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng Vì vậy quản lý và ngăn ngừa rủi ro tíndụng là công việc khó khăn và phưc tạp không chỉ là riêng trách nhiệm củacán bộ tín dụng Muốn phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng có hiệu quả,nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các ngành, phải có những giải pháp đồng
bộ hữu hiệu cả về môi trường kinh tế, cơ chế nghiệp vụ , công tác tổ chức,đào tạo cán bộ và các nguyên tắc thực thi các giải pháp đó
1.1.1.2 Rủi ro lãi suất
Một trong những rủi ro đặc thù của NHTM là rủi ro lãi suất Lãi suất là
“chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian nào đó”.Trong cơ chế thị trường, lãi suất của ngân hàng thương mại được hình thànhtrên cơ sở lãi suất thị trường nên luôn biến động.Rủi ro về lãi suất thường xảy
ra khi có sự biến động lớn về lãi suất đầu vào và đầu ra, sự chênh lệch giữacác mức lãi suất huy động lớn cũng như chênh lệch giữa các kỳ hạn huy động
và kỳ hạn đầu tư, cho vay ra thị trường Hiện tượng này có thể gây ra tổn thấtcho các ngân hàng thương mại Chẳng hạn, khi ngân hàng đã kí một hợp đồngcho vay với một kì hạn lãi suất cố định nhưng sau đó lãi suất thị trường lạităng lên hoặc khi ngân hàng đã nhận khoản tiền gửi với lãi suất cố định songlãi suất thị trường lại giảm xuống thì ngân hàng đều phải chịu rủi ro do cácchênh lệch biến động lãi suất đó Ngoài ra sự giảm sút giá trị đồng tiền trongthời gian cho vay sẽ dẫn đến tình trạng mặc dù lãi suất cho vay không thayđổi nhưng lãi suất thực tế sẽ giảm sút Giá trị thực tế vốn và lãi ngân hàng thu
về thấp hơn so với vốn ban đầu bỏ ra Rủi ro càng làm cho kinh doanh ngânhàng bị thua lỗ Nói chung, RRLS xảy ra khi có sự không cân xứng về kỳ hạngiữa tài sản có và tài sản nợ
Trang 13Như vậy, nếu NHTM duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ với những
kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những RRLS trong việc tái tàitrợ tài sản có và tài sản nợ; hoặc RRLS do giá trị của tài sản thay đổi khi lãisuất thị trường biến động Ngân hàng có thể phòng ngừa RRLS bằng cách làmcho các kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ cân xứng với nhau Xét từ góc độtriết lý chung thì việc làm cho các kỳ hạn cân xứng với nhau là một giải pháptốt nhất đề phòng ngừa RRLS
Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý RRLS, không
dự báo được xu hướng biến động của lãi suất thì các NHTM có thể bị thiệt hạinặng nề từ loại rủi ro này
1.1.1.3 Rủi ro thanh khoản
Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứngcác nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tạimọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn
Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng được nhucầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản) Tình trạng này nhẹ thì gâythua lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanhtoán dẫn đến ngân hàng phá sản
1.1.1.4 Rủi ro vốn chủ sở hữu
Rủi ro vốn chủ sở hữu là một sự thể hiện của vốn một ngân hàng phảibảo vệ các chủ tiền gửi hoặc các người cho vay từ sự giảm xuống trong giá trịtài sản Xét quy mô vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Namtrong những năm gần đây, có thể thấy nhìn chung, quy mô còn rất nhỏ Hệthống NHTM Nhà Nước vẫn chiếm đến hơn 70% thị phần huy động vốn đầu
tư vào và thị phần cho vay, trong khi tổng mức vốn tự có của các NHTM Nhà
Trang 14Nước chỉ tương đương với một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực, vớimức vốn tự có trung bình của một ngân hang này là 4.200 tỷ đồng, hệ số antoàn vốn ( vốn tự có/tổng tài sản rủi ro, Capital Adequacy Ratio - CAR) bìnhquân thấp Các NHTM ngoài quốc doanh có mức vốn tự có bình quân và hệ
số an toàn vốn cao hơn nhưng lại không chiếm thị phần chủ yếu
Trang 15- DtI trữ tốn thất/cho vay
- Lãi suất cho vay cao tin dụng
khoăn tiền gời
- Nguồn quỹ mua
- Chi phi vay mượn
- Tài sàn thanh khoăn -Vay mượn /tiền gỡi
- Dự trữ thanh khoán -Chi phi mô Iiinli định giá
- Phát triển nguồn quỹ
3) Rui ro
lãi suất
- Tài san nhạy cam
LS/nợ
phái trà nhạy căm LS
- Sự cách biệt giữa 2 - nhauSố lượng cách biệt - chuyển độngQuàn trị sự cách biệt
chinh/vốn cô đông
- Táng trường trong tài sán
- Táng trưởng vén cồ phấn
- Hoạch định vốn
- Phân tích sự tâng trướng bền vũng
- Chinh sách chia cô
phần
- Rủi ro điều chinh vốn _
Bảng 1.1 Tổng hợp nguyên nhân các loại rủi ro tính dụng mà các NHTM
có thể gặp phải trong quá trình hoạt động
Nguồn: Ths Thái Văn Đại (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)
Trang 161.1.2 Tác động của rủi ro tài chính đối với NHTM
1.1.2.1 Tác động đến năng lực cạnh tranh cuả NHTM
Năng lực cạnh tranh của một ngan hàng là khả năng ngân hàng đó tạo
ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạtđược mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồngthời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mành, có khả năng chống đỡ vàvượt qua được những bất lợi của môi trường xung quanh
Rủi ro tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạt động củaNHTM, do vậy tác động của nó đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng làkhông hề nhỏ Một NHTM có khả năng cạnh tranh tốt, chiếm được nhiều thịphần trên thị trường là ngân hàng có thẻ quản trị tốt được các rủi ro tài chính,vượt qua được những bất lợi và thử thách nó mang lại
1.1.2.2 Tác động đến lợi nhuận ròng của NHTM
Bất cứ một doanh nghiệp nào tham gia thị trường cũng đều vì một mục tiêucuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ sở hữu NHTM cũng khôngngoại lệ Với mỗi hình thức kinh doanh khác nhau thì đi kèm với đó là các rủi
ro và mức lợi nhuận kỳ vòng có thể đạt được là khác nhau
Do vậy lợi nhuận của các NHTM cũng sẽ bị chi phối rất nhiều bởi cácrủi ro tài chinh mà NHTM đó gặp phải trong quá trình hoạt động của mình.Quản trị tốt cả rủi ro đó và thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng cũng như mức
độ chắc chắn tăng cao
1.1.2.3 Tác động đến dòng tiền của NHTM
Các luồng tiền vào NHTM (dòng thu) và các luồng tiền ra khỏi NHTM(dòng chi) diễn ra một cách thường xuyên liên tục Trên thực tế, tại nhữngthời điểm nhất định có thể xảy ra, hiện tượng lượng tiền vào NHTM (số thu)nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi NHTM (số chi) đến hạn Khi đó, tình trạng mất
Trang 17cân đối về dòng tiền đã xảy ra Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đốivới hoạt động kinh doanh.
Sự mất cân đối dòng tiền được chia thành: mất cân đối tạm thời và mấtcân đối dài hạn Mất cân đối tạm thời về dòng tiền có thể khắc phục đượcbằng nhiều biện pháp và hậu quả thường không lớn Mất cân đối dài hạn xảy
ra do những nguyên nhân quan trọng như: phần định phí trong tổng chi phícủa NHTM quá lớn; vốn lưu động tự có quá ít; nợ khó đòi tăng lên; doanh thuchưa bù đắp đủ các khoản chi phí thường xuyên, v.v
Khi rủi ro tài chính tăng cao do các biến động về giá cả hàng hóa, tỷ giá
và lãi suất Đã tác động lớn làm mất cân đối dòng tiền trong NHTM và do tácđộng dây chuyền giữa các NHTM, số nợ phải thu, đặc biệt là nợ phải thu khóđòi tăng lên, mất cân đối tạm thời rất dễ chuyển thành mất cân đối dài hạn.Mất cân đối dài hạn về dòng tiền có thể làm cho NHTM bị phá sản
1.2 CCPS trong phòng ngừa rủi ro tài chính
1.2.1 Khái niệm
Thông tư số 210 /2009/TT-BTC Hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kếtoán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối vớicông cụ tài chính sử dụng định nghĩa về công cụ tài chính phái sinh của IFRSnhư sau: “Công cụ tài chính phái sinh: Là một công cụ tài chính hoặc một hợpđồng thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm sau:
- Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất, giá công cụ tài chính,giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá cả hoặc lãi suất, xếp hạng tín dụnghoặc chỉ số tín dụng, hoặc các chỉ số khác với điều kiện trong trường hợp cácchỉ số khác này là các biến số phi tài chính thì biến số đó không liên quan đếncác bên tham gia hợp đồng (còn được gọi là các biến số cơ sở);
Trang 18- Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hoặc yêu cầu đầu tư thuần ban đầuthấp hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sựthay đổi của các yếu tố thị trường; và
- Được thanh toán vào một ngày trong tương lai
Khái niệm giá trị giấy tờ (notional principal amount/face amount) đượcdùng rộng rãi trong giao dịch phái sinh vốn được sử dụng các hợp đồng hoánđổi Trên thị trường hợp đồng hoán đổi, thuật ngữ này cho biết số tiền đượcdùng làm cơ sở tính toán trong các giao dịch hoán đổi tiền tệ hoặc lãi suất.Trong các hợp đồng phái sinh khác, nó có thể là số lượng cổ phiếu, số đơn vịtiền tệ, số kilogram, số lít hoặc những đơn vị metric khác được dùng làm cơ
sở cho hợp đồng (Chorafas, trang 36)
Tài sản cơ cơ có thể là giá hàng hóa, giá cổ phiếu, lãi suất, tỷ giá, chỉ sốgiá Nó cũng có thể là một biến tính trên notional principal amount để xácđịnh dòng tiền hoặc sự trao đổi tài sản khác theo hợp đồng phái sinh.Chorafas nhấn mạnh rằng trong khi tài sản cơ sở là giá của một tài sản cóhoặc tài sản nợ thì bản thân tài sản cơ sở không phải là tài sản hay nguồn vốn
1.2.2 Các loại CCPS
1.2.2.1.Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó một người mua và mộtngười bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xácđịnh tại một thời điểm xác định trong tương lai với mức gía giao địch được ấnđịnh vào ngày hôm này” (Bùi Kim Yến và cộng sự, 2008, trang 171)
Trong hợp đồng kỳ hạn, mức giá đã ký kết có thể cao hơn hoặc thấphơn mức giá trên thị trường vào thời điểm giao nhận hàng Khi đó, một tronghai bên mua hoặc bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết mua bán với mức giá khác
Trang 19so với giá thị trường hiện tại Tuy nhiên, lợi ích mà hợp đồng kỳ hạn mang lạicho cả hai bên là có thể quản lý rủi ro biến động giá Sự chắc chắn trong mứcgiá mua bán cho phép NHTM tính toán được doanh thu, chi phí để lập kếhoạch sản xuất kinh doanh.
Hợp đồng kỳ hạn thị trường hàng hóa: là loại hợp đồng mà giá cả gọi làgiá kỳ hạn, nghĩa là việc giao hàng và thanh toán sẽ là một ngày nào đó đượcchỉ ra trong tương lai, kể từ khi bản hợp đồng được ký kết (1 tuần, 1 tháng, 3tháng, 6 tháng)
Giá kỳ hạn được tính dựa trên mức giá giao ngay và một số thông sốkhác phỏng đoán về mức tăng giảm của giá cả hàng hóa này tính cho đến thờiđiểm hàng sẽ thực sự được giao nhận Với phương thức giao dịch này, ngườimua hàng phải có đặt cọc (ký quỹ) hoặc thế chấp một khoản tài sản nhất định
để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng
Tiền ký quỹ trong phạm vi tối thiểu theo thỏa thuận và không đượchưởng lãi nhưng người mua có thể được hưởng phần lợi tức (trong trường hợpthế chấp tài sản tài chính) phát sinh từ tài sản thế chấp Với tư cách là công cụphòng chống rủi ro, hợp đồng kỳ hạn được sử dụng để cố định khoản thunhập hay chi trả theo một mức giá cố định đã biết trước, bất chấp sự biếnđộng của giá trên thị trường
Hợp đồng kỳ hạn thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ: Là một thỏathuận giữa một NHTM và một ngân hàng hay giữa hai ngân hàng với nhau đểtrao đổi một số lượng tiền nhất định với một tỷ giá xác định gọi là tỷ giá kỳhạn vào một ngày nào đó trong tương lai Khi NHTM (hay ngân hàng thứ 2)
có nhu cầu chi trả hoặc các khoản phải thu trong tương lai, có thể thiết lậphợp đồng kỳ hạn để cố định tỷ giá mà tại mức tỷ giá này có thể mua hoặc bánmột ngoại tệ nào đó
Trang 20Tỷ giá có kỳ hạn thường được yết theo hai cách: yết giá theo kiểuoutright và yết giá theo kiểu swap Tỷ giá có kỳ hạn theo kiểu outright đơngiản là giá cả của một đồng tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia Nócũng được niêm yết tương tự như tỷ giá giao ngay chỉ khác một điều là tỷ giáđược hai bên xác định và thỏa thuận ở hiện tại nhưng sẽ được áp dụng trongtương lai Tỷ giá theo kiểu swap chỉ yết phần chênh lệch theo số điểm căn bản(basic points) giữa tỷ giá có kỳ hạn và tỷ giá giao ngay tương ứng.
Yết giá theo kiểu swap thường được sử dụng trên thị trường liên ngânhàng, tức là trong giao dịch giữa một ngân hàng này với một ngân hàng khác
Tỷ giá có kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưngđược xác định ở hiện tại Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại
tệ có kỳ hạn và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và lãi suất trênthị trường tiền tệ
Trên thị trường quốc tế, hợp đồng kỳ hạn tỏ ra thích hợp hơn đối vớicác công ty lớn vì vậy các giao dịch thường có giá trị ít nhất là một triệu đô latrở lên
Các khách hàng và công ty nhỏ thường rất ít sử dụng hợp đồng kỳhạn Trong một vài trường hợp, ngân hàng có thể yêu cầu các khách hàng kýquỹ ban đầu để thực hiện nghĩa vụ của mình Trong một số trường hợp khác,ngân hàng có niềm tin hoàn toàn vào khách hàng và họ không yêu cầu kýquỹ ban đầu
Các hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là được thiết kế thích hợp để đáp ứngyêu cầu của cả hai bên cả về qui mô giao dịch và ngày giao kỳ hạn Một sốcác hợp đồng kỳ hạn có các thời gian đáo hạn không đạt tiêu chuẩn như 37
Trang 21ngày hoặc 81 ngày nhưng chi phí giao dịch của hợp đồng kỳ hạn dạng này thìđắt hơn bình thường.
Tuy nhiên, một bất lợi của hợp đồng kỳ hạn là nó không thể hủy bỏ đơnphương mà không có sự thỏa thuận của hai đối tác; nghĩa vụ của mỗi bênkhông được chuyển giao cho bên thứ ba Hợp đồng kỳ do đó không phải làmột dạng hợp đồng có tính thanh khoản cao Một bất lợi nữa là không có gìbảo đảm rằng sẽ không có một bên vỡ nợ và hủy bỏ các nghĩa vụ hợp đồng.Điều này dễ xảy ra khi tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay có sự chênh lệch lớnvào thời điểm đến hạn
1.2.2.2 Hợp đồng tương lai
Tương tự hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai là thỏa thuận giữa haibên để mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương laivới mức giá xác định Tuy nhiên, hợp đồng tương lai có số lượng tài sản cơ sở
và ngày đáo hạn hợp đồng được chuẩn hóa Điều này có nghĩa là hợp đồngtương lai được mua bán trên sở giao dịch trong khi hợp đồng kỳ hạn là hànghóa trên thj trường phi tập trung (OTC) Vì vậy, khi tham gia giao dịch hợpđồng tương lai, các nhà đầu tư phải kỹ quỹ Các bên có thể đóng vị thế muahoặc vị thế bán của mình trước thời điểm đáo hạn bằng cách mở một vị thếđối ứng hoặc chờ tới hạn thanh toán Việc thanh toán hợp đồng tương lai đa
số được thực hiện bằng cách giao hàng thực hoặc thanh toán khoản chênhlệch bằng tiền mặt
Hợp đồng giao sau thị trường hàng hóa: là loại hợp đồng có sẵn nhữngtiêu chuẩn về số lượng, phẩm cấp hàng, chủng loại mặt hàng, điều kiện vậnchuyển và giao nhận hàng, tất cả đều được sở giao dịch tiêu chuẩn hóa, vấn
đề duy nhất phải thỏa thuận là giá cả
Trang 22Giá cả sau khi được quyết định tại phiên giao dịch, gọi là giá giao sau.
Đó là mức giá được tính toán gần giống như giá giao trong tương lai Tuynhiên, do tính chất đặc thù của loại hợp đồng này, hai bên mua bán không hề
có thêm bất kỳ thỏa thuận nào khác trừ giá cả Nên hàng hóa mua bán theoloại hợp đồng thường được qui định giao nhận hàng ở một vài thời điểm nhấtđịnh trong năm mà thôi, khi đó giá giao sau sẽ là giá giao kỳ hạn với thờiđiểm kỳ hạn chính là mốc đã định sẵn ở trên
Thể thức này mới được sử dụng phổ biến từ những năm 60 - 70 thế kỷXIX trên thị trường hàng hóa và những năm 70 - 80 của thế kỷ XX trên thịtrường tiền tệ Từ năm 2001, hầu hết các sàn giao dịch điện tử quốc tế đềuthống nhất các qui chuẩn chung của hợp đồng này, tuỳ theo hàng hóa cơ sởmua bán (gạo, café, cao su, vàng, bạc, platin, USD) mà sẽ có những đặc tả chitiết hàng hóa riêng Đây là công cụ chính cung cấp cho những nhà đầu cơ(speculator) một phương tiện kinh doanh và những người ngại rủi ro (hedger)một phương tiện phòng chống rủi ro
Hợp đồng giao sau thị trường tiền tệ: là một thỏa thuận mua bán một sốlượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực
và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương laiđược xác định bởi Sở giao dịch Tuy nhiên, khác với hợp đồng có kỳ hạn, hợpđồng giao sau chỉ sẵn sàng cung cấp đối với một vài loại ngoại tệ mà thôi.Chẳng hạn, thị trường Chicago chỉ cung cấp hợp đồng với sáu loại ngoại tệmạnh đó là GBP, CAD, EUR, JPY, CHF và AUD Thị trường sgiao sau thựcchất chính là thị trường có kỳ hạn được tiêu chuẩn hóa về loại ngoại tệ giaodịch, số lượng ngoại tệ giao dịch và ngày chuyển giao ngoại tệ
Tất cả các hợp đồng giao sau đều thực hiện giao dịch ở Sở giao dịch có
tổ chức Sở giao dịch là người đề ra quy chế và kiểm soát hoạt động của các
Trang 23hội viên Hội viên của Sở giao dịch là các cá nhân, có thể là đại diện của cáccông ty, NHTM hay cá nhân có tài khoản riêng.
Bên cạnh đó thị trường giao sau phòng ngừa rủi ro về lãi suất dài hạn
và ngắn hạn thông qua phòng ngừa vị thế mua và bán trái phiếu chính phủ,trái phiếu công ty
1.2.2.3 Quyền chọn
“Quyền chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua(nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượngnhất định hàng hóa với mức giá xác định trong một thời hạn nhất định” (BùiKim Yến và cộng sự, 2008, trang 181)
Trong cả hai loại quyền chọn mua và quyền chọn bán, người ở vị thếmua có quyền thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng trong khi người ở
vị thế bán có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng khi bên mua yêu cầu Đổilại, Người mua phải trả cho người bán một khoản phí gọi là phí quyềnchọn
Hợp đồng quyền chọn có 2 dạng là kiểu Âu và kiểu Mỹ Quyền chọnkiểu Mỹ cho phép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng ở bất kỳ thờiđiểm nào trước khi hợp đồng hết hạn trong khi quyền chọn kiểu Âu chỉ chophép người mua nó có quyền thực hiện hợp đồng khi đến hạn hợp đồng
Giá trị của quyền chọn tùy thuộc vào giá cả thực hiện (exercise or strikeprice) và sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường Giá cả biến động
có thể làm cho quyền chọn trở nên sinh lợi (in-the-money), hòa vốn money) hoặc lỗ vốn (out-of-the-money)
Trang 24(at-the-1.2.2.4 Hợp đồng hoán đổi
Hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai bên tham gia vào một thỏa thuậntrong một khoảng thời gian mà họ sẽ trao đổi các khoản thanh toán thườngxuyên
Hoán đổi tiền tệ: Là việc mua và bán đồng thời tài sản gốc tương tự
hoặc nghĩa vụ tương đương với số tiền vốn mà việc hoán đổi các giao dịch tàichính cho phép cả hai bên tham gia các điều kiện thuận lợi hơn mong muốn.Thực chất của hợp đồng này là hai bên thoả thuận trao đổi dòng tiền trongtương lai
Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi là giao dịch trên thị trường OTC vàkhông có qui định chuẩn Cụ thể, ở thị trường hoán đổi Mỹ, hầu như chưa cóqui định nào ràng buộc Hiện nay, hiệp hội hoán đổi và phái sinh quốc tế mớichỉ đưa ra tài liệu chuẩn về quy trình giao dịch và thủ tục pháp lý (chỉ áp dụng
ở Mỹ) Ở Châu Âu, thị trường hoán đổi chủ yếu do các ngân hàng vận hành,được điều chỉnh bởi một số quy định của Luật Ngân hàng
Nhìn chung, cho đến nay chỉ có quy định đối với người môi giới vềviệc tổ chức các giao dịch hoán đổi, không quy định về trách nhiệm của cácđối tác trên thị trường đối với việc thực hiện hợp đồng
Hạn chế của thị trường này là khi muốn giao dịch, một bên đối tác phảitìm được đối tác bên kia đang sẵn sàng làm đối tác giao dịch với mình (phải
có sự trùng hợp về nhu cầu đối với thời gian đáo hạn, cấu trúc các dòng tiền
và khối lượng vốn)
Hợp đồng hoán đổi được thiết kế riêng theo nhu cầu của hai bên đốitác, chính vì vậy các điều kiện của hợp đồng mang tính cứng nhắc và thiếulinh hoạt
Trang 25Hoán đổi lãi suất: Hoán đổi lãi suất là một chuỗi các thanh toán lãi suất
giữa hai phía Mỗi tập hợp thanh toán được dựa trên lãi suất cố định hoặc thảnổi Nếu lãi suất thả nổi và hoán đổi thực hiện trên đồng đôla thì lãi suất sửdụng thường là LIBOR Hoán đổi trên các đồng tiền khác sử dụng lãi suấttương ứng với đồng tiền đó Hai bên đồng ý thanh toán một chuỗi các thanhtoán tiền lãi trên cùng một đồng tiền vào nhiều ngày thanh toán khác nhau.Kết quả thanh toán được dựa vào một số vốn khái toán cụ thể, nhưng các bêntham gia không thanh toán số vốn khái toán này vì thực ra nó chỉ là việc mỗibên thanh toán cho nhau trên cùng một số tiền
Hình thức phổ biến nhất của các loại hoán đổi lãi suất mà thực ra là phổbiến nhất trong tất cả các loại hoán đổi là hình thức mà một phía chi trả theolãi suất cố định và phía còn lại chi trả theo lãi suất thả nổi Công cụ này đượcgọi là hoán đổi vanilla thuần nhất (plain vanilla swap) và thỉnh thoảng chỉ gọi
là hoán đổi vanilla
Hợp đồng hoán đổi lãi suất là một dạng khá phổ biến trong các công cụtài chính phái sinh Trong hợp đồng này, một bên sẽ hoán đổi một dòng lãisuất của mình lấy dòng lãi suất của đối phương
Hóan đổi hàng hóa: Hoán đổi hàng hóa là giao dịch đàm phán trực tiếp
giữa hai phía đối tác hay thông qua trung gian, đồng ý trao đổi một loạt nhữngthanh toán được tính trên những cơ sở khác: thanh toán giá cả hàng hóa vớimức cố định (fixed) được hóan đổi cho mức giá trôi nổi (floating), thanh toándựa tên chỉ số giá hàng hóa A thay bằng chỉ số giá hàng hóa B, mua hoặc bánhàng hóa A thay bằng mua hoặc bán hàng hóa B và ngược lại, mua hàng ởmức giá cơ bản giao ngay và bán lại hàng với mức giá kỳ hạn, Những giaotác hóan đổi đã được xây dựng theo những thể thức rất phong phú và khác
Trang 26biệt Hai bên đối tác dàn xếp một cuộc trao đổi với những nhu cầu bổ sung, vànhững kỳ hạn thanh toán được đặt định.
Sử dụng hóan đổi như một công cụ ngừa rủi ro Thông qua hợp đồnghóan đổi, các bên tham gia có được hàng hóa hoặc mức giá mình mong muốn
mà không cần phải thông qua nhiều giao dịch trung gian nên tránh được sựbiến động giá và chênh lệch giữ giá bán và giá mua
Sự khác biệt giữa các hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau là sử dụngtrong ngắn hạn, trong khi hợp đồng hóan đổi sử dụng trong dài hạn Nhưngngày càng nhiều, hợp đồng hóan đổi cũng được sử dụng trong ngắn hạn, bổsung những hạn chế của các dạng hợp đồng với nhau, tạo ra sự cạnh tranhgiữa chúng Các yếu tố cạnh tranh bao gồm sự năng động, chi phí và sự quenthuộc Hợp đồng hóan đổi hơn hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao sau ở yếu
tố năng động nhưng thua ở yếu tố quen thuộc sử dụng Còn về chi phí, nhìnchung hợp đồng có kỳ hạn và hợp đồng giao sau có ưu thế hơn, nhưng khônglớn lắm
Sử dụng hợp đồng hóan đổi để hạ thấp chi phí vốn thông qua phòngngừa rủi ro, do tận dụng những ưu thế tương đối, chênh lệch thuế khóa, việcphát triển thị trường mới
Hoán đổi có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài trợ và phòng ngừa rủi ro,
nó cho phép các công ty đột phá vào thị trường mới và tận dụng những ưu thếcủa nó để gia tăng kinh doanh mà không phải gia tăng rủi ro kèm theo Thôngqua hóan đổi, có thể chuyển rủi ro ở một thị trường hay ở một loại hàng hóanào đó sang thị trường khác, ở quốc gia khác mà hoạt động của chúng có liênquan đến thị trường hàng hóa quốc tế
Trang 27Tất cả những hình thức giao dịch trên được sử dụng như những công cụtrợ giúp hữu hiệu cho việc phòng chống những rủi ro trong kinh doanh trênthị trường hàng hóa, rủi ro thanh toán ngoại tệ và cũng có thể coi là nhữngcông cụ giúp giảm thiểu chi phí vốn Tuy nhiên, bên cạnh đó, một giải phápđược đánh giá là có ưu thế nhất trong công tác hỗ trợ vốn cho những nhà kinhdoanh nói chung là việc phát hành trái phiếu Thông thường, sự biến động củagiá cả một loại hàng hóa nào đó trên thị trường sẽ luôn gây những bất ổn kháccho những kế hoạch kinh doanh đã được đặt định Song, đối với một số nhữngsản phẩm hay phẩm vật có tính chất ưu thế hơn tại mỗi địa phương nhất định,giá cả của chúng lại có thể được sử dụng như một yếu tố cốt yếu trợ giúpnguồn lực tài chính cho nhà sản xuất - kinh doanh.
Trong thị trường tài chính, các sản phẩm phái sinh là hàng hoá, tỷ giá,lãi suất được giao dịch, bản thân các sản phẩm này cũng mang lại lợi nhuậnhoặc thua lỗ cho người mua và bán (với ý nghĩa là nhà đầu cơ) Tuy nhiênluận văn này chỉ đề cập đến vai trò công cụ quản trị rủi ro của các sản phẩmnày và các NHTM sử dụng các sản phẩm phái sinh để quản trị rủi ro chứkhông phải cho mục đích đầu cơ Bằng việc sử dụng các CCPS, NHTM có thểchuyển rủi ro mà họ không mong muốn cho các đối tác khác
1.2.3 Thị trường và người giao dịch
Chứng khoán phái sinh được mua bán trên cả thị trường tập trung và thịtrường phi tập trung Các nhà đầu tư mua bán các hợp đồng phái sinh đượctiêu chuẩn hóa như hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn trên sở giaodịch Các sở giao dịch truyền thống sử dụng hệ thống open outcry Trong cơchế hoạt động này, người giao dịch gặp mặt trực tiếp trên sàn giao dịch, dùnglời nói và dấu hiệu bằng tay để xác nhận giao dịch họ muốn thực hiện Các sởgiao dịch đã dần thay thế hệ thống open outcry bằng giao dịch điện tử
Trang 28Không phải tất cà các CCPS đều được mua bán trên sở giao dịch Thịtrường OTC cũng là thị trường quan trọng với tổng khối lượng giao dịch cònlớn hơn nhiều so với sở giao dịch Giao dịch được thực hiện giữa hai định chếtài chính hoặc giữa một định chế tài chính với một khách hàng Các định chếtài chính thường đóng vai trò nhà tạo lập thị trường cho những công cụ đượcgiao dịch thường xuyên Điều này có nghĩa là họ luôn sẵn sàng yết giá mua vàgiá bán Một ưu điểm của thị trường phi tập trung là các điều khoản của hợpđồng không cần thiết tuân theo những đặc điểm như những hợp đồng yết trên
sở giao dịch Những người tham gia có thể tự do thỏa thuận các điều khoản
Vì vậy, hàng hóa trên thị trường phi tập trung là các hợp đồng kỳ hạn, hoánđổi và quyền chọn Tuy nhiên, một nhược điểm của thị trường phi tập trung là
có rủi ro tín dụng
Cả thị trường phái sinh tập trung và phi tập trung đều có quy mô lớn.Hình thấy rõ rằng thị trường phi tập trung lớn hơn thị trường tập trung rấtnhiều Giá trị của thị trường OTC đạt đỉnh vào năm 2011, lên tới 700 nghìn tỷUSD và thị trường tập trung khoảng 83 nghìn tỷ USD Tuy nhiên, cần nhấnmạnh rằng đây là những giá trị ghi sổ, giá trị tham chiếu của các hợp đồngphái sinh chứ không phải giá trị thực sự Dù vậy, nếu chỉ tính giá trị thực thìthị trường có quy mô khoảng 20 nghìn tỷ, tương đương hoặc lớn hơn giá trịthị trường cổ phiếu của Mỹ
Người giao dịch trên thị trường phái sinh có thể chia làm ba nhómchính là nhà phòng vệ, nhà đầu cơ và nhà kinh doanh chênh lệch Ngườiphòng vệ sử dụng phái sinh để giảm thiểu rủi ro mà họ đối mặt từ những biếnđộng tương lai của thị trường Nhà đầu cơ lại sử dụng chúng để đánh cược vềchiều hướng biến động của thị trường trong tương lai Tuy nhiên, không có gìđảm bảo rằng kết quả phòng vệ sẽ tốt hơn kết quả không phòng vệ Ngườiphòng vệ muốn tránh những thay đổi bất lợi trong giá tài sản thì nhà đầu cơ
Trang 29lại muốn nắm vị thế đó, chấp nhận rủi ro Nhà kinh doanh chênh lệch bù trừhai vị thế trong hai hoặc nhiều hợp đồng để có được lợi nhuận.
Hình 1.1 Các CCPS và thị trường giao dịch
Hình 1.2 Quy mô thị trường phái sinh
Nguồn: John (2014)
Trang 301.2.4 Chức năng
Theo Melamed (1997), CCPS có ba vai trò kinh tế quan trọng là quảntrị rủi ro, xác định giá và hiệu quả giao dịch Mục đích ban đầu của quản trịrủi ro là để bảo vệ lợi nhuận đang có chứ không phải tạo ra lợi nhuận mới.Quản trị rủi ro liên quan đến thiết kế hợp đồng tài chính để tạo ra khoản lời(lỗ) sẽ cân bằng với khoản lỗ (lời) phát sinh từ sự biến động trong giá cả Vìvậy, nhờ sử dụng CCPS, rủi ro được giảm đi và lợi nhuận được tăng lên,mang lại lợi ích cho các NHTM, ngân hàng, nhà quản lý đàu tư, nông dân,người tiêu dùng
Chức năng thứ hai là khám phá giá Điều này thể hiện khả năng cóđược và phổ biến thông tin giá cả Không có thông tin về giá, nhà đâu tư,người tiêu dùng, nhà sản xuất không thể đưa ra quyết định Họ bị ngăn cảnhướng dòng vốn tới những nơi sử dụng hiệu quả CCPS lại đặc biệt phù hợpvới vai trò thể hiện thông tin giá Chúng là những công cụ hỗ trợ mọi ngườitrên thị trường để xác định giá trị Càng gần ngày đáo hạn của hợp đồng pháisinh, giá của phái sinh càng tiện cận với tài sản cơ sở Vì vậy, phái sinh làcông cụ cần thiết để xác định giá hiện tại và tương lai
Thứ ba là hiệu quả giao dịch Hiệu quả giao dịch là kết quả của sựthanh khoản Thiếu thanh khoản sẽ tạo ra chi phí giao dịch cao Điều này cảntrở đầu tư và tích lũy tư bản Trong khi đó, phái sinh làm tăng thanh khoản thịtrường Kết quả là chi phí giao dịch thấp hơn, hiệu quả kinh doanh tăng lên,chi phí vốn hạ, lượng vốn huy động có đầu tư sản xuất tăng
1.2.5 Quy trình phòng vệ
Nhiều tập đoàn vẫn bối rối trước vấn đề có nên phòng vệ bằng CCPShay không Sự phân vân này là do hiểu biết chưa đầy đủ về rủi ro, lo ngại về
Trang 31chi phí phòng vệ và tâm lý e ngại khi báo cáo một khoản lỗ do giao dịch pháisinh Chưa quen với các công cụ phòng vệ và chiến lược phòng vệ cũng gópphần khiến NHTM không sử dụng phái sinh.
Một chiến lược phòng vệ hiệu quả không cố gắng loại bỏ mọi rủi ro màbiến những rủi ro không chấp nhận được thành chấp nhận được Thách thứclớn nhất đối với nhà quản trị rủi ro của NHTM là xác định những rủi ro màNHTM sẵn sàng chấp nhận và những rủi ro NHTM muốn biến đổi bằng cáchphòng vệ Chiến lược phòng vệ tối ưu sẽ cân bằng giữa lợi ích của việc bảo vệ
và chi phí phòng vệ Giddy gợi ý các bước mà nhà quản trị rủi ro có thể thựchiện để xác định liệu công ty có lợi khi phòng vệ không
Bước 1: Nhận biết rủi ro
Trước khi các nhà quản lý đưa ra quyết định phòng vệ, việc nhận dạngtất cả các rủi ro mà NHTM có Những rủi ro này thường được chia làm hailoại: rủi ro hoạt động và rủi ro tài chính NHTM có rủi ro tài chính khi tiếpxúc với các nhân tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá hàng hóa và giá chứngkhoán Những rủi ro tài chính có thể phòng vệ được nhờ thị trường rộng lớnnơi những rủi ro này có thể được chuyển nhượng
Khi xác định rủi ro nào cần phòng vệ, nhà quản trị cần phân biệt nhữngrủi ro nào doanh nghiệp có được lợi ích nếu chấp nhận chịu và những rủi ro
mà NHTM sẽ không đạt được gì dù chấp nhận Một nhân tố quan trọng cầnxem xét là rủi ro nào khi được phòng vệ sẽ tránh được những thua lỗ lớn Nếuviệc phòng vệ rủi ro chỉ mang lại khoản lời nhỏ khiến cho lợi ích không bùđắp được chi phí thì NHTM có lẽ không nên phòng vệ
Trang 32Bước 2: Phân biệt phòng vệ và đầu cơ
Một trong những lý do mà các nhà quản trị rủi ro không sẵn lòng phòng
vệ là bởi họ cho rằng sử dụng CCPS liên quan đến đầu cơ Họ tin rằng phòng
vệ bằng phái sinh tạo ra thêm rủi ro Thực tế, chính việc không chọn phòng vệmới khiến NHTM hứng chịu thêm rủi ro trong khi việc phòng vệ làm giảm rủi
ro Một nhà quản lý lựa chọn không phòng vệ đánh cược rằng thị trường hoặc
là ổn định hoặc là thay đổi theo hướng có lợi Như vậy, NHTM đang phảichịu rủi ro thị trường biến động ngược lại
Bước 3: Quyết định lượng phòng vệ
Phòng vệ không loại bỏ hoàn toàn rủi ro về giá và việc phòng vệ cũngliên quan đến rủi ro khối lượng Để ngăn cản rủi ro này, NHTM có thể báncác hợp đồng tương lai hoặc kỳ hạn để đảm bảo bán được số lượng hàng nhấtđịnh với mức giá chấp nhận được
Tuy nhiên, rủi ro khối lượng cũng xuất hiện trong chính việc phòng vệ.Thứ nhất, đó là rủi ro do sự khác biệt số lượng hàng cần phòng vệ và số lượngtiêu chuẩn trong các hợp đồng tương lai Kết quả là một phần hàng hóa sẽkhông được phòng vệ hoặc phòng vệ nhiều hơn mức cần thiết Thứ hai là rủi
ro sản lượng thu hoạch không đúng như dự tính vì những điều kiện xấu nhưthời tiết, dịch bệnh Vì vậy, quyết định phòng vệ bao nhiêu rất quan trọng.NHTM cần tính toán tỷ lệ phòng vệ tối ưu khi sử dụng các CCPS
Bước 4: Đánh giá chi phí phòng vệ
Để đánh giá chính xác chi phí phòng vệ, nhà quản lý cần so sánh vớitổn thất do không phòng vệ Trong những trường hợp tổn thất tiềm tàng là docác yếu tố thị trường như lãi suất, tỷ giá biến động ngược chiều kỳ vọng, chiphí phòng vệ cần được xem xết như chi phí mua bảo hiểm để tránh tổn thất
Trang 33Trong những trường hơp khác, giao dịch phái sinh là biến pháp thay thế
bổ sung cho chiến lược tài trợ sử dụng phương pháp truyền thống Trong hầuhết trường hợp khi mà chiến lược phái sinh được sử dụng như một phươngpháp thay thế cho giao dịch truyền thống thì những chiến lược này thường lẽ
ít tốn kém hơn Phái sinh có xu hương rẻ hơn bởi chi phí giao dịch thấp tạicác thị trường có tính thanh khoản cao
Bước 5: Lựa chọn công cụ phòng vệ
Khi đã nhận diện được các rủi ro NHTM cần phòng vệ, việc tiếp theo làxem xét lựa chọn công cụ phòng vệ phù hợp Nhiều nhà quản lý ngại tìm hiểucác công cụ phòng vệ phái sinh vì họ cho rằng những công cụ này quá phứctạp Thực tế là hầu hết các sản phẩm phái sinh đều được xây dựng từ hai công
cụ cơ bản là hợp đồng kỳ hạn (hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, ) vàhợp đồng quyền chọn (quyền chọn mua, quyền chọn bán, )
Bước 6: Đánh giá hiệu quả
Các nhà quản trị rủi ro thường sợ sẽ bị đánh giá thấp khi báo cáo mộtkhoản lỗ trong giao dịch phái sinh Tuy nhiên, cần nhấn mạnh lại rằng việcđánh giá hiệu quả của chiến lược phòng vệ cần đặt trong tương quan so sánhvới kết quả có thể của các phương án thay thế Ví dụ, hợp đồng hoán đổi lãisuất thả nổi lấy cố định có phương án thay thế truyền thống là phát hành tráiphiếu Vì vậy, bất cứ khoản thua lỗ nào trong hợp đồng hoán đổi đáng lẽ sẽ làkhoản thua lỗ nếu NHTM phát hành trái phiếu Chỉ khi hiệu quả của hợp đồnghoán đổi được đánh giá trên cơ sở xem xét mục tiêu ban đầu của nhà quản trị(tạo ra dòng tiền giống trái phiếu) thì kết luận về hiệu quả sử dụng hợp đồnghoán đổi mới trở nên rõ ràng
Bên cạnh đó, một hệ thống kiểm soát cũng cần được thành lập bao gồmchính sách phòng vệ, quy trình, những người phụ trách, Chính sách phòng vệ
Trang 34có thể bao gồm những quy định rõ ràng về mục đích của phòng vệ, giới hạn
về giá trị giấy tờ (notional value)
dụ, hợp đồng quyền chọn cổ phiếu được chuẩn hóa yêu cầu bên chịu rủi ro kýquỹ với sở giao dịch để chứng minh rằng họ có thể trả bất cứ khoản lỗ nào.Ngân hàng trung gian trong kí kết hợp đồng hoán đổi có thể kiểm tra tínnhiệm cả hai bên Tuy nhiên, nhiều thỏa thuận riêng lẻ giữa hai công ty trongcác hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi không có những tiêu chuẩn đánh giátín nhiệm sẽ có rủi ro đối tác lớn
Sử dụng CCPS có thể tạo ra khoản lỗ lớn bởi việc sử dụng đòn bẩyhoặc vay nợ Phái sinh cho phép người sử dụng thu được lợi lớn từ sự thayđổi nhỏ trong giá tài sản cơ sở nhưng cũng có thể gây ra khoản thua lỗ lớnnếu giá dịch chuyển ngược dự đoán
Rủi ro pháp luật có thể đến từ một điều luật, quy định làm vô hiệu hợpđồng phái sinh
Rủi ro hoạt động là những rủi ro đển từ lỗi của con người, sự thiếukiểm soát, quy trình, hệ thống lỗi, sai sót Loại bỏ những hợp đồng không
Trang 35thực hiện hoặc không được xác nhận, tiêu chuẩn hóa các điều khoản hợp đồngphái sinh trên OTC,cải thiện quy trình và quá trình giao hàng thật, quy trìnhgiải quyết mâu thuẫn sẽ làm giảm rủi ro hoạt động.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CCPS
1.3.1 Thuế
Theo Smith và Stulz (1985), chính sách thuế đối có thể mang lại lợi íchcho NHTM tham gia hợp đồng tương lai, kỳ hạn hay quyền chọn Nếu tỷ lệthuế cận biên của NHTM là một hàm tăng theo giá trị NHTM trước thuế thìgiá trị này sau thuế là hàm lõm của giá trị NHTM trước thuế Điều này cónghĩa là phòng vệ làm giảm biến động giá trị NHTM trước thuế, dẫn đến sốthuế phải nộp giảm và giá trị NHTM sau thuế tăng (với điều kiện chi phíphòng vệ không quá lớn) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, để đạt được lợi ích vềthuế khi sử dụng CCPS thì NHTM cần có đủ hai điều kiện là (1) có tỷ lệ thuếphù hợp như đã nêu và (2) chi phí phòng vệ không quá cao so với số thuế tiếtkiệm kỳ vọng
1.3.2 Kiệt quệ tài chính
Kiệt quệ tài chính là tình trạng mà NHTM không thực hiện hoặc khóthực hiện cam kết với chủ nợ Tình trạng này nếu không được giải quyết sẽ dẫnđến phá sản Chi phí phát sinh do tình trạng này được gọi là chi phí kiệt quệ tàichính Khi chưa phá sản, chi phí này phát sinh do yêu cầu giám sát quản lý, mấttập trung trong quản lý hoạt động của công ty Chi phí kiệt quệ tài chính cũng
có thể là chi phí vốn tăng (bởi người cho vay yêu cầu mức lợi suất cao hơn để
bù đắp rủi ro tăng thêm) và các cơ hội đầu tư bỏ lỡ khi NHTM không có khảnăng huy động thêm vốn Chi phí khi phá sản bao gồm chi phí cho kiểm toán,
lệ phí tòa án và các chi phí quản lý khác (Warner, 1977)
Trang 36Nguy cơ xảy ra kiệt quệ tài chính tăng khi tỷ lệ nợ tăng cao trong khikhả năng trả nợ giảm Với một mức vay nợ như nhau thì sử dụng phái sinh cóthể giảm xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính (Smith và Stulz, 1985; Froot vàcộng sự, 1993) Vì vậy, khả năng là những NHTM có dấu hiệu của tình trạngnày sẽ tích cực sử dụng CCPS hơn.
Phòng vệ bằng CCPS làm giảm biến động về dòng tiền (Froot và cộng
sự, 1993), cho phép NHTM quản lý thanh khoản và đầu tư vào các dự án khicần thiết Như vậy, các NHTM gặp vấn đề về thanh khoản có lẽ sẽ tích cựctham gia thị trường phái sinh Ngược lại, các NHTM với dòng tiền lớn làchiếc đệm cho các khoản lỗ tiềm tàng có lẽ ít sử dụng CCPS mà sẽ chấp nhậnrủi ro để kiếm được mức lợi nhuận cao hơn (Mizerka và Strozynska, 2013)
1.3.3 Vấn đề đại diện
Trong tài chính NHTM, vấn đề đại diện thường là xung đột lợi ích giữaban quản lý công ty và các cổ đông Cổ đông thường không quản lý công ty
mà đi thuê vì sự chuyên nghiệp của các nhà quản lý Các chuyên gia này cần
có quyền đưa ra quyết định để quản lý công ty Tuy nhiên, nếu không cóchính sách đãi ngộ thích hợp, họ sẽ không dành hết tâm huyết và sức lực đểtối đa hóa giá trị của cổ đông Để khắc phục xung đột về lợi ích này, nhiềuNHTM đưa ra mức lương thưởng dựa trên giá trị NHTM hay kết quả sản xuấtkinh doanh Theo Smith và Stulz (1985), với những NHTM như thế, các nhàquản lý sẽ tích cực phòng vệ hơn để làm tăng giá trị cho NHTM, tức tăng thunhập cho chính họ
Nền móng chính của gia tăng xung đột lợi ích là bất cân xứng thôngtin (Santos, Silveira và Barros, 2009) Các vấn đề bất cân xứng thông tin cóthể làm tăng khả năng người quản lý NHTM sử dụng phái sinh cho lợi ích cánhân, đặc biệt là các NHTM đối mặt với chi phí đại diện lớn và cơ chế quản
Trang 37lý thông tin kém Mở rộng NHTM và cơ cấu hoạt động phức tạp cũng gây ra
sự bất cân xứng thông tin giữa các nhóm lợi ích (Jensen và Meckling, 1976).Nance và cộng sự (1993) nói rằng phòng vệ bằng phái sinh có thể giảm xungđột lợi ích trong các NHTM lớn DeMarzo và Duffie (1991, 1995) thì l ậpluận rằng NHTM với mức độ bất cân xứng thông tin cao có thể sẽ phòng vệnhiều hơn để loại bỏ những tín hiệu nhiễu trong dòng cổ tức của NHTM
1.3.4 Đầu tư dưới mức
Quản trị rủi ro có thể làm tăng giá trị cho cổ đông bằng cách kết hợphài hòa giữa chính sách huy động vốn và chính sách đầu tư Khi huy độngnguồn vốn bên ngoài trở nên đắt đỏ (do lãi suất cao, chi phí giao dịch ),NHTM có thể đầu tư dưới mức Xung đột lợi ích giữa cổ đông và trái chủcũng có thể dẫn đến đầu tư dưới mức Vấn đề đầu tư dưới mức có thể xảy rakhi đòn bẩy cao và cổ đông chỉ nắm giữ phần nhỏ tài sản NHTM Vì vậy, cổđông có thể loại bỏ những dự án an toàn (dù có lợi nhuận) bởi chủ nợ đượchưởng lợi ích trước tiên trong khi cổ đông lại chịu nhiều rủi ro hơn Kếhoạch quản trị rủi ro có thể làm giảm vấn đề đầu tư dưới mức vì các CCPStăng tính chắc chắn và ổn định của dòng tiền (mà một phần được dùng để trảchủ nợ) Như vậy, NHTM có vấn đề về đầu tư dưới mức nghiêm trọng hơn
sẽ có khả năng sử dụng CCPS hơn Bởi các vấn đề đầu tư dưới mức thườngnghiêm trọng hơn với các NHTM có cơ hội đầu tư và tăng trưởng lớn, cácbiến đo lường như tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, tỷ lệ chi nghiêncứu phái triển trên doanh thu, tỷ lệ chi phí vốn trên doanh thu thường đượcdùng để kiểm định giả thuyết đầu tư dưới mức Lý thuyết cũng gợi ý rằngtrái phiếu có khả năng chuyển đổi cũng có thể làm giả xung đột lợi ích giữatrái chủ và cổ đông, vì vậy việc sử dụng nó là dấu hiệu cho thấy sự tồn tạivấn đề đầu tư dưới mức