1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Phân tích tình hình vay nợ và huy động vốn đầu tư, mối quan hệ giữa nợ công và GDP, liên hệ với Việt Nam giai đoạn 20112014”

23 202 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 773 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi là các quan hệ lợiích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cánhân… trong và ngoài nước gắn liền

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Dù là công khai hay ngấm ngầm thì cũng đã có không ít những vụ phásản tầm cỡ quốc gia diễn ra trong suốt thời kỳ thế giới lâm vào khủng hoảngkinh tế Có rất nhiều lý do dẫn tới cuộc khủng hoảng toàn cầu này nhưngtrong đó phải kể đến tình trạng nợ công tràn lan ở nhiều nước Nợ công khókiểm soát ở nhiều quốc gia chính là nguyên nhân khiến nền kinh tế phục hồirất chậm chạp, mong manh và đứng trước nguy cơ tiếp tục khủng hoảng Bất

kể từ nước giàu có nhất thế giới như Mỹ, hay Nhật Bản cho tới những quốcgia phát triển ở châu Âu như Đức, Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha,… hay TrungQuốc “chủ nợ lớn nhất của Mỹ và các quốc gia”, tất cả các “đại gia” này đềuđang mắc một khoản nợ công không hề nhỏ Việt Nam trong nền kinh tế thịtrường và hội nhập cũng không tránh khỏi tình trạng trên Trong khi tích lũy

từ nội bộ nền kinh tế thông qua chi tiêu để dành của quốc gia liên tục giảmthì nợ công liên tục tăng, nguồn để đầu tư tăng và ngân sách lại ngày càng trởnên thâm hụt Và đáng lo ngại hơn cả là vay nợ nhưng làm ăn kém hiệu quả

và khả năng trả nợ ngày càng khó khăn hơn Điều đó càng khiến nợ công ởViệt Nam tăng cao và tiến tới mức nguy hiểm

Nợ công đang làm nóng nghị trường Quốc hội, mà trong đó gây tranhcãi nhiều nhất là quy mô, tính an toàn và tài trợ nợ công Vì vậy tôi chọn đềtài “Phân tích tình hình vay nợ và huy động vốn đầu tư, mối quan hệ giữa nợcông và GDP, liên hệ với Việt Nam giai đoạn 2011-2014” để chúng ta phầnnào hiểu rõ hơn thực trạng nợ Chính phủ Việt Nam những năm qua Bêncạnh đó là một số đề xuất giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng này

Trong quá trình nghiên nhóm hẳn còn nhiều thiếu sót, mong nhậnđược sự góp ý nhiệt tình từ thầy và các bạn

Em xin trân thành cảm ơn!

Trang 2

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAY NỢ, HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ

MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ GDP 1.1 Tổng quan về Ngân sách nhà nước

1.1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước

Trong thực tiễn, khái niệm Ngân sách nhà nước thường để dùng tổng sốthu và chi của một đơn vị trong thời gian nhất định, một bản tính toán các chi phí

để thực hiện một kế hoạch hoặc một chương trình cho một mục đích nhất địnhcủa một chủ thể nào đó, nếu chủ thể đó là Nhà nước, thì ngân sách đó được gọi làNgân sách nhà nước

Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 đã định nghĩa: “Ngân sách nhà nước

là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ qua có thẩm quyền củaNhà nước quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Định nghĩa của Luật ngân sách năm 2002 vừa phản ánh được nội dung cơbản của ngân sách, quá trình chấp hành ngân sách đồng thời thể hiện được tínhpháp lý của ngân sách, thể hiện quyền chủ sở hữu ngân sách nhà nước; thể hiện

vị trí, vai trò, chức năng của NSNN

Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi là các quan hệ lợiích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cánhân… trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụngquỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, phát sinh khi Nhà nước tham gia vào quátrình phân phối các nguồn tài nguyên chính quốc gia

1.1.2 Vai trò của Ngân sách nhà nước

Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường về mặt chi tiêu có thể đềcập đến nhiều nội dung và những biểu hiện đa dạng khác nhau, song có thể kháiquát trên những khía cạnh sau:

Trang 3

Một là, vai trò của một ngân sách tiêu dùng đảm bảo hay duy trì sự tồn tại

và hoạt động của bộ máy nhà nước NSNN đảm bảo tài chính cho bộ máy củanhà nước bằng cách khai thác, huy động các nguồn lực tài chính từ mọi lĩnh vực,mọi thành phần kinh tế, dưới các hình thức bắt buộc hay tự nguyện Trong đó,quan trọng nhất vẫn là nguồn thu từ thuế Việc khai thác, tập trung các nguồn tàichính này phải được tính toán sao cho đảm bảo được sự cân đối giữa nhu cầu củaNhà nước với doanh nghiệp và dân cư, giữa tiêu dùng và tiết kiệm…

Hai là, vai trò của ngân sách phát triển là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn

định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước Thông qua NSNN, Nhà nướcđịnh hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo các định hướng củaNhà nước cả về cơ cấu vùng, cơ cấu ngành Thông qua chi NSNN, Nhà nước đầu

tư cho kết cấu hạ tầng- lĩnh vực mà tư nhân sẽ không muốn tham gia hoặc khôngthể tham gia Nó tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, thứcđẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống dân cư

Ba là, NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã

hội và giải quyết các vấn đề xã hội Nền kinh tế thị trường với sức mạnh thần

kỳ của nó cũng luôn chứa đựng những khuyết tật mà nó không thể tự sửa chữa,đặc biệt là về mặt xã hội như bất bình đẳng về thu nhập, sự chênh lệch về mứcsống, tệ nạn xã hội… Do đó, NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiệncông bằng và giải quyết các vấn đề xã hội

1.2 Tổng quan về vay nợ của Chính Phủ (Nợ công)

1.2.1 Khái niệm

Nợ Chính phủ (hay còn gọi là nợ công hay nợ quốc gia) là tổng giá trị cáckhoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương tới địa phương đi vay.Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách Nhà nước vàthường được đo lường bằng phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội GDP

Thuật ngữ nợ chính phủ được sử dụng khá phổ biến trong các thống kê tàichính quốc gia và thống kê của các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệquốc tế hoặc Ngân hàng Thế giới Trong thống kê của các tổ chức tài chính quốc

Trang 4

tế, nợ chính phủ là tổng các khoản vay nợ trong và ngoài nước của chính phủ.Theo cách hiểu này, nợ chính phủ là số dư về nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi tạimột thời điểm đối với các khoản vay trong nước và vay nước ngoài của chínhphủ Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản, nợ công có nhữngđặc trưng cơ bản sau:

- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước

Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là 1 khoản nợ màNhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trảkhoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới 2 góc độ trựctiếp và gián tiếp

- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của các

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích làđảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay, đảm bảo cán cân thanhtoán vĩ mô, an ninh tài chính quốc gia và để đạt được những mục tiêu của quátrình sử dụng vốn Bên cạnh đó việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ýnghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội

- Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng công nợ là phát triểnkinh tế xã hội vì lợi ích chung

Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêngcủa bất kì cá nhân tổ chức nào mà vì lợi ích chung của đất nước Nhà nước làcủa dân do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết địnhdựa trên lợi ích của nhân dân, cụ thể là phát triển kinh tế xã hội và phải luôn coiđây là điều kiện quan trọng nhất

1.2.2 Phân loại nợ công

a, Theo nguồn gốc:

- Nợ trong nước: Là các khoản vay từ người cho vay trong nước

- Nợ nước ngoài: Là các khoản vay từ người cho vay nước ngoài

b, Theo thời hạn khoản nợ:

Trang 5

- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có kì hạn dưới 1 năm

- Nợ trung hạn: Là các khoản nợ có kì hạn từ 1 năm đến 10 năm

- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có kì hạn trên 10 năm

1.2.3 Các hình thức vay nợ của Chính phủ

Nợ chính phủ bao gồm tổng nợ trong và ngoài nước của chính phủ, tổngcác khoản vay nợ của khu vực tư có bảo lãnh của chính phủ (chủ yếu là nợ nướcngoài) và các khoản nợ của các tổ chức thuộc khu vực công Nợ chính phủ baogồm nợ của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Nói cách khác,

nợ chính phủ chỉ liên quan đến hoạt động vay nợ của các cơ quan chính phủthuộc đối tượng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và được phép vay nợtheo quy định của pháp luật

Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ nợ hiện hành(không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm củacác khoản vay nước ngoài của quốc gia Nợ nước ngoài còn có thể định nghĩa làkhoản vay của quốc gia đối với những chủ nợ cư trú ngoài phạm vi quốc gia(bao gồm cả những khoản nợ trong nước do người không cư trú tại quốc gia đónắm giữ)

Đối với khoản nợ mà Chính phủ, các tổ chức trong nước vay Chính phủ,vay các tổ chức và cá nhân nước ngoài có thể được xác định khá chính xác Đốivới khoản nợ của các chủ nợ không cư trú ở nội địa thì rất khó tổng hợp đầy đủ

và chính xác Bởi vì các khoản nợ này có thể được thực hiện bằng đồng nội tệhoặc ngoại tệ ngay trên thị trường nội địa, tiêu thức để xác định đó là khoản nợnước ngoài dựa trên cơ sở chủ nợ là người cư trú ở nước ngoài Vấn đề nàythường được biết đến dưới một tên gọi khác là đầu tư gián tiếp của nước ngoàiqua con đường phổ biến nhất là thị trường chứng khoán Các nhà đầu tư nướcngoài mua trái phiếu chính phủ trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì đượctổng hợp vào khoản nợ nước ngoài của Việt Nam

Để bảo đảm an toàn nợ của quốc gia và nợ của chính phủ, các nướcthường sử dụng các tiêu chí sau đây làm giới hạn vay và trả nợ: Thứ nhất, giới

Trang 6

hạn nợ quốc gia không vượt quá 50% – 60% GDP hoặc không vượt quá 150%kim ngạch xuất khẩu Thứ hai, dịch vụ trả nợ quốc gia không vượt quá 15% kimngạch xuất khẩu và dịch vụ trả nợ của chính phủ không vượt quá 10% chi ngânsách.

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tính toán nợ công

Nợ Chính phủ thường được tính toán đo lường bằng phần trăm so vớiGDP Nợ thường được tính tại từng thời kỳ, giai đoạn Khi tính toán nợ Chínhphủ ta thường hay vấp phải một số vấn đề sau:

a, Lạm phát:

Thâm hụt ngân sách thường không điều chỉnh ảnh hưởng của lạm pháttrong tính toán, vì trong chi tiêu Chính phủ các khoản trả lãi vay theo lãi suấtdanh nghĩa trong khi đáng lẽ nên tính theo lãi suất thực tế ( Lãi suất danh nghĩabằng lãi suất thực tế cộng tỷ lệ lạm phát) Trong những thời kỳ lạm phát cao và

nợ Chính phủ lớn thì ảnh hưởng của lạm phát là rất lớn tới nợ công

b, Tài sản đầu tư:

Các nhà kinh tế cho rằng nên trừ tổng tài sản của tài sản Chính phủ trongtính toán nợ Chính phủ Tuy nhiên, tính toán theo cách này sẽ gặp phải vấn đềnhững gì nên coi là tài sản của Chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thếnào

c, Các khoản nợ tiềm tàng (Nợ ngầm)

Các khoản chi trả trợ cấp cho hưu trí, bảo hiểm xã hội, … hay các khoảnChính phủ đứng ra bảo đảm cho các khoản vay mà trong tương lai không có khảnăng thanh toán cũng cần được tính vào nợ Chính phủ, bởi lẽ rốt cuộc đó cũng

là tiền do Chính phủ phải chi ra

1.3 Tổng quan về huy động vốn đầu tư

1.3.1 Khái niệm

Nhà nước huy động vốn là hình thức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi đểđáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Không những vậy, nó còn là biện phápđiều tiết vĩ mô thông qua việc huy động một phần quỹ tiêu dùng, qua phân phối

Trang 7

lại chuyển thành quỹ tích luỹ phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, cũng nhưđiều tiết số lượng tiền tệ và hướng lưu thông tiền tệ trên thị trường để phục vụcho nền kinh tế Nhà Nước huy động các nguồn tài chính nhàn rỗi trong xã hộibằng cách đi vay Vay nợ của Nhà Nước bao gồm:

Vay nợ trong nước từ các tầng líp nhân dân và các tổ chức kinh tế xã hội,vay Ngân hàng Việc vay này, được thực hiện dưới hình thức phát hành các công

cụ nợ của chính phủ (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) như các tín phiếu kho bạcNhà nước, trái phiếu Chính phủ

Vay nợ từ nước ngoài: Được thưc hiện thông qua các khoản viện trợ cóhoàn lại (một phần quan trọng trong nguồn vốn ODA) Vay nợ của chính phủcác nước, các tổ chức quốc tế và các công ty

Khi đi vay nợ Nhà Nước phải có giấy tờ vay nợ để đảm bảo Trái phiếuchính phủ là giấy chứng nhận vay nợ của chính phủ do Bộ Tài chính phát hành

có thời hạn với mệnh giá và lãi suất xác định Trong đó, có 2 loại trái phiếu: tráiphiếu vô danh và trái phiếu ký danh Trái phiếu vô danh là trái phiếu không ghitên người mua trên trái phiếu hoặc không dăng ký tên tại cơ quan phát hành tráiphiếu Trái phiếu ký danh được ghi tên người mua trên trái phiếu hoặc đăng kýtên tại cơ quan phát hành trái phiếu

1.3.2 Các hình thức trái phiếu Chính phủ

Gồm có 3 hình thức chủ yếu.

- Trái phiếu kho bạc Nhà Nước (hay còn gọi là tín phiếu kho bạc): là loạitrái phiếu ngắn hạn ( dưới 1 năm) dùng để huy động vốn bù đắp thiếu hụt tạmthời Ngân Sách Nhà nước Như vậy, ngay cả khi có bội thu ngân sách vẫn cầnphát hành trái phiếu kho bạc

Trên thị trường Việt Nam, trái phiếu kho bạc là công cụ phát hành rộngrãi và phổ biến nhất, là công cụ an toàn nhất (được xem như không rủi ro khithanh toán)

Trang 8

Trái phiếu kho bạc chủ yếu do các tổ chức tài chính tín dụng mua thôngqua hình thức đấu thầu Lãi suất trái phiếu kho bạc thông thường cao hơn lãisuất tiền gửi ngân hàng cùng kỳ hạn.

- Trái phiếu chính phủ: bao gồm trái phiếu ký danh và trái phiếu vô danh.Trái phiếu ký danh là loại trái phiếu có ghi tên cơ quan, đơn vị, cá nhân (gọi tắt

là người mua trái phiếu) trên chứng chỉ trái phiếu hoặc đăng kí tên tại cơ quanphát hành trái phiếu Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên ngườimua trên chứng chỉ trái phiếu hoặc đăng kí tên tại cơ quan phát hành Trái phiếuchính phủ có ba loại sau:

a Công trái quốc gia: là loại trái phiếu có thời hạn từ 1 năm trở lên, dùng

để huy động vốn bù đắp thiếu hụt Ngân Sách Nhà Nước và đáp ứng nhu cầu bổsung vốn đầu tư cho phát triển

b Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu có thời hạn từ 1 năm trở lên,dùng để huy động vốn cho từng công trình cụ thể theo kế hoạch đầu tư của NhàNước ( thường chính phủ cho phép chính quyền địa phương phát hành)

Trái phiếu thông qua kho bạc Nhà nước được sử dụng cho các mục tiêusau: Chi mua sắm, sửa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị, phương tiện làm việc,tài sản, chi mua sắm văn phòng phẩm, thuê trụ sở làm địa điểm, chi in Ên mẫubiểu sổ sách, chi cho các công tác thông tin tuyên truyền, chi cho hỗ trợ xâydựng đề án, hỗ trợ công tác nghiên cứu và triển khai các công trình ứng dụnghiện đại hoá công nghệ tin học

1.4 Mối quan hệ giữa nợ công và GDP

Thứ nhất, nợ công là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính

của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào sựphát triển kinh tế đất nước trơng ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy cơ gâytổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán gốc và lãi của nó

Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị

trường mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ

Trang 9

nhất khu nợ vượt mức 90 – 100% GDP, lúc này nợ càng tăng, tăng trưởng kinh

tế càng giảm đáng kể

Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế

thông qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó đem lại;

sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang pháttriển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia,cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa

Thứ tư, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau,

khi vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước thì vay nợ làtất yếu để phục vụ phát triển kinh tế Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi

ro do lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cục lên tăngtrưởng kinh tế, do đó vấn đề quả lý nợ hiệu quả đang trở lên cấp thiết

Thứ năm, nợ tích lũy theo thời gian và dòng chi trả nợ đã gây cản trở lớnđến tăng trưởng kinh tế do những trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảmbớt chi tiêu cho đầu tư phát triển của Chính phủ

Trang 10

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH VAY NỢ, HUY ĐỘNG VỐN

TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2014 2.1 Thực trạng tình hình vay nợ, huy động vốn tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2014.

Lần đầu tiên nhiều số liệu chi tiết về nợ công được người đứng đầu ngànhtài chính công bố tại diễn đàn Quốc hội

Trang 11

Nhìn vào biểu đồ thể hiện diễn biến nợ công giai đoạn 2001 – 2020 trên tathấy Nợ công của Việt Nam đang ở mức rất cao, Nợ công so GDP đã tăngnhanh, từ 51,7% năm 2010 lên 54,2% năm 2013 và 60,3% năm 2014 Dư nợcông đến cuối năm 2015 dự kiến khoảng 64%, tiến sát giới hạn được Quốc hộiphê duyệt (65% GDP) Tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân

Ngày đăng: 20/09/2017, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w