1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ưu nhược điểm của phương pháp tái cấp vốn tại NHNN VN trong những năm gần đây

30 3,6K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ưu nhược điểm của phương pháp tái cấp vốn tại NHNN VN trong những năm gần đây
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế và Kế hoạch
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 81,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài tiểu luận hay về phương pháp tái cấp vốn của NHTW, nên xem và tham khảo với các bạn học tài chính - ngân hàng

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG

BÀI THẢO LUẬN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

NHÓM 7

CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN: ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM NGHIỆP

VỤ TÁI CẤP VỐN CỦA NHTW TRONG CÁC NĂM GẦN ĐÂY VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP CHO NHTW

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là cáccông cụ của nó đang từng bước hình thành nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh

tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn

cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi vàgiải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, cácnhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc

tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ củachính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Trong chính sách tiền tê, nghiệp vụ tái cấp vốn là nghiệp vụ quan trọng củaNHTW,là một trong những công cụ điều hành CSTT quốc gia Với mục đích trau dồikiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách tiền tệ và tìm hiểusâu hơn về nghiệp cụ tái cấp vốn tại Việt Nam, chúng em quyết định chọn đề

tài : “ĐỀ TÀI : ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM NGHIỆP VỤ TÁI CẤP VỐN

CỦA NHTW TRONG CÁC NĂM GẦN ĐÂY VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP CHO NHTW”

Trong quá trình sưu tập và làm bài, chúng em phân ra nhiều phần khác nhau

để phân tích và có thể đứng ở một khía cạnh nào đó có thể hạn hẹp Chính sách tiền tệ của NHNN VN rất rộng lớn, có thể kiến thức của chúng em chưa đáp ứng được yêu cầu của các thầy (cô) yêu cầu Chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến từ các thầy (cô) và các bạn để bài tiểu luận của chúng em được tốt hơn nữa

Trang 3

NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN

I, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.KHÁI NIỆM.

2.MỤC ĐÍCH

3.NGUYÊN TẮC

4.CÁC HÌNH THỨC TÁI CHIẾT KHẤU Ở VIỆT NAM

II,ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA NGHIỆP VỤ TÁI CẤP VỐN CỦA NHTW TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

1.NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

Trang 4

I, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1,KHÁI NIỆM

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng thươngmai và các tổ chức tín dụng bao gồm các hoạt động: chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cho vay có đảm bảo bằng các chứng từ có giá

- NHTW luôn đóng vai trò chủ động trong quan hệ tín dụng

4.CÁC NGHIỆP VỤ TÁI CẤP VỐN Ở VIỆT NAM

4.1 Tái chiết khấu các chứng từ có giá:

Tái chiết khấu là việc NHTW thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, thuộc sở hữu của các ngân hàng Các giấy tờ có giá ngắn hạn này

đã được các ngân hàng chiết khấu trên thị trường thứ cấp Tái chiết khấu có thể

Trang 5

được coi là hình thức tín dụng có đảm bảo, trong đó các TCTD sử dụng các giấy tờ

có giá đủ điều kiện cầm cố để bảo đảm cho tiền vay tại NHTW

Với bản chất của loại cho vay dưới hình thức chiết khấu chứng từ có giá, đây là loại cho vay có mức độ rủi ro thấp nên lãi suất tái chiết khấu thường là lãi suất cho vay thấp nhất của NHTW Vì vậy NHTW thường xác định một hạn mức tái chiết khấu và đưa ra các điều kiện cụ thể đối với các chứng từ có giá được phép tái chiết khấu tại NHTW

Hạn mức tái chiết khấu: là mức dư nợ tối đa mà NHTW chấp nhận trong việc cấp tín dụng cho các NHTM Hạn mức tái chiết khấu được xác định trên cơ sở dự tính:

- mức tăng trưởng cơ số tiền MB

- mức thay đổi của tài sản có ngoại tệ ròng

- những thay đổi của tình trạng Ngân sách Nhà nước ảnh hưởng đến khoản mục tạm ứng cho ngân sách ròng nhằm đảm bảo mức tín dụng cung ứng cho các

NHTM nằm trong giới hạn mức tăng trưởng khối tiền cơ sở

Hạn mức tái chiết khấu được tính hàng năm và chia ra từng quý Việc phân bổ hạn mức tín dụng phụ thuộc vào quy mô hoạt động của từng ngân hàng cũng như

tỷ trọng khoản mục dư nợ tín dụng trên tổng tài sản có và được thông báo cho các ngân hàng hàng quý

* Điều kiện các loại giấy tờ có giá được chấp nhận:

- Tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác

do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ

- Phát hành bằng đồng Việt Nam và có thể chuyển nhượng được

- Thời hạn còn lại tối đa là 90 ngày trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước chiết khấu, tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá

- Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng nhà nước chiết khấu, tái chiết khấu trong trường hợp chiết khấu, tái chiết khấu có kỳ hạn

Trang 6

* Lãi suất tái chiết khấu:

Lãi suất tái chiết khấu do NHTW xác định căn cứ vào yêu cầu thực hiện CSTT, có tham khảo sự biến động của một số loại lãi suất ngắn hạn cùng kỳ hạn như: lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc phiên gần nhất, lãi suất thị trường liên ngân hàng và nhu cầu tín dụng của hệ thống các TCTD

* Phương thức giao dịch:

Trong trường hợp cần thiết và theo yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, NHTW có thể thực hiện chiết khấu hẳn thời hạn còn lại của chứng từ có giá hoặc chiết khấu có kỳ hạn kèm theo hợp đồng bán lại

Giá giao dịch (St) trong quan hệ tái chiết khấu được xác định dựa trên các yếu

tố sau đây:

+ Mệnh giá của chứng từ có giá (Gt)

+ Thời hạn còn lại của chứng từ có giá (Tc)

+ Lãi suất tái chiết khấu được NHTW xác định và công bố (Lsc)

+ Hoa hồng chiết khấu và thuế (nếu có) cũng được quy định cho từng loại Số tiền thanh toán khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu được xác định như sau:

St = (365 – Số ngày quy ước cho một năm)

Khi thực hiện chiết khấu có kỳ hạn giấy tờ có giá ngắn hạn, số tiền NHTW bán lại được xác định như sau:

Gbl = St

Trong đó: Gbl: là giá bán lại

St: là số tiền NHTW thanh toán khi chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn

Ls: là lãi suất trúng thầu phiên gần nhất

Tm: là thời gian NHTW chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn

Trang 7

4.2 Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các chứng từ có giá:

Khi có nhu cầu vay vốn, các TCTD có thể sử dụng các chứng từ có giá để cầm

cố làm đảm bảo cho khoản vay được yêu cầu tại NHTW Khi tái cấp vốn theo hình thức này, giá trị tiền vay được xác định theo một tỷ lệ phần trăm tính trên giá trị chứng từ có giá làm đảm bảo Tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc vào mức độ rủi ro của chứng từ có giá theo đánh giá của NHTW

* Điều kiện chứng từ có giá được chấp nhận:

+ Ngân hàng xin vay là người thụ hưởng hay nắm giữ hợp pháp

+ Giấy tờ có giá là Tín phiếu Kho bạc Nhà nước hoặc Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước

+ Được giao dịch, được thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người thứ ba theo quy định

+ Trường hợp giấy tờ có giá được phát hành theo hình thức ghi sổ phải có xác nhận

và đảm bảo của tổ chức có trách nhiệm thanh toán đối với giấy tờ có giá về việc sẽ thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước khi ngân hàng xin vay có nợ đến hạn nhưng chưa thanh toán

* Lãi suất cho vay:

Lãi suất hình thức cho vay cầm cố thế chấp thường được NHTW quy định cao hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng và biến động căn cứ vào mục tiêu chính sáchtiền tệ

* Quy trình, thủ tục cho vay:

Yêu cầu của loại cho vay này là các TCTD phải có uy tín với NHTW, có tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ quá hạn quá lớn, khả năng rủi ro thấp; các chứng từ được sử dụng làm đảm bảo cho khoản vay phải đạt các tiêu chuẩn: hợp pháp, hợp lệ, được phép giao dịch đảm bảo; người nhận nợ có khả năng tài chính tốt; thời hạn đáo hạn của chứng từ lớn hơn thời hạn xin vay của TCTD

NHTW thực hiện các nghiệp vụ cho vay khi tổ chức vay có nhu cầu vay và có đề

Trang 8

nghị vay sau khi gửi NHTW các giấy tờ sau:

+ Đơn xin vay với các nội dung cơ bản như tên, địa chỉ của tổ chức vay; số tiền vay; mục đích vay; cam kết về đảm bảo tiền vay, sử dụng tiền vay, trả nợ, trả lãi vàcác cam kết khác

+ Các tài liệu liên quan đến điều kiện vay vốn của tổ chức vay

+ Bảng kê chứng từ kèm theo các chứng từ đề nghị cầm cố đẻ vay vốn

Trên cơ sở thủ tục nhận nợ, tổ chức vay vốn chủ động trả nợ cho NHTW

4.3 Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng

Đây là hình thức tái cấp vốn của NHNN đối với các NHTM, dựa trên cơ sở các

hồ sơ tín dụng mà NHTM đã cho vay đối với khách hàng Theo nghiệp vụ này, NHTM phải xuất trình cho NHNN hồ sơ tín dụng đã được thẩm định và chấp nhận cho khách hàng vay mà chưa tìm được nguồn vốn cần thiết Căn cứ vào nhu cầu điều hòa khối cung tiền tệ, chỉ số phát hành tiền bổ sung trong năm do Chính phủ quyết định, cũng như nhu cầu vay vốn của NHTM, NHNN thẩm định hồ sơ để chấp nhận hoặc từ chối cho vay Trong trường hợp chấp nhận, NHNN cấp một khoản tín dụng cho NHTM với nguồn vốn cho vay là vốn dự trữ phát hành, trên cơ

sở đảm bảo các tài sản có của NHTM

Trang 9

II,ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM NGHIỆP VỤ TÁI CẤP VỐN CỦA NHTW TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

1 NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

- Năm 1999, với mục tiêu khuyến khích tăng trưởng kinh tế, khắc phục nguy cơ giảm phát ngân hàng nhà nước đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tái cấp vốn từ mức 1,1% tháng đầu năm xuống 0,5% tháng đồng thời quy chế về nghiệp

vụ chất khấu, tái chiết khấu đã được ban hành để phát triển một bước hiệu quả công cụ này trong các chính sách tiền tệ và tạo khả năng cân đối nguồn vốn hoạt động cho các ngân hàng Các giấy tờ có giá ngắn hạn được chiết khấu tại ngân hàng nhà nước là tín phiếu kho Bạc, trái phiếu ngân hàng nhà nước và các giấy tờ

có giá ngắn hạn khác do ngân hàng nhà nước quy định ở mỗi thời kỳ Mức lãi suất chiết khấu được công bố là 0,45% tháng

- Từ đầu năm đến cuối tháng 7/2000, nhằm khuyến khích mở rộng tín dụng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng nhà nước đã 2 lần giảm lãi suất tái cấp vốn từ 0,5% tháng xuống 0,45% tháng vào ngày 31/3/2000 và ngày 31/7/2000 tiếp tục giảm xuống 0,4% tháng Đồng thời ngân hàng nhà nước cũng giảm lãi suất tái chiết khấu từ 0,45% tháng xuống còn 0,4% tháng vào tháng 3/2000 và xuống 0,35% tháng vào tháng 7/2000 Tuy vậy cho đến tháng 9/2000 để hạn chế các tổ chức tín dụng bù đắp thiếu hụt thanh toán qua hình thức vay tái cấp vốn, tái chiết khấu từ ngân hàng nhà nước và khuyến khích thực hiện bù đắp qua thị trường mở nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường này, đồng thời tạo tín hiệu cho các tổ chức tín dụng tăng lãi suất huy động, ngày 2/11/2000 ngân hàng nhà nước đã điềuchỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn lên 0,5% tháng và tăng lãi suất tái chiết khấu lên 0,45% tháng

Trang 10

Giai đoạn 2001 – 2005 thế giới trải qua một thời kì phát triển đầy biến động và mất cân bằng do những thay đổi lớn như giá dầu tăng nhanh đến mức kỷ lục, kinh

tế Mỹ thâm hụt kép, đồng USD mất giá gây ra những xáo trộn lớn trên thị trường ngoại hối toàn cầu,… Trước bối cảnh đó, VN cũng chịu ảnh hưởng nhẹ, do đó, Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách nới lỏng tài chính công và chính sách tiền tệ để đóng góp vào việc phục hồi kinh tế và kích thích khu vực tư nhân đầu

tư phát triển NHNN đã liên tục cắt giảm lãi suất trong năm 2001 để kích thích tăng trưởng tín dụng Nhưng sang năm 2002, thị trường trong nước tăng trưởng mạnh hơn và bắt đầu có những dấu hiệu tăng lạm phát, đòi hỏi Chính phủ phải hếtsức thận trọng trong điều hành chính sách tiền tệ để đạt cả hai mục tiêu là tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát Lãi suất và tỷ giá được điều hành linh hoạt, phù hợp với thị trường, đã góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Các công cụ chính sách tiền tệ như thị trường mở, dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ đã được điều hành kết hợp tương đối đồng bộ, linh hoạt để đảm bảo sự ổn định của thị trường tiền tệ Đặc biệt trong năm 2003, NHNN lần đầu tiên cho phép một số NHTM thực hiện nghiệp vụ Option – quyền lựa chọn tiền tệ, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm rủi ro

Năm 2004 – 2005 là những năm cuối cùng của giai đoạn kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của VN nhưng chúng ta lại bắt đầu phải đối mặt với lạm phát tăng lên sau thời kì dài khắc phục khủng hoảng Thêm vào đó, tình hình thiên tai, dịch bệnh lan tràn càng đẩy chỉ số CPI gia tăng mạnh, kéo theo lạm pháttrong nước tăng cao Điều này buộc Chính phủ nước ta phải kịp thời tìm cách khắc phục với công cụ chính yếu để kiểm soát lạm phát là chính sách tiền tệ Theo đó, NHNN quyết định tăng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM từ 2% lên

Trang 11

5% với tiền gửi nội tệ và từ 4% lên 8% đối với tiền gửi ngoại tệ cho các khoản tiền gửi ngắn hạn; tăng lãi suất, siết chặt tín dụng và duy trì mức tăng tín dụng năm 2004 là 25%; duy trì tương đối ổn định tỷ giá hối đoái Các công cụ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, tái chiết khấu cũng được NHNN sử dụng thường xuyên, linh hoạt để thực hiện mục tiêu điều hành CSTT của NHNN Điều này đưa đến kết quả trong năm 2005 rất đáng khích lệ khi tăng trưởng GDP đạt 8,43%, cao nhất so với 9 năm trước đó và so với các nước khu vực Đông Á, VN cao đứng thứhai sau Trung Quốc Mức tăng trưởng cao của năm 2005 đã góp phần quyết định việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP trung bình 7,5%/năm được đề ra trong

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 – 2005

Các chỉ tiêu GDP và CPI giai đoạn 2001 – 2005

GDP(%) 6.84 7.04 7.24 7.69 8.43

Nguồn : Thống kê từ NHNN và Tổng cục Thống kê

Năm 2006, VN vẫn tiếp tục phải đối phó với lạm phát ngày càng tăng cao Do

đó, Chính phủ tiếp tục duy trì và thực hiện linh hoạt chính sách tiền tệ thắt chặt đã

áp dụng từ cuối 2005 nhằm kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định môi trường kinh

tế vĩ mô, tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế Theo đó, trong năm 2006, NHNN vẫn giữ nguyên các mức lãi suất chính thức nhằm tránh phát tín hiệu làm tăng lãi suất thị trường, giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm áp lực tăng lãi suất huy động trên thị trường, tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý Kết quả là tổng phương tiện thanh toán năm 2006 đã được giữ ở mức tăng 33,59% so với năm

2005, nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng 29,65% của năm 2005; tín dụng tăng chậm lại nhưng chất lượng tín dụng được nâng cao; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng tăng 22,2%; tốc độ tăng GDP đạt 8,17%, tốc độ tăng CPI giảm còn 6,6%

Trang 12

Năm 2007, tình hình kinh tế thế giới lại trải qua những xáo trộn mạnh, đặc biệttrên thị trường tài chính do xuất phát từ cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ và giá dầu tăng lên mức kỷ lục 100 USD/thùng Trong khi đó, lạm phát ở nền kinh tế VN đang ngày càng gia tăng Trước tình hình này, NHNN đã thực hiện điều tiết cung tiền thông qua một số công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và

ổn định nền kinh tế vĩ mô như: tăng cường hoạt động thị trường mở, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gấp 1,5 – 2 lần, kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ Nhưng để tránh tác động không thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất như lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm, lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm, lãi suất qua đêm, lãi suất tiền gửi tại NHNN nhằm ổn định thị trường; bỏ quy định trần lãi suất tiền gửi bằng USD đối với pháp nhân kể từ ngày 1/1/2007 Bên cạnh

đó, NHNN đã thực hiện, ban hành Chỉ thị 03/2007/CT – NHNN yêu cầu các

TCTD thực hiện kiểm soát tín dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng, tăng cường thanh tra giám sát hoạt động cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống TCTD Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng năm 2007 vẫn đạt rất cao, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tăng 53,89% so với năm 2006 Cũng trong năm, bên cạnh việc đưa 144.000 tỷ VND ra thị trường để mua 9 tỷ USD tăng dự trữ ngoại hối; NHNN đã nới lỏng biên độ tỷ giá từ +/- 0,25% lên +/-0,5% và +/-0,75% nhằm giảm áp lực lạm phát, tăng tính chủ động cho các TCTD trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ Kết quả là tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8,48%, nhưng lạm phát cũng tăng từ 7,45% lên 8,3%

Các chỉ tiêu GDP và CPI giai đoạn 2006 – 2008

Trang 13

Nguồn : Thống kê từ NHNN và Tổng cục Thống kê

- Như vậy công cụ cho vay tái chiết khấu đã dần được áp dụng theo đúng bản chấtcủa nó là tín hiệu cho các ngân hàng thương mại điều chỉnh lãi suất cùng với sự phát triển của thị trường ở Việt Nam, trở thành công cụ đắc lực của chính sách tiền tệ quốc gia…

trường trong từng thời kỳ

- Thứ hai, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng thương mại, góp phần

ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại trong những năm vừa qua Thông thường, vào các thời điểm cuối năm và gần Tết Nguyên đán thường xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn vốn thanh toán của các ngân hàng thương mại do nhu cầu rút tiền của khách hàng, có những ngày lên tới hàng ngàn tỷ đồng Đặc biệt,

sự thiếu hụt này thường mang tính hệ thống, do vậy, bất cứ một khâu nào gặp áchtắc sẽ kéo theo hàng loạt các sự cố tiếp theo Do vậy, hoạt động tái cấp vốn của NHNN đã góp phần hỗ trợ các tổ chức tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán, qua đó, duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ Đồng thời, hoạt động tái cấp vốn còn có vai trò trong việc hỗ trợ vốn ngắn hạn, các nhu cầu bất thường xảy ra

Trang 14

nhằm hỗ trợ các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán Trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Á Châu vào tháng 10/2003 và NHTMCP nông thôn Ninh Bình (nay là NHTMCP Dầu khí toàn cầu) là ví dụ điển hình Trước những tin đồn thất thiệt, khách hàng của ngân hàng đã ồ ạt đến rút tiền trước hạn, bất ngờ trước phản ứng mang tính dây chuyền của khách hàng, ngân hàng rơi vào tình trạng bị động trong cân đối nguồn vốn đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng Tuy nhiên, với vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN đã kịpthời hỗ trợ khả năng thanh toán cho 2 ngân hàng dưới hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá

- Thứ ba, so với trước đây, thời gian xử lý đề nghị xin vay cầm cố đã được rút ngắn chỉ còn 2 ngày (trước đây thường 3 đến 4 ngày)

Thứ tư, chủng loại giấy tờ có giá chấp thuận sử dụng trong quan hệ vay vốn với NHNN ngày càng được mở rộng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại trong quan hệ vay vốn với NHNN

Nhược điểm:

- Giai đoạn này, chúng ta còn thiếu tiền đề quan trọng để thực hiện nghiệp vụ này, đó là việc sử dụng thương phiếu chưa phát triển phổ biến trong các giao dịch thương mại; công cụ mà ngân hàng nhà nước thực hiện nghiệp vụ này là các tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng nhà nước Theo lý thuyết, lượng tiền phát hành vào lưu thông qua con đường tái chiết khấu sẽ phù hợp hơn nếu có được dựa trên các thương phiếu (vì lượng tiền đó được bảo đảm bằng sự gia tăng khối lượng hàng hóa của nền kinh tế)

- Việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán của các ngân hàng thương mại thời gian này là quá dễ dãi theo nguyên lý phát hành tiền

Nó có thể đáp ứng nhu cầu trước mắt của các ngân hàng thương mại nhưng nó cũng dễ phát sinh các tiêu cực trong quá trình thực hiện, chưa kích thích sự năng

Trang 15

động của các ngân hàng thương mại Như vậy sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát, gây bất

ổn đối với giá trị đồng tiền quốc gia

- Trong điều hành chính sách chiết khấu dường như ta chỉ nặng về điều chỉnh lãi suất chiết khấu mà chưa chú ý đến “cửa sổ chiết khấu” của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng thương mại (vì quy mô cung ứng cho vay chiết khấu của ngân hàng nhà nước đối với các ngân hàng thương mại cũng phải căn cứ vào thực lực của chính các ngân hàng đó)

- Mặt khác việc áp dụng lãi suất chiết khấu nhiều khi con mang nặng tính bao cấp (điều này thể hiện rõ ở việc ưu tiên cho ngân hàng thương mại quốc doanh) do vậy vai trò “người cho vay cuối cùng” đối với mọi tổ chức tín dụng của ngân hàng thương mại chưa thực sự thể hiện rõ nét

2 NĂM KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008

Trong những tháng đầu năm 2008, trước bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm

và tình hình kinh tế trong nước diễn biến phức tạp, Chính phủ đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm là: “Kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu” và đề ra 8 nhóm giải pháp để triển khai thực hiện Một trong số những giải pháp đó là: Đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, điều chỉnh tăng hợp lý các mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu nhằm tạo hành lang lãi suất phù hợp với định hướng kiểm soát tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

và từng bước đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền

Từ ngày 01/02/2008, Ngân hàng Nhà nước đồng loạt tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu

Ngày 30/01/2008, Ngân hàng Nhà nước thông báo quyết định số NHNN điều chỉnh các lãi suất nói trên, sau hai năm duy trì (từ tháng 12/2005) Cụ

Ngày đăng: 24/12/2013, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w