1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tình hình lạm phát của Việt Nam trong năm 2010 – 2014? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam”

39 527 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Lạm Phát Của Việt Nam Trong Năm 2010 – 2014? Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Nam Sơn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

    • 1.3.2.1. Xét về mặt định luợng

    • 1.3.2.2. Xét về mặt định luợng

  • CHƯƠNG 2:

  • TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VIỆT NAM 2010 – 2014, NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    • 2.1.1. Tình hình lạm phát trong năm 2010

    • 2.1.2. Tình hình lạm phát trong năm 2011

    • 2.1.3. Tình hình lạm phát trong năm 2012

    • 2.1.4. Tình hình lạm phát trong năm 2013

    • 2.1.5. Tình hình lạm phát trong năm 2014

    • 2.2.1 Nhà nước chủ trương phát triển kinh tế ở mức độ cao bằng mọi giá.

    • 2.2.2 Do tính quy luật về quan hệ cung cầu hàng hóa theo mùa trong năm

    • 2.2.3 Do chính sách xã hội hoá học tập và giá một số mặt hàng do nhà nước quản lý định hướng giá sang cơ chế thị trường.

  • CHƯƠNG 3.

  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

  • KẾT LUẬN

  • MỤC LỤC

Nội dung

GIỚI THIỆU CHUNG

Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách xã hội lựa chọn và sử dụng nguồn tài nguyên hạn chế để sản xuất hàng hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người.

Kinh tế học là một “khoa học về sự lựa chọn”? a, Sản xuất ra cái gì và sản xuất bao nhiêu?

Xuất phá từ: nguồn tài nguyên là có hạn >< nhu cầu của con người là vô hạn b, Sản xuất như thế nào?

Nguồn tài nguyên có hạn, sản xuất thế nào để mang lại hiệu quả cao c, Sản xuất cho ai hay phân phối như thế nào?

Việc phân phối có liên quan hết sức mật thiết đến thu nhập sở thích.

1.2 Kinh tế học vĩ mô

Kinh tế vĩ mô nghiên cứu hoạt động của nền kinh tế quốc dân, tập trung vào các vấn đề then chốt mà các quốc gia trong cơ chế thị trường thường gặp phải, bao gồm: tăng trưởng nhanh và ổn định, kiềm chế lạm phát, tạo ra việc làm cho người lao động, ổn định tỷ giá hối đoái và cân bằng cán cân thanh toán, cũng như phân bổ nguồn lực hợp lý và phân phối của cải công bằng trong xã hội.

Kinh tế vĩ mô là lĩnh vực trong kinh tế học tập trung vào việc phân tích sự chuyển động và các mối quan hệ kinh tế quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân của một quốc gia.

Kinh tế học vĩ mô tập trung vào các vấn đề quan trọng như mức sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp, giá cả chung và cán cân thương mại Phân tích này nhằm tìm hiểu các yếu tố quyết định giá trị hiện tại của những biến số này, cũng như nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của chúng trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Kinh tế vĩ mô tập trung vào việc phân tích các lựa chọn của quốc gia liên quan đến các vấn đề kinh tế và xã hội quan trọng, bao gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hóa và vốn, cùng với sự phân phối nguồn lực và thu nhập trong xã hội.

Một quốc gia có nhiều lựa chọn khác nhau dựa trên các ràng buộc về nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị - xã hội Tuy nhiên, để đưa ra sự lựa chọn đúng đắn, cần có sự hiểu biết sâu sắc về các hoạt động khách quan trong hệ thống kinh tế.

Kinh tế học vĩ mô chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích cân bằng tổng thể, trong đó xem xét sự cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường như thị trường hàng hóa, thị trường yếu tố đầu vào và thị trường tài chính Phương pháp này đánh giá khả năng cung cấp sản lượng và tiêu dùng toàn bộ nền kinh tế, từ đó xác định mức giá cả và sản lượng cân bằng Đây là yếu tố quyết định hiệu quả của hệ thống kinh tế.

Việc khảo sát các biến số kinh tế vĩ mô trong các khoảng thời gian khác nhau, bao gồm hiện tại, ngắn hạn và dài hạn, yêu cầu áp dụng các mô hình phù hợp để xác định các yếu tố quyết định Kinh tế học vĩ mô cung cấp kiến thức và công cụ phân tích cần thiết, được tổng hợp từ nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học kinh tế qua các thế hệ.

Kinh tế vĩ mô áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và phân tích, bao gồm tư duy trừu tượng, phân tích thống kê số lớn, và mô hình toán học Đặc biệt, các mô hình kinh tế lượng đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và hiểu rõ các vấn đề kinh tế vĩ mô.

1.3 Cơ sở lý luận chung về lạm phát

Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.

Lạm phát là sự mất giá trị thị trường hoặc giảm sức mua của đồng tiền trong một nền kinh tế Khi so sánh với các nền kinh tế khác, lạm phát thể hiện sự phá giá của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Theo nghĩa đầu tiên, lạm phát được hiểu là sự biến động của đơn vị tiền tệ trong quốc gia, trong khi theo nghĩa thứ hai, nó phản ánh tình trạng của tiền tệ trên thị trường toàn cầu Một chỉ số lạm phát bằng 0 hoặc chỉ số dương nhỏ được gọi là sự "ổn định giá cả".

Giảm phát là hiện tượng mức giá chung trong nền kinh tế liên tục giảm, có thể hiểu là lạm phát với tỷ lệ âm Tình trạng này thường xảy ra trong bối cảnh kinh tế suy thoái hoặc đình trệ.

Giảm lạm phát là hiện tượng tỷ lệ lạm phát giảm, tức là mặc dù giá cả vẫn tăng, nhưng tốc độ tăng giá diễn ra chậm hơn so với trước đây.

Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau:

1.3.2.1 Xét về mặt định luợng

Dựa trên độ lớn nhỏ của tỷ lệ % lạm phát tính theo năm ,người ta chia lạm phát ra thành:

Lạm phát vừa phải được định nghĩa là mức lạm phát với tỷ lệ tăng giá từ 0.3% đến dưới 10% mỗi năm Đây là mức lạm phát mà nền kinh tế có thể chấp nhận, và những ảnh hưởng tiêu cực của nó thường không đáng kể.

Lạm phát phi mã là hiện tượng khi mức lạm phát đạt từ hai đến ba chữ số trong một năm, phản ánh sự gia tăng giá cả nhanh chóng và mạnh mẽ.

Siêu lạm phát là tình trạng lạm phát mất kiểm soát, nơi giá cả tăng nhanh chóng do tiền tệ mất giá trị Đây là loại lạm phát có tỷ lệ lên đến hàng ngàn phần trăm, thể hiện sự khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.

1.3.2.2 Xét về mặt định luợng

+ Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng;

- Lạm phát cân bằng: khi nó tăng tương ứng với thu nhập, do vậy loại lạm phát này không ảnh hưởng đến đời sống của người lao động

- Lạm phát không cân bằng: tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứngvới thu nhập trên thực tế lạm phát không cân bằng thường hay xảy ra nhất.

+ Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường:

Tình hình lạm phát trong năm 2010

Năm 2010, lạm phát ở Việt Nam đạt mức 11,75%, với chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 1,98% Mức lạm phát này cao hơn gần 5% so với mục tiêu 8% mà Quốc hội đặt ra đầu năm.

Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổng cục thống kê) thì lạm phát năm 2010 tăng 9.19% so với năm 2009.

Biểu : Chỉ số giá tiêu dùng năm 2010 ( nguồn: Tổng cục thống kê)

Lạm phát trong năm ghi nhận sự biến động lớn, với mức tăng giữa tháng cao nhất và thấp nhất chênh lệch hơn 1,5% Trong 3 tháng đầu năm, CPI tăng cao nhưng sau đó giảm xuống gần 0% trong 5 tháng tiếp theo Tuy nhiên, từ tháng 9 đến tháng 11, mức tăng lại vượt lên, đạt kỷ lục trong 15 năm qua, với 4 tháng cuối năm có chỉ số vượt 1%.

Trong năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, với CPI giáo dục tăng gần 20%, tiếp theo là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%) Các ngành giao thông, hàng hóa và dịch vụ khác cũng có mức tăng trên 10% Đáng chú ý, nhóm bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% Chỉ số giá vàng tăng 36,72%, trong khi chỉ số giá USD tăng 7,63% Về mặt địa lý, CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%, cao hơn mức 1,87% của khu vực thành thị.

Tình hình lạm phát trong năm 2011

Chỉ số giá tiêu dùng khẳng định xu hướng tăng nhẹ trong quý IV khi công thêm 0,53% trong tháng 12 Tính chung trong cả năm 2011, lạm phát cả nước đạt 18,58%.

Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 và cả năm 2011, cho thấy CPI tháng 12 tăng 0,53%, cao hơn 2 tháng trước So với cùng kỳ năm 2010, CPI tháng 12/2011 đã tăng 18,13% Tính chung cả năm 2011, mức tăng giá đạt 18,58% so với năm trước.

Biểu: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 Số liệu: GSO

Trong tháng 12, lương thực ghi nhận mức tăng giá mạnh nhất với 1,4%, trong khi giá thực phẩm cũng phục hồi tăng 0,49% sau ba tháng giảm liên tiếp Khu vực ăn uống ngoài gia đình tăng 0,57%, góp phần làm chỉ số hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69%, từ đó ảnh hưởng lớn đến sự gia tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Trong tháng vừa qua, mặt hàng may mặc, mũ nón và giầy dép ghi nhận mức tăng giá mạnh nhất với 0,86%, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ tăng cao tại miền Bắc trong mùa đông Các nhóm hàng khác như nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68%, trong khi hàng hóa và dịch vụ khác cũng tăng 0,6%, phản ánh xu hướng tiêu dùng vào cuối năm Hầu hết các nhóm hàng còn lại chỉ tăng giá dưới 0,5% do chưa bị ảnh hưởng bởi đợt tăng giá điện gần đây, trong khi nhóm bưu chính và viễn thông lại giảm giá gần 0,1%.

Tình hình lạm phát trong năm 2012

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm nay tăng 0,27% so với tháng 11 và tăng 6,81% so với tháng 12 năm 2011 Bình quân năm 2012, CPI tăng 9,21% so với năm 2011.

Biểu: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 Số liệu: GSO

Tháng 12 so với tháng 11, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng mạnh nhất, tới 1,17% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng cao hơn mức tăng chung nhưng cũng đều dưới 1% là thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,34%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,32%.

Nhóm hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là thực phẩm và dịch vụ ăn uống, với mức tăng khiêm tốn 0,28% Cụ thể, lương thực tăng 0,13%, thực phẩm tăng 0,28%, và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,4%.

Trong tháng này, các nhóm hàng "nhạy cảm" như nhà ở và vật liệu xây dựng chỉ tăng 0,15%, thấp hơn mức tăng chung Nhóm giáo dục cũng ghi nhận mức tăng khiêm tốn 0,09%, trong đó dịch vụ giáo dục chỉ tăng 0,05% Đặc biệt, nhóm giao thông lại giảm 0,43%.

Sau 2 tháng liên tiếp tăng kỷ lục tới 10-20%, Chính phủ yêu cầu giãn thời gian tăng giá viện phí thì các thuốc và dịch vụ y tế chỉ còn tăng 0,14%, trong đó, dịch vụ y tế tăng 0,03%.

Nhìn lại năm 2012, Tổng cục Thống kê đánh giá, lạm phát năm nay chỉ

“nhỉnh” hơn mức tăng 6,52% của năm 2009 – năm suy giảm kinh tế mạnh và thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13% của năm 2011.

Dù cách xa so với mục tiêu CPI đề ra ban đầu thì năm 2012 vẫn là năm giá có nhiều biến động bất thường.

Cơ quan này cho biết, chỉ số CPI đã tăng nhẹ trong hai tháng đầu năm, cụ thể là 1,0% vào tháng 1 và 1,37% vào tháng 2 Tuy nhiên, mức tăng cao nhất xảy ra vào tháng 9 với 2,20%, chủ yếu do ảnh hưởng từ nhóm thuốc, dịch vụ y tế và nhóm giáo dục.

Trong những tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã có dấu hiệu chậm lại, với 7 tháng trong năm ghi nhận mức tăng dưới 1% và phần lớn thời gian chỉ tăng dưới 0,5% Đặc biệt, CPI không giảm sau Tết âm lịch mà lại giảm vào tháng 6 và tháng 7, điều này tạo ra sự khác thường trong thị trường giá cả trong nước năm nay.

Vào tháng 12 năm 2012, chỉ số giá vàng tăng 0,46% so với tháng trước và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2011 Trong khi đó, chỉ số giá đô la Mỹ ghi nhận mức tăng 0,03% so với tháng trước nhưng giảm 0,96% so với tháng 12 năm 2011.

Tình hình lạm phát trong năm 2013

Tổng cục Thống kê (TCTK) vừa công bố Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2013, ghi nhận mức tăng 0,51% so với tháng trước Tính chung cả năm 2013, CPI cả nước chỉ tăng 6,04%.

Mức tăng 6,04% của giá cả năm nay cũng được ghi nhận là thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây (Năm 2004 tăng: 9,5%; năm 2005: 8,4%; năm

2006: 6,6%; năm 2007: 12,63%; năm 2008: 19,89%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%; năm 2012: 6,81%; năm 2013: 6,04%).

TCTK cho biết CPI năm nay ghi nhận sự tăng cao vào quý I và quý III, với mức tăng bình quân tháng đạt 0,8% Trong khi đó, quý II và quý IV có CPI tương đối ổn định, với mức tăng bình quân tháng chỉ đạt 0,4%.

Trong tháng 12-2013, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng ghi nhận mức tăng giá cao nhất với 2,31%, tiếp theo là may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,57%, và hàng ăn cùng dịch vụ ăn uống tăng 0,49% (trong đó lương thực tăng 1,22%, thực phẩm tăng 0,38%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,17%) Các lĩnh vực văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%, thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08% (dịch vụ y tế tăng 0,02%), và giáo dục tăng 0,02% Ngược lại, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá giảm nhẹ, bao gồm giao thông giảm 0,23% và bưu chính viễn thông giảm 0,01%.

Theo TCTK, CPI năm nay tăng chủ yếu do giá các mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước quản lý được điều chỉnh Cụ thể, 17 tỉnh, thành phố đã điều chỉnh giá dịch vụ y tế, khiến CPI nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 18,97% so với tháng 12 năm trước, đóng góp gần 1,1% vào chỉ số chung Ngoài ra, lộ trình tăng học phí tại các địa phương đã làm CPI nhóm giáo dục tăng 11,71%, góp phần tăng khoảng 0,7% cho chỉ số chung Giá xăng dầu, mặc dù có sự điều chỉnh tăng và giảm, vẫn tăng 2,18% trong cả năm, đóng góp 0,08% vào CPI chung Giá điện cũng tăng 10%, đẩy CPI chung tăng khoảng 0,25%, trong khi giá gas tăng gần 5%, góp phần tăng 0,08% cho CPI cả nước.

TCTK chỉ ra rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng CPI, bao gồm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người dân và nhu cầu cho sản xuất tăng cao vào dịp cuối năm, cùng với tác động của thiên tai và mưa bão.

Biểu: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2013 Số liệu: GSO

Tình hình lạm phát trong năm 2014

Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong tháng 12/2014 giảm 0,24% so với tháng trước, kết thúc năm với mức tăng chỉ 1,84%, mức thấp nhất trong 13 năm qua.

Biểu: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2014 Số liệu: GSO

Tính từ 1998 trở lại đây, việc CPI giảm ở tháng cuối năm mới chỉ xảy ra ở

Năm 2008 và 2014 đánh dấu những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế Việt Nam khi phải đối mặt với tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dựa trên số liệu từ năm 1998, năm mà Việt Nam chính thức áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong việc tính toán chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Như vậy, việc CPI năm nay tăng thấp kỷ lục đã lại phá vỡ "quy luật" tăng ở tháng cuối năm

So với những năm gần đây, CPI năm nay tăng thấp nhờ vào sự ảnh hưởng giảm từ các nhóm hàng do nhà nước quản lý, đặc biệt là dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế, bên cạnh các yếu tố cung cầu của thị trường.

Năm 2014, chỉ có 4 tỉnh thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo Thông tư 04/2012/TTLT-BYT-BTC, đồng thời cũng là năm cuối của chu kỳ điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP, dẫn đến mức độ điều chỉnh giá thấp hơn nhiều so với các năm trước.

Trong năm 2014, chỉ số giá dịch vụ y tế và giáo dục tăng lần lượt 2,2% và 8,96% so với tháng 12 năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 23,51% và 12,82% của năm 2013.

CPI tháng 12 năm nay giảm so với tháng trước chủ yếu do tác động của các đợt giảm giá xăng dầu liên tiếp trong thời gian qua

Cước vận tải bằng xe khách và taxi đã giảm, dẫn đến chỉ số giá nhóm giao thông giảm 3,09%, mức giảm mạnh nhất trong tháng, bên cạnh tác động trực tiếp của xăng dầu vào chỉ số CPI.

Xét cả năm 2014, đây cũng là nhóm có mức giảm mạnh nhất trong 11 nhóm hàng chính tính chỉ số giá với mức giảm 5,57% so với tháng 12 năm 2013.

Giá xăng dầu giảm đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, trong đó có nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng, điện, nước và chất đốt, với mức giảm 0,99% so với tháng trước.

Giá dầu thô thế giới giảm mạnh đã kéo theo sự sụt giảm giá xăng dầu và các sản phẩm chiết xuất từ dầu mỏ Từ ngày 1/12/2014, giá gas bán lẻ trong nước cũng được điều chỉnh, giảm khoảng 13 nghìn, xuống còn khoảng 330 nghìn đồng cho bình 12 kg.

Giá dầu hỏa giảm gần đây đã ảnh hưởng đến chỉ số chung của nhóm hàng, trong khi các mặt hàng vật liệu xây dựng không tăng giá do không phải mùa xây dựng Đây là hai nhóm duy nhất ghi nhận sự giảm giá trong tháng Ngược lại, nhóm bưu chính viễn thông đã tăng giá 0,8% so với tháng trước, đánh dấu mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2008 sau 4 năm chỉ dao động không quá 0,2% Tuy nhiên, do quyền số nhỏ, tác động của mức tăng này lên chỉ số chung không lớn.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã ghi nhận sự tăng trưởng 0,08% so với tháng trước, trong đó lương thực tăng 0,14%, thực phẩm tăng 0,05% và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,07%.

Theo đánh giá, sự tăng trưởng của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống trong tháng cuối năm bị hạn chế, một phần nhờ vào sự giảm mạnh giá xăng dầu, dẫn đến chi phí vận chuyển, đặc biệt là đối với các mặt hàng tươi sống, cũng giảm theo.

Các nhóm hàng còn lại tăng nhẹ dưới 0,5% so với tháng trước.

2.2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 2010 - 2014

Nhà nước chủ trương phát triển kinh tế ở mức độ cao bằng mọi giá

Vào ngày 08/11/2010, chính phủ Việt Nam đã đặt ra các chỉ tiêu phát triển kinh tế không thực tế, với mục tiêu tăng trưởng 7%-7.5% mỗi năm trong 5 năm tới và 7%-8% cho giai đoạn 2011-2020 Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với mức lạm phát cao 11.75% vào năm 2010, vượt xa các nước láng giềng Chính phủ không thể tập trung vào phát triển kinh tế cao trong bối cảnh phải kiểm soát lạm phát Để đạt được các mục tiêu phát triển, chính phủ đã gia tăng đầu tư công thông qua các doanh nghiệp nhà nước, dẫn đến việc tăng cầu tín dụng Điều này cho thấy lạm phát chủ yếu xuất phát từ sức cầu kéo Đến ngày 18/10/2011, tại nghị quyết 10/2011/QH13, chính phủ đã đề xuất điều chỉnh mục tiêu lạm phát xuống còn 6-6.5% nhằm ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô.

Do tính quy luật về quan hệ cung cầu hàng hóa theo mùa trong năm

Chỉ số CPI giữa các tháng trong năm 2010 – 2014 cho thấy xu hướng tăng cao vào đầu và cuối năm, đặc biệt là trước và sau Tết Dương lịch cũng như Tết Nguyên đán Thời điểm này, nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh trong khi cung hạn chế do thời tiết và mùa vụ sản xuất Đặc biệt, tháng 12/2010 ghi nhận mức tăng CPI cao nhất, gần 2%, và các tháng 2, 3, 4 năm 2011 cũng có mức tăng đáng kể từ 2% đến 3,32%.

Do chính sách xã hội hoá học tập và giá một số mặt hàng do nhà nước quản lý định hướng giá sang cơ chế thị trường

- Chính phủ cho phép điều chỉnh mức thu học phí từ tháng 9 và tháng 10-

Năm 2010, khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập tăng cao cùng với việc thực hiện lộ trình xã hội hóa học phí, nhiều UBND tỉnh đã điều chỉnh tăng học phí lên mức cao, dẫn đến chỉ số giá nhóm giáo dục tăng đột biến Đồ dùng học tập và học phí trở thành nhóm hàng có mức tăng giá cao nhất với tỷ lệ 19,38%.

- Việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số hàng hóa, dịch vụ như: Điều chỉnh tăng giá điện từ ngày 1-3-2010;

Tăng giá nước sinh hoạt;

Xăng dầu: thực hiện ba lần điều chỉnh tăng giá trong năm 2010 Tăng đột biến từ 16.400đ lên 19.300đ và lên 21.300đ trong năm 2011.

Tăng mức lương cơ bản.

Theo Nghị Quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011, nhà nước đã cho phép điều chỉnh giá xăng dầu trong nước để phù hợp với giá thế giới và giá điện theo cơ chế thị trường Việc tăng giá xăng và điện có tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực kinh tế, góp phần làm gia tăng lạm phát Đây chính là hiện tượng chi phí đẩy.

Biểu đồ giá xăng RON 92 từ đầu năm 2011 đến nay Sau điều chỉnh, giá xăng RON 92 chiều nay còn 17.871 đồng một lít (nguồn: Internet)

Việc tăng giá xăng tại Việt Nam là điều không thể tránh khỏi do giá xăng dầu thế giới tăng, trong khi nước ta nhập khẩu xăng dầu gấp nhiều lần so với xuất khẩu Giá xăng dầu được điều chỉnh theo Nghị Định 84/2009 của nhà nước, quy định cách tính giá cơ sở dựa trên công thức cụ thể.

Giá CIF cho xăng dầu tại Việt Nam bao gồm nhiều yếu tố như giá thế giới, phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển, thuế, phí, chi phí kinh doanh định mức và lợi nhuận định mức, nhưng công thức này không còn áp dụng mạnh mẽ gần đây do ngân sách quốc gia thiếu hụt và tình hình kinh tế bất ổn Chính phủ đã quyết định tăng giá xăng liên tục, trong khi giá điện cũng được bao cấp, với giá bán trung bình hiện nay chỉ 5.2 cent/kWh, bằng một nửa so với các nước trong khu vực, trong khi chi phí sản xuất lên tới 7-12 cent/kWh Việc hủy bỏ bao cấp là cần thiết, và EVN đã đề xuất tăng giá điện lên tới 9,5%, dự kiến giá mới sẽ là 1.652,19 đồng/kWh, tăng 146,34 đồng/kWh so với hiện tại Kể từ năm 2007, giá điện đã trải qua 9 lần tăng, với 4 lần tăng liên tiếp trong 2 năm qua, mỗi lần tăng chỉ 5%, trong khi mức tăng cao nhất là 15,28% vào ngày 15/3/2011.

Kể từ năm 2011, mức lương tối thiểu đã được thống nhất giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ năm 2007 đến 2013 cho thấy, từ năm 2012, tiền lương đã tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng giá.

Nguồn: Bộ Lao động, thương binh và xã hội - BizLIVE

Biểu: 9 lần thời điểm tăng giá bán điện của EVN (nguồn Internet )

2.2.4 Do thiên tai, dịch bệnh

Lúa ở miền Bắc đang đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là bệnh rầy Vụ Đông tại đây cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng khô hạn kéo dài và rét đậm Trong khi đó, miền Trung và Tây Nguyên chịu thiệt hại nặng nề do bão lụt, gây ảnh hưởng lớn đến mùa màng, thực phẩm, vật tư nông nghiệp và thiết bị nông nghiệp Ngoài ra, dịch cúm gia cầm và bệnh lở mồm long móng cũng đang là mối lo ngại lớn trong ngành nông nghiệp.

Giá điện, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu, lãi suất vốn vay và chi phí vốn vay đều tăng, dẫn đến chi phí đầu vào gia tăng Trong năm 2010, giá bán lẻ thức ăn chăn nuôi đã tăng 14 lần, từ 187.500 đồng/bao 25 kg vào tháng 1 lên 264.000 đồng/bao vào tháng 12 Sự gia tăng giá thức ăn chăn nuôi đã làm tăng giá thành sản phẩm chăn nuôi, trong khi dịch bệnh và thua lỗ đã khiến quy mô chăn nuôi thu hẹp, nguồn cung ra thị trường bị hạn chế, tiếp tục đẩy giá lên cao Thêm vào đó, hạn hán nghiêm trọng và rét đậm kéo dài ở phía Bắc đã làm giảm diện tích gieo trồng rau màu ven đô thị, dẫn đến nguồn cung cũng giảm.

2.2.5 Do tác động của giá cả trên thị trường thế giới

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhiều quốc gia đã phải đối mặt với nợ công gia tăng và tỷ lệ thất nghiệp cao, dẫn đến việc áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích kinh tế Đặc biệt, Mỹ, với chính sách bơm tiền và hạ lãi suất xuống 0,25%/năm, đã khiến giá trị đồng đô la giảm mạnh so với các đồng tiền khác, tạo ra cuộc chiến tiền tệ toàn cầu và làm tăng áp lực giá vàng Khoảng 2/3 số đô la đang lưu thông hiện nay nằm ngoài nước Mỹ, và nếu tiếp tục gia tăng nhập khẩu từ các nền kinh tế có đồng tiền giảm giá, nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, có thể phải đối mặt với tình trạng "nhập khẩu lạm phát" và cản trở xuất khẩu.

Thiên tai nghiêm trọng đã xảy ra tại nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan và Ấn Độ, kết hợp với thời tiết khắc nghiệt ở nhiều nơi khác, gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp Điều này dẫn đến sự mất cân đối giữa cung và cầu của nhiều mặt hàng nông sản, với cung giảm và cầu tăng Kết quả là giá thế giới tăng, giá xuất khẩu nông sản của Việt Nam cũng tăng theo, cùng với giá thu mua trên thị trường nội địa.

Trong 8 tháng đầu năm 2011, giá hàng hóa toàn cầu đã tăng 32,88% so với cùng kỳ năm 2010, vượt qua mức tăng của các năm trước Trong bối cảnh đó, cán cân thương mại của Việt Nam đang thâm hụt nghiêm trọng, trong khi lạm phát tại các quốc gia thương mại lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ và EU cũng gia tăng, với tỷ lệ lần lượt là 6,2%, 5,3%, 3,8% và 2,9%, cao hơn nhiều so với mức tương ứng của tháng 8-2010.

Giá nông sản và nguyên liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp trên thị trường thế giới đã tăng đáng kể, trong đó giá cà phê đạt mức cao nhất trong 16 năm qua Giá bông tăng từ 60-70% so với cuối năm 2009, trong khi giá cao su, hồ tiêu, điều, gạo, đường thô, tinh bột sắn, hạt điều, chè và các mặt hàng thủy sản chế biến cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ Đặc biệt, giá mủ cao su mà Trung Quốc mua từ Việt Nam đã tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2009.

Hoạt động mua gom hàng hóa như mủ cao su, lợn hơi, thủy hải sản và đường của thương nhân Trung Quốc với giá cao và khối lượng lớn đã ảnh hưởng đến cung cầu và tâm lý thị trường nông sản tại Việt Nam Đồng thời, tình trạng đầu cơ nông sản thực phẩm tại Trung Quốc cũng tác động đáng kể đến giá cả thị trường Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh diễn biến giá cả toàn cầu.

Giá dầu thô trên thị trường thế giới trong giai đoạn 2010-2011 đã có những biến động mạnh, dẫn đến sự tăng vọt của giá xăng dầu trong nước Các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ như khí đốt, gas, hóa chất, hạt nhựa, nhựa đường, than đá, chất dẻo và phân bón cũng ghi nhận mức tăng đáng kể Ngoài ra, giá các nguyên liệu khác như sắt thép, đồng, nhôm, kẽm và các mặt hàng kim loại nói chung cũng tăng cao trong cùng thời gian này Thêm vào đó, giá sữa bột, thuốc chữa bệnh và vật tư y tế trên thị trường quốc tế cũng có những biến động đáng chú ý.

2.2.6 Do tác động của quá trình đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng.

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển cơ sở hạ tầng, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp do các dự án nhà ở, khách sạn, và khu công nghiệp Việc thu hồi đất canh tác màu mỡ ở ven đô thị làm giảm diện tích trồng trọt, trong khi người dân nhận tiền đền bù và tăng cường tiêu dùng Tuy nhiên, tình trạng này cũng hạn chế quy mô sản xuất nông nghiệp và giảm nguồn cung nông sản ra thị trường Xu hướng này đã diễn ra trong nhiều năm, nhưng đặc biệt gia tăng từ năm 2010, gây ảnh hưởng lớn đến giá cả.

Quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự gia tăng giá thuê nhà bình quân trên 20% trong năm 2010, đặc biệt là đối với những người có thu nhập thấp và trung bình như sinh viên và người lao động Tại Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, giá nhà đất đã tăng từ 30% đến 60% tùy thuộc vào khu vực, dự án và vị trí.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

Thứ nhất, nhóm giải pháp về chính sách kinh tế vĩ mô Tại Nghị quyết

Chính phủ đã ban hành NQ – CP ngày 02/01/2014, xác định mục tiêu tổng quát cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát Các chỉ tiêu chủ yếu bao gồm phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 5,8%, kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%, tỷ lệ nhập siêu khoảng 6% so với kim ngạch xuất khẩu, và tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 7%.

Thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động điều hành các công cụ chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng hợp lý Cơ quan này điều chỉnh lãi suất và tỷ giá theo diễn biến kinh tế và thị trường tiền tệ, nhằm bảo vệ giá trị đồng Việt Nam và tăng dự trữ ngoại hối Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước quản lý hiệu quả thị trường ngoại hối và vàng, tiếp tục chống vàng hóa và đô-la hóa, đồng thời huy động nguồn lực từ vàng cho phát triển kinh tế - xã hội Cuối cùng, cơ quan này khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt và hạn chế biện pháp hành chính trong thị trường tiền tệ.

Để mở rộng tín dụng hiệu quả, cần kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng, đồng thời xử lý nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro Cần cơ cấu lại nợ và hạn chế gia tăng nợ xấu Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra và đảm bảo công khai, minh bạch trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là rất quan trọng.

Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, tiết kiệm nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ thu chi theo dự toán được Quốc hội phê duyệt Đồng thời, cần tăng cường kỷ luật và kỷ cương trong quản lý tài chính.

Tổ chức thực hiện hiệu quả các Luật thuế sửa đổi và nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước theo Nghị quyết của Quốc hội, đồng thời tăng cường quản lý thu và khai thác các nguồn thu, bao gồm cả từ xử phạt vi phạm hành chính Cần triển khai quyết liệt các biện pháp chống thất thu ngân sách và chuyển giá, thực hiện kiểm soát chặt chẽ việc hoàn thuế giá trị gia tăng, đồng thời đẩy mạnh xử lý và thu hồi nợ thuế để giảm tỷ lệ nợ đọng Cuối cùng, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến thu ngân sách.

Rà soát và quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách nhà nước, đảm bảo đúng dự toán đã được phê duyệt Tiết kiệm tối đa chi phí cho bộ máy quản lý nhà nước và sự nghiệp công, cắt giảm kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, chi công tác nước ngoài, cũng như các khoản chi cho lễ hội, lễ kỷ niệm, khởi công, khánh thành, tổng kết và các khoản chi không cần thiết khác.

Chính phủ cần hoàn thiện cơ chế quản lý giá để kiểm soát giá cả các mặt hàng thiết yếu và ngăn chặn độc quyền, lũng đoạn thị trường Cần kiên quyết chống lại tình trạng đầu cơ, đặc biệt với các sản phẩm thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh và thực phẩm Đồng thời, ngăn chặn buôn lậu qua biên giới, nhất là xăng dầu và khoáng sản Các doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra giá bán tại các hệ thống bán lẻ của mình, trong khi các Tổng công ty nhà nước cần gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ Ngoài ra, các Hiệp hội ngành hàng cũng được yêu cầu tích cực tham gia và ủng hộ các giải pháp bình ổn thị trường và giá cả.

Để quản lý nợ công hiệu quả và ngăn ngừa khủng hoảng nợ trong tương lai, Chính phủ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp Trước tiên, xây dựng kế hoạch vay nợ công phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước Thứ hai, đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng nợ công, đồng thời hạn chế rủi ro và chi phí Thứ ba, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay cho vay lại và các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh Thứ tư, nâng cao hiệu quả và kiểm soát việc sử dụng vốn vay Cuối cùng, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ công là điều cần thiết để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý.

Ngày đăng: 20/09/2017, 10:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2. Tình hình lạm phát trong năm 2011 - Tình hình lạm phát của Việt Nam trong năm 2010 – 2014? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam”
2.1.2. Tình hình lạm phát trong năm 2011 (Trang 9)
2.1.3. Tình hình lạm phát trong năm 2012 - Tình hình lạm phát của Việt Nam trong năm 2010 – 2014? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam”
2.1.3. Tình hình lạm phát trong năm 2012 (Trang 11)
2.1.5. Tình hình lạm phát trong năm 2014 - Tình hình lạm phát của Việt Nam trong năm 2010 – 2014? Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam”
2.1.5. Tình hình lạm phát trong năm 2014 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w