1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập lớn môn dân sự 2

13 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 50,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm cầm giữ tài sản Theo quy định tại Điều 346 BLDS 2015, “cầm giữ tài sản là việc bên có quyền sau đây gọi là bên cầm giữ đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2

Đề tài 3:

Phân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về biện pháp cầm giữ tài sản Đề xuất hướng hoàn thiện quy định pháp luật.

Họ và tên: Trần Minh Phương

Ngày sinh: 12/12/2001 Lớp: K24B1 Ngành: Luật MSV: 19A50010037

Hà Nội, 8/2021

Trang 2

BÀI LÀM

Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017

đã đánh dấu bước phát triển to lớn đối với các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế trong môi trường kinh doanh đa ngành, đa nghề tại Việt Nam Để hạn chế rủi ro, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã được quy định cụ thể, rõ ràng trong BLDS 2015 Trong đó, biện pháp cầm giữ tài sản là một biện pháp có vai trò quan trọng trên thực tế, góp phần tích cực trong việc đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ Bài viết dưới đây sẽ bình luận làm rõ hơn về biện pháp này và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện

I Khái quát chung về cầm giữ tài sản

1 Khái niệm cầm giữ tài sản

Theo quy định tại Điều 346 BLDS 2015, “cầm giữ tài sản là việc bên có

quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Để xác định là biện pháp bảo đảm cầm giữ tài sản, cần phải có các yếu tố:

Thứ nhất, việc cầm giữ tài sản phải xuất phát từ một hợp đồng song vụ.

Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau Trong hợp đồng song vụ, bên cầm giữ đã thực hiện nghĩa vụ nhưng bên kia lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên có quyền

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng song vụ phải là tài sản.Với cách phân

loại dựa theo đối tượng của hợp đồng, hợp đồng có hai loại, một loại có đối tượng là tài sản như hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản, hợp đồng gia công… một loại có đối tượng là công việc như hợp đồng gửi giữ, hợp đồng vận chuyển… Chỉ các hợp đồng có đối tượng là tài sản thì bên có quyền mới có quyền nắm giữ tài sản

Trang 3

Thứ ba, bên có quyền chiếm giữ tài sản một cách hợp pháp Thông

thường, việc chiếm giữ tài sản là do được bên có nghĩa vụ chuyển giao hoặc là kết quả của việc thực hiện nghĩa vụ của bên cầm giữ

Thứ tư, bên có nghĩa vụ có sự vi phạm hợp đồng Khi bên có nghĩa vụ

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền hay bên cầm giữ có quyền cầm giữ tài sản Cầm giữ tài sản phát sinh ngay khi có sự vi phạm nghĩa vụ mà không cần có sự thỏa thuận của các bên

2 Đặc điểm của cầm giữ tài sản

Căn cứ xác lập cầm giữ tài sản: “cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” Từ quy định này, có thể hiểu rằng cầm giữ có phát sinh khi rơi vào các trường hợp mà luật quy định, không phụ thuộc vào sự thỏa thuận Đối với hợp đồng song vụ, khi một bên đang nắm giữ tài sản của bên kia

mà có quyền yêu cầu bên có tài sản đó phải thực hiện một nghĩa vụ mà bên có tài sản không thực hiện nghĩa vụ, thì bên đang nắm giữ tài sản sẽ chiếm hữu tài sản đó buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ

Ví dụ như A đem xe máy đên B để thay dầu, sửa chữa bảo dưỡng Nhưng sau khi sửa xong, A không chịu trả tiền cho B, thì B có quyền cầm giữ chiếc xe máy của A để A phải trả tiền cho B

Hiệu lực đối kháng với người thứ ba: Hiệu lực đối kháng với người thứ ba được quy định tại khoản 2 Điều 347 BLDS 2015 Theo đó, thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên có quyền chiếm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ

Quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ:

Quyền của người cầm giữ được quy định tài Điều 348 Theo đó, người chiếm giữ tài sản có quyền chiếm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ, nhưng không được làm mất mát, hư hỏng, không được sử dụng nếu không được sự đồng ý của bên có tài sản Trong thời gian cầm giữ tài sản, người có tài sản không khai thác

Trang 4

được tài sản để thu hoa lợi, lợi tức thì cũng không có quyền yêu cầu người chiếm giữ bồi thường thu nhập bị mất trong thơi gian chiếm giữ Trường hợp hai bên có thanh toán nghĩa vụ thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm giữ đã bỏ ra để duy trì bảo quản

Nghĩa vụ của bên cầm giữ được quy định tại Điều 349 Theo đó, kể từ thời điểm phát sinh quyền chiếm hữu thì bên cầm giữ phải bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ, không được thay đổi tình trạng tài sản Mục đích của cầm giữ là yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ, do đó, bên cầm giữ không có quyền sử dụng, hưởng hoa lợi lợi tức, chuyển giao tài sản nếu như không được

sự đồng ý của bên có nghĩa vụ Nếu như làm mất mát hư hại, thì phải đền bù cho bên có nghĩa vụ Và cũng cần sau khi bên có nghĩa vụ thực hiện xong nghĩa vụ thì bên cầm giữ tài sản phải giao lại tài sản cho bên có nghĩa vụ

Các trường hợp chấm dứt cầm giữ: Cầm giữ tài sản sẽ chấm dứt khi có căn

cứ được quy định tại Điều 350 BLDS Các trường hợp chấm dứt bao gồm:(i) Nghĩa

vụ đã được thực hiện xong;(ii) Tài sản cầm giữ không còn;(iii) Các bên thảo thuận

sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho cầm giữ;(iv) Bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế;(v) Theo thảo thuận của các bên

Ngoài những đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm, cầm giữ tài sản còn

có hai đặc điểm quan trọng đó là:

Thứ nhất, cầm giữ tài sản phát sinh không dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên bảo đảm Đây là một biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự nhằm bảo vệ

quyền và lợi ích chính đáng của bên có quyền Đối với biện pháp này, pháp luật cho phép bên có quyền cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ mà không cần xem xét nguyên nhân khiến cho bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận

Ví dụ: A thuê chiếc xe của anh B để chở cả nhà đi du lịch Và hai bên đã

thỏa thuận mọi hư hỏng về xe trong quá trình thuê xe sẽ do A khắc phục và B sẽ

có trách nhiệm thanh toán chi phí khắc phục sau khi trả xe Trên đường đi, xe của B bị hỏng điều hòa A đã sửa điều hòa cho xe cho B nhưng lúc giao xe B

Trang 5

không chịu thanh toán tiền sửa điều hòa, lúc này A có quyền cầm giữ tài sản mà không cần thỏa thuận với B

Thứ hai, cầm giữ tài sản không có thời hạn Khoản 4 Điều 349 BLDS

2015 quy định bên cầm giữ chỉ phải giao lại tài sản cầm giữ khi bên có nghĩa vụ

đã thực hiện xong nghĩa vụ với mình Nói cách khác, cầm giữ tài sản không quy định thời hạn cụ thể mà kéo dài cho đến khi bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ

3 Về hiệu lực của biện pháp cầm giữ tài sản

Cầm giữ làm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba không phải bằng việc đăng ký giao dịch bảo đảm mà bằng việc nắm giữ tài sản Điều này có nghĩa là bằng các quy định của BLDS năm 2015, nhà làm luật đã trao cho bên

có quyền một quyền quan trọng là nắm giữ tài sản để yêu cầu được thực hiện quyền của mình

Việc cầm giữ tài sản tạo ra cho bên có quyền một số quyền đi kèm với các nghĩa vụ nhất định Ví dụ như các quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ, yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ… Tuy nhiên, bên cầm giữ không có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm giữ để thực hiện quyền của mình Đây chính là điểm làm nên sự khác biệt của cầm giữ so với các biện pháp bảo đảm khác Bên cầm giữ chỉ có quyền nắm giữ tài sản (không giao tài sản), cũng cần nhấn mạnh lần nữa rằng, đó là cầm giữ về mặt vật chất đối với tài sản Điều này cũng có nghĩa rằng, tính chất bảo đảm còn tồn tại chừng nào tài sản còn nằm trong tay của bên cầm giữ

Mặt khác, việc cầm giữ tạo ra khá nhiều các nghĩa vụ đối với bên cầm giữ

Có thể liệt kê một số nghĩa vụ quan trọng như: giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ; không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ; không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ…

Trang 6

Với những nghĩa vụ nêu trên, bên có quyền sẽ phải thận trọng trong việc quyết định cầm giữ tài sản, đặc biệt là đối với những tài sản dễ hư hỏng, biến chất (như hàng đông lạnh, nông sản…)

Việc cầm giữ chấm dứt trong những trường hợp được liệt kê tại Điều 350 BLDS năm 2015, nếu tài sản không còn trong tay bên cầm giữ thì biện pháp cầm giữ chấm dứt

II Quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản

Cầm giữ tài sản được quy định trong BLDS 2015 từ Điều 346 đến Điều 350

Về xác lập cầm giữ tài sản, Khoản 1 Điều 347 quy định “Cầm giữ tài sản

phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” Khi có hành vi vi phạm nghĩa

vụ 6của bên có nghĩa vụ, cầm giữ tài sản ngay lập tức phát sinh Quyền cầm giữ tài sản chỉ được thực hiện khi có các điều kiện như đã phân tích ở trên

Hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản Khi cầm giữ tài sản được xác lập một cách hợp pháp, bên cầm giữ có quyền truy đòi tài sản và được ưu tiên thanh toán theo quy định tại điều

308 BLDS 2015 Hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm giữ tài sản có khả năng đối kháng rất lớn, vì khi bên cầm giữ đã chiếm giữ tài sản thì chỉ phải trả lại tài sản khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện xong nghĩa vụ với mình

và không có bất kì một ngoại lệ nào

Ví dụ: Trong trường hợp tài sản cầm giữ đã được thế chấp trước đó và

biện pháp thế chấp đã đăng kí Khi bên nhận thế chấp muốn xử lý tài sản thế chấp đang bị cầm giữ, bên nhận thế chấp phải tự mình thực hiện nghĩa vụ đối với bên cầm giữ hoặc yêu cầu bên thế chấp thực hiện nghĩa vụ mới có thể thu hồi tài sản để xử lý được

Quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ tài sản được quy định như sau:

"Điều 348 Quyền của bên cầm giữ

Trang 7

1 Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ.

2 Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.

3 Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý.

Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa

vụ của bên có nghĩa vụ.

Điều 349 Nghĩa vụ của bên cầm giữ

1 Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ.

2 Không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ.

3 Không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.

4 Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện.

5 Bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.”

Bên cầm giữ có quyền:

- Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với mình Tuy nhiên ngay cả khi không có biện pháp bảo đảm cầm giữ tài sản, bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ Việc cầm giữ tài sản nhằm nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ

- Khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu bên có nghĩa vụ đồng ý Bên cầm giữ không phải là chủ sở hữu của tài sản cầm giữ Do vậy nếu muốn khai thác tài sản cầm giữ cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ Quy định này nhằm giúp bên có nghĩa vụ tăng khả năng thực hiện nghĩa vụ và giúp bên cầm giữ bù đắp những chi phí phát sinh trong quá trình cầm giữ tài sản, nhất là trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ trong thời gian dài

Trang 8

- Yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí cần thiết để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ Những tài sản cầm giữ có yêu cầu về bảo quản khác nhau

Có những tài sản chỉ phải bảo quản ở điều kiện thường, có nhưng tài sản phải bảo quản ở điều kiện đặc biệt và khi bên cầm giữ thực hiện việc bảo quản đó thì bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cho việc bảo dưỡng Thực chất việc bên cầm giữ bảo quản, giữ gìn tài sản của bên cầm giữ là thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ do vậy bên có nghĩa vụ phải thanh toán những chi phí này cho bên cầm giữ tài sản

Bên cầm giữ có các nghĩa vụ:

- Bảo quản, giữ gìn, không được thay đổi tình trạng tài sản cầm giữ, không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không được bên có nghĩa

vụ đồng ý Các nghĩa vụ này tương ứng với các quyền của bên cầm giữ

- Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện bên có quyền cầm giữ tài sản để nhằm mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa

vụ Khi nghĩa vụ đã được thực hiện, bên cầm giữ phải trả lại tài sản cho bên có nghĩa vụ

- Bồi thường thiệt hại nếu làm mất, hư hỏng tài sản Bên cầm giữ tài sản

có nghĩa vụ bảo quản tài sản Do vậy, nếu làm hư hỏng, giảm sút giá trị của tài sản thì bên cầm giữ phải bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại điều 350 BLDS 2015, cầm giữ tài sản chấm dứt khi có một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế Việc này

có thể do bên thứ ba chiếm giữ tài sản trái pháp luật hoặc bên cầm giữ không thực hiện quyền cầm giữ nữa Tuy nhiên khi tài sản bị chiếm giữ trái pháp luật, bên cầm giữ có quyền truy đòi tài sản Do vậy khi bên cầm giữ không thực hiện quyền chiếm giữ thì chiếm giữ tài sản chấm dứt

Trang 9

Thứ hai, các bên thỏa thuận thay thế cầm cố bằng biện pháp bảo đảm

khác Vấn đề này nằm trong phạm vi quyền tự định đoạt của các bên trong quan

hệ hợp đồng Các chủ thể có thể thỏa bất cứ biện pháp bảo đảm nào mà pháp luật quy định để thay thế biện pháp cầm giữ

Thứ ba, nghĩa vụ đã được thực hiện xong Khi thực hiện xong nghĩa vụ thì

mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã đạt được Do vậy cầm giữ tài sản chấm dứt

Thứ tư, tài sản cầm giữ không còn Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền

chiếm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ Khi tài sản không còn thì cầm giữ đương nhiên chấm dứt

Thứ năm, theo thỏa thuận của các bên Bản chất của giao kết hợp đồng

dân sự là sự thỏa thuận Tất cả các hợp đồng có hiệu lực pháp luật đều là hệ quả

sự thỏa thuận cho dù sự thỏa thuận đó được thể hiện ở hình thức nào Do đó, biện pháp cầm giữ tài sản cũng có thể chấm dứt theo thỏa thuận giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ

III Một số hạn chế và đề xuất hoàn thiện biện pháp cầm giữ tài sản

1 Một số hạn chế của biện pháp cầm giữ tài sản

Việc bổ sung cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm trong BLDS 2015

về cơ bản đã góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, giải quyết được những bất cập trên thực tiễn hiện nay Tuy nhiên, BLDS 2015 quy định về cầm giữ tài sản như hiện nay đã bộc lộ một số bất cập như sau:

Một là, bên cầm giữ tài sản không có quyền được ưu tiên thanh toán hay quyền truy đòi: Khác với bên nhận cầm cố, hay thế chấp, nếu bên cầm giữ tài sản giao tài sản để bán đấu giá thì bên cầm giữ tài sản mặc nhiên bị mất đi quyền này và sẽ không được ưu tiên thanh toán so với các chủ nợ khác Dù Điều 21 của Nghị định 163 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm ngày 29/12/2006 được

bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 (Nghị định 163) đặt việc thực thi quyền cầm giữ tài sản lên trên quyền của bên nhận thế chấp,

Trang 10

nhưng cũng cần hiểu đúng bản chất của việc ưu tiên này tức là trong trường hợp này bên cầm giữ tiếp tục được thực hiện việc cầm giữ (không trả tài sản bảo đảm

để xử lý thế chấp) đến khi nào chủ tài sản (hay bên nhận thế chấp) thanh toán khoản nợ của bên có nghĩa vụ (bên thế chấp) cho bên cầm giữ

Tuy vậy, nếu bên cầm giữ vô tình trả lại tài sản cho bên thế chấp hay bên nhận thế chấp để xử lý, thì khi đó, việc thanh toán sẽ chỉ dựa vào tính chất của khoản nợ mà người có nghĩa vụ phải trả cho bên cầm giữ tài sản Tương tự, nếu bên cầm giữ bỏ tài sản và giao nó cho một người thứ ba thì bên cầm giữ cũng không thể thực hiện quyền truy đòi tài sản của mình;

Hai là, BLDS quy định bên có quyền được pháp cầm giữ tài sản nếu như bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Tuy nhiên, luật lại không hề đề cập đế việc xử lý tài sản cầm giữ trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ

- Về căn cứ phát sinh cầm giữ tài sản: Hiện nay BLDS 2015 quy định bên

có quyền cầm giữ tài sản khi có sự vi phạm nghĩa vụ mà không quan tâm đến việc vi phạm nghĩa vụ là do nguyên nhân chủ quan hay khách quan Trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên có quyền thì việc quy định như vậy là chưa phù hợp

- Về thời hạn cầm giữ tài sản: BLDS 2015 không quy định cụ thể về thời hạn cầm giữ tài sản như hiện nay sẽ gây rất nhiều khó khăn khi các chủ thể áp dụng trên thực tế Việc không đặt ra thời hạn cầm giữ sẽ gây khó khăn, bất lợi cho bên có quyền bởi không biết sẽ phải cầm giữ trong bao lâu thì bên vi phạm nghĩa vụ mới hoàn thành nghĩa vụ Thời hạn cầm giữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với trường hợp tài sản cầm giữ cần phải được bảo quản trong điều kiện đặc biệt, cần có chi phí cao Thông thường, chi phí bảo quản tài sản sẽ do bên cầm giữ thanh toán trước, sau đó yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán lại cho mình Việc không quy định thời hạn cầm giữ sẽ gây khó khăn cho bên cầm giữ khi bên

Ngày đăng: 24/09/2021, 08:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w