Những vấn đề chung về biện pháp bảo đảm đầu tư 1.Khái niệm Có thể nói các biện pháp bảo đảm đầu tư là những biện pháp được thể hiện trong quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN HỌC
LUẬT ĐẦU TƯ
Đề tài 3:
Phân tích các biện pháp bảo đảm đầu tư theo luật đầu tư năm
2020 Cho ví dụ về thực tiễn các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt
Nam
Họ và tên: Trần Minh Phương
Ngày sinh: 12/12/2001 Lớp: K24B1 Ngành: Luật MSV: 19A50010037
Hà Nội, 9/2021
Trang 2BÀI LÀM
A Những vấn đề chung về biện pháp bảo đảm đầu tư
1.Khái niệm
Có thể nói các biện pháp bảo đảm đầu tư là những biện pháp được thể hiện trong quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư với mục đích kinh doanh Các biện pháp bảo đảm đầu tư chính là những cam kết từ phía nhà nước tiếp nhận đầu tư với các chủ đầu tư về trách nhiệm của nhà nước tiếp nhận đầu tư trước một số quyền lợi cụ thể của nhà đầu tư
Đặc trưng của hoạt động đầu tư kinh doanh là khả năng xảy ra rủi ro rất lớn, chính vì vậy, khi tiến hành đầu tư, các nhà đầu tư thường chú trọng tới việc lựa chọn các biện pháp để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Ngoài ra những khả năng rủi ro đó có thể được cam kết giảm bớt hoặc ngăn chặn không cho xảy ra bới chính Nhà nước tiếp nhận đầu tư
Như vậy, các biện pháp đảm bảo đầu tư có một tầm quan trọng là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động đầu tư Vì vậy, Việt Nam cũng như mỗi quốc gia trên thế giới đã và đang chú trọng đến việc ban hành cũng như hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này để hoạt động đầu tư đạt hiệu quả cao nhất
Theo tinh thần của pháp luật đầu tư ở Việt Nam, các biện pháp đảm bảo đầu
tư được hiểu cụ thể là cam kết của nhà nước Việt Nam về việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam
2 Cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam
*Các biện pháp biện pháp bảo đảm đầu tư được quy định cụ thể từ Điều 10 đến Điều 14 Luật Đầu tư 2020, trong đó bao gồm các biện pháp:
- Bảo đảm quyền sở hưu tài sản(Điều 10)
- Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh ( Điều 11)
-Bảo đảm quyền chuyển quyền tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài (Điều 12)
Trang 3- Bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật( Điều 13)
- Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh( Điều 14)
* Ngoài ra các biện pháp bảo đảm đầu tư cũng được thực hiện thông qua các điều ước quốc tế Các quốc gia tham gia điều ước tiến hành bổ sung vào các cam kết về bảo đảm đầu tư của pháp luật quốc gia.Các thỏa thuận quốc tế này thường tập trung vào việc đặt ra một số nguyên tắc chung về bảo đảm đầu tư, theo đó các thành viên phải tuân theo những biện pháp bảo đảm chung này Do đó, các điều ước quốc tế cũng là một trong những căn cứ quan trọng để xác định cơ sở pháp lý của các biện pháp bảo đảm đầu tư ở Việt Nam
B Nội dung của các biện pháp bảo đảm đầu tư theo quy định của Luât đầu tư 2020
1 Bảo đảm quyền sở hữu tài sản
Hoạt động đầu tư kinh doanh được bắt đầu bằng việc nhà đầu tư phải tiến
hành "bỏ vốn' hay nói cách khác là phải “sử dụng một lượng tài sản” của mình để
tìm kiếm lợi ích lớn hơn trong tương lai Vấn đề nhà đầu tư quan tâm hàng đầu trong trường hợp này là khối tài sản mà mình đem đi đầu tư có luôn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình hay không? Đây cũng là một nhu cầu hoàn toàn chính đáng của nhà đầu tư khi xuất phát từ bản chất chế độ tư hữu tài sản Đặc biệt khác với các chủ thể khác, các chủ đầu tư lại sử dụng khối tài sản này để bắt đầu hoạt động đầu
tư kinh doanh thì nhu cầu này lại càng trở nên bức thiết bởi lẽ, khối tài sản này sẽ được đưa vào lưu thông trong nền kinh tế với khả năng gặp rủi ro là khá cao
Tuy nhiên, nếu chỉ với mục đích công nhận quyền sở hữu tài sản nói chung trước các chủ thể khác trong xã hội thì chỉ cần sử dụng các quy định của hệ thống pháp luật dân sự là nhà đầu tư có thể thiết lập được một cơ chế bảo vệ khá hữu hiệu cho mình Vấn đề đặt ra ở đây là hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư luôn
được xác định bằng hành vi "tạo lập tài sản" trong một lãnh thổ, địa bàn đầu tư nhất
định Do đó, xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia với nội dung là là mỗi một nhà nước có quyền định đoạt tối cao trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình bao gồm
cả công dân và tài sản của công dân, các nhà nước tiếp nhận đầu tư luôn có quyền định đoạt nhất định với tài sản trên lãnh thổ nước mình trong những trường hợp cần
Trang 4thiết Vì vậy, tài sản của nhà đầu tư tạo lập trong quá trình tiến hành hoạt động đầu
tư kinh doanh cũng không phải là một ngoại lệ
Trong những trường hợp nhất, nhà nước tiếp nhận đầu tư có toàn quyền quyết định đối với tài sản của nhà đầu tư nói riêng cũng như tài sản của các chủ thể khác nói chung trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình Mà biểu hiện tối cao của
quyền này là nhà nước tiếp nhận đầu tư có quyền tuyên bố "quốc hữu hóa" đối với tài
sản của các thể nhân và pháp nhân trên lãnh thổ quốc gia tiếp nhận đầu tư Và quan trọng là không phải là trường hợp nào Nhà đầu tư bị tuyên bố quốc hữu hóa tài sản cũng được đền bù kinh phí từ phía nhà nước thực hiện quy trình đặc biệt này Như vậy, nhà đầu tư có thể sẽ "mất trắng" tài sản đầu tư của mình khi bị nhà nước tiếp nhận đầu tư tịch thu hay sung công tài sản Từ đây có thể thấy bên cạnh những nguy
cơ xâm hại quyền sở hữu tài sản từ các chủ thể khác trong xã hội thì bản thân các nhà đầu tư lại phải đối mặt với một nguy cơ rất lớn là gặp rủi ro thiệt hại toàn bộ tài sản đầu tư trong kinh doanh đến từ chính các quốc gia tiếp nhận đầu tư thông qua quá trình thực thi quyền lực tuyệt đối của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Chính vì vậy để làm yên lòng các nhà đầu tư cũng như thể hiện sự thiện chí của mình đối với họ, các quốc gia tiếp nhận đầu tư trong đó có Việt Nam luôn thiết
kế các quy định mang tính cam kết bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư như là một trong những nội dung không thể thiếu trong các quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư Cụ thể, Theo Điều 10 Luật đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 quy định về biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản:
Với cam kết này, các nhà đầu tư vào Việt Nam hoàn toàn yên tâm về tài sản hợp pháp của họ sẽ không bị nhà nước Việt Nam biến thành tài sản quốc gia thông
qua biện pháp hành chính Và như vậy, nguy cơ rủi ro ở mức độ cao nhất "mất trắng" toàn bộ tài sản của nhà đầu tư vào tay nhà nước là bằng không nếu như tiến
hành hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Tiếp theo đó, kể cả trong trường
hợp "vì lý do quốc phòng an ninh" hoặc "vì lợi ích quốc" hay "trong những tình trạng khẩn cấp" thì tài sản của nhà đầu tư cũng chỉ bị nhà nước Việt Nam "trưng mua, trung dụng" và trong tình huống này nhà đầu tư sẽ được "thanh toán bồi thường theo
Trang 5quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan"
Đây là một trong những biện pháp bảo đảm đầu tư có tính truyền thống khi được ghi nhận trong các văn bản Luật đầu tư qua các thời kỳ từ Luật khuyến khích đầu tư năm 1994 sửa đổi năm 1998 cho đến Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 2000 Luật đầu tư năm 2005 đến Luật đầu tư 2014 cho đến Luật đầu tư năm 2020 hiện hành Ngoài ra, biện pháp bảo đảm đầu tư này là một sự hứa hẹn, cam kết dành cho tất cả các nhà đầu tư cầu hoạt động đầu tư theo pháp luật Việt Nam, không phân biệt quốc tịch cũng như nguồn gốc tài sản đầu tư của nhà đầu tư
2 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh
Khi gia nhập thị trường, có thể thông qua các hình thức đầu tư khác nhau nhưng mục tiêu mà các nhà đầu tư luôn hướng đến chính là lợi nhuận Để làm được điều này họ sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, chỉ cần nắm bắt được nhu cầu của thị trường là nhà đầu tư sẽ nhanh nhạy sáng tạo ra các loại hình đầu tư mới để đáp ứng nhu cầu thị trường Chính vì vậy, mong muốn của nhà đầu
tư là được tự chủ trong quá trình tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh nghĩa là họ được tự do lựa chọn, lĩnh vực đầu tư cho đến hình thức và thủ tục tiến hành hoạt động đầu tư mang lại lợi nhuận mà không vấp phải bất kỳ một sự cấm cản nào từ phía cơ quan nhà nước Có như vậy mục đích tối đa hóa lợi nhuận của họ mới dễ dàng đạt được
Tuy nhiên, các nhà đầu tư đang hoạt động dưới một chế độ xã hội có nhà nước Do đó, nhà nước với tư cách là đại diện của giai cấp thống trị trong xã hội có một chức năng rất quan trọng đó là duy trì và bảo vệ các trật tự xã hội nói chung trong đó có trật tự kinh doanh trong quá trình đầu tư Để thực hiện được chức năng này, nhà nước phải sử dụng các công cụ quản lý khác nhau và một trong những công cụ quản lý quan trọng nhất là pháp luật Vậy khi thiết kế các quy định của luật đầu tư với tư cách là công cụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, các cơ quan lập pháp một mặt xác lập trật tự đầu tư bằng cách quy định có tính chất hạn chế hoặc cấm các nhà đầu tư thực hiện những hành vi nhất định có khả năng xâm hại
Trang 6đến môi trường đầu tư lành mạnh Nhưng mặt khác cũng phải ghi nhận ở trừng mực nhất định quyền tự chủ của nhà đầu tư như một cách đáp ứng được nhu cầu, mong muốn chính đáng của nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư tại một quốc gia, vùng lãnh thổ nhất định Làm được điều này cũng đồng nghĩa với việc tăng chỉ số hấp dẫn, thu hút đầu tư của môi trường đầu tư trong mỗi quốc gia Có như vậy, hoạt động đầu tư mới có thể tồn tại và phát triển một cách mạnh mẽ trên thực tế
Xuất phát từ lý do trên, trong hệ thống pháp luật đầu tư Việt Nam cũng như các quốc gia khác luôn tồn tại quy định về biện pháp bảo vệ quyền tự chủ trong kinh doanh của các nhà đầu tư như một sự thể hiện rõ nét nhất thái độ thiện chí, hoan nghênh của nhà nước đối với các chủ thể, thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh của mình, có khả năng đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế và xã hội Các quy định này có thể tồn tại dưới dạng thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyền tự do của nhà đầu tư trong quá trình tự do lựa chọn: địa bàn, lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư cũng như các hạn mức đầu tư cụ thể về tỷ lệ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Theo quy định tại Điều 11 luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng
6 năm 2020 về biện pháp bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh.Theo đó, nhà nước Việt Nam không lựa chọn cách thức ghi nhận một cách trực tiếp các biểu hiện về quyền tự do kinh doanh cho các nhà đầu tư Tuy nhiên bằng cách thức gián tiếp cam kết không áp đặt ý chí lên hành vi của nhà đầu tư cũng như không đặt ra giới hạn đối với quá trình tự do lựa chọn của nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh của họ Thông qua các quy định này, chúng ta đã đạt được hai mục đích, đó
là bảo đảm quyền tự chủ của nhà đầu tư và cam kết không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Từ đó góp phần không nhỏ tăng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài
3 Bảo đảm quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài
Theo quy định tại Điều 12 ta có thể thấy, với mục đích chung là thúc đẩy tự do hóa, tăng cường khả năng đầu tư, nguyên tắc đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài đã có những tác động nhất định đối với cả nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài
* Đối với nhà đầu tư:
Trang 7- Nguyên tắc này góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài đối với những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Bằng sự đảm bảo này, nhà đầu tư nước ngoài có thể tự do trong việc dịch chuyển tài sản hợp pháp của mình mà không gặp những trở ngại tại quốc gia tiếp nhận đầu tư
- Được thỏa mãn nhu cầu tất yếu khi họ tiến hành hoạt động đầu tư: đó là chuyển số lợi nhuận mà họ thu được về đất nước của họ
- Theo luật Việt Nam, khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nhà đầu tư không phải nộp thuế Quy định này nhằm tránh việc đánh thuế hai lần, vì lợi nhuận mà nhà đầu tư được chuyển là lợi nhuận sau thuế tức là nhà đầu tư đã phải nộp, thuế thu nhập trước khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Trách nhiệm nộp thuế trong trường hợp này không thuộc về nhà đầu tư mà thuộc về doanh nghiệp nơi nhà đầu tư tham gia đầu tư vốn
-Nhà đầu tư nước ngoài có thể được đảm bảo một môi trường đầu tư minh bạch, thông thoáng, thuận lợi cho việc đầu tư, được đảm bảo về quyền sở hữu tài sản hợp pháp
* Đối với quốc gia nước tiếp nhận đầu tư: Các biện pháp đảm bảo đầu tư
nói chung và đảm bảo việc nhà đầu tư nước ngoài được chuyển tiền ra nước ngoài
đã góp phần không nhỏ trong việc làm minh bạch hóa chính sách, hoàn thiện môi trường đầu tư Cụ thể hơn, khi tài sản, lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ hoạt động đầu tư được đảm bảo quyền sở hữu, được tự do dịch chuyển về nước sở tại, dẫn tới nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn trong việc đầu tư vào quốc gia đó Nhờ vậy, tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư phát triển
Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Trong trường hợp Việt Nam, việc quy định nguyên tắc này giúp đảm bảo tính hợp lý của pháp luật Việt Nam trong quy định về việc chống đánh thuế hai lần đối với lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những điểm hạn chế nhất định, việc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tự do chuyển tiền ra khỏi biên giới, lãnh thổ quốc gia, nếu không có sự kiểm soát, nguyên tắc này có thể bị lạm
Trang 8dụng, để chuyển những khoản tiền không hợp pháp ra nước ngoài, vượt qua sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước dưới hình thức lợi nhuận hoạt động đầu tư
4 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh trong trường hợp pháp luật thay đổi.
Trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, nhà đầu tư có thể gặp phải rất nhiều rủi ro, các rủi ro này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau và một trong những nguyên nhân đó là sự thay đổi pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia, Nhà nước tiếp nhận đầu tư có quyền ban hành hệ thống pháp luật nhằm quản lý hoạt động đầu tư Như vậy, hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư không phân biệt quốc tịch luôn chịu sự tác động và điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật quốc gia tiếp nhận đầu tư Bên cạnh đó là có những rủi ro không có tính dự báo và cũng không thể kiểm soát được từ phía nhà đầu tư Vậy thì không có biện pháp nào đảm bảo tốt hơn đối với nhà đầu tư bằng một cam kết từ phía chủ thể ban hành ra pháp luật chính là Nhà nước tiếp nhận đầu tư về việc bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các nhà đầu tư khi có sự thay đổi
Theo Khoản 1 Khoản 2 Điều 13 Luật đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng
6 năm 2020 (sau đây gọi là Luật đầu tư 2020) quy định về cam kết của Việt Nam về bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật
Về bản chất, những thay đổi của pháp luật đầu tư nói riêng cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung sẽ không có hiệu lực điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội hay quan hệ đầu tư đã hình thành và phát sinh trước thời điểm ban hành những văn bản pháp luật chứa đựng sự thay đổi về ưu đãi đầu tư đối với nhà đầu tư bởi sự chi phối của nguyên tắc pháp luật không có hiệu lực hồi tố Như vậy, quy định về bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp này có sự thay đổi pháp luật, nhà nước Việt Nam đã chấp nhận thiết kế một quy định đi ngược lại với nguyên tắc pháp luật cơ bản
để đổi lại một cơ chế đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho các nhà đầu tư Qua
đó, có thể khẳng định thông qua cam kết trên đây, nhà nước Việt Nam thực hiện được hai mục đích:
Trang 9Một là, giúp cho các nhà đầu tư không phải chịu sự tác động tiêu cực từ việc thay đổi các quy định của pháp luật theo hướng kéo ưu đãi hơn cho các nhà đầu tư
Hai là, tạo cơ hội cho nhà đầu tư tận dụng được các ưu đãi đầu tư lớn hơn từ
sự thay đổi của pháp luật
Cả hai mục đích này đều đem lại một kết quả tích cực cho nhà đầu tư đó là làm tăng khả năng thành công và đem lại hiệu quả cho hoạt động đầu tư của họ
Tuy nhiên, các quy định trên đây có những ngoại lệ nhất định đặc biệt là quy định về duy trì quyền được ưu đãi không đổi của nhà đầu tư khi pháp luật đầu tư mới được ban hành có nội dung ưu đãi thấp hơn Theo Khoản 3 Khoản 4 Điều 13 Luật đầu tư năm 2020 quy định trong những trường hợpngoại lệ này là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo những lợi ích ở tầm Quốc gia Trong tình huống này, để đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư, nhà nước tiếp nhận đầu tư có các biện pháp để bù đắp tổn thất mà nhà đầu tư có thể gánh chịu khi bắt buộc phải áp dụng một mức ưu đãi thấp kém hơn mức ưu đãi mà họ đang được hưởng do có sự thay đổi của pháp luật Cụ thể theo Khoản 4 Điều 13 Luật đầu tư năm 2020 quy định,đây được nhìn nhận như một cách thức chia sẻ rủi ro của nhà đầu tư từ phía nhà nước tiếp nhận đầu tư một cách thiết thực và vô cùng có ý nghĩa
5 Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh.
Theo khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 quy định đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh Tuy nhiên trong hoạt động đầu tư kinh doanh giữa các bên cũng khó có thể tránh đươc việc xảy ra các tranh chấp Do đó, tại Điều 14 Luật Đầu tư 2020 đã quy định tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải Cụ thể hai phương thức giải quyết như sau:
Ưu
điểm
- Thuận tiện, đơn giản, thủ tục linh hoạt;
- Bảo đảm bí mật, uy tín của các bên, tiết
kiệm thời gian, kinh phí, không làm phương
hại đến mối quan hệ hợp tác hai bên;
- Chủ động trong việc lựa chọn thời gian, địa điểm hòa giải và bên thứ ba hỗ trợ hòa giải;
- Tạo cơ hội để hai bên bày tỏ
Trang 10- Trong trường hợp thương lượng không đạt
hiệu quả, các bên có thể lựa chọn phương
thức giải quyết khác mà không gặp bất cứ
cản trở nào
quan điểm của mình về tranh chấp và làm giảm sự căng thẳng giữa các bên ngay cả khi quyền lợi của họ đang bị xâm phạm;
- Có thể duy trì được mối quan
hệ vốn có của các bên, bí mật kinh doanh vẫn sẽ được bảo vệ
Nhược
điểm
- Phụ thuộc vào thiện chí, tự nguyện của các bên;
- Không có cơ chế bắt buộc thực hiện nghĩa vụ các bên sau thương lượng Tuy nhiên, tại Điều 14 Luật Đầu tư 2020 cũng quy định tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu
tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam Trong trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án, cụ thể như sau:
- Đối với tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư 2020 được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:
Tòa án Việt Nam;
Trọng tài Việt Nam;
Trọng tài nước ngoài;
Trọng tài quốc tế;
Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập
- Đối với tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được