1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật tố tụng hành chính

17 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 299,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật tố tụng hành chính

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

Số phách

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

ĐỀ TÀI: BÌNH LUẬN BẢN ÁN SỐ 200/2020/HC-PT, NGÀY 16/06/2020 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Luật học

Học phần: Luật tố tụng hành chính

Giảng viên phụ trách học phần: ThS Nguyễn Khắc Hùng

SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÊ BÁ TRƯỜNG

MÃ SINH VIÊN: 19A5011997 LỚP CHUYÊN NGÀNH: K43C_Luật học

THỪA THIÊN HUẾ, năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

Số phách

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN:

ĐỀ TÀI: BÌNH LUẬN BẢN ÁN SỐ 200/2020/HC-PT, NGÀY 16/06/2020 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành: Luật học

Học phần: Luật tố tụng hành chính

Ý 1

Ý 2

Ý 3

Ý 4

Ý 5

TỔNG

(Kí và ghi rõ họ tên) (Kí và ghi rõ họ tên)

THỪA THIÊN HUẾ, năm 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài “Bình luận bản án số 200/2020/HC-PT, ngày 16/06/2020 của TAND cấp cao tại TPHCM về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Khắc Hùng Các nguồn tài liệu trích dẫn và các nguồn tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu và

tính trung thực của đề tài

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên./

Thừa Thiên Huế, ngày 28 tháng 8 năm 2021

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Xử lý vi phạm hành chính : XLVPHC Bảo vệ môi trường : BVMT

Chất thải nguy hại : CTNH Nghị định – Chính phủ : NĐ-CP Thông tư – Bộ tài nguyên và môi trường : TT-BTNMT Biên bản – Vi phạm hành chính : BB-VPHC Quy chuẩn Việt Nam : QCVN

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường :QCKTMT Thành phố Hồ Chí Minh : TPHCM

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Tóm tắt nội dung vụ án 2

2 Căn cứ pháp lý áp dụng trong bản án 4

3 Nhận xét việc áp dụng pháp luật trong bản án 5

4 Một số kiến nghị hoàn thành 9

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

Ngày 16/06/2020, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM đã thông qua Bản án số 200/2020/HC-PT tuyên Bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản

án sơ thẩm của TAND tỉnh Bình Dương Tuy nhiên, qua nghiên cứu bản án tôi thấy có một vài sai sót trong cách giải quyết của TAND cấp cao tại TPHCM Từ lý do đó trên nhằm đưa ra những giải pháp để nâng cao quá trình áp dụng pháp luật đối giải quyết

các vụ án hành chính, tôi xin chọn đề tài “Bình luận bản án số 200/2020/HC-PT, ngày 16/06/2020 của TAND cấp cao tại TPHCM về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” để làm rõ việc áp dụng quy định pháp

luật của tòa án, đồng thời làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần

Trang 7

2

NỘI DUNG

1 Tóm tắt nội dung vụ án

https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-2002020hcpt-ngay-16062020-ve-khieu-kien-quyet-dinh-xu-phat-hanh-chinh-139450

Công ty C hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp: 3700865452, đăng ký lần đầu ngày 09 tháng 01 năm 2008, đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất các loại máy móc, thiết bị và linh kiện máy móc cho các ngành khai thác mỏ, xây dựng và dầu khí

Trong quá trình hoạt động, Công ty Có bán các phế liệu được loại ra trong quá trình sản xuất gồm phôi tiện, phôi bào, mảnh vỡ, mạt cưa, mạt giũa, phôi cắt và bavia bằng sắt, thép, gang Công ty đã ký Hợp đồng mua bán phế liệu với ông Lê Văn T4 ngày 18/12/2018 và Hợp đồng mua bán phế liệu ngày 14/02/2019 với công ty H1 (ông Phạm Huy D1 đại diện công ty mua) Tuy nhiên, Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Bình Dương xác định các loại phế liệu này là chất thải nguy hại (viết tắt là CTNH)

và cho rằng Công ty C đã có hành vi vi phạm là bán chất thải nguy hại cho cá nhân không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại nên đã lập hai biên bản gồm: Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi trường số 24/BB-VPHC (PC05) ngày 16 tháng 4 năm 2019 và Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi trường số 37/BB-VPHC (PC05) ngày 06 tháng 5 năm 2019 Trên cơ sở đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành hai quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm: Quyết định số 1129/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 05 năm 2019 và Quyết định số 1323/QĐ-XPVPHC ngày 17 tháng 05 năm 2019 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Công ty C

Quyết định số 1129/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 5 năm 2019 xác định Công ty

Có 03 hành vi vi phạm:

Trang 8

3

Hành vi 1: Không thu gom chất thải nguy hại theo quy định, để chất thải nguy hại ngoài trời, vi phạm điểm b, khoản 2, Điều 21, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường

Hành vi 2: Bán chất thải nguy hại cho cá nhân không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại đối với trường hợp bán từ 5.000 kg chất thải nguy hại trở lên, cụ thể: Công ty đã bán 20.630 kg chất thải nguy hại cho ông Lê Văn T4 là cá nhân không có giấy phép xử lý chất thoải nguy hại vi phạm điểm h, khoản 7, Điều 21, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Hành vi 3: Xả chất thải có chứa thông số môi trường thông thường vào môi trường vượt quy chuẩn kỹ thật về chất thải từ 10 lần trở lên trong trường hợp lượng nước thải nhỏ hơn 5m3/ngày (24 giờ), cụ thể: theo Phiếu kết quả thử nghiệm số

19080119 ngày 16/01/2019 của Trung tâm Quan trắc - Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cho thấy mẫu nước thải tại hố ga nước mưa khu vực nhà ăn chảy ra cống chung thoát nước mưa của khu công nghiệp có các thông số môi trường vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải: BOD5 vượt 13,3 lần, COD vượt 12,8 lần, SS vượt 7,2 lần, Amoni vượt 2,4 lần vi phạm điểm a, khoản 6, Điều 13, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và khoản 7, Điều 13, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường

Quyết định số 1323/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ngày

17 tháng 5 năm 2019 xác định Công ty Có hành vi: Bán chất thải nguy hại cho cá nhân không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại đối với trường hợp bán từ 4.000 kg đến dưới 5.000 kg chất thải nguy hại, cụ thể: Công ty đã bán 4.420 kg chất thải nguy hại cho ông Phạm Huy D1 là cá nhân không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại vi phạm

Trang 9

4

điểm g, khoản 7, Điều 21, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Với tình tiết tăng nặng: tái phạm, cụ thể Công ty C đã bị xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định

số 1129/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B về hành

vi “Bán chất thải nguy hại cho tổ chức, cá nhân không có giấy phép xử lý chất thải nguy hại.”

Công ty C nhận thấy Quyết định số 1129/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 05 năm

2019 và Quyết định số 1323/QĐ-XPVPHC ngày 17 tháng 05 năm 2019 của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Công ty C không phù hợp với quy định của pháp luật nên khởi kiện ra Tòa án yêu cầu hủy 02 Quyết định trên của Chủ tịch UBND tỉnh B

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 42/2019/HC-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, quyết định:

Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1129/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 05 năm 2019 và Quyết định số 1323/QĐ-XPVPHC ngày 17 tháng 05 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Ngày 09/12/2019 Công ty C kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm, với

lý do: Không đồng ý với nội dung của bản án hành chính sơ thẩm, đề nghị sửa án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện

2 Căn cứ pháp lý áp dụng trong bản án

Các căn cứ pháp lý mà Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đưa

ra là: Căn cứ các Điều 30, 32, 116, Khoản 1 Điều 241, Điều 348 và Điều 349 của Luật

tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ các Điều 3, 6, 9, 23, 38, 58, 61 Luật xử lý vi phạm hành chính; Căn cứ Điều 3, 7 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015; Căn cứ Phụ lục 1 về Danh mục chất thải nguy hại ban hành kèm theo Thông tu

số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và

Trang 10

5

Môi trường; Căn cứ Mục 1.3.1, 3.1.2, 3.1.3 khoản 3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại ban hành kèm theo Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

3 Nhận xét việc áp dụng pháp luật trong bản án

Thứ nhất, về quan hệ pháp luật và thời hiệu khởi kiện, Tòa án căn cứ vào các Điều 116, Điều 30, Điều 32 của Luật tố tụng hành chính xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn và thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp với các quy định của pháp luật

Thứ hai, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính:

“Tòa án xác định Biên bản vi phạm hành chính số 24/BB-VPHC(PC05) ngày 16/4/2019 và 37/BB-VPHC(PC05) ngày 06/5/2019 có cán bộ trực tiếp thụ lý vụ việc là ông Đặng Hoàng S1, bà Nguyễn Hoàng N1 ký tên, đại diện tổ chức vi phạm là Công ty

C có ký tên xác nhận là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 6 Nghị số 81/2013/NĐ-CP” là hợp lý Bởi vì, theo quy định tại

khoản 3 Điều 58 Luật XLVPHC “Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký” Như vậy ông Đặng Hoàng S1 và bà Nguyễn Hoàng N1 kí tên vào biên bản

là đúng quy định pháp luật Ngoài ra Tòa án nhận định về hình thức, nội dung, thời gian, ngày tháng,… trên biên bản phù hợp quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính nên không vi phạm thủ tục như người khởi kiện trình bày là hoàn toàn hợp

Về việc Tòa án nhận định quyền giải trình ghi trong 02 biên bản và thẩm quyền tiếp nhận giải trình của Công an tỉnh B là chưa hợp lý Bởi vì, theo quy định tại khoản

1 điều 61 Luật XLVPHC về giải trình “Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt

Trang 11

6

tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản

3 Điều này” Như vậy, việc cán bộ Phòng cảnh sát môi trường lập biên bản với nội

dung công ty C có quyền giải trình đối với cán bộ lập biên bản là sai theo quy định của pháp luật Việc tiếp nhận giải trình của Công an tỉnh B đối với Công văn giải trình số 01/CNC ngày 22/01/2019 của Công ty C là sai thẩm quyền ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty C trong việc giải trình đối với Chủ tịch UBND tỉnh B, dẫn đến hậu quả là Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành quyết định xử phạt số 1129/QĐ-XPVPHC ngày 03/5/2019 và Quyết định số 1323/QĐ-XPVPHC ngày 17/5/2019

Thứ ba, về nội dung: Việc Tòa án đưa ra các căn cứ pháp lý bao gồm “Khoản 13 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014; Theo Mục C Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 36/2015 TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015; mục 1.3.1 Quy chuẩn QCVN 07/2009/BTNMT ban hành kèm theo 25/2009/TT-BTNMT ngày 16 tháng 11 năm 2009 Quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015; Điều 7 Nghị định 38/2015/NĐ-CP và các Điều 29, 30 và Điều 6 Thông tư 36/2015TT-BTNMT; Mục 3 Phụ lục 1 về Danh mục chất thải nguy hại ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng

6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; theo Mục 3.1.2, 3.1.3 khoản

3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại (được ban hành kèm theo Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường” Để xác định số phôi thải (phoi tiện, phoi bào, mạt cưa bằng sắt, thép, gang) tạo ra trong quá trình gia công của công ty C là chưa phù hợp Bởi vì, theo các quy định này là xác định CTNH đối với các chất như dầu mỡ (trừ dầu mở thực phẩm) tồn

Trang 12

7

tại dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất không bám dính vào các vật thể khác Tuy nhiên, căn cứ vào 02 biên bản số 24/BB-VPHC(PC05) ngày 16/4/2019 và 37/BB-VPHC(PC05) ngày 06/5/2019 thì tang vật thu được bao gồm phoi tiện, phoi bào, mạt cưa bằng sắt, thép, gang,… như vậy để xác định đây có phải là CTNH hay không cần

phải căn cứ vào mục 3 phụ lục 1 Thông tư 36/2015 TT-BTNMT “Hỗn hợp phế liệu kim loại (hoặc nhựa) lẫn dầu mỡ (ví dụ mã 07 03 11): Phế liệu kim loại (hoặc nhựa) không phải là CTNH còn dầu mỡ thải (trừ dầu mỡ thực phẩm) luôn là CTNH (loại **),

do vậy, đây là hỗn hợp CTNH Trường hợp hỗn hợp này được tách riêng ra, còn lại phế liệu kim loại (hoặc nhựa) tương đối sạch, chỉ bám dính lượng dầu mỡ không đáng

kể đến mức không có nguy cơ bị rò rỉ hoặc chảy ra môi trường trong quá trình lưu giữ, thu gom và vận chuyển (ví dụ dầu bảo quản) thì không bị coi là CTNH (bảo đảm thành phần dầu bám dính có hàm lượng tuyệt đối nhỏ hơn ngưỡng CTNH theo quy định tại QCKTMT về ngưỡng CTNH)” Như vậy, phải có quá trình giám định các chất dầu mở

bám trên các tang vật có thuộc vào danh mục CTNH quy định tại bảng danh mục CTNH ban kèm thông tư này

Việc Tòa án nhận định quá trình phân định chất thải phải là trách nhiệm của công ty C chứ không phải trách nhiệm của người ra quyết định xử phạt Nhận định này

là không đúng, tôi không đồng ý với cách đánh đồng từ “Phân định” với từ “Giám định” của Tòa án là như nhau Bởi vì, phân định chất thải trong quá trình sản xuất là của công ty C Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm đ khoản 1 điều 3 Luật XLVPHC thì

“Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính” và điều 81 Luật XLVPHC thì “Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch

Ngày đăng: 20/09/2021, 19:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w