1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỮA DIỄN NGÔN NÓI VÀ DIỄN NGÔN VIẾT

23 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 149 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Một số vấn đề chung 1.1.Khái niệm diễn ngôn Ngày nay, về cơ bản thì các vấn đề như tác phẩm, văn bản, tác giả đã và đang được giới thiệu rộng rãi ở nước ta. Diễn ngôn xuất hiện ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Dù khái niệm diễn ngôn gần đây được sử dụng nhiều trong nghiên cứu xã hội học, văn học, quan điểm về diễn ngôn được giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009)… Tuy nhiên, sự tiếp cận và nhận diện về diễn ngôn, sự lí giải về diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn học còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng.Vậy nên bây giờ chúng ta cần phải có một sự khái quát, tổng hợp nhất định về khái niệm diễn ngôn để tham khảo rõ ràng hơn về nó. Ở đây, chúng tôi đã tham khảo và đưa ra vài nội dung cơ bản của khái niệm diễn ngôn một cách ngắn gọn như sau: Hiểu theo một cách tổng quát nhất thì diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội. Nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân. Hay diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới, về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khía niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lí phổ biến trong xã hội. Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng, là bản thể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn, là tư tưởng trong dạng thức thực tiễn, được hiểu trong giao tiếp hằng ngày. (Theo ý nghĩa trên thì M. Bakhtin nói diễn ngôn là biểu hiện ý thức hệ). Và cơ chế nghiên cứu khái niệm diễn ngôn là nghiên cứu các cơ chế kiến tạo sự thật, chân lí theo các quy tắc, cơ chế của nó,… Diễn ngôn là hiện tượng giao tiếp cho nên nó là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội ấy. Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản. Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, song không có tác giả cụ thể. Diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính lien tục, tính thống nhất, tính hệ thống. Ý nghĩa của phạm trù diễn ngôn là nó nêu ra một hệ hình nghiên cứu mới, phân biệt với bản thể luận và nhận thức luận. Tóm lại, ta có thể hiểu diễn ngôn là hoạt động giao tiếp trực tiếp tạo ra cái hiện thực mà con người sống trong đó, tin, yêu, căm giận ở trong đó. Diễn ngôn kiến tạo nên hiện thực của con người. Nghiên cứu diễn ngôn giúp chúng ta nắm thêm một chiều kích nữa rất thực tế của con người.

Trang 1

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ

GIỮA DIỄN NGÔN NÓI VÀ DIỄN NGÔN VIẾT

I Một số vấn đề chung

I.1 Khái niệm diễn ngôn

Ngày nay, về cơ bản thì các vấn đề như tác phẩm, văn bản, tác giả đã và đang đượcgiới thiệu rộng rãi ở nước ta Diễn ngôn xuất hiện ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX Dùkhái niệm diễn ngôn gần đây được sử dụng nhiều trong nghiên cứu xã hội học, văn học,quan điểm về diễn ngôn được giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ học Có

thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của

Diệp Quang Ban (1998, 2009)… Tuy nhiên, sự tiếp cận và nhận diện về diễn ngôn, sự lígiải về diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn học còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng.Vậy nên bây giờchúng ta cần phải có một sự khái quát, tổng hợp nhất định về khái niệm diễn ngôn đểtham khảo rõ ràng hơn về nó Ở đây, chúng tôi đã tham khảo và đưa ra vài nội dung cơbản của khái niệm diễn ngôn một cách ngắn gọn như sau:

Hiểu theo một cách tổng quát nhất thì diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của conngười trong xã hội Nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân.Hay diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới, về các sựviệc trong đời sống Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảoluận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khía niệm, cụm từ, hệ thống các từngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân

lí phổ biến trong xã hội Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng, là bản thể tư tưởng, bản thân

tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn, là tư tưởng trong dạng thức thựctiễn, được hiểu trong giao tiếp hằng ngày (Theo ý nghĩa trên thì M Bakhtin nói diễnngôn là biểu hiện ý thức hệ) Và cơ chế nghiên cứu khái niệm diễn ngôn là nghiên cứucác cơ chế kiến tạo sự thật, chân lí theo các quy tắc, cơ chế của nó,… Diễn ngôn là hiệntượng giao tiếp cho nên nó là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội ấy Diễn

Trang 2

ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhưngkhông đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản Nó gắn với chủ thể diễnngôn, song không có tác giả cụ thể Diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể,tính lien tục, tính thống nhất, tính hệ thống Ý nghĩa của phạm trù diễn ngôn là nó nêu ramột hệ hình nghiên cứu mới, phân biệt với bản thể luận và nhận thức luận Tóm lại, ta cóthể hiểu diễn ngôn là hoạt động giao tiếp trực tiếp tạo ra cái hiện thực mà con người sốngtrong đó, tin, yêu, căm giận ở trong đó Diễn ngôn kiến tạo nên hiện thực của con người.Nghiên cứu diễn ngôn giúp chúng ta nắm thêm một chiều kích nữa rất thực tế của conngười

I.2 Phân loại diễn ngôn

Hiện nay có rất nhiều cách phân loại diễn ngôn Ở đây, chúng tôi sẽ đưa ra vài

cách phân loại, cùng đặc điểm của một số loại diễn ngôn sau đây: Dựa vào dạng tồn tại

của ngôn ngữ ta có thể chia diễn ngôn thành hai loại lớn: Diễn ngôn nói và diễn ngôn

viết Đây là cách phân loại diễn ngôn phổ biến và hợp lí nhất để chúng ta tiếp cận và tìm

hiểu về diễn ngôn một cách dễ dàng và cụ thể hơn Dựa vào các lĩnh vực tri thức có thể

chia diễn ngôn ra thành các loại: Diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôngiáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn tôn giáo, diễnngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hànhchính, diễn ngôn hội thoại đời thường, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi nghệ thuật,

diễn ngôn pháp lí, diễn ngôn quân sự… Dựa vào nội dung phát ngôn có thể chia diễn

ngôn thành các loại: Diễn ngôn kì ảo, diễn ngôn về tính dục, diễn ngôn về con người,diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn về phù thuật, diễn ngôn hiện thực, diễn ngôn hậu thực

dân… Dựa vào thể loại, có thể chia diễn ngôn báo chí thành: Diễn ngôn tin tức, diễn

ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, diễn ngôn tường thuật; có thể phân loạidiễn ngôn văn học thành diễn ngôn tự sự, diễn ngôn thơ, diễn ngôn phê bình hoặc diễnngôn hội thoại đời thành diễn ngôn phỏng vấn, xin lỗi, giới thiệu, chào hỏi… Dựa vàocấp độ của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn và siêu diễn ngôn Khổng

Tử sáng lập ra siêu diễn ngôn Nho giáo, Thích ca Mâu ni (Siddharta Gautama) sags lập rasiêu diễn ngôn Phật giáo, Freud sáng lập siêu diễn ngôn phân tâm học, Ann Radcliffe

Trang 3

sáng tạo ra diễn ngôn tiểu thuyết kinh dị, Bakhtin tạo ra diễn ngôn đa thanh phức điệu.Dựa vào chủ thể của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn của cá nhân vàdiễn ngôn của tập thể, diễn ngôn có nhu cầu có tên “tác giả” và diễn ngôn không có nhucầu có “tác giả”, diễn ngôn văn học nữ giới… Dựa vào cấu trúc có thể xác định diễn ngônđộc lập và diễn ngôn phụ thuộc; diễn ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ và diễn ngôn baochưa; diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật; diễn ngôn liên tục và

diễn ngôn gián đoạn… Dựa vào chức năng của ngôn ngữ (D.nunan) có thể chia diễn

ngôn thành hai loại: diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân Diễn ngôn giao dịchđược tạo lập khi người phát và người nhận quan tâm đến sự trao đổi thông tin và dịch vụ,

ví dụ diễn ngôn chỉ đường của cảnh sát, diễn ngôn hướng dẫn sử dụng thuốc của bác sĩ,

Trên đây là nhiều cách phân loại diễn ngôn theo các đặc tính, đặc trưng… khác

nhau Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chọn cách phân loại diễn ngôn thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết để tìm hiểu về đặc điểm ngôn ngữ và so sánh giữa chúng.

II So sánh đặc điểm ngôn ngữ giữa diễn ngôn nói và diễn ngôn viết II.1 Về ngữ âm

Mặt ngữ âm trong diễn ngôn nói tồn tại dưới một phương ngữ nhất định

(phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam), có nhiều thổ ngữ và nhiều đặcđiểm riêng ở các thành phần phụ âm đầu, thanh điệu,…

VD:

* Ở phương ngữ Bắc dùng trong phương ngữ Bắc Bộ là cơ sở hình thành trong ngôn

ngữ văn học:

- Hệ thống thanh điệu có 6 thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, ngang)

- Hệ thống phụ âm đầu có 20 âm vị, không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi,

tr tức là không phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch

* Ở phương ngữ Trung

- Hệ thống thanh điệu có 5 thanh, không phân biệt được thanh ngã với thanh nặng (từ

“sẽ” người nghe thành từ “sẹ”)

Trang 4

- Hệ thống phụ âm đầu có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi “s, r,tr”

* Ở phương ngữ Nam là một phương ngữ mới, được hình thành trong vòng 5 thế kỉ gần

đây

- Hệ thống thanh điệu có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một

- Hệ thống phụ âm đầu có 23 phụ âm và có phụ âm uốn lưỡi “s, r, tr” như phương ngữTrung

Như vậy, ở diễn ngôn nói về mặt ngữ âm có sự đa dạng về các thành phần thanhđiệu, phụ âm đầu…nên cách phát âm và giọng điệu của mỗi miền đều mang một sắc tháiriêng, tạo nên vốn tiếng Việt đầy màu sắc

Mặt ngữ âm trong diễn ngôn nói luôn sử dụng cách nhấn nhá, đệm lót, và đặc

biệt cách sử dụng trọng âm trong tiếng Việt rất quan trọng

Trọng âm trong tiếng Việt có liên quan đến ngữ pháp, nhờ trọng âm mới phân biệtđược đâu là câu, đâu là từ, đâu là thực từ, đâu là hư từ, đâu là từ ghép đẳng lập, đâu là từghép chính phụ

VD:

- Lặp lại tiếng nặng để đánh dấu trọng âm:

Mắt đen tròn, thương thương quá đi thôi!

- Nhấn nhá trọng âm giúp ta phân biệt được các loại từ:

Tôi không đi đâu (1) đâu (2)

“đâu 1” là thực từ, “đâu 2” là hư từ

Mặt ngữ âm trong diễn ngôn nói còn chú ý đến việc sử dụng các ngữ khí từ Từvựng rõ nhất ở đây là các khẩu ngữ, xuất hiện các từ ngữ đệm lót, nhấn nhá như: à, ơi,nhỉ, nhé, thế à?, thôi ư?

VD:

- Anh à, chúng mình đi Đà Lạt nhé!

- Tình cảm này chỉ đến đây thôi ư?

Bài tập: Đánh trọng âm vào các ngữ đoạn sau đây

a Sinh viên mới học ngôn ngữ học.

Trang 5

Sinh viên mới học ngôn ngữ học.

b Đêm hôm qua cầu gãy

Đêm hôm qua cầu gãy.

Đêm hôm qua cầu gãy.

c Quân ta đánh đồn giặc chết như rạ.

Quân ta đánh đồn giặc chết như rạ.

d Hoa hồng có gai.

e Hoa hồng lên trong nắng

Hoa hồng lên trong nắng

f Cả nhà hát đứng dậy vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Cả nhà hát đứng dậy vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Cả nhà hát đứng dậy vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

g Cả nhà hát bài Thánh ca trong đêm Noel.

Cả nhà hát bài Thánh ca trong đêm Noel.

Mặt ngữ âm trong diễn ngôn viết được đánh giá qua tiêu chí chính tả Khi viết

phải viết đúng chuẩn chính tả của từ ngữ thống nhất toàn dân (tránh phản ánh đặc thù ngữ

âm của địa phương hẹp nếu không cần thiết)

VD: Khi dùng lời nói giao tiếp, có thể hỏi “Em đi mô?” Nhưng khi viết ra cho người đọc

hiểu được thống nhất thì phải viết “Em đi đâu?” (phương ngữ Trung)

Mặt ngữ âm trong diễn ngôn viết phải viết đúng quy cách con chữ, dùng tốt dấu

câu Trong giao tiếp hằng ngày, tùy từng khoảng thời gian có thể nói nhanh, nói chậm,phát âm sai nhưng khi viết ra từng câu chữ phải có các dấu chấm câu ngăn cách rõ ràngtừng câu chữ thì người đọc mới hiểu được

Mặt ngữ âm trong diễn ngôn viết còn phải tuân thủ về mặt hình thức của các văn

bản pháp quy như đơn xin việc, đơn xin nghỉ học,…Phải trình bày rõ ràng viết hoa,xuống dòng, ký tên…nhằm nhấn mạnh được các lí do khi muốn trình bày người gửi

II.2 Về từ vựng

Từ vựng được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trongngôn ngữ Vậy, về mặt từ vựng thì diễn ngôn nói và DNV có những điểm khác biệt sauđây:

Diễn ngôn nói:

- Trong diễn ngôn nói, từ vựng rõ nhất là lớp từ khẩu ngữ, xuất hiện các từ ngữ đưa đẩy,

đệm lót kiểu: à, ơi, nhỉ, nhé, thế à, thế sao? phải không?

Trang 6

- Từ ngữ khẩu ngữ địa phương là một trọng những yếu tố cơ sở xây dựng nên phươngngữ địa phương, đồng thời nó cũng là một hệ thống từ ngữ nhỏ nằm trong hệ thống từngữ toàn dân Do yêu cầu giao tiếp trực tiếp và đặc tính địa phương nên lớp từ ngữ nay

+ Lớp từ ngữ khẩu ngữ tồn tại và được nhận diện qua các lớp từ:

 Từ địa phương, bao gồm cả biến thể ngữ âm địa phương

 Diễn đạt giàu màu sắc biểu cảm

 Thường tạo nên từ ngữ lâm thời có ý nghĩa hàm ẩn trong ngữ cảnh cụ thể

- Hư từ có tần suất rất lớn trong diễn ngôn nói, xuất hiện trong diễn ngôn nói cao hơn rấtnhiều trong diễn ngôn viết

- Hay xuất hiện các thành ngữ, quán ngữ, các từ nhấn nhá, đệm lót

(?) Vì sao thành ngữ, quán ngữ lại được xếp vào cấp độ từ vựng trong diễn ngôn nói? Bởi

vì các đơn vị tương đương với từ thì có thành ngữ, quán ngữ nên có thể xếp thành ngữ,quán ngữ vào cấp độ Từ vựng  Các thành ngữ, quán ngữ có cùng cấp độ với Từ vựnghọc

Ví dụ:

- DNN1:

A: Thầy hai nói thiệt hay nói chơi đó?

B: Dạ nói thiệt chứ.Mấy cái đống xương cá kia

Trang 7

A: là của ma Hời sao?

B: Quả là đúng như vậy?

 Sử dụng trực giác bản ngữ trong diễn ngôn nói

- DNN2:

A: Mời cụ xơi kẹo lạc

B: Ông bảo cai gì?

A: Dạ, kẹo lạc và ni ròn thơm lám

B: Kẹo lạc! An ra cái quái gì?

(Theo PDTT.NĐTV.Sv.k)

 Sử dụng ngôn ngữ địa phương, dấu ấn phương ngữ

 So sánh đặc điểm ngôn ngữ hai diễn ngôn trên, ta thấy: Ở diễn ngôn nói, trong khi hộithoại, dấu ấn phương ngữ ban đầu là rất quan trọng Và trong diễn ngôn nói thì trực giáccủa tiếng bản ngữ cũng được đề cao, có tầm quan trọng nhất định

Diễn ngôn viết:

- Là lớp từ vựng toàn dân, sử dụng phổ biến

- Xuất hiện nhiều từ Hán Việt

 Từ Hán Việt là từ Việt gốc Hán mà tiếng Việt mượn từ sau thời kì Bắc thuộc (thế kỉthứ 10) cho đến ngày nay Đó là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ và vănhóa Việt - Hán mà phương thức chủ đạo là Việt hóa Người Việt đã vay mượn và cải biếnhoàn toàn ngữ âm, cải biến một ít về mô thức cấu tạo, ý nghĩa và phạm vi sử dụng saocho phù hợp với yêu cầu sử dụng của mình Từ Hán Việt là từ có các yếu tố Hán Việtkhông được dùng độc lập, mà phải đi cùng nhau, tạo nên các từ hai âm tiết trở lên

 Vì từ Hán Việt được người Việt cảm nhận như một cách nói trang trọng nên thay vì sửdụng từ thuần Việt, người ta chọn từ Hán Việt để thay thế

Ví dụ:

Thân sinh thay cho bố mẹ đẻ

Thân phụ thay cho bố đẻ

Nhạc phụ thay cho bố vợ

Trang 8

- Tùy theo loại hình diễn ngôn, hay xuất hiện các loại từ vay mượn, các từ viết tắt, tênriêng,

Ví dụ: trong báo chí thường sử dụng các từ như: tua, óp,

- Trong một số diễn ngôn viết khoa học, hành chính,…

- còn xuất hiện một số thuật ngữ, những từ chuyên môn gán với ngành khoa học nhấtđịnh,

- Mật độ của thực từ xuât hiện trong diễn ngôn viết với một tần suất rất cao

 Ở diễn ngôn nói xuất hiện nhiều hư từ hơn thì diễn ngôn viết thực từ lại xuất hiệnnhiều hơn

II.3 Về cú pháp

Đặc điểm nổi bật phân biệt giữa diễn ngôn nói với diễn ngôn viết về mặt cú pháp

dễ nhận thấy là:

Ở diễn ngôn nói thường chứa nhiều các yếu tố rườm rà, dư thừa do nhấn nhá, đệm

lót như: thì, là, mà,… và cho phép tỉnh lược đến mức tối đa Diễn ngôn nói thường kháđơn giản về mặt cấu trúc cú pháp

Ví dụ ở diễn ngôn sau:

“Hai người bước vào quán ăn Một người quay sang hỏi:

- Sao lại đến tận đây?

- À, à… Cậu cứ ăn thử đi.

Nói rồi nhìn người phục vụ.

Người phục vụ nhanh nhẩu đưa menu cho người bạn Hai người chọn món xong và cùng chờ đợi thức ăn của mình Sau khi nếm thử thức ăn, người bạn gật gật:

- Đi xa cũng đáng.”

Ngược lại diễn ngôn viết thường có cấu trúc trường cú (câu dài) Tuyệt nhiên

không chứa các yếu tố dư thừa, và cũng không chấp nhận bất cứ sự tỉnh lượt mà không có

ý đồ nào Phát ngôn trong diễn ngôn viết thường được phân theo nhiều tầng bật phức tạp.Đáng chú ý là vai trò của trạng ngữ, tuy có hình thức giống như trạng ngữ trong câu

Trang 9

nhưng trong diễn ngôn về mặt chức năng, nó là một bộ phần tổ chức văn bản, nó lànhững trung đề, vừa chi tiết hóa, vừa cụ thể hóa các ý trong đại đề, mặt khác chi phối các

đề và tiểu đề Ví dụ như: Về mặt đạo đức,… Về mặt pháp luật,… Về mặt kinh tế,… Về

giáo dục,… thì các phần sau sẽ triển khai các nội dung có liên quan đến vấn đề này Trạng

ngữ trở thành một thành phần có thể dùng để tóm tắt văn bản Ngoài ra ta còn thấy sựxuất hiện thường xuyên của các hình thức ẩn dụ ngữ pháp Tức cách diễn đạt thay vìdùng động từ hay động ngữ, diễn ngôn viết lại sử dụng các danh ngữ - một cấu trúc chặtchẽ về cấu tạo, rất thích hợp cho việc định danh có tính khái quát và trừu tượng, ví dụ

như: “Nạn tham nhũng đã làm cho nền kinh tế của nhiều quốc gia trượt dốc và rơi vào

khủng hoảng” Hãy thử so sánh: “Chạy đua vũ trang đã làm cho một số quốc gia thâm hụtngân sạch” và “Sự chạy đua vũ trang của một số quốc gia đã làm thâm hụt ngân sách”.Điều này góp phần tô đậm xu hướng trí tuệ hóa diễn ngôn viết

II.4 Tổ chức diễn ngôn

II.4.1. Cách diễn đạt

Ta thấy cách diễn đạt của diễn ngôn nói thường là dùng các câu ngắn gọn Trong

đó có thể dùng câu tỉnh lược nhiều bộ phận, kể cả việc tỉnh lược đồng thời cả chủ ngữ và

vị ngữ, nhiều khi cũng dùng từ ngữ lặp thừa trong câu mà không nhằm mục đích diễn đạtsắc thái tu từ Nói tóm lại diễn ngôn nói đơn giản về mặt từ ngữ nhưng lại phức tạp vềmặt cú pháp

Ví dụ: Khách: 2 khô đuôi không đường

Chủ: Hai anh ăn bột gạo hay bột lọc

Khách: Cho hai cái bột gạo luôn đi chị ơi!

 Diễn ngôn nói ở đây đã tỉnh lược bớt nguyên văn câu nói, nếu người ở ngoài nghe vào

có thể không hiểu, nhưng người trong cuộc là người bán và người ăn hoàn toàn hiểu nộidung câu nói này (Ý ở đây là chủ quán cho hai hủ tiếu khô, đuôi heo, không bỏ đường)

Còn về cách diễn đạt của diễn ngôn viết thường dùng các câu ghép dài nhiều bậc.

Có thể dùng câu tỉnh lược chủ ngữ hoặc tỉnh lược bổ ngữ Tránh dùng câu tỉnh lược cùng

Trang 10

một lúc cả chủ ngữ và động từ ở vị ngữ Tránh dùng từ ngữ lặp thừa mà không có tácdụng tu từ đủ rõ Nói tóm lại, diễn ngôn viết phức tạp về mặt từ vựng nhưng đơn giản vềmặt cú pháp.

Ví dụ: (a) Cách mạng là ở đó,(b) vĩ đại là ở đó, (c) khúc ca hùng tráng là ở đó (d)

và giáo dục cũng chính là ở đó (Phạm Văn Đồng)

 Đây là diễn ngôn viết sử dụng câu ghép dài nhiều bậc

Bậc 1: (a,b, c) là một vế bình đẳng với (d) thông qua kết từ và.

Bậc 2: (a) – (b) – (c) bình đẳng với nhau theo kiểu ghép chuỗi

Trong cách diễn đạt của diễn ngôn nói thường hay sử dụng các tục ngữ, thành ngữ Còn ở diễn ngôn viết thì sử dụng các từ toàn dân, từ vay mượn và cả thuật ngữ để

diễn đạt

Ví dụ:

+ Diễn ngôn nói: Ngoài trời mưa quá Tao ướt như chuột lột mày ơi! “Ướt như

chuột lột” là thành ngữ

+ Diễn ngôn viết: Xâm thực là quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất do các

tác nhân như gió, sóng biển, băng hà, nước chảy… (Địa lý) “xâm thực” là thuật ngữ

Cách diễn đạt của diễn ngôn nói thường là sử dụng các động từ, hay động ngữ để

biểu đạt nên diễn ngôn cần nói đến trong quá trình giao tiếp.Giúp ta nhấn mạnh đối tượngđược đề cập đến trong diễn ngôn

Ví dụ: Mua sắm quá nhiều đã làm cho tôi hết tiền. Ở đây ta sử dụng động từ “

mua sắm” để diễn đạt diễn ngôn trên.

Va chạm vô tình đã làm cho tôi xao xuyến cô ấy vài hôm nay. Diễn ngôn

sử dụng động từ “va chạm” để diễn đạt điều muốn nói.

Còn cách diễn đạt của diễn ngôn viết là sự xuất hiện thường xuyên của các hình

thức ẩn dụ ngữ pháp (grammatical metaphor) - ẩn dụ tu từ, sử dụng các danh ngữ - một

cấu trúc chặt chẽ về cấu tạo, rất thích hợp cho việc định danh có tính khái quát và trừutượng

Trang 11

Ví dụ: Việc mua sắm quá nhiều của tôi đã làm cho tôi hết tiền. Ở diễn ngôn này

sử dụng danh ngữ “ sự mua sắm” trong diễn đạt.

Sự va chạm vô tình của cô ấy đã làm cho tôi xao xuyến vài hôm nay. Ở

diễn ngôn viết này sử dụng danh ngữ “sự mua sắm” để diễn đạt ý của mình

Ngoài ra trong cách diễn đạt của diễn ngôn viết có sự xuất hiện của các ẩn dụ

logic (logical metaphor) - ẩn dụ nghệ thuật, tức là các cách diễn đạt liên quan đến các tác

từ lập luận do các liên từ đảm nhiệm (và, thì, là, nhưng, hoặc, về, vậy, trước, sau, nếu, vì

vậy…) cũng góp phần tô đậm xu hướng trí tuệ hóa diễn ngôn viết Điều này ở diễn ngôn

nói dường như không hề có và được nhắc đến.

Mặt trời chân lí chói qua tim

(Tố Hữu - Từ ấy)

 Hình ảnh ẩn dụ nghệ thuật: Bằng cách sử dung những hình ảnh ẩn dụ như:bừng nắng hạ, mặt trời chân lí  là lí tưởng cách mạng, ánh sáng cách mạng , chói quatim và cách sử dụng những động từ mạnh là: bừng, chói thì Tố Hữu như muốn khẳngđịnh rằng ánh sáng cách mạng chính là ánh sang chân lí mà ông đã tìm thấy được, thức

tỉnh lòng yêu nước trong lòng mỗi người dân Việt Và sử dụng các liên từ từ ấy, là,và, nó

góp phần tô đậm xu hướng trí tuệ hóa diễn ngôn viết

Ngày đăng: 17/09/2021, 11:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w