Người Java còn được cho là tộc người xuất hiện khá sớm ở Indonesia và là cộng đồng có một nền văn hóa rất lâu đời, phong phú gắn liền và chi phối toàn bộ đời sống văn hóa và quá trình ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
ĐÀO NGỌC TÚ
VĂN HÓA CỦA NGƯỜI JAVA
Ở INDONESIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN QUỐC LỘC
TP HỒ CHÍ MINH – 2008
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Đầu tiên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn
Quốc Lộc – người thầy đã tận tình hướng dẫn và cung cấp tài liệu quý giá
cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin cám ơn Quý Thầy Cô đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi
những kiến thức bổ ích và thú vị trong suốt những năm học qua Cám ơn
Quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian và công sức
sữa chữa, đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin cám ơn Tổng Lãnh sự Indonesia tại Tp.HCM đã tận tình cung
cấp tài liệu cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả của các nguồn tài liệu tham khảo (sách báo, bài viết,
websites,…) – nguồn hỗ trợ lớn và quý giá
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ và hỗ
trợ tôi trong suốt thời gian qua
Tp Hồ Chí Minh - 2008
ĐÀO NGỌC TÚ
Trang 3MỤC LỤC
trang
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
7 Bố cục luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái niệm văn hóa 13
1.1.2 Khái niệm văn hóa tộc người 15
1.1.3 Khái niệm văn hóa vật chất – văn hóa tinh thần 17
1.2 Cơ sở thực tiễn .19
1.2.1 Tổng quan về Indonesia .19
1.2.2 Người Java ở Indonesia 37
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI JAVA 43
2.1 Hoạt động kinh tế truyền thống 43
2.1.1 Trồng trọt – Chăn nuôi .43
2.1.2 Đánh bắt cá 45
2.1.3 Thủ công 46
2.2 Lĩnh vực văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 50
2.2.1 Văn hóa ẩm thực 50
2.2.2 Văn hóa trang phục 61
2.2.3 Văn hóa cư trú 67
2.2.4 Văn hóa giao thông 70
Trang 4CHƯƠNG 3 : VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI JAVA 73
3.1 Tổ chức xã hội 73
3.1.1 Gia đình – Dòng tộc 73
3.1.2 Làng xã 74
3.2 Lĩnh vực văn hóa giao tiếp và nghệ thuật 77
3.2.1 Ngôn ngữ giao tiếp 77
3.2.2 Nghệ thuật ngôn từ 81
3.2.3 Nghệ thuật diễn xướng 85
3.2.4 Nghệ thuật tạo hình 97
3.3 Tôn giáo - Tín ngưỡng – Phong tục – Lễ hội 104
3.3.1 Tôn giáo – Tín ngưỡng 104
3.3.2 Phong tục 111
3.3.3 Lễ hội 125
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤ LỤC 154
Phụ lục 1 : Bản đồ – Biểu trưng quốc gia 155
Phụ lục 2 : Gamelan 161
Phụ lục 3 : Hoa văn trên vải Batik 166
Phụ lục 4 : Ẩm thực của người Java 170
Phụ lục 5 : Keris 174
Phụ lục 6 : Đám cưới 177
Phụ lục 7 : Mitoni 191
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Java là dân tộc có số dân đông nhất ở Indonesia hiện nay Theo số liệu gần đây nhất (vào năm 2001), dân số Java có khoảng 109 triệu người, chiếm gần một nửa (46,2%) ở quốc gia vạn đảo này Người Java còn được cho là tộc người xuất hiện khá sớm ở Indonesia và là cộng đồng có một nền văn hóa rất lâu đời, phong phú gắn liền và chi phối toàn bộ đời sống văn hóa và quá trình phát triển ở Indonesia ngày nay.Trong quá khứ và hiện tại, người Java còn có những mối quan hệ đặc biệt với các cư dân trong vùng không chỉ dừng lại phạm vi Indonesia hiện nay mà còn có những quan hệ hết sức thú vị với các cư dân trong vùng Đông Nam Á
Trong giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay, việc hiểu biết văn hóa các dân tộc ở các quốc gia khác nhau là hết sức cần thiết Tìm hiểu, nghiên cứu dân tộc Java về mặt văn hóa giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về dân tộc này, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn so sánh với văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, hiểu thêm về đất nước, con người Indonesia, một quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa, là nước có quan hệ hữu nghị thân thiện thắm tình anh
em với dân tộc Việt Nam
Hiện nay, ngoài một số công trình học tiếng Indonesia và tự điển đối chiếu Indonesia – Việt, Việt – Indonesia hoặc một số sách, tài liệu giới thiệu về đất nước, con người Indonesia, ở nước ta, việc nghiên cứu dân tộc
Java chỉ được nói đến rất sơ lược Vì vậy, đề tài “Văn hóa của người Java ở Indonesia” được đặt ra, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ cũng trở
Trang 6nên cần thiết, vừa giúp mình có cơ hội thử nghiệm các kiến thức Văn Hóa Học được trang bị, đồng thời góp thêm hiểu biết sâu hơn về một tộc người có số dân đông nhất ở Indonesia
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung tìm hiểu văn hóa người Java ở Indonesia về khía cạnh văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Trong quá trình hình thành và phát triển, người Java đã có những ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội như thế nào để tạo nên những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Đề tài góp phần cung cấp những kiến thức văn hóa về Indonesia, góp thêm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về văn hóa tộc người
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay ở Việt Nam chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu văn hóa của người Java ở Indonesia được ấn hành Vài chục năm gần đây, xuất hiện một số sách giới thiệu lịch sử các nước Đông Nam Á và lịch sử Indonesia, trong đó có thông tin về dân tộc Java và văn hóa người Java Có
thể kể như: Lịch sử các nước Đông Nam Á của Lương Ninh và Hà Bích Liên (1992), Lược sử Đông Nam Á của Phan Ngọc Liên (1999), Lịch sử Indonesia của Huỳnh Văn Tòng (1991), Lịch sử các nước ASEAN của Khắc Thành và
Sanh Phúc (2001), v.v… Thông tin phong phú hơn là trong các công trình nghiên cứu văn hóa Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc (2003), của Mai Ngọc Chừ (1997), của Phạm Đức Dương và Trần Thị Thu Lương (2001)
Công trình nghiên cứu giới thiệu các dân tộc trong khu vực, trong đó có các dân tộc ở Indonesia, được xuất bản năm 1997, có hai quyển sách
đáng chú ý Đó là quyển “Tộc người ở các nước Châu Á” do Viện Thông tin
Trang 7Khoa học xuất bản và quyển “Các dân tộc ở Đông Nam Á” của tác giả
Nguyễn Duy Thiệu do nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành
Một số công trình biên soạn tự điển đã xuất bản với nội dung cô đọng, trình bày, diễn giải một số thuật ngữ về tộc người và văn hóa tộc người trong các nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có dân tộc Java Đó là
“Tự điển văn hóa Indonesia (giản lược)” của Phạm Thị Vinh (2003), “Tự điển văn hóa Đông Nam Á phổ thông” của Ngô Văn Doanh (1999), “Tự điển lịch sử – chính trị – văn hóa Đông Nam Á” của Phan Ngọc Liên (2005)
Bộ sách “Đối thoại với các nền văn hóa ” do nhà xuất bản Trẻ thành
phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2004 đáp ứng nhu cầu đông đảo của người
đọc tìm hiểu về văn hóa các nước, trong đó có quyển “Indonesia” dày 168
trang, trình bày về lịch sử, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật … của Indonesia
Ngô Văn Lệ trong công trình “Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á” xuất bản năm 2003 dành một chương viết về
hình thái làng xã của người Java ở Indonesia Đây là tập tài liệu phong phú và nhiều ý kiến sâu sắc về công xã nông thôn Java
Như vậy, cho đến nay có quá ít những công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc ở Indonesia, nhất là văn hóa dân tộc chủ thể của quốc gia rộng lớn và đông dân này là người Java
Nghiên cứu văn hóa của người Java nói riêng và các dân tộc ở Indonesia nói chung đáng chú ý là thư tịch cổ Việt Nam viết về quốc gia quần đảo này Bài “Hải trình chí lược – một quyển sách cổ viết về
Indonesia” (trong “Đông Nam Á ngày nay”, số 2, trang 146) cho biết: “Vào
Trang 8thời Nguyễn, các đoàn thuyền lớn của Việt Nam như “Phấn Bằng”, “Thuỷ Long”, “ An Dưỡng”, “Bình Dương”, “ Đinh Dương”, “ Bình Sa”, “An Ba”,
… đã vượt biển sang Indonesia buôn bán Phan Huy Chú đi công cán sang Indonesia trên các thuyền buôn này Ông đã để ý quan sát, ghi chép, thu thập được nhiều tư liệu về địa lý, văn hóa … trên cả hành trình và ở đất nước quần đảo này, biên soạn thành quyển Hải trình chí lược Trong đó có miêu tả phong tục tập quán của cư dân nơi ông đã đến…, chú trọng nhiều đến sinh hoạt xã hội của cư dân ở đảo Java, ở Djakarta” Đây là một tài liệu cổ,
hiếm và quí viết về người Java do một tác giả Việt Nam đến được Indonesia vào thế kỷ XIX ghi chép lại
Vào nửa đầu thế kỷ XX, nhà dân tộc học Việt Nam đầu tiên Nguyễn
Văn Huyên đã bảo vệ luận án tiến sĩ tại Pháp với đề tài nghiên cứu “Nhà sàn ở Đông Nam Á” (1934) Tác giả đã nghiên cứu nhà sàn của nhiều dân
tộc ở Đông Nam Á, trong đó có cả nhà sàn của người Java và Việt Nam Những tương đồng và dị biệt trong văn hóa nhà sàn được so sánh và phân tích khoa học, góp phần vào nghiên cứu văn hóa Indonesia và Việt Nam
Các dẫn liệu trên cho thấy trước đây hàng trăm năm, đã có người Việt Nam quan tâm tìm hiểu văn hóa Java cũng như cả Indonesia trong mối tương quan với văn hóa Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới mới cần có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc với qui mô to lớn hơn về văn hóa của các dân tộc ở các nước trong khu vực, trong đó văn hóa của người Java ở Indonesia có vị trí quan trọng
Các công trình nghiên cứu, giới thiệu văn hóa của người Java ở nước
ngoài, trước hết là ở Indonesia rất phong phú Như công trình “Java” của
Trang 9Peter Turner xuất bản 1999 nói về hòn đảo Java nơi có nhiều người Java cư trú lâu đời, nơi pha trộn giữa các nền văn hóa và tín ngưỡng, nơi mà đế chế Hindu giáo và Phật giáo đã đạt đến cực thịnh trước khi Hồi giáo đặt dấu ấn của mình trên hòn đảo này
“Kraton Jogia – The history & Cultural” của tác giả Hamengku
Buwon, dày 252 trang, trình bày khá chi tiết về lịch sử và văn hóa của Kraton – lâu đài của các quốc vương Islam và được coi là một trong những nghệ thuật kiến trúc, trang trí truyền thống của Java
John Gillow với công trình “Traditional Indonesian Textiles” xuất bản
năm 1995, dày 160 trang giới thiệu về các loại vải truyền thống của người Java ở Indonesia, trong đó có loại vải batik nổi tiếng trong nghề thủ công truyền thống của người Java Công trình này còn trình bày kỹ thuật dệt, nhuộm vải batik và giới thiệu bộ sưu tập về các loại hoa văn của vải batik hết sức phong phú
Cùng với tác giả John Gillow, tác phẩm “Batik: From the courts of Java and Sumatra” của các tác giả: Rudolf G Smend, Donald J Harper,
Brigitte Khan Majlis, Harmen C Veldhuisen, Peter Wenger, Leo Haks (xuất bản năm 2004) đề cao vị trí đặc biệt của batik trong lịch sử và văn hóa của người Java cùng với trang phục may bằng vải batik với 71 kiểu hoa văn khác nhau trong thời kỳ hoàng kim của loại vải batik này (1880 – 1930)
“Batik: design, style & history” của tác giả Fiona Kerlogue, xuất bản
2004, trình bày về lịch sử ra đời cách đây 150 năm của vải batik, đi sâu vào tìm hiểu màu sắc, môtíp, cách thiết kế các loại vải này Quyển sách là một
Trang 10sự so sánh giàu minh hoạ về batik và các loại vải thông thường khác của người Java ở Indonesia
Công trình khoa học “Kretek: The culture and heritage of Indonesia ‘s clove cigarettes”, được viết bởi Mark Hanusz trình bày sự phát hiện kretek
một cách ngẫu nhiên của một người đàn ông bị suyễn đang tìm mọi cách để chữa bệnh cho mình, và khi được khỏi bệnh nhờ vào thứ thuốc này thì ông đã làm cho kretek trở nên nổi tiếng và trở thành một nét văn hóa riêng của người Indonesia
Trong các công trình về Java do các nhà khoa học nước ngoài nghiên
cứu ở Indonesia cũng nên nhắc đến “Gamelan: Cultural Interaction and Musiacal Development in Central Java” của tác giả Sumarsam, xuất bản
năm 1995, trình bày khá chi tiết về từng bộ phận trong một dàn nhạc gamelan giúp cho chúng ta hiểu thêm về nền âm nhạc truyền thống của tộc người Java và các dân tộc Indonesia
Về người Java và Indonesia còn có nhiều tài liệu được công bố và vài tài liệu khác đăng tải trên một số phương tiện truyền thông ở nước ta Các công trình đã công bố bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài mà chúng tôi tiếp cận được chưa phải là tài liệu khoa học được trình bày một cách có hệ thống về văn hóa Java song tất cả những kết quả từ các nghiêu cứu đó
đều là những tài liệu quý báu để người thực hiện luận văn “Văn hóa của người Java ở Indonesia” có những hiểu biết ban đầu và vận dụng nó vào
việc nghiên cứu làm rõ văn hóa người Java ở Indonesia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu trọng tâm là tộc người Java ở khía cạnh văn hóa
Trang 11− Phạm vi không gian nghiên cứu là đảo Java – địa bàn cư trú chủ yếu của người Java
− Vấn đề nghiên cứu là nền văn hóa được người Java hình thành và sáng tạo trong quá trình phát triển và trong ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội ở Indonesia
5.Ýnghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu thực hiện đề tài “Văn hóa của người Java ở Indonesia” sẽ giúp chúng ta hiểu sâu về văn hóa Java ở Indonesia Kết quả nghiên cứu luận văn còn là một tài liệu tham khảo có giá trị khoa học khi nghiên cứu về văn hóa Indonesia và các nước Đông Nam Á
Điều này còn góp phần vào sự hội nhập của Việt Nam với khu vực và quốc tế Hiểu biết văn hóa truyền thống của người Java ở Indonesia sẽ giúp cho các nhà kinh doanh của Việt Nam có những thuận lợi trong quan hệ với Indonesia, các du khách Việt Nam thuận lợi khi đi du lịch sang Indonesia
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, ngoài việc nghiên cứu văn bản, tập hợp hệ thống, xử lý thông tin, tư liệu, tiếp cận những tài liệu chuyên khảo, những giáo trình về văn hóa học, về tộc người và văn hóa tộc người, tài liệu về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa Indonesia và văn hóa tộc người, tham khảo từ các tài liệu thành văn công bố bằng tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả ứng dụng cách quan sát và phỏng vấn trong điều kiện cho phép cũng như sử dụng nguồn thông tin và sự trợ giúp của Tổng Lãnh sự Indonesia tại thành phố Hồ Chí Minh, nguồn thông tin trên mạng Internet cung cấp cho luận văn các bản đồ, số liệu thống kê, nhiều tư liệu và hình ảnh minh họa
Trang 12Các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp về văn hóa tộc người và các tộc người, phương pháp dân tộc học và các phương pháp nghiên cứu về văn hóa sẽ được chú trọng nghiên cứu, trình bày
7 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba chương:
− Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn trình bày các khái niệm, thuật ngữ về văn hóa sẽ được dùng trong suốt luận văn, đồng thời giới thiệu tổng quan về lịch sử, đất nước, con người Indonesia Bên cạnh đó, giới thiệu
khái quát về hòn đảo Java – nơi cư trú chủ yếu của tộc người Java
− Chương 2: Văn hóa vật chất của người Java trình bày văn hóa vật chất của người Java trong lĩnh vực nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, thủ công nghiệp…, văn hóa vật chất để đảm bảo đời sống như: nhà ở,
y phục, trang sức, phương tiện đi lại
− Chương 3: Văn hóa tinh thần của người Java đề cập văn hóa tinh thần trong đó bao gồm: hôn nhân gia đình, dòng tộc, làng xã, các tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, lễ hội và các loại hình văn hóa nghệ thuật
− Phần phụ lục với các bản đồ, tư liệu, các hình ảnh minh hoạ về văn hóa tộc người Java
Trang 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng xã hội vô cùng phong phú và phức tạp Có lẽ chính vì vậy mà trong lịch sử đã từng có nhiều định nghĩa khác nhau về
văn hóa Năm 1952, trong cuốn sách Văn hóa, nhìn lại với con mắt phê phán các khái niệm và định nghĩa (Culture, a critical review of the concepts and definitions), hai nhà dân tộc học người Mỹ là Kroeber và C.L Kluckhohn
đã trích lục được khoảng ba trăm định nghĩa về văn hóa của nhiều tác giả thuộc nhiều nước khác nhau Mỗi định nghĩa đều muốn nhấn mạnh, đề cao một khía cạnh liên quan đến nhận thức cũng như liên quan đến nghề nghiệp của người đề xuất [Hoàng Nam 1998:8] Năm 1967, Abrahan Moles, nhà nghiên cứu người Pháp cũng đã thống kê được 250 định nghĩa về văn hóa
Tại hội nghị quốc tế họp ở Mêhicô do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7/1982 đến ngày 6/8/1982, những nhà văn hóa đại diện cho trên 100 nước đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hóa Và cuối cùng trong một tuyên
bố chung, Hội nghị thống nhất một quan niệm về văn hóa như sau : “Trong
ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Chính văn hóa đã đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành sinh vật đặc
Trang 14biệt, nhân bản có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ có văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân mình” [Hoàng Vinh 1996:11]
Ở nước ta vào năm 1942, khi trên thế giới còn đang bàn cãi nhiều đến khái niệm văn hóa, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra một định nghĩa mới về văn hóa với một nội dung khá đầy đủ và chính xác, không chỉ phù hợp với khái niệm văn hóa của UNESCO mà còn có phần rõ ràng hơn,
dễ hiểu hơn và đầy đủ hơn Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [Hồ Chí Minh 2000:431]
Như vậy ta thấy khái niệm văn hóa không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo sự phát triển của lịch sử xã hội Nhưng theo sự phân tích của
Trần Ngọc Thêm “do phải trình bày một cách ngắn gọn (mà ngắn gọn thì khó có thể đầy đủ được), cho nên các định nghĩa thường là đầu mối của những tranh luận nhiều khi vô bổ Bởi vậy điều quan trọng hơn cả không phải là định nghĩa như thế nào, mà là định nghĩa đó nói lên được những gì Để có định nghĩa khái niệm, trước hết cần xác định được những đặc trưng cơ
bản của khái niệm” [Trần Ngọc Thêm 2004:20]
Trang 15Từ sự phân tích của Trần Ngọc Thêm, ta có thể thấy ở văn hóa nổi lên bốn đặc trưng cơ bản nhất đó là: tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử – đây là những đặc trưng cần và đủ cho phép phân biệt văn hóa với những khái niệm liên quan Trên cơ sở bốn đặc trưng này, Trần
Ngọc Thêm đã định nghĩa văn hóa như sau:Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [Trần Ngọc Thêm 2004:25]
1.1.2 Khái niệm văn hóa tộc người
Mỗi tộc người trên thế giới trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đều sáng tạo cho mình một phức hợp văn hóa phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của chính tộc người đó Những giá trị văn hóa của từng tộc người đã làm phong phú thêm cho bức tranh văn hóa của nhân loại
Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển
ý thức tự giác tộc người [Đặng Nghiêm Vạn (cb) 2000: 125]
Trong quá trình nghiên cứu văn hóa, ở một chừng mực nhất định có sự phân biệt văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người Văn hóa của tộc người là tổng thể những thành tựu văn hóa do tộc người cụ thể sáng tạo hay tiếp thu, vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch sử [Đặng Nghiêm Vạn (cb) 2000: 126] Còn văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác Tức là
Trang 16những yếu tố văn hóa làm cho tộc người này khác với tộc người kia Các yếu tố văn hóa tộc người như vậy, phải kể đầu tiên là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, là vốn văn hóa dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc… [Ngô Đức Thịnh 2006:229]
Ví dụ: Trường hợp của tộc người Việt: những yếu tố văn hóa do người Việt sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử, mang những yếu tố chung của cơ tầng văn hóa Nam Á và những yếu tố văn hóa mà người Việt tiếp thu được ở giai đoạn sau từ văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp và từ văn hóa thế giới Như vậy, văn hóa của tộc người Việt vừa trình bày trên không mang sắc thái riêng biệt của tộc người mà chỉ là những nét văn hóa chung chung mà thôi
Thực ra, không phải lúc nào văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người cũng có ranh giới rõ rệt và bất biến Trong quá trình phát triển, không ít hiện tượng văn hóa lúc đầu chỉ là yếu tố vay mượn nhưng dần dần được dân tộc hóa, bản địa hóa, trở thành văn hóa tộc người, ít nhiều mang bản sắc dân tộc
Khi nói đến văn hóa tộc người là đề cập tới một phạm vi rất rộng bao gồm toàn bộ các khía cạnh đời sống của tộc người nhưng không phải chung chung về văn hóa, mà là những gì tạo nên sắc thái, bản sắc riêng mà tộc người đó tồn tại như một thực thể, không bị hòa lẫn với tộc người khác Bản sắc văn hóa của một tộc người là tổng thể những tính chất, tính cách được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần trước những thử thách lớn lao của mỗi tộc người,
Trang 17tạo nên sự thống nhất văn hóa của một tộc người Mỗi một tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đã hình thành nên bản sắc văn hóa của mình
Như vậy, tộc người nào cũng có nền văn hóa truyền thống của mình, có các đặc điểm văn hóa riêng Và đó chính là điều quyết định để một tộc người tồn tại, khu biệt với các tộc người khác [Nguyễn Quốc Lộc 1997:15]
1.1.2 Khái niệm văn hoá vật chất – văn hóa tinh thần
Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Do vậy, con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Từ đó văn hóa như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Một số nhà nghiên cứu cho rằng, văn hóa bao gồm ba bộ phận Đó là văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội Nhưng thật ra, thuật ngữ văn hóa xã hội ít thông dụng, thay thế nó người ta thường dùng thuật ngữ quan hệ xã hội hay quan hệ hôn nhân và gia đình
Văn hóa vật chất bao gồm những sản phẩm vật chất do con người
sáng tạo trong quá trình lao động Khi nói đến văn hóa vật chất, thông thường người ta đề cập đến công cụ lao động, vũ khí, phương tiện đi lại, phương tiện vận chuyển, nhà cửa, đồ ăn, thức uống, đồ gia dụng, đồ gỗ, quần áo, giày dép, đồ đội đầu, đồ trang sức Trong văn hóa vật chất còn bao gồm các loại cây trồng, các loài vật nuôi, cách xăm mình và các phương tiện làm đẹp khác
Văn hóa tinh thần là những sản phẩm lao động trì óc của con người
được sáng tạo trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Văn hóa tinh thần là một dạng thông tin được tồn tại trong tâm trí của một cộng đồng
Trang 18người nhất định Những thành tố văn hóa tinh thần được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, liên tục không bao giờ đứt quãng, bằng con đường truyền miệng hay bằng cách trình diễn và thường được biểu hiện trong các ứng xử nhất định
Thuộc về văn hóa tinh thần là những thói quen trong lao động sản xuất, những tri thức khoa học, những phong tục tập quán gắn liền với lao động sản xuất, với sinh hoạt xã hội và gia đình, tập quán pháp, dân luật cũng thuộc phạm trù văn hóa tinh thần Các hình thức văn học nghệ thuật, những sáng tác văn học dân gian, các hình thức vui chơi giải trí là những thành tố hợp thành văn hóa tinh thần của một tộc người Tôn giáo tín ngưỡng cũng là một mặt rất quan trọng của văn hóa tinh thần [Đặng Nghiêm Vạn (cb) 2000: 123]
Việc phân chia văn hóa của một tộc người thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần chỉ đơn giản là giúp cho việc nghiên cứu văn hóa nói chung và văn hóa tộc người được thuận lợi hơn Trong thực tế, văn hóa của một tộc người là một thể thống nhất Chúng luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hóa cho nhau Vì vậy, tuỳ theo những mục đích khác nhau mà việc phân biệt văn hóa vật chất và tinh thần sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác nhau (Trích bài giảng của Trần Ngọc Thêm)
Trang 191.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về Indonesia
1.2.1.1 Đất nước
Cộng hòa Indonesia là quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới với trên 17.500 hòn đảo lớn nhỏ [Nguyễn Quốc Lộc (chủ biên) 2004: 159] trải dài từ
vĩ độ 608 Bắc đến vĩ độ 11015 Nam, và từ kinh độ 94045 đến 141005 Đông,
ch y d c hai bên đường xích đạo tạo thành một vòng cung nối liền giữa châu Á và châu Úc, là ngưỡng cửa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương
Indonesia có đường biên giới đất liền trên đảo Kalimantan giáp với Liên bang Malaysia (bang Sarawak và Sabah) và trên đảo Irian Jaya giáp với nước Cộng hòa Papoua New Guinéa
Hình 1.1: Bản đồ Indonesia [Nguồn: htpp://www.lonelyplanet.com/maps/asia/indonesia]
Trang 20Bởi vì quá rộng nên đất nước Indonesia có đến ba múi giờ:
− Vùng Tây bộ Indonesia, giờ tiêu chuẩn bằng giờ GMT cộng 7 (Meridian
1500 Đông), bao gồm các tỉnh ở Sumatra, Java, Madura cùng các tỉnh
phía Tây và Trung bộ Kalimantan
(Meridian 1200 Đông) bao gồm các tỉnh ở Đông và Nam Kalimantan, tất
cả các tỉnh thuộc Sulawesi và Bali, Tây và Đông Nusatenggara
(Meridian 1330 Đông) bao gồm các tỉnh Maluku và Irian Jaya
Toàn thể diện tích Indonesia là 7.438.126 km2 Bao gồm các đảo và
các biển được tạo bởi cả một quá trình tụt xuống của lục địa Trong đó gồm
khoảng 2.027.987 km2 lãnh thổ và 5.410.139 km2 lãnh hải với đường duyên
hải chạy dài suốt 6.147.775 km Người Indonesia gọi đất nước của họ là
Tanah Air Kita có nghĩa là “Nơi của Đất và Nước” hay là “Đất nước ta”
Ở Indonesia có khoảng 6.000 đảo có người ở Có thể kể một số đảo
lớn như:
tích (km2)
Tỉ lệ
% lãnh thổ
28.1124.6721.99
Trang 219.856.891.050.980.800.750.290.29Nguồn: [ Nguyễn Quốc Lộc (cb) 2004: 161] Thủ đô Cộng hòa Indonesia là Jakarta, trước đây là một thị trấn cảng nhỏ có tên là Jayakarta (thành phố của chiến thắng vĩ đại) và được thành lập vào năm 1527 Dưới thời đô hộ của Hà Lan, thành phố được đổi tên là Batavia trước khi trở thành Jakarta Giờ đây Jakarta là trung tâm chính trị, văn hóa, thương mại, trải dài trên diện tích 656km2 với dân số khoảng 12 triệu người Là một khu vực đặc biệt, Jakarta được chính phủ quản lý Là cửa ngỏ chính để vào Indonesia, thành phố là sự tương phản giữa kiến trúc phương Tây và văn hóa truyền thống Indonesia Jakarta đang phát triển một cách nhanh chóng thành một thành phố đi đầu về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Quần đảo Indonesia được hình thành nhờ dung nham của các núi lửa dưới đáy sâu đại dương phun lên Chính vì thế mà Indonesia có đến 400 ngọn núi lửa, trong đó có 115 ngọn núi lửa vẫn đang còn hoạt động Núi lửa nổi tiếng nhất của Indonesia là núi Karacatau ở Tây Java Tro bụi núi lửa, các dòng bùn nham thạch khi nguội lại, bị phong hóa tạo ra loại đất đỏ
Trang 22bazan thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là nơi chứa nhiều khoáng sản, trong đó có cả kim cương Và cho đến ngày nay, các khu vực núi lửa đó lại trở thành điểm du lịch mạo hiểm thu hút ngày càng đông đảo
du khách thế giới
Do vị trí nằm ngang qua xích đạo, quần đảo này có khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới – nóng ẩm và mưa nhiều Indonesia có hai mùa, và hai mùa này cũng không khác biệt nhau lắm Mùa khô kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10, mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 5, lượng mưa thay đổi thất thường theo mùa Trong mùa khô, quần đảo chịu ảnh hưởng của gió đông nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió đông bắc, gió chứa hơi nước nặng trĩu vượt qua biển Nam Trung Hoa mang những cơn mưa đến Độ ẩm trung bình khoảng từ 60% đến 100% (tuỳ theo đảo) Nhiệt độ trung bình là 260C
Những đảo ở phía Đông Nam của Indonesia thì mùa khô có thể kéo dài đến tháng 7 Sumatra và Kalimantan nằm gần hơn về phía xích đạo và
xa hơn Úc có mùa khô ngắn Tuy ở ngay xích đạo nhưng khí hậu Indonesia không khắc nghiệt như ở sa mạc Châu Phi, mà ngược lại ở độ cao 5000m (thuộc Irian Jaya) còn có tuyết phủ, có những cánh rừng nhiệt đới tươi tốt (thuộc Tây Java), cho đến những thảo nguyên ở đảo Tây Timor, dãy đầm lầy oi bức ở phía Đông Sumatra… Tất cả là nhờ ảnh hưởng của gió mùa, của biển rộng, núi cao và của các khối lục địa Châu Á và Châu Úc
Cũng chính nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi đã làm cho Indonesia trở thành một trong những quốc gia có thảm thực vật phong phú nhất ở Đông Nam Á và trên thế giới Indonesia như một bảo tàng thực vật nhiệt đới với
Trang 23hàng vạn loài thực vật, hàng trăm loại động vật và hàng chục loại khoáng sản
− Mưa nhiều và độ ẩm cao nơi đây đã tạo ra những khu rừng rậm rạp nhất thế giới Cây cối mọc thành từng tán dày, ngăn ánh sáng mặt trời len xuống những tầng thấp hơn, nơi có nhiều loại cây leo sống ký sinh đang cố vươn lên để kiếm chút ánh sáng mặt trời
Hệ thực vật của Indonesia không chỉ nhiều mà còn độc đáo và đa dạng đến mức kinh ngạc Cho đến nay người ta đã ghi nhận được hơn 40.000 loài
Hình 1.2: Hoa khổng lồ ở Indonesia [Nguồn: http://www.jakartadailyphoto.com/index.php/category/flowers]
Indonesia là một trong những nước có nhiều khu rừng cây lấy gỗ giàu có nhất thế giới và cũng là nơi tập trung các loại gỗ cứng nhiệt đới nhiều nhất thế giới Có ba dạng rừng chủ yếu: rừng mưa nhiệt đới với các loại cây có giá trị kinh tế cao như lim, mun, gu, tếch, trầm hương, long não,…
Ở các vùng đất thấp, rừng cận nhiệt đới và ôn đới phát triển tại vùng đồi núi cao với các loại cây chủ yếu như sồi, nguyệt quế, dẽ, … Rừng ngập mặn ven biển phát triển ở vùng bờ biển đầm lầy Sumatra, Kalimantan,
Trang 24Tây Irian, … Ngoài ra, ở Indonesia còn có những rừng cây gỗ quý giá, những rừng tre, luồng, bương, … có loại bương đường kính đến 75cm Mây song nhiều, có cây song dài đến 200m Trong rừng Indonesia còn có cây xagu, thốt nốt, … Trong các loại cây trồng có các loại cây ăn quả nhiệt đới như sầu riêng, măng cụt, xoài, có cây cung cấp hương liệu như hồ tiêu, đinh hương, đậu khấu Indonesia cũng có nhiều dừa và người ta thường nuôi khỉ để hái dừa
− Vì những hòn đảo như Sumatra, Java, Kalimantan đã có thời nối với lục địa châu Á bởi một dải đất hẹp vào cuối kỷ Băng hà, nên có những loài động vật của lục địa châu Á cũng hiện diện tại đây như hổ, voi … Động vật trên đảo Irian Jaya, nơi giờ đây chìm dưới thềm lục địa Sahul, cũng giống với những loài thú ở châu Đại dương như thú có túi, Kanguru Ngoài ra, quần đảo nhỏ Sunda nằm giữa vùng nước sâu bị cô lập với các vùng khác có nhiều loại động vật đặc biệt không tìm thấy ở nơi nào khác
Hình 1.3: Tê giác Hình 1.4: Rồng Komando
[Nguồn: http://www travel_images.com/indonesia_ html]
Trang 25Indonesia nổi tiếng vì sự phong phú kỳ lạ về các loài chim, côn trùng, bò sát, rắn, cá và nhiều loại động vật khác như tê giác một sừng Java, đười ươi có bộ lông dài màu da cam chỉ có ở Sumatra và Kalimantan, loài hươu nhỏ chỉ cao 40cm, bướm Atlas với đôi cánh rộng tới 30 phân, chim Thiên đường với bộ lông sặc sỡ mà không biết bay, nhiều loại chim mỏ sừng và loài rồng Comodo độc nhất vô nhị, những động vật hoang dã có sừng, hổ cùng nhiều loài thú khác
Irian Jaya nổi tiếng thế giới về chim, có trên 670 loài đã được ghi nhận Sự quan tâm gìn giữ cuộc sống hoang dã phong phú này đã dẫn đến việc thành lập một số khu bảo tồn thiên nhiên trên khắp đất nước Indonesia
Hình 1.5: Loài bò sát ở Indonesia [Nguồn: http://www.phase.com/rileyuni/animals]
Indonesia cũng có rất nhiều loài sinh vật biển sinh sống trong các vùng nước giữa hàng ngàn hòn đảo, từ những loại cá lớn như cá ngừ, cá maclin, cá nhồng cho đến cá voi, cá mập đầu búa và cá đuối điện
− Về khoáng sản, Java đã có nổi tiếng nhiều vàng từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên Hiện nay Indonesia là một trong những nước sản xuất
Trang 26nhiều dầu lửa Ngoài ra có các mỏ thiếc, đồng, chì , kẽm, mangan, boxi1t, vàng, bạc, kim cương
− Cuối cùng, biển rộng bao la xung quanh đất nước vạn đảo này là một nguồn tài nguyên vô tận
1.2.1.2 Con người
Indonesia là một trong những quốc gia đông dân nhất trên thế giới, chỉ đđứng sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Mỹ với số dân 224.784.210 người (2001)
Dân số Indonesia phân bố không đều Hơn 60% dân cư sống trên đảo Java, hòn đảo chiếm chưa đến 7% diện tích cả nước Với mật độ gần 1.000 người chen chúc trong 0,6 km2, Java là nơi có mật độ dân số cao nhất thế giới Cùng với sự tăng trưởng dân số 2% một năm, dân số Java tăng lên gấp đôi trong vòng 30 năm Ngược lại, Kalimantan chiếm trên 25% diện tích Indonesia nhưng lại chỉ có 4% dân số sống ở nơi đây
Khoảng 70% dân cư sống ở nông thôn Indonesia thực tế phải gọi là một quốc gia làng xã với hơn 60.000 ngôi làng Tuy nhiên, Indonesia cũng có những thành phố lớn nhất châu Á Năm 1999, dân số Jakarta là 7.636.000 người Khi Jakarta tiếp tục mở rộng, nó sẽ hợp nhất với các thành phố nhỏ xung quanh
Indonesia là một nước có dân số trẻ với 1/3 dân số ở đđộ tuổi dưới
20 Đây là kết quả của việc dân số tăng nhanh, nhất là tại những khu vực kém phát triển hơn, nơi mọi người đđều muốn có nhiều con để chúng giúp đỡ họ khi về già Tuổi thọ trung bình của người dân là 61
Trang 27Indonesia có khoảng 150 tộc người, trong đó người Java là dân tộc chủ thể [Nguyễn Quốc Lộc 1997:116] Tuyệt đại bộ phận cư dân Indonesia (96%) nói những ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau của ngữ hệ Malayo-Polynesia
Những tộc người đông dân ở Indonesia gồm: người Java (chiếm 46% số dân cả nước), người Sundan- hay Sunđa (13%), người Mađura (6%), người Malay (5,5%), người Minangkabau (3,9%), người Bugi (2,7%), người Batak (3,4%), người Bali (1,9%), người Bangiara (1,5%), người Aceh (1,5%), người Dayak (1,4%), người Macaxa (1%)… Ngoài ra, ở Indonesia còn có những đại diện của người Papou Melanesi sống chủ yếu ở Irian Jaya, trên đảo Maluku [Nguyễn Quốc Lộc 1997:165]
Bên cạnh những tộc người kể trên, ở Indonesia hiện còn những cộng đồng sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm Đó là những cộng đồng người Batin, Cubu, Akit,… sống trong những vùng rừng sâu ẩm ướt ở Sumatra và các đảo khác Người Mã Lai thường gọi những nhóm người này là Orang- utan (nghĩa là “người rừng”) hay Orang- đarat (nghĩa là “người vùng sâu”) Các nhóm người bộ lạc này được gọi chung là “người Cubu” Sống trên khắp các đảo ở Indonesia còn có một số bộ lạc được gọi là Orang- laut (người biển)
thời gian gần đây Mặc dù chỉ chiếm 2% dân số nhưng lại là một bộ phận quan trọng trong các hoạt động kinh tế Indonesia
1.2.1.3 Lịch sử đất nước
Trang 28Những phát hiện khảo cổ cho thấy quần đảo Indonesia đã từng là một trong những quê hương đầu tiên của con người thời cổ xưa Ở miền Đông Java, người ta đã tìm thấy bộ xương hóa thạch của người Pithecantropus Erectus mà trên sách báo thường gọi là vượn người Java Ở Solo vào năm
30 của thế kỷ XX, hóa thạch Neanderthal – một dạng người cổ tiến bộ hơn người Pithecantropus cũng được tìm thấy Hóa thạch của người Homo Sapiens đã được tìm thấy ở hang Nias phía Bắc đảo Borneo Niên đại hóa thạch này được xác định khoảng bốn nghìn năm trước đây
Tại Patgitan, người ta đã tìm thấy khá nhiều rìu tay thuộc sơ kỳ đồ đá cũ Và nơi này đã trở thành tên gọi chung của văn hóa đồ đá cũ ở Indonesia Một số di chỉ thuộc thời kỳ đồ đá giữa cũng được khai quật
− Vào thời đại đồ đá mới, cư dân Indonesia đã sống tập trung Một nhà nhân chủng học cho rằng: Người Malay ngày nay của Indonesia đã đến đây trong hai đợt sóng di dân lớn và họ đã trải ra khắp Sumatra, Borneo, Sulawesi và Java:
− Đợt di cư đầu tiên với Proto-Malays là nhóm người có được nền văn hóa thời kỳ đồ đá mới Hậu duệ sau này là người Batak ở Sumatra, người Toraja ở Sulawesi và người Dayah ở Borneo Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những khu cư trú lớn với nhiều rìu, bôn, bàn nghiền, chày đá, gốm có hoa văn khắc chìm, …
− Làn sóng thứ hai với người Deutero-Malays, người đã mang đến và phát triển nền văn minh từ thời kỳ đồ đồng từ bán đảo Đông Nam Á, là hậu duệ sau này sống ở vùng ven biển của những đảo trong dãy Đại Sudan liệt đảo (như Sumatra và Java)
Trang 29Cư dân Indonesia cũng bước vào thời đại kim khí khá sớm Ở đây người ta đã tìm được nhiều lưỡi rìu đồng, lưỡi cày, lưỡi cuốc bằng đồng và một số trống đồng Chủ nhân và người sáng tạo ra nền văn hóa vật chất phong phú đó là người Indonesia cổ Họ mang nhiều yếu tố Negroid, có nước da hơi đen, môi dày, tóc xoăn và cứng mà người Batak ở Sumatra và người Dayak ở Kalimantan là những hậu duệ cho đến ngày hôm nay Về sau, một bộ phận khác của cư dân Đông Nam Á thuộc ngữ hệ Malayo – Polynesia đã di cư đến đây với quy mô lớn và họ đã giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng các quốc gia đầu tiên ở Indonesia
Vào đầu công nguyên, ở Indonesia bắt đầu xuất hiện thêm nhiều yếu tố mới Đó là sự xâm nhập của văn hóa Ấn Độ đã để lại những dấu ấn đậm nét trong chữ viết cổ Java, cũng như đạo Hindu đã có những ảnh hưởng khá lớn trong các công trình kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật… ở trên quốc gia này Chính vì vậy, trong sử thi Ramayana của Ấn Độ có đề cập đến hòn
đảo Java: “Hãy nghiên cứu kỹ về Javadvipa, một hòn đảo gồm bảy vương quốc, hòn đảo vàng và bạc, đầy những chế phẩm bằng vàng”
Quốc gia đầu tiên được biết đến là Taruma ở phía Tây Java Tại đây
người ta đã tìm được một số văn bản bằng chữ sanskrit cho biết tên ông vua
đầu tiên của Taruma là Punavarman, trị vì vào năm 450 Taruma có quan hệ buôn bán với nhiều nước trong đó chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ
Vào cuối thế kỷ thứ VII, ở miền đông đảo Sumatra, quốc gia Phật giáo Palembang hay Srivijaya hình thành, nhờ làm chủ được eo biển Sunda nên nhanh chóng phát triển và trở thành một quốc gia hùng mạnh, một trung tâm kinh tế và văn hóa quan trọng của khu vực Đông Nam Á Nhưng
Trang 30địa bàn Sumatra không có điều kiện để phát triển cân đối về kinh tế – giữa thương nghiệp, nông nghiệp và khai thác lâm sản – bằng đảo Java Vì thế mà Java đã sớm giành được ưu thế hơn, có lẽ vì vậy mà Srivijaya đã phải chịu thần phục “Vương triều Núi” (Sailendra) của quốc gia Kalinga ở Java trong các thế kỷ VIII – IX
Thời kỳ vương triều Sailendra trị vì là thời kỳ thịnh vượng của Kalinga, nhất là vào khoảng những năm 750 – 860 Vương triều Sailendra rất sùng đạo Vào thế kỷ VII – VIII, Kalinga đã trở thành một trung tâm phật giáo quan trọng Ngày nay, người ta còn thấy rất nhiều đền đài nằm rải rác ở vùng đồng bằng và trên các triền núi vùng trung bộ Java, nổi tiếng nhất là ngôi đền Borobudur được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VIII
Kalinga hay nước Java còn nổi tiếng là một cường quốc quân sự Các bia ký thuộc thế kỷ VIII – IX, cho biết dòng “vua núi” ngự trị cả ở Srivijaya, lan rộng sang bán đảo Malaysia (tấm bia tìm thấy ở Ligo – Malaysia có niên đại 775) Thậm chí người Java lợi dụng sự suy yếu của vương quốc Cambodia sơ kỳ để xâm chiếm và đô hộ cho đến đầu thế kỷ
IX Họ còn đem quân vượt biển tấn công cướp phá Chămpa hai lần vào các năm 774 và 787, hạm thuyền của họ cũng tiến ra cướp phá ở đồng bằng sông Hồng [Lương Ninh – Hà Bích Liên 1998: 189]
Đến thế kỷ X, vương quốc Kalinga được gọi theo tên mới là Mataram Mataram tiếp tục phát triển và thâu tóm toàn bộ vùng đông đảo Java, trong đó bao gồm cả lưu vực sông Brantas phì nhiêu Trong giai đoạn này, Ấn Độ giáo lan rộng, phát triển song song với đạo Phật đã có từ trước
Trang 31Vào cuối thế kỷ X cho đến đầu thế kỷ XI, vương quốc Mataram bị chia rẽ và cướp ngôi Erơlanga – cháu ngoại của nhà vua phải bỏ trốn Được sự ủng hộ của tầng lớp quý tộc và tăng lữ, Erơlanga đã trở về và lên ngôi vua (1010 – 1049), mở đầu cho một triều đại mới, phát triển phồn thịnh ở Indonesia Sự thịnh vượng của Indonesia dưới thời trị vì của Erơlanga còn biểu hiện ở sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc, khác với thời kỳ đầu xây dựng vương quốc là thời kỳ Indonesia tiếp thu mạnh mẽ ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Ấn Độ Một bộ luật cổ Java mang tên
Sivasaxana do chính vua Erơlanga xây dựng nên đã được ban hành Tác phẩm “Đám cưới Arjuna”, ca tụng hôn nhân của vua Erơlanga và công chúa
Sumatra được nhà thơ Kanva viết bằng chữ Java vào năm 1035 Các sử thi viết bằng chữ Java mà đề tài rút từ những sử thi Ấn Độ lần lượt ra đời:
Crisnodana, Bharatayudha, Harivamsa… [Lương Ninh – Hà Bích Liên 1998:
192]
Khi Erơlanga qua đời (1049), ở Java nổi lên một số vương quốc mới nổi lên và luôn xung đột với nhau như: Kađiri (Trung Java), Tumapen (Đông Java) Năm 1222, Ken Ang –rốc, vua của Tumapen, mang quân tiêu diệt Kađiri và thành lập vương quốc mới lấy tên là Singhasâri
Kritanaga là ông vua cuối cùng của Singhasâri (1266 – 1292) và cũng là thời kỳ thịnh vượng cuối cùng của vương quốc này Sau khi thống nhất được Java, Kritanaga đã đem quân chinh phục Sumatra (1275) và đảo Bali (1284) Quốc gia Indonesia đã phục hồi được thế lực của mình trong một thời gian dài
Trang 32Cuối năm 1292, Hốt Tất Liệt đã đem quân sang đánh Indonesia Lúc này Kritanaga đã bị một kẻ trong hoàng tộc cướp ngôi và giết chết, triều đình hỗn loạn Vì vậy khi quân Nguyên đổ bộ vào Java, đã chiếm được Java một cách dễ dàng Nhưng sau một thời gian chiếm đóng, quân Nguyên gặp khó khăn trong việc vận chuyển binh sĩ, lương thực và không phát huy được sở trường của mình Họ lại gặp sự đối kháng mạnh mẽ của nhân dân Indonesia, nên một năm sau phải rút quân về nước
Sau khi đuổi được quân xâm lược, Kritaragiasa – người chỉ huy có vai trò nổi bật nhất đã được tôn lên làm vua, hiệu là Vijaya Ông đóng đô ở Mojopahit và bắt đầu xây dựng quốc gia Mojopahit vững mạnh ở Java
Vương quốc Mojopahit phát triển cực thịnh dưới thời vua Hayam Wuruk, hiệu là Rajasanagara (1350 -1389) Đường biên giới của vương quốc được mở rộng bao gồm toàn bộ đảo Java, Sumatra, Tây và Nam Kalimantan, đảo Sulawesi, bán đảo Malaysia và đảo Maluku Đây là thời kỳ hưng thịnh nhất của nền văn hóa Ấn Độ giáo Những bản trường ca Ramayana và Mahabarata được đón nhận như ánh sáng soi đường cho nền văn hóa và các sáng tạo của Java-Sumatra, cả nghệ thuật “rối bóng Wayang” xuất xứ từ đấy vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay ở Indonesia [Nguyễn Quốc Lộc 2004: 167-168]
Cũng vào đầu thế kỷ thứ XIII, những nhà buôn từ Gujarat – Ấn Độ bắt đầu truyền bá đạo Islam trên quần đảo Indonesia Đến thế kỷ thứ XVI, đế chế Mojopahit suy vong, thay thế vào đó là các vương quốc Islam Dần dần, đạo Islam được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Và cho đến nay, Indonesia trở thành một quốc gia Islamlớn nhất thế giới
Trang 33Từ đầu thế kỷ XVI, thương nhân Bồ Đào Nha đặt chân đến khu vực này Tiếp đó là người Tây Ban Nha Nhưng người Hà Lan với công ty thương mại Đông Ấn (VOC) đã trở thành những kẻ thống trị quần đảo, thiết lập chế độ thực dân trong suốt hơn 300 năm chỉ trừ 3 năm (1811 – 1814) Indonesia rơi vào tay Anh, còn lại là do Hà Lan thống trị Nhân dân Indonesia đã không ngừng đấu tranh chống lại bọn thực dân [Khắc Thành – Sanh Phúc 2001:61]
Đầu thế kỷ XX lần lượt ra đời các tổ chức chính trị ở Indonesia như: Hội Thương nhân Hồi giáo, Liên minh Hồi giáo, Đảng Indonesia,… và đến năm 1920, Đảng Cộng sản Indonesia được thành lập (ngày 23/5/1920) Từ năm 1920 – 1926 Đảng Cộng sản hoạt động công khai Từ đầu năm 1927 đến 1945 thì hoạt động Liên hiệp Nhân dân (Sarekat Rajat) là một tổ chức quần chúng do Đảng thành lập thu nạp hàng vạn hội viên Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân diễn ra Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Java (1926), ở Sumatra (1927),… đều bị đàn áp
Từ ngày 28/10/1928 tổ chức Đại hội thanh niên ở Jakarta, trịnh trọng tuyên bố:
1) Chúng tôi, các nam nữ thanh niên Indonesia công nhận xây dựng đất nước thống nhất, đất nước Indonesia
2) Chúng tôi công nhận dân tộc thống nhất, dân tộc Indonesia
3) Chúng tôi theo ngôn ngữ thống nhất, tiếng Indonesia
[Phạm Thị Vinh 2003 :67]
Trang 34Từ đây lần đầu tiên tiếng Melayu được gọi là Bahasa Indonesia và bài hát Indonesia Raya (Indonesia vĩ đại) được vang lên và sau này đã trở thành quốc ca của Indonesia [Khắc Thành – Sanh Phúc 2001:66]
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, các lực lượng vũ trang Hà Lan đã đầu hàng Nhật Bản ngày 8/3/1942 Những năm Nhật Bản chiếm đóng Indonesia (1942 – 1945) là thời kỳ gian khổ, nghèo đói và khổ sai Ngày 17/8/1945, hai ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh không điều kiện, Indonesia tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa Sukarno là Tổng thống đầu tiên của Nhà nước mới, dựa trên nguyên tắc Pancasila gồm
3 Mafakat (là cách giải quyết thống nhất, được thông qua mà không cần biểu quyết, sau khi cùng nhau thảo luận (musjawarah) bất kỳ câu
hỏi vấn đề nào của thành viên công xã, và thường mang tính chất thỏa hiệp)
4 Chế độ dân chủ phù hợp các truyền thống tương trợ (gotong - rojong)
của xã hội Indonesia
5 Niềm tin vào thượng đế, được biểu hiện như là thái độ khoan dung đối với tín ngưỡng (mỗi người có thể tin vào thượng đế của mình)
Trang 35Nhưng sau đó không lâu, việc lén lút đưa quân đội trà trộn với quân đồng minh và những người bị giam giữ của thực dân Hà Lan đã được đáp lại bằng những trận đấu đẫm máu nổ ra ở Jakarta, Bandung, Surabaya và những thành phố chính khác
Hiệp ước Linggardjati được ký vào ngày 25/3/ 1947 với sự giúp đỡ của ông Killearn (người Anh) đã công nhận “thực tế” nền Cộng hòa ở Java, Bangka, Mudura… cũng như việc ký kết những hiệp định trước đó dàn xếp hòa bình với Hà Lan Theo hiệp định này, Hà Lan công nhận quyền lực thực tế của Cộng hòa Indonesia ở Java và Sumatra, đồng thời cả hai phía sẽ cùng lập ra Liên hiệp Liên bang (Bondstaat) vào năm 1949
Hiệp định Linggardjati đã tạo cho Cộng hòa Indonesia có thời gian củng cố lực lượng và vị trí của mình trên trường quốc tế Anh, Pháp, Mỹ, Aán Độ và nhiều nước Châu Á đã công nhận quyền thực tế của Indonesia Mặc dù vậy, người Indonesia vẫn chưa hài lòng với hiệp định này
Vị trí của Cộng hòa Indonesia ngày càng củng cố trên trường quốc tế, khiến cho Hà Lan lo lắng Ngày 21/6/1947, quân đội Hà Lan bắt đầu cuộc chiến tranh chống lại nước Cộng hòa Indonesia Hiệp định Renville được ký kết trên tàu USS Renville ngày 17/1/1948 đã kết thúc cuộc tấn công toàn diện của Hà Lan vào nước Cộng hòa Indonesia Họ gọi là “hành động cảnh sát” được tiến hành vào ngày 21/7/1947 Tiếp theo là sự chiếm đóng Yogyakarta và việc bắt giữ Tổng thống Sukarno, phó tổng thống Muhammad Hatta, Syahri và các nhà lãnh đạo cộng hòa khác trong cuộc tấn công quân sự lần thứ hai của Hà Lan vào tháng 12 năm 1948, các chiến
sĩ đấu tranh để mang lại tự do cho Indonesia bắt đầu một cuộc chiến tranh
Trang 36du kích do tướng Sudirman chỉ huy, trong khi đó một chính phủ khẩn cấp được thành lập ở Bukit Tinggi, Tây Sumatra do Syafuddin Prawiranegara đứng đầu
Hiệp định “Roem Vaan Royen” quy định về việc hoàn trả Yogyakarta cho nước Cộng hoà Indonesia và quân đội Hà Lan phải rút quân trước khi tổ chức Hội nghị bàn tròn trên cơ sở chuyển giao chủ quyền cho Hiệp Chủng Quốc Indonesia ngày 27/11/1949 bao gồm 16 tiểu bang liên hiệp với Hà Lan, một Hiến pháp Liên bang và hệ thống chính phủ dựa trên nền dân chủ nghị viện
Đến ngày 17/8/1950, Indonesia từ bỏ nhà nước theo kiểu liên bang và trở lại cương vị ban đầu là một Nhà nước thống nhất
Cuộc tranh giành Tây Irian kéo dài trong 13 năm, cuối cùng đã kết thúc bằng việc ký hiệp định NewYork vào ngày 15/8/1962 Theo các điều khoản của hiệp định này thì Hà Lan phải chuyển giao chính quyền miền Tây Irian cho UNTEA (cơ quan cầm quyền hành pháp lâm thời của Liên Hiệp Quốc) vào ngày 1/10/1962, sau đó cơ quan này đã chuyển giao cho nước Cộng hòa Indonesia vào ngày 1/5/1963
Năm 1966 cũng là năm chính phủ “trật tự mới” đra đời để chống lại những lệch lạc đi chệch hướng Pancasila và Hiến pháp năm 1945 Những lệch lạc này đã làm Indonesia suy yếu nhiều lĩnh vực
Ngày 28/9/1966, Indonesia được công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc
Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN) được thành lập tại Bangkok (Thái Lan) bao gồm 5 nước đầu tiên:
Trang 37Indonesia, Singapore, Malaysia, ThaiLan và Philippines Và Indonesia là một trong năm thành viên sáng lập ra tổ chức này
Tháng 3- 1967, phiên họp bất thường của Quốc hội đã hợp thức hóa những nhượng bộ chuyển giao toàn bộ quyền lực điều hành đất nước cho tướng Suharto của Tổng thống Sukarno Từ đây, Indonesia mới thực sự bước vào thời kì ổn định và phát triển – thời kì “trật tự mới” của Tổng thống Suharto
Sau 30 năm cầm quyền, ngày 21/5/1998, Tổng thống Suharto đọc diễn văn tuyên bố từ chức Thay vào đó nguyên là Phó Tổng thống B.J.Habibie được hơn một năm thì vào ngày 20/10/1999 Hội đồng Hiệp thương Nhân dân Indonesia (MPR- cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao của Indonesia, tương đương Quốc hội) đã tiến hành bỏ phiếu bầu Tổng thống mới [Khắc Thành – Sanh Phúc 2001: 84] Người đắc cử là ông Abdurrahman Wahid với số phiếu được bầu cao nhất, đứng sau là bà Megawati Sukarnoputri (con gái cựu tổng thống Sukarno) ở chức vị Phó tổng thống
Indonesia đã phế truất Tổng thống Wahid và bầu bà Megawati làm tổng thống mới của Indonesia Năm 2004, Indonesia bầu lại tổng thống nhiệm kỳ mới, người hiện đang ở cương vị này là Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono
Hiện nay, Hội đồng Hiệp thương (MPR) là cơ quan quyền lực cao nhất ở Indonesia Dưới Hội đồng Hiệp thương là năm cơ quan quyền lực
Trang 38ngang nhau: Phủ Tổng thống, Viện Dân biểu, Hội đồng Cố vấn tối cao, Ban Kiểm tra tối cao và Tòa án tối cao
1.2.2 Người Java ở Indonesia
Đảo Java là một trong những hòn đảo lớn nhất Indonesia Nằm ở vị trí giữa 60 và 90 Bắc và 105 – 115 độ Đông Có diện tích là 132.187km2, kể cả các đảo nhỏ xung quanh và đảo Madura (ở phía đông bắc, có diện tích là 5.471km2) Chiều dài của đảo từ đông sang tây là 1.050km, còn chỗ rộng nhất của đảo (vùng phía đông) là gần 200km Trên đảo Java có hơn 100 núi lửa, trong đó có gần 30 núi lửa vẫn còn hoạt động Java thuộc miền khí hậu nhiệt đới với một mùa khô từ tháng ba đến tháng chín và một mùa ẩm ướt từ tháng chín đến tháng ba năm sau
Java nổi tiếng là vựa thóc của cả nước và là đảo đông dân nhất cả nước (năm 1998, dân số trên đảo này là trên 120 triệu, tức là hơn 60% dân số Indonesia)
Hình 1.6 : Bản đồ đảo Java [Nguồn: http://www.weit-atlas.com]
Trang 39Trên đảo có ba tộc người chính cư trú: người Java, chiếm khoảng 70% dân cư trên đảo, cư trú chính ở vùng Trung tâm và Tây Java, người Sundan, chiếm khoảng 22% cư dân trên đảo, cư trú chính ở Đông Java, người Madura, chiếm khoảng 2,3% cư dân trên đảo và sống chủ yếu trên đảo Madura và vùng duyên hải phía bắc của Đông Java [Phạm Thị Vinh 2003:211] Ngoài ra, ở đây còn có một số cư dân thuộc các tộc người khác và người Indonesia gốc Hoa
Về mặt hành chính, cả nước Indonesia hiện nay gần 26 tỉnh và biệt khu, với 346 quận Trong đó riêng trên đảo Java có 5 đơn vị (2 biệt khu và
3 tỉnh) Danh sách toàn bộ như sau:
Trang 4015 Trung bộ Kalimantan _ Palankaraya
Nguồn: [Nguyễn Quốc Lộc(cb) 2004:164] Java nổi tiếng là cái nôi của nền văn minh của Indonesia với nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng trong đó có Borobudur, Prambanan… Trên đảo Java có hai nền văn hóa chủ đạo là văn hóa Java và văn hóa Sunda Java còn là cái nơi phát sinh ra vượn người Java, người Solo và người thông minh Wajak [Phạm Thị Vinh 2003:212]
Java là một dân tộc có số lượng đông nhất ở Indonesia (chiếm 46,2% dân số) và có một nền văn hóa cổ phát triển rực rỡ Tiếng Java cùng tiếng Melayu là ngôn ngữ có văn tự cổ nhất ở Indonesia và thuộc ngữ hệ Malayo
- Polynesia
Người Java ở Indonesia còn có nhiều tên gọi khác như: Orang Djawa, Tijang Djawi, Wong Djawa