1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa và vấn đề phát huy sức mạnh mềm của văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội ở khu vực đông bắc việt nam hiện nay

135 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa và vấn đề phát huy sức mạnh mềm của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Đông Bắc Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Thanh, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Huyền
Trường học Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại sách
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa đã trở thành nhân tố then chốt trong số những nhân tố tạo nên sức mạnh mềm hay quyền lực mềm của một quốc gia, đặc biệt trong thời đại thông tin toàn cầu như ngày nay, nhiều nước

Trang 1

DB.003803 :N THỊ H O À I TH ANH (Chủ biên}

rtỉiU T E N TH Ị TH U - N GU YỄN TH Ị H U YỀN

VĂN HÓA VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH MỀM CỦA VĂN HÓA TRONG

ĐÔNG BẮC VIÊT NAM HIÊN NAY

O M

CD €3

H à N ộ i NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC Q UỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

NGUYỀN THỊ HOÀI THANH (Chủ biên) NGUYỀN THỊ THU - NGUYỄN THỊ HUYỀN

VÃN HÓA VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY

ĐÔNG BẤC VIỆT NAM HIỆN NAY

NHÃ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong xu thế toàn cầu hóa hội nhập quốc tế hiện nay, các quốc gia đều đang có sự tìm tòi những phương thức ứng xử quốc tế mới, không phải đối đầu mà là đối thoại, không phải sử dụng quyền lực cứng (quân sự, kinh tế )

mà phải tìm cách phát huy quyền lực mềm, tức là phát huy sức mạnh của hệ giá trị quốc gia: bao gồm các giá trị về văn hóa, về thể ché xã hội, về chính sách quốc gia (đối nội

và đối ngoại), để cạnh tranh Trong chiến lược phát huy sức mạnh mềm hay quyền lực mềm, văn hóa là cốt lõi, bởi trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay, văn hóa ngày càng biến đổi và trở thành bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia Việc gia tăng quyền lực mềm văn hóa

để hoàn thành nhiều mục tiêu lớn trong đó quan trọng nhất

là nâng cao vị thế quốc tế của đất nước Văn hóa đã trở thành nhân tố then chốt trong số những nhân tố tạo nên sức mạnh mềm hay quyền lực mềm của một quốc gia, đặc biệt trong thời đại thông tin toàn cầu như ngày nay, nhiều nước

đã chú trọng xây dựng chiến lược phát triển văn hóa, hướng tới mục tiêu là tìm cách đưa hình ảnh của đất nước

và văn hóa của đất nước đó ngày càng ừở nên thu hút hơn

Trang 4

đối với thế giới, trong đó, công nghiệp giải trí được coi là một trong những nhân tố tạo nên quyền lực mềm.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, tưcmg ứng với đó là

sự đa dạng trong văn hóa Mỗi dân tộc, mỗi khu vực trên lãnh thổ Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên

vẻ đẹp và sức mạnh tiềm ẩn của con người Việt và của văn hóa Việt Nam

Vùng Đông Bắc Việt Nam là vùng đất sinh sống của

hơn hai mươi dân tộc, chủ yếu là các dân tộc thiểu sổ Bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây vô cùng phong phú, đa dạng về các sắc thái biểu hiện thông qua các giá trị văn hóa vật thể và văn hỏa phi vật thể nhưng đều chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng, cốt lõi tồn tại lâu đời trong lịch sử như tinh thần đoàn kết, gắn

bó, giúp đỡ lẫn nhau; lối sống giản dị, mộc mạc, chân tình, hài hòa với con người, với thiên nhiên núi rừng Đông Bắc;

sự sáng tạo, cần cù, chịu khó trong lao động, sự thích ứng cao với thiên nhiên có phần khắc nghiệt và luôn biết cách đảm bảo sự cân bằng tâm lý Những giá trị văn hóa này

đã tạo nên cốt cách, bản lĩnh của cả cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc, giúp cho đồng bào tồn tại, phát

Trang 5

triển bền vững trong lịch sử Trong bối cảnh và các điều kiện của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đã và đang đặt ra vấn đề đó là làm sao để những giá trị văn hóa của khu vực nơi đây phát huy được vai trò và sức mạnh ừong phát triển kinh tế - xã hội Trước thực tế đó, với mong muốn cung cấp cho người đọc, đặc biệt nhũng ai quan tâm đến vấn đề này, một cái nhìn toàn diện hơn, tác

giả đã dày công biên soạn cuốn sách: Vãn hóa và vẩn đề

phát huy sức mạnh mềm của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Đông Bẳc Việt Nam hiện nay.

Trong quá trình biên soạn, tác giả đã cố gắng trình bày những vấn đề cơ bản nhất về phát huy sức mạnh mềm của văn hóa trong phát triển kinh tế - xẫ hội ở khu vực Đông Bắc Việt Nam hiện nay, tuy nhiên khó ứánh khỏi những thiểu sót, hạn chế Tác giả rất mong sẽ nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau

TÁC GIẢ

Trang 6

Chương 1

MẺM CỦA VẢN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH

MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN 1.1 Văn hóa, sức mạnh mềm của văn hóa

1.1.1 Văn hỏa

* Khái nỉện văn hỏa

Văn hóa (VH) là lĩnh vực rộng lớn của xã hội, nó cũng là lĩnh vực khoa học cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn Nghiên cứu về VH đã được đề cập từ xa xưa trong lịch sử khoa học nhân loại Cho đến ngày nay, VH vẫn là đề tài vừa cơ bản vừa cấp thiết tiếp tục được các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế nghiên cứu, mổ xẻ dưới nhiều góc độ khác nhau Trước hết, nghiên cứu VH là nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, chung nhất, xác định bản chất, cấu trúc và đặc điểm của VH Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Công trình “Văn hóa nguyên thủy” của E.B Tylor1 đã

quan niệm VH là tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín

1 E.B Tylor (1871), Văn hỏa nguyên thủy, Huyền Giang dịch, Xb Tạp chí

Văn hóa Nghệ thuật - Hà Nội (2000).

4

Trang 7

ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất

cứ nâng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách thành viên của xã hội

Quan niệm về VH của Tylor như trên, thực chất chỉ

đi vào một khía canh của VH đó là các giá trị tinh thần, còn các giá trị vật chất không được ông đề cập đến và nó nằm ngoài khái niệm VH

Hội nghị thế giới về chính sách văn hỏa do UNESCO

tè chớc tại Mexico từ ngày 26-7 đến ngày 6-8-1982 đã thông qua Tuyên bố chung, trong đó nêu rõ bản chất của

VH là tổng thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tinh cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ gồm nghệ thuật và văn học mà còn cà lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng

Định nghĩa về VH của UNESCO năm 1982 đã trình bày một cách có hệ thống và toàn diện các thành tố của

VH theo nghĩa rộng nhất của nó Quán triệt tinh thần cơ

ÉÉ1 trên, nhân dịp phát động Thập kỷ thế giới phát triển

9ÊÊ hóa (1988-1997) trên phạm vi toàn cầu, ngài Tổng

f i t a đốc UNESCO Federico Mayor đã nhấn mạnh thêm

Trang 8

rằng: “VH là tổng thể sống động các hoạt động sảng tạo ừong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu -những yếu tố xác định đặc tính riêng của DT ”1 Quan điểm của ngài Mayor thể hiện

rõ bản chất của VH là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các giá trị, và nó làm nên đặc tính riêng của các DT

để phân biệt DT này với DT khác

Như vậy, các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế đã nhận diện VH ở các góc độ khác nhau, qua đó vấn đề bản chất của VH được bộc lộ Có công trình tiếp cận VH theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các giá trị tinh thần, có công trình tiếp cận VH theo nghĩa rộng, bao gồm cả các hoạt động sáng tạo của con người và kết quả cùa hoạt động sáng tạo đó là các giá trị vật chất và tinh thần

Trong định nghĩa VH của mình, Hồ Chí Minh cũng

đã chỉ ra các thành tố chủ yếu tạo nên VH đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,

: Federricoe Mayor (1998), Diễn văn tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát

Brien vãn hóa UNESCO, Paris, tr.33,34

6

Trang 9

nghệ thuật, nhũng công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc,

ở vè các phương thức sử dụng Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đặc trung sáng tạo và phát minh cùa VH

và chi ra mục tiêu cùa VH là vì sự sinh tồn và mục đích cùa cuộc sống con người Mặc dầu Người không bàn sâu

về VH, song hoàn toàn có thể khẳng định đó là những

quan điểm có giá trị khoa học về VH.

Trong Tuyển tập “Khải niệm và quan niệm về văn

hóa” * 1 tác giả Trần Độ đã tiếp cận VH dưới góc độ hoạt

động sáng tạo của con người theo hướng chân, thiện, mỹ

Tác giả cho rằng: “VH là những quá trình hoạt động sáng

tạo của con người theo hướng chân, thiện, mỹ và các sản phim cùa hoạt động đó được lưu truyền từ đời này qua đời khác Nhũng cái đó có tác dụng phát ưiển các lực lượng hản chất của con người, bao gồm cả lực lượng thể chất và tực hiọng tinh thần (ý thức, khả năng sáng tạo) do đó, làm

c h » x ỉ hội nến bộ”2.

Công trình “'Vàn hỏa và đỗi mớrJỈ của Phạm Văn

Đồng đã tiếp cận VH theo nghĩa rộng nhất, theo đó VH là

Bộ (1986), Khải niệm và quan niệm về vãn hỏa Viện Văn hóa, Hả Nội {1986) Khái niệm và quan niận về vân hóa Viện Văn hóa, Hà Nội,

1 lftp ấ W k Ilh g (1994), Vãn hóa đối mới Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7

Trang 10

tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiểp nhất đến con người VH theo tác giả đỏ chính là những gì do con người sáng tạo ra, tất cả những gì có trong con người như tâm tư, tình cảm, tư tưởng, lý tưởng và cả những gì có trong mối quan hệ với con người Đồng thời, tác giả đã khu biệt VH với thiên nhiên.

Công trình “Đại cương vãn hỏa phương Đông5,1 do

Lương Duy Thứ (chủ biên) đã tiếp cận VH theo nghĩa rộng, đó là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi trường VH vói hình thái ý thức xã hội, mặc dù hình thái ý thức xã hội (chính trị, triết học, VH, nghệ thuật ) là một thành tố của

VH VH không chỉ bao gồm văn minh tinh thần mà còn bao gồm cả văn minh vật chất (văn vật, cảnh quan, kiến trúc ) Trong công trình này, tác giả cũng đề cập đến nội dung của VH được xác định trong VH nhận thức (nhân sinh quan, thể giới quan, triết học, mỹ học, văn học, nghệ thuật ) các thành tựu của VH ứng xử (bao gồm các thang

: lan n g Duy Thử (1996) Đại cương văn hỏa Phương Đông Nxb giáo dục, Hả

Sãi

Trang 11

giá trị trong cách ứng xử với thiên nhiên và ứng xử với con ngòm, với gia đình, với xã hội ) các thành tựu của VH tổ chúc đời sống (bao gồm các thang giá trị trong cách tổ chức đời sống gia đình, cộng đồng, xã hội ) Như vậy, không thể coi VH là tất cả mà VH chỉ là những thành tựu được thăng hoa thành vẻ đẹp Cũng không thể hiểu VH quá hẹp, ví dụ như nâng cao trình độ VH, thường chỉ dùng

để chỉ học vấn, kiến thức

Công trình “Văn hóa, một sẻ vấn đề lý l u ậ n của tác

g à Trường Lưu, trong phần tiếp cận khái niệm, bản chất

VH, tác giả đã cho rằng VH là sản phẩm cụ thể gắn với cái

DT, những thành tựu và tinh hoa của nó góp vào kho tàng

sáng tạo của loài người Ngoài tính DT, VH còn có tính nhân loại phổ quát mang đậm dấu ấn nhân tính tạo nên giả trị nhân văn Bất cứ sáng tạo của lĩnh vực nào mang tính giả trị, gắn với lợi ích con người đều bao hàm ý nghĩa nhân nin ở cấp độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp theo đặc thù của mỗi lĩnh vực Như vậy, tác giả đã tiếp cận VH ở góc độ hoạt động sáng tạo ra các giá trị và đồng thời tác

g ã cũng chi ra tính chất của VH đó là tính DT (gắn với các

d a kiện đặc thù của DT) và tính nhân loại (hướng tới các

eB H âqgU E (1999), Văn hóa, một sé vấn đề lý luận Nxb Chính trị.

Trang 12

giá trị chung mang tính phổ quát).

Công trình “Văn hóa và phát'triển”1 của tác giả Đỗ

Huy đã lược khảo các quan niệm về VH ở phương Đông

và phương Tây theo dòng lịch sử, quan niệm Mácxít và quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chẩt của VH Trên cơ

sở đó, tác giả đưa ra quan niệm của mình về VH, nó chính

là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, đó là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần và bản thân sự phát triển của con người Tác giả cho rằng, trong VH, cả ba giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá trị vật chất Trong hai giá trị đó cũng hàm chứa sự phát triển năng lực bản chất của con người.Tóm lại, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động VH trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có sự nhận diện VH

là khác nhau về độ rộng hẹp của vấn đề, về giới hạn phạm trù của các hệ thống, lĩnh vực VH; về thành tố, cấu trúc, đặc trưng của VH, về mối quan hệ giữa VH học với các khoa học khác, chứ không phải khác nhau về cái gốc, cái nền, cải tổng quát, cái đại thể của VH

! Đỗ Huy (2005), Văn hóa và phát triển Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10

Trang 13

* K tíeáam m kóaữvngtiến trình cách mạng Việt Nam

FWt ferien kinh tế, xây dựng đất nước ngày một giàu

■ p k cần có nhiều yéu tố trong đó phải kể đến văn hóa nhữ là một động lực để thúc đẩy sự phát triển được lâu dài Chất luọng phát triển xã hội nếu chỉ được đo bằng các chỉ

«6 kinh tế, các điều kiện về vật chất và trình độ kỹ thuật thì

dó sẽ là một sự phiến diện, không bảo đảm sự tiến bộ của con người sẽ dần đưa xã hội đến bế tắc, khủng hoảng Một

xã hội phát triển đứng nghĩa phải là một xã hội vì sự tiến

hộ và phát triển, hoàn thiện con người - xã hội nhân văn thực chất là xã hội văn hóa Toàn bộ sự phấn đấu, hy sinh

và cống hiến sức lực của con người là nhằm xây dựng một

xã hội văn hóa, đồng thời vưcm tới những giá trị văn hóa cao đẹp do con người đề ra.

Nhận thức sâu sắc bản chất và vai trò của văn hóa

trong phát triển và tiến bộ xã hội, ngay từ những năm 1943 Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của văn hóa trong xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam Xây dựng "Nen văn hóa mới góp phần trực tiếp vào sự phát triển nhân cách, tạo ra đời sống

11

Trang 14

tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ và sáng tạo”.

Sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay được Đảng ta gắn liền với vai trò to lớn của văn hóa Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vì thế chúng ta cần phải nỗ lực xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là điều kiện cho sự thực hiện lý tưởng cao đẹp của dân tộc ta là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, con người được ấm no, hạnh phúc

Tại Hội nghị Trung ưcmg 10 khóa IX Đảng ta đã kết luận: bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế

là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên là điều kiện quyết định cho sự phát triển toàn diện và bền vững đất nước

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã kế thừa và phát huy những tinh hoa lý luận về văn hóa của

Trang 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Nhà nước khi chủ tnaoag “Xẵy dụng nền văn hóa và con người Việt Nam fftầt triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhnần tinh thần đân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự ữở thành nền tảng tinh thần vững chắc cùa xã hội, là sức mạnh nội sinh quan ừọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vãn nãnhl2Ị, văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, drinh trị, xã hội Như vậy cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng - an ninh, nguồn lực văn hóa cũng đang ngày càng đóng vai ữd quan trọng, chi phổi, ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự phát triển của dẩtnước.

* Vai trò động ỉực của vãn hóa đổi với phát triển

kinh tế - xã hội

Văn hóa có vai trò thúc đẩy to lớn đối với sự phát

triển kinh tế, chính trị đất nước Vai trò của văn hóa thực chất là nhằm nâng cao tố chất đạo đức tư tưởng và tố chất

v in hóa khoa học của toàn dân tộc, tạo ra động lực tinh

ihần, trí tuệ và tư tưởng cho phát triển kinh tế, tiến bộ xã

Trang 16

hội Giá trị này của văn hóa ngày càng nổi bật ữong xây dựng hiện đại hỏa đất nước hiện nay.

- Xuất phát điểm Việt Nam là đất nước nông nghiệp nghèo, chậm phát triển, lực lượng sản xuất phát triển chậm Văn hóa lao động truyền thống là canh tác lúa nước Với Cách mạng Tháng Tám, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải phóng xã hội, giải phóng con người, văn hóa lao động Việt Nam bước sang thời kỳ mới - thòi kỳ người dân làm chủ đất nước Sự nghiệp đổi mới của Đảng mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tể đã tạo ra bước ngoặt trong phát triển văn hóa lao động Việt Nam Trong thời đại mở cửa, giao lưu kinh tế, ta đã tiếp thu một cách tích cực các giá trị văn hóa nhân loại, những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại của thế giới, nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất Với chiến lược đi tắt đón đầu của Việt Nam, chúng ta

đã sớm đưa nền sản xuất lên ngang tầm với những nền sản xuất của các nước trong khu vực Điều này đã thể hiện quá trình văn hóa hóa hoạt động lao động hết sức nhanh chóng của dân tộc ta Văn hóa lao động của chúng ta đã thay đổi nhanh chóng và căn bản Tư duy kinh tế mới thay đổi tư duy ừong tổ chức sản xuất, tổ chức xã hội Thực tế lịch sử

đã cho thấy mô hình kinh tế cũ đã hình thành văn hóa lao

14

Trang 17

động hình «pin, mệnh lệnh, bao cấp, thụ động Sự năng

Grii hoạt nhanh nhạy của người Việt Nam bị kìm

Sệ b i tfcri chột, làm tê liệt sức sản xuất Văn hóa lao động

Ịr- ■

mới & được khơi dậy, mở rộng, là nguồn lực và động lực

mạnh mẽ để bung ra mọi lực lượng sản xuất Từ khoán sản

ph im trong nông nghiệp đến phát triển kinh tế nhiều thành

phần đã làm chuyển đổi cơ cẩu kinh tế - xã hội, thúc đẩy

hội phát triển Đảng ta đã tiến tới việc khẳng định xây

dụng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra động lực bên trong thúc đẩy lực lượng

sản xuất phát triển Đây là sự lột xác, nâng cao văn hóa lao động, tạo ra động lực nội tại của cỗ máy kinh tế - xã hội tiến nhanh gấp nhiều lần so với lịch sử hàng nghìn năm

của dân tộc.

Văn hóa lao động mới được trang bị khoa học - công

hghệ hiện đại đã làm gia tăng thêm sức mạnh của văn hóa

b o động, đó là tư duy lao động khoa học tiên tiến, tác phong lao động công nghiệp từng bước hình thành ở trong con người và nền sản xuất Việt Nam, chuẩn bị những điều

ftãỆD vững chắc cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại

KA b đất nước Văn hóa lao động hiện đại sẽ mang lại hiệu

<pã và nâng suất lao động cao, tiết kiệm thời gian, tăng

15

Trang 18

chất lượng sản phẩm, có sức cạnh tranh manh fren thị trường thế giới Một khi văn hóa lao động được phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì đây chính

là động lực mạnh mễ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Văn hóa tổ chức, quản lý là động lực hoạt động và phát triển xã hội Tổ chức, quản lý đạt đến một trình độ nhất định nào đó thì nó thể hiện rõ văn hóa tổ chức quản

lý Tổ chức, quản lý hiện đại là khoa học - nghệ thuật vô cùng phức tạp và bài bản: tổ chức quản lý nhà nước, Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội, các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa - tinh thần Trình độ tổ chức, quản lý quyết định kết quả và hiệu quả của tổ chức, của xã hội và của đơn vị Trình độ, năng lực tổ chức, quản lý phụ thuộc vào tri thức, sự hiểu biết, kỉnh nghiệm, phụ thuộc vào nắm bắt mục tiêu, tâm lý, tư tưởng, nguyện vọng của các thành viên theo mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Tất

cả những vấn đề đó thể hiện văn hóa tổ chức, quản lý Văn

hóa tổ chức, quản lý có thể là động lực mạnh mẽ của hoạt động tổ chức, cũng có thể phá vỡ tổ chức, gây khủng

hoàng xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là tổ chức chính trị khoa học Với sự tổ chức, quản lý tài tình của

16

Trang 19

mình Đảng ta đã từng bước đưa dân tộc ta vượt qua muôn trùng thử thách, đưa cách mạng ta tiến lên giành hết thắng

lợi này đến thắng lợi khác, nâng cao vị thế của Việt Nam

trên trường quốc tế; đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng mà thế giới phải thừa nhận và tôn vinh Vì

vậy, có thể khẳng định rằng văn hóa tổ chức quản lý khoa

học, hiện đại sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển

- Văn hóa kinh doanh là nguồn lực cho sự phát triển doanh nghiệp, phát triển đất nước Văn hóa kinh doanh là

hệ thống các giá trị tinh thần và chuẩn mực chi phối mọi hoạt động kinh doanh Khi bước vào hoạt động kinh doanh, ai cũng đều khao khát làm giàu nhưng không phải

ai cũng biết “đạo” làm giàu Đạo làm giàu có nghĩa là

không phải làm giàu bằng mọi giá mà phải có chuẩn mực,

<finh hướng, đó là tìm cách tối đa hóa lợi nhuận cho mình

nhung vẫn phải tuân thủ pháp luật và các giá trị đạo đức

chung, biết điều hòa lợi ích của bản thân, doanh nghiệp với lợi ích của cộng đồng, xã hội Làm giàu cho mình nhưng không gây tổn hại đến môi trường, phải bảo đảm an toàn

lao động, quyèq, lại lao đông,,trà lươụg-epng bằng, đào tạo

và phát triển nhân viẽỉiivak baoêđam lỡilích, an toàn cho

Trang 20

người tiêu dùng Với nội hàm như vậy, văn hóa kinh doanh

có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và cả nền kinh tế Doanh nghiệp chi có thể tồn tại bền vững và làm ăn phát đạt khi khẳng định được

uy tín, thương hiệu dựa trên chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm và sự cam kết bảo đảm chết lượng sản phẩm đối với người tiêu dùng diính l i những giả trị văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh nghĩa là có triết Ịý lảnh doanh đúng đắn định hướng cho toàn bộ hoạt động c ù mình bất chấp

sự tác động hoàn cảnh bên ngoài Giá trị dó chỉnh là xây dựng lòng tin của người tiêu dùng bằng chất lượng sản phẩm; luôn biết tôn ừọng lợi ích và sự an toàn cho người tiêu dùng bằng chính chất lượng sản phẩm, không bao giờ chấp nhận lối “làm ăn chụp giật”, chạy theo lợi nhuận

trước mắt mà làm hại đến cộng đồng Vì vậy, các doanh

nghiệp có văn hóa kinh doanh chắc chắn sẽ là sự lựa chọn của người tiêu dùng, luôn được người tiêu dùng tin tưởng

Sự tin tưởng và ủng hộ của người tiêu dùng đối với doanh qghìệp chính là nguồn nuôi dưỡng sức mạnh của doanh nghiệp.

Trang 21

Văn hóa kinh doanh có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, thế nhưng hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận thức rõ điều đó nên chưa quan tâm nhiều đến việc xây dựng văn hóa kinh doanh trong doanh nghiệp mình Nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh còn mang tính chụp giật, hiện tượng gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thué, vô ứách nhiệm với môi trường sinh thái, với sức khỏe và tính mạng của cộng đồng vẫn tồn tại trong không ít các doanh nghiệp Họ đã chạy theo lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài của cộng đồng như vậy không thể thúc đẩy kinh té phát triển nhanh và bền vững, không thể xây dựng được các thương hiệu Việt đủ sức cạnh hanh trong bổi cảnh toàn càu hóa hiện nay Có nhiều nguyên nhân giải thích cho sự yếu kém của văn hóa kinh doanh ờ Việt Nam: chúng ta mới phát triển kinh tế thị trường, các thể chế, chính sách về kinh tế thị trường còn chưa hoàn thiện, chưa tạo được môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển bền vững, có văn hóa Thêm vào đó, do tệ tham nhũng trong bộ máy nhà nước thời gian qua chưa được đẩy lùi nên đã tác động tiêu cực đến văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Bản thân các lãnh đạo doanh nghiệp do mới hoạt động, chưa có nhiều

19

Trang 22

kinh nghiệm, kiến thức và bản lĩnh, còn ảnh hưởng của lốisản xuât tiêu nông hàng ngàn năm nay của dấn tộc nền chưa có được tầm nhìn, chiến lược dài hạn, còn làm ăn một cách manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu quan tâm đến lợi ích trước mắt nên chưa thật sự coi trọng việc xây dựng văn hóa kinh doanh Do đó, xây dựng văn hóa kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam để góp phần xây dựng được những doanh nghiệp Việt Nam mạnh, đủ sức cạnh tranh trong bói cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cũng như phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp bách nhằm làm cho sự phát triển kinh tế hướng tới mục tiêu nhân văn, tiến bộ, vì con người, vì cộng đồng, phù hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Văn hóa tri thức là nguồn lực và sức mạnh của sự phát triển xã hội Nói tới văn hóa tri thức là nói đến trình

độ học vấn Tri thức cũng còn là kinh nghiệm sổng, nhất là kinh nghiệm nghề nghiệp, thâu nạp cho cá nhân một năng lượng về sự hiểu biết: nhận thức, đánh giá sự vật, hiện tượng, cuộc sổng Tằm hiểu biết rộng, sâu đưa đến cho cá nhân thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan trên cơ sở điều Idện kinh tế - xã hội, tư tưởng - chính trị của mỗi ọguời vả mỗi khi được tồn tại trong một môi trường tốt, tri

Trang 23

thúc đó điều chỉnh hướng văn hóa của cá nhân, tạo thành

«ỉn hóa cá nhân Văn hóa tri thức chính là nguồn năng

Inọng của cá nhân Trong xã hội, không có văn hóa tri thức

thì cá nhân không thể làm tốt chức năng xẵ hội, và không

thể trở thành chủ thể văn hóa

Nần giáo dục Việt Nam là nền giáo dục theo lý tưởng nhân văn, đào tạo tri thức văn hóa cho con người theo hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra con người vừa hồng vừa chuyên, tài - đức vẹn toàn Thực hiện chủ trưomg nâng cao tri thức, trí tuệ cho nhân dân, nền giáo dục Việt Nam được phát triển nhanh chóng Một đất nước nông nghiệp lạc hậu, thế nhưng chỉ ừong vòng nửa thế kỷ, nền nông nghiệp của đất nước đã không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu ra các nước khác Văn hóa tri thức là sức sống và tiềm lực bên trong để dân tộc ta ngày một vưon lên, đưa vị thế của dân tộc lên tầm cao, hòa chung vào dòng chảy quốc tế hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Văn hóa ừi thức cũng là cội nguồn sức mạnh cho lao động sáng tạo ra tất cả các lĩnh vực: kinh tế - xã hội, văn hóa - tinh thần, khoa học - văn học - nghệ thuật

21

Trang 24

Đổi mới ở nước ta thực chất là sự bùng nổ trí tuệ - văn hóa Việt Nam Ngày nay, trong xu thế mới, mở cửa và hội nhập với thế giới, văn hóa tri thức, một nguồn sức mạnh khổng lồ của người Việt được dùng vào mục tiêu thực hiện khát vọng nhân văn: tất cả vì sự phát triển, tiến

bộ của con người - xã hội Việt Nam Đây chính là động lực, là hành trang cho mỗi cá nhân và dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới

- Văn hóa khoa học là động lực phát triển của lực lượng sản xuất Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, Đảng ta khẳng định khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là yếu tố cơ bản trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Văn hóa khoa học - công nghệ

là biểu hiện tập trung của văn hóa fri thức, là sự hiện thực hóa tư tưởng, trí tuệ của con người thành các dạng tri thức

cụ thể và ứng dụng vào cuộc sống

Khi mở cửa giao lưu với các nước có nền khoa học - công nghệ phát triển, Việt Nam đã tiếp thu và phát triển nhanh khoa học - công nghệ Mặc dù khoa học - công nghệ chưa phát triển kịp với các nước phát triển, nhưng chúng ta

Trang 25

đ i sử dụng nó như là một nội lực để phát triển đất nước

Sạ vận dụng sáng tạo khoa học - công nghệ vào điều kiện

U rii t ế - x ã hội - văn hóa nước ta để đi tắt đón đầu đã và

đang hờ thành sức mạnh đem lại hiệu quả và thành tựu to lớn cho đất nước Khoa học - công nghệ khi được tiếp thu vào Việt Nam chúng đã trở thành sức mạnh nội sinh cho

quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Quá trình nhận thức, tìm tòi và chuyển hóa khoa học - công nghệ diễn ra thường xuyên, liên tục trong hoạt động kinh té - văn hóa - xã hội Đây là quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất phát triển từ thấp lên cao, thực sự trở thành sức mạnh nội sinh và động lực của sự nghiệp đi tắt đón đầu, tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới, phát triển và tiến bộ xã hội - thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Văn hóa đạo đức là động lực cho sự phát triển xã

hội ổn định, lâu dài Xã hội phát triển không chỉ dựa vào

lãnh tế, khoa học - công nghệ, pháp luật mà còn dựa trên

B Ô I tảng đạo đức Đạo đức điều chỉnh xã hội bằng dư luận

Bà lương tâm, nghĩa vụ Đạo đức đạt đến trình độ như vậy,

■6 sẽ trờ thành sức manh xã hội, tồn tại trong mọi lĩnh vực

từ suy nghĩ đến hành vi, từ hoạt động sống trong lối sống

23

Trang 26

đến làm ăn kinh tế, hoạt động chính trị - xã hội Làm Vinh

tê cũng phải bảo đàm quy chuẩn đạo đức dù là cạnh tranh khốc liệt trong nền lãnh tế thị trường, làm chính trị phải lạy công lý, lẽ phải, chân lý lảm cốt lõi bên trong, tham gia hoạt dộng xã hội cũng phải vì mục tiêu đạo đức xã hội: công bẩng, bình đang, dân chủ của mọi người Việc phẩn đâu đạt tới đạo đức như vậy làm cho mọi người yêu

thương nhau, giúp nhau cùng phát triển và tiến bộ Lý

tưởng đạo đức đó thúc đẩy mọi cá nhân làm tốt nghĩa vụ

trước yêu cầu xã hội, thúc đẩy nhân dân ta phấn đấu vươn tới xã hội tương lai Và chính đạo đức đỏ là đạo đức của

dân tộc - là mục tiêu phấn đấu đồng thời là động lực thúc

đẩy xã hội Việt Nam phát triển.

- Văn hóa thầm mỹ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Dù ở đâu và làm gì con người cũng cố đưa cái đẹp vào cuộc sống Hoạt động thẩm mỹ của con người ngày càng làm phong phú, sâu sắc và độc đáo văn hóa thẩm mỹ Các lĩnh vực hoạt động của con người như nhận thức, khảm phả chân lý, tu dưỡng rèn luyện để phát triển nhân phẩm con người nhằm hướng đến cuộc sống cao đẹp nhất: chân - thiện - mỹ

Trang 27

Văn hóa thẩm mỹ là một trong những lĩnh vực cơ bản của con người, của cuộc sống nhân loại Phấn đấu xây dựng văn hóa thẩm mỹ là mục tiêu và động lực to lớn của con người và xã hội loài người Dân tộc ta có lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời với những nét độc đáo của văn hóa - tâm hồn con người và dân tộc, chúng ta luôn đề cao cái đẹp: đói cho sạch rách cho thơm, nghèo vật chất nhưng giàu về trí tuệ, cảm xúc, tâm hồn, đấu tranh chống lại những cái xấu, ích kỷ, xảo trá, bất lương đồng thời ngợi

ca phẩm chất thật thà, chất phác, yêu thương đồng loại, đề cao trí tuệ, dũng cảm đối mặt với cái xấu đây chính là nội lực sáng tạo dân tộc, đưa văn hóa Việt Nam lên những chuẩn mực cao của xã hội văn minh

Có thể nói văn hóa có mặt ữong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong bản chất, năng lực của con người và xã hội Với bản chất của mình, ở bất cứ lĩnh vực nào văn hóa cũng là cốt lõi, mang đặc trưng độc đáo bên trong nó do

đó văn hóa là sức sóng, là bản chất của các lĩnh vực đó Vỉ

•bê, chúng là nội lực tồn tại, vận động và là động lục thúc

<by hoạt động cùa chính các lĩnh vực đó, góp phần quy tụ t*° nên sức sông cũa dân tộc và là động lực thúc đầy xí hội phát triển theo hưóng tiến bộ, nhân văn

Trang 28

1.1.2 Sức mạnh mềm và sức mạnh mềm của văn hóa

* Khải niệm “Sức mạnh mềm ”

Sức mạnh mềm (soft power - còn có thể gọi là quyền lực mềm, thực lực mềm) là một khái niệm mới do Joseph Nye - giáo sư Đại học Haward (Mỹ) đề ra năm 1990 trong cuốn sách Nhất định lãnh đạo: diễn biến cùa bản chất sức mạnh nước Mỹ và trong bài Sức mạnh mềm đăng trên Tạp chí Chính sách ngoại giao Tháng 4 - 2004, một tác phẩm mới của vị giáo sư này ra đời với tựa đề Sức mạnh mềm: Con đường giành thắng lợi trong chính trị thế giới càng làm cho thế giới bàn luận sôi nổi Ông đã chia sức mạnh tổng hợp quốc gia thành hai loại hình: sức mạnh cứng và sức mạnh mềm Sức mạnh cứng được hiểu là tổng hòa các yếu tố chiếm vị trí chi phổi, bao gồm tài nguyên cơ bản (như diện tích đất đai, dân số, tài nguyên tự nhiên), sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sức mạnh khoa học -

kỹ thuật; còn sức mạnh mềm là sức hội tụ quốc gia, mức chấp nhận văn hóa và trình độ tham dự tổ chức quốc tế, là sửc mạnh để người khác làm theo ý muốn của mình một cách tự nguyện, nó bắt nguồn từ sức thu hút của văn hóa

và hình thái ý thức.

Trang 29

Những năm gần đây, khái niệm sóc

được chấp nhận rộng rãi, bởi nó thể hiện một tư 1

không dựa vào sức manh quân sự, chính trị mà dọa quan niệm giá trị văn hóa để triển khai mức độ ảnh hưởng, tham dự sự vụ quốc tể Hiện nay, sức mạnh mềm đã trở

thành chủ đề nóng trong việc nâng cao sức cạnh tranh quốc gia và quản lý khu vực trong phạm vi quốc tế, là khái niệm không thể thiếu trong phân tích thời sự chính trị quốc tế, cạnh tranh sức mạnh mềm trở thành một hình thái cơ bản của cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia Văn hóa là tài nguyên quan trọng hàng đầu và sức cạnh hanh văn hóa là nội dung cốt lõi của sức mạnh mềm

* Công cụ kiến tạo quyền lực mềm

Quyền lực mềm xuất phát từ sự công nhận của nước khác về những phẩm chất, năng lực của một quốc gia Đe

có được sự công nhận này, quốc gia phải có khả năng truyền đạt quan điểm và giá trị của mình bằng những phương tiện có sức thu hút, sức lôi cuốn tình cảm và lòng arưne thành của người khác Những công cụ kiến tạo quyền Ipc mểm bao gồm các kênh phát thanh truyền hình,

c i i n i g trình giao lưu trao đổi văn hoá - học thuật, sản

Trang 30

phẩm văn hoá - thương mại, chương trình hỗ trợ phát triển, cứu trợ thảm họa Đây là những công cụ giúp giải thích, truyền bá với tốc độ nhanh và phạm vi rộng các nguồn quyền lực mềm như văn hoá, giá trị, chính sách đến các đối tượng tiếp nhận một cách hiệu quả.

So với quyền lực củng truyền thống, quyền lực mềm ngày càng trờ nên quan trọng khi mà các cuộc chiến tranh không còn đơn thuần chi dựa vào súng đạn và binh lực, mà còn liên quan đến các ý tường và giá trị Quyền lực mềm đạt được mục tiêu khi đối tượng tự nguyện thực hiện hành

vi xuất phát từ sức hấp dẫn của chính chủ thể quyền lực mềm hoặc bởi chính họ cũng mong muốn những mục tiêu

mà chủ thể quyển lực mềm hướng tới Do đó, có thể gọi quyền lực cứng là sức mạnh ra lệnh, khiến người khác làm cái mình muốn, và quyền lực mềm là sức mạnh dẫn dụ, khiến người khác làm vì họ cũng muốn đạt được kết quả tương tự

Trang 31

có quyền lực mềm của mình vớí tốc độ rất nhanh vả chi phí rẻ Hiệu quả của quyền lực mềm thường không đến ngay nhưng một khi đã thành công thì ảnh hưởng sẽ sâu sắc và kéo dài, ví dụ như ảnh hưởng của Khổng giáo Trung Quốc ở các nước Đông Á và các nét văn hoá Pháp vẫn tồn tại ở một số nước thuộc địa cũ.

Tuy nhiên, quyền lực mềm cũng không phải là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề Không cá nhân nào đủ mạnh mẽ để bắt ép người khác, cũng không ai thích cảm thấy bị lôi kéo, cho dù dưới ảnh hưởng của quyền lực mềm Hạn chế của quyền lực mềm là nó không có tính chất mệnh lệnh, bắt buộc và việc có bị thuyết phục, bị hấp dẫn hay không cũng không hoàn toàn do chủ thể sử dụng quyền lực mềm quyết định mà tùy thuộc rất nhiều vào người tiếp nhận Ngoài ra, chính ưu điểm về việc dễ dàng ttỡ thành chủ thể quyền lực mềm khiến nó trở thành một

công cụ nguy hiểm khi roi vào tay chủ nghĩa khủng bố hoặc các quốc gia bất hảo.

Hiện nay, khái niệm “quyền lực mềm” đã được cứu rộng rãi và phát triển theo nhiều hướng khác

9ỄÊKU, khá đa dạng và phong phú Đặc biệt, châu Âu đang

29

Trang 32

được xem là một mô hình quyền lực mềm nổi bật, đối trọng với “quyền lực cứng” của Mỹ, khi ảnh hưởng của châu Âu, đặc biệt trong lĩnh vục lãnh tế và phát triển, đang lớn mạnh trên trường quốc tế.

1.2 Vị tri và vai trò cùa văn hóa với việc xây dựng sức mạnh mềm trong phát triển kinh ứ - x ã hội hiện nay

Đối vói Việt Nam cũng vậy, văn hóa Việt Nam có có

vị trí, vai trò quan trọng trong xây dựng sức mạnh mềm

Việt Nam Điều này thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

1.2.1 Văn hóa Việt Nam tà nền tàng của sức mạnh mềm Việt Nam

Như chúng ta đã rõ, sức mềm của một quốc gia được

xây dựng từ sức mạnh văn hóa, sức mạnh về giá trị của quốc gia và sức mạnh trong chính sách của quốc gia Trong đó, sức mạnh văn hóa là nền tảng, cốt lõi Bởi lẽ, chính sức mạnh văn hóa mới tạo nên giá trị quốc gia bền vững Giá trị của quốc gia được tạo dựng nên từ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần Cả giá trị vật chất, cả giá trị tinh thần, xét đến cùng đều thuộc giá trị văn hóa Đằng sau các giá trị vật chất cũng là các giá trị tinh thần của nền văn hóa ấy Cũng chỉnh văn hóa mới tạo nên giá trị trong chính sách quốc gia chứ không phải sức mạnh cứng như kinh tế,

Trang 33

qoẳn sự Văn hóa không chi tạo nên giá trị ừong chính

á c h của quốc gia mà còn tạo ra sức mạnh của chính sách qpéc gia Bản chất của sức mạnh mềm là thuyết phục, cảm hỏa, hấp dẫn, lôi cuốn thay vì ép buộc, cưỡng bức Do vậy,

sự thuyết phục, cảm hóa, hấp dẫn, lôi cuốn bằng văn hóa là

sự thuyết phục, cảm hóa, hấp dẫn, lôi cuốn bền chặt nhất Trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế có sự gia tăng giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc thì việc khẳng định sức mạnh, vị thế của một quốc gia, dân tộc bằng và thông qua sức mạnh mềm càng được đặt ra quan trọng Văn hóa, trên thực tế đã trở thành nhân

tố then chốt trong số những nhân tố tạo nên sức mạnh mềm của một quốc gia Đặc biệt, trong thời đại thông tin toàn cầu như ngày nay, với các công cụ internet, mạng truyền thông., thì vai ữò nền tảng của văn hóa trong xây dựng sức mạnh mềm của quốc gia càng rõ nét Việt Nam là đất nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân

sự không phải manh so vói nhiều quốc gia dân tộc, nhưng chúng ta có lại thế về văn hóa Chính các giá trị văn hóa Việt Nam như truyền thống yêu nước, yêu chuộng hòa

binh, tinh thần đoàn kết, khoan dung, vị tha của văn hóa và

am người Việt Nam đã, đang và sẽ còn là sức hấp dẫn đối

31

Trang 34

với các dân tộc khác Lịch sử đã chứng minh tinh thần hòa hiếu, lấy nhân nghĩa làm trọng, yêu hòa bình, cần cù chịu khó, yêu lao động, tự lực, tự cường của người Việt Nam đã

ưở thành sức mạnh văn hóa trong công cuộc dựng nước và giữ nước Đây là một trong những nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thì những giá ừị văn hóa Việt Nam như tinh thần hòa hiếu, lấy nhân nghĩa làm trọng, yêu hòa bình, cần cù chịu khó, yêu lao động, tự lực,

tự cường đang trở thành những giá trị chung của nhân loại Nói khác đi, những giá trị văn hóa Việt Nam có điểm tương đồng với các giá trị văn hóa của nhân loại Vì có điểm tương đồng như vậy, nên văn hỏa Việt Nam đang có sức hấp dẫn, lôi cuốn, cảm hóa nhiều dân tộc trên thế giới

Đó là sức mạnh mềm Việt Nam và sức mạnh mềm này được tạo dựng cơ bản từ các giá ừị văn hóa Việt Nam

1.2.2 Văn hóa Việt Nam tạo nên chất liệu cho sự hấp dẫn các dân tộc khác để tạo nên sức mạnh mềm Việt Nam

Sự hấp dẫn của một nền văn hóa có thể bằng nhiều phương thức Trước hết đó là sự hấp dẫn của các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Mặc dù, nằm trong vùng khí

Trang 35

hậu, nhiệt đới, gió mùa, lắm bão, lũ, nhiều mưa rông, thời tiết cũng khắc nghiệt, nhưng Việt Nam là đất nước có nhiều phong cảnh và danh thắng tự nhiên hấp dẫn lòng người, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên hàng đầu của nhân loại như bãi đá cổ Sapa; Vịnh Hạ Long;

dộng Pbong Nha - Kẻ Bàng, nhiều bãi biển đẹp như Non Nuóc, Lăng Cô, Nha Trang ; hệ thống sông, rạch, miệt

vườn Nam Bộ độc đảo; có nhiều đảo đẹp như Cát bà, Côn Đảo, Phú Quý, Phú Quốc; những trảng cát trải dài ở Bình Thuận; V.V Chúng ta còn có một số di sản văn hóa vật thể như kiến trúc cố đô Huế, Tháp Chàm, di tích thánh địa Mỹ Son, Hoàng Thành Thăng Long; .V.V Tất cả những di sản văn hóa vật thể này là chất liệu quý giá để làm nên hình

ảnh đẹp về một Việt Nam với những vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, kỳ vỹ, khác thường, chứa đựng nhiều sức lôi cuốn, hấp dẫn khách du lịch, tạo điều kiện để vừa tạo nên

sức hấp dẫn văn hóa vật thể, vừa tạo nên sức hấp dẫn về

giá trị của quốc gia và sức hấp dẫn trong chính sách của quốc gia Nếu chúng ta biết khai thác, phát huy những giá trị văn hóa vật thể này thì sức manh văn hóa, sức manh của quốc gia, sức mạnh trong chính sách quốc gia sẽ được tăng cường, củng cố Bởi lẽ, tự thân các giá trị văn hóa vật thể

33

Trang 36

chỉ tạo ra khả năng lôi cuốn tiềm ẩn, tiềm tàng Khả năng lôi cuốn, hấp dẫn, thu hút lòng người chỉ trở thành hiện thực khi chúng ta biết phát huy, biết quảng bá, biết ra được những chính sách phù hợp.

Các giá trị văn hóa tinh thần như bản thân nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, như nhã nhạc cung đình, không gian văn hóa cồng chiêng, rối nước, quan họ,v.v Đặc biệt những giá trị văn hóa tinh thần như lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc; lòng nhân ái, khoan dung, hiếu học, khát vọng hòa bình, yêu hòa bình; cần cù, lạc quan, khiêm tốn, giản dị, trung thực; tinh thần dũng cảm, bất khuất đã ăn sâu vào máu thịt con người Việt Nam qua các thế hệ và tạo nên sức mạnh Việt Nam suốt qua nhiều thế

kỷ Cùng với các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống ấy

là phẩm chất của con người Việt Nam yêu hòa bình, vị tha, khoan dung, đễ hòa nhập,v.v luôn là sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ sự cảm thông, chia sẻ, sự hợp tác,v.v của các dân tộc khác

Văn hóa Việt Nam còn hấp dẫn, lôi cuốn các dân tộc khác bởi với văn hóa ẩm thực độc đáo, gắn liền với sản vật

Trang 37

nông nghiệp nhiệt đới, gắn với văn hóa môi trường, thanh lịch, có hương vị và màu sắc riêng, có lợi cho sức khỏe, khác với vãn hóa ẩm thực phương Đông và văn hóa ẩm thực phương Tây như món phở, nem rán cua bể, bún thang, bánh cuốn, bánh xèo Huế, cây, cỏ nhiệt đới Việt Nam có nhiều nhiều vị thuốc nam rất quý có tác dụng chữa bệnh, bồi dưỡng cơ thể Trên cơ sở ấy, người Việt Nam đã tạo ra những vị thuốc nam, đông y mang thương hiệu và nét riêng Việt Nam Đây cũng là một sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu phục du khách nước ngoài Neu chúng ta phát huy được văn hóa ẩm thực và văn hóa đông y, chắc chắn chúng ta sẽ góp phần phát huy được sức mạnh văn hóa này ương tăng thêm sức manh mềm Việt Nam.

/ J J Văn hóa Việt Nam là phương thức thực hiện sức mạnh mềm Việt Nam

Bằng văn hóa, thông qua văn hóa thì việc thu phục, hấp dẫn, lôi cuốn, người khác, dân tộc khác mới hiệu quả

và bền vững Bởi lẽ, bằng văn hóa, thông qua văn hóa mới làm cho người khác, dân tộc khác cảm phục, quý mến Từ cảm phục, quý mến họ mới tìm hiểu, trên cơ sở của sự hiểu biết về văn hóa của chúng ta kết họp với sự cảm phục, quý mến ấy họ mới tiếp nhận, cảm nhận nỏ, thưởng thức nó và

Trang 38

dần dần mới chuyển hóa sự cảm nhận đó, hiểu biết đó thành văn hóa của chính họ Khi ấy văn hóa đã thực hiện thành công chức năng cảm hóa, thu phục, lôi cuốn người khác, dân tộc khác Nền văn hóa Việt Nam của chúng ta vốn có được những giá trị tương đồng với các giá trị văn hóa nhân loại Cho nên văn hóa Việt Nam càng có cơ sở, điều kiện để thực hiện chức năng cảm hóa, thu phục, lôi cuốn người khác, dân tộc khác Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thì cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa giữ vai trò quan trọng trong thực hiện sức mạnh mềm Việt Nam Tất nhiên, giữa ngoại giáo chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa có mối liên hệ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Hơn nữa, trong ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế cũng bao gồm những khía cạnh của ngoại giao văn hóa Ngược lại, ngoại giao văn hóa cũng ham chứa, thể hiện ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế Việt Nam tôn trọng các nền văn hóa khác, tôn trọng các dân tộc khác, coi trọng sự bình đẳng cùng có lợi với các dân tộc khác và trong đối ngoại chúng ta là là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Phương châm này thể hiện đầy đủ giá trị văn hóa Việt Nam, sức mạnh mềm Việt Nam

Trang 39

trong chinh sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế Bởi lễ, muốn cảm phục, thu hút, lôi cuốn người khác dân tộc khác, trước hết chúng ta phải tôn trọng họ tôn ừọng sự bình đẳng cùng có lợi Trong quan hệ hợp tác chính trị chửng ta thể hiện rõ là bạn bè chứ không phải kẻ thù Trong họp tác kinh tế chúng ta thể hiện là đối tác làm

ăn tin cậy, không phải đói tượng của họ Trong quan hệ quôc tế chúng ta th ể h iện là thành v iê n trách n h iệm V ớ i

tinh thần là bạn, là đối tá c làm ăn, th àn h v iê n trách

nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã thể hiện được sức mạnh trong văn hóa, sức mạnh của quôc gia và sức mạnh trong chính sách quổc gia Đó chính là sức mạnh mêm Việt

Nam Cũng giống như tri thức, văn hóa không có tính độc

quyền mà cỏ tính lan tỏa và tính cộng hưởng Văn hóa càng được truyền bá, sử dụng và đi theo thì giá trị của văn hóa càng tăng lên chứ không "hao mòn" đi như các loại hàng hỏa hữu hình khác Do vậy, chúng ta phải đẩy mạnh ngoại giao văn hóa Đây là một phưomg thức quan trọng để hình thành, thực hiện sức mạnh văn hóa Việt Nam trong sức manh mềm Việt Nam

37

Trang 40

1.2.4 Văn hóa Việt Nam đóng vai trò hỗ trợ, bồ sung cho sức mạnh cứng của Việt Nam

Chúng ta đều rõ, trong mối quan hệ tương quan với sức mạnh cứng thì sức mạnh mềm đóng vai trò bổ sung, hỗ trợ, thâm chí đôi khi còn thay thế cho sức mạnh cứng Đặc trưng của sức manh cứng là mang tính đột phá tức thì bằng sức mạnh kinh tế, quân sự,v.v Trong khi ấy, sức mạnh mềm lại lại mang đặc trưng lôi cuốn, hấp dẫn, thu phục, cảm hóa dựa trên tính đồng thuận giữa các bên Trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các quốc gia đều có cơ hội thể hiện mình, đều có quyền lựa chọn con đường phát triển của mình thì sức mạnh mềm càng đóng vai trò quan trọng Cùng với thời gian, sức mạnh cứng của một quốc gia có thể suy giảm tương đối nhưng sức mạnh mềm của nó vẫn có thể được duy trì lâu dài Văn hóa không tồn tại trừu tượng, đâu đó, khó nắm bắt Trái lại, văn hóa tồn tại qua giá trị văn hóa vật thể, giá trị văn hóa phi vật thể và qua chính con người của quốc gia, dân tộc’ đó Sức lan tỏa của văn hóa với tư cách là sức mạnh mềm được thông qua các giá trị văn hóa vật thể, giá trị văn hóa tinh thần và chính con người của quốc gia, dân tộc này Sức lan tỏa này phụ thuộc vào mức

38

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Công Bá (2015), Đặc trưng và sắc thải văn hóa vùng — tiều vùng ở Việt Nam. Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng và sắc thải văn hóa vùng" — "tiều vùng ở Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2015
3. Lê Văn Bé (2001), Trang phục cổ truyền của người Nùng ở Đông Bắc Việt Nam. Luận án tiến sĩ Lịch sử, Viện dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục cổ truyền của người Nùng ở Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Bé
Năm: 2001
4. P.K.Benedct (1944), Thai, Kadai và Indonesiens (Những tộc người nói ngôn ngữ Thái, Kadaì và Indonesien. Tập san hội nghiên cứu Đông Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thai, Kadai và Indonesiens (Những tộc người nói ngôn ngữ Thái, Kadaì và Indonesien
Tác giả: P.K.Benedct
Năm: 1944
5. Nguyễn Chí Bền (2010), Văn hóa Việt Nam trong bổi cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nxb Chính trị quổc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bổi cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Chính trị quổc gia Hà Nội
Năm: 2010
6. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc. Đề tài khoa học cấp nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Năm: 2004
7. Trần Văn Bính (2015), Văn hóa Việt Nam trên đường đổi mới - thời cơ và thách thức. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trên đường đổi mới - thời cơ và thách thức
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
8. Trần Văn Bính (2006), Đời sống văn hỏa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Nxb Quân đội nhân dân.126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hỏa các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân.126
Năm: 2006
9. Trần Bình (2011), Vãn hóa mưu sinh của các dần tộc thiểu sổ vùng Đông Bắc Việt Nam. Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn hóa mưu sinh của các dần tộc thiểu sổ vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2011
10. Huy Cận (1994), Suy nghĩ về bản sắc văn hỏa dân tộc. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bản sắc văn hỏa dân tộc
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
11. Bùi Thị Kim Chi (2014), Một số vấn đề đặt ra trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa tộc người.Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa tộc người
Tác giả: Bùi Thị Kim Chi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
12. Hoàng Chương (2009), Thực trạng vấn để bảo tồn và phát huy vãn hóa dân tộc. Tạp chí Tuyên giáo (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng vấn để bảo tồn và phát huy vãn hóa dân tộc
Tác giả: Hoàng Chương
Năm: 2009
13. Nguyễn Văn Dân (2011), Con người và văn hỏa Việt Nam trong thời kỳ đoi mới và hội nhập. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và văn hỏa Việt Nam trong thời kỳ đoi mới và hội nhập
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
14. Khổng Diễn (chủ biên) (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội của các dân tộc miền núi phía Bẳc. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội của các dân tộc miền núi phía Bẳc
Tác giả: Khổng Diễn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
15. Donovan (1997), Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Donovan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. Ma Ngọc Dung (2005), Truyền thống và biến đổi trong tập quán ăn uổng của người Tày vùng Đông Bắc Việt Nam. Luận án tiến sĩ Nhân học, Viện dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống và biến đổi trong tập quán ăn uổng của người Tày vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Ma Ngọc Dung
Năm: 2005
17. Ma Ngọc Dung (2013), Nhà sàn truyền thống của người Tày vùng Đông Bắc Việt Nam. Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà sàn truyền thống của người Tày vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Ma Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2013
18. Đinh Xuân Dũng (chủ biên) (2013), Vãn hỏa trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn hỏa trong chiến lược phát triển của Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
19. Nguyễn Đăng Duy (2002), Vãn hóa học Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn hóa học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
20. Thành Duy (2006), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mẩy vấn đề lý luận và thực tiễn.Nxb Chỉnh trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mẩy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chỉnh trị quốc gia
Năm: 2006
21. Phạm Đức Dương (2002). Từ văn hóa đến văn hóa học. Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn hóa đến văn hóa học
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w