1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt

88 750 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của người Thái ở Nghệ An qua nghề dệt
Tác giả Lê Anh Tuấn
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Nhã Bản
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 20,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời cảm ơn Sau một quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu với những thuận lợi và khó khăn, đề tài Đặc tr“Đặc tr ng ngôn ngữ - văn hoá của ngời Thái ở Nghệ An qua nghề dệt may” đã đợc h

Trang 1

Lời cảm ơn

Sau một quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu với những thuận lợi

và khó khăn, đề tài Đặc tr“Đặc tr ng ngôn ngữ - văn hoá của ngời Thái ở Nghệ

An qua nghề dệt may” đã đợc hoàn thành Có đợc kết quả này, ngoài sự

nỗ lực của bản thân, tôi còn đợc sự giúp đỡ rất tận tình của nhiều ngời

Trớc hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Nguyễn Nhã Bản, ngời trực tiếp hớng dẫn tôi thực hiện luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn - trờng

Đại học Vinh, nhất là các thầy cô trong Tổ ngôn ngữ đã có công dạy dỗ,

định hớng cho tôi trong quá trình học tập tại trờng

Tôi xin cảm ơn chị Vi Thị Minh, thầy giáo Vi Văn Long ở huyện Con

Cuông đã có nhiều giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, khảo sát ngônngữ và văn hoá của ngời Thái trên địa bàn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sâu sắc đối với gia đình, ngời thân, lãnh đạotrờng THPT Anh Sơn 1 và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôitrong quá trình học tập

Đề tài đã hoàn thành nhng chắc chắn còn có nhiều thiếu sót cần bổsung Vì thế tôi rất mong sự góp ý của bạn đọc, đặc biệt là sự chỉ dẫn củahội đồng khoa học và các thầy cô phản biện Tôi xin chân thành cảm Vinh ngày10/12/2010

Trang 2

I Lí do chọn đề tài 1

II Đối tợng và mục đích nghiên cứu 2

1 Đối tợng nghiên cứu 2

2 Mục đích nghiên cứu 5

III Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 5

1 Nguồn t liệu 5

2 Phơng pháp nghiên cứu 6

IV Lịch sử vấn đề 6

V Đóng góp của luận văn 8

VI Cấu trúc của luận văn 8

Chơng 1: Những vấn đề lí thuyết 9

Tiểu dẫn 9

1.1 Khái niệm trờng nghĩa và từ nghề nghiệp 9

1.1.1 Khái niệm “Đặc trtrờng nghĩa”(Semantic fields) 9

1.1.2 Khái niệm “Đặc trtừ nghề nghiệp” 10

1.1.3 Đặc trng cơ bản của từ nghề nghiệp 12

1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ 13

1.2.1 Văn hoá 13

1.2.2 Ngôn ngữ 14

1.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 15

1.3 Văn hoá vật chất của ngời Thái 17

1.3.1 Bản làng, nhà cửa 17

1.3.2 ẩm thực 19

1.3.3 Trang phục 21

1.4 Nghề dệt của ngời Thái ở Nghề An 22

1.5 Vài nét về ngời Thái ở Nghệ An 28

1.5.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 28

1.5.2 Dân c và sự phân bố dân c 30

1.5.3 Về tên gọi 31

1.5.4 Về kinh tế, văn hoá, giáo dục 32

Tiểu kết 34

Chơng 2 Nhận xét chung về các nhóm từ ngữ 35

Tiểu dẫn 35

Trang 3

2.1 Số liệu ban đầu 35

2.1.1 Nhóm từ ngữ chỉ việc trồng dâu, nuôi tằm 36

2.1.2 Nhóm từ ngữ chỉ việc trồng bông và chế biến bông 37

2.1.3 Nhóm từ ngữ chỉ dụng cụ dệt vải 38

2.1.4 Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động dệt vải 39

2.1.5 Nhóm từ ngữ chỉ sản phẩm dệt 41

2.1.6 Nhóm từ ngữ chỉ hệ thống hoa văn của sản phẩm 43

2.1.7 Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động nhuộm sợi vải 46

2.1.8 Nhóm từ ngữ chỉ nguyên liệu nhuộm màu 47

2.2 Xét về phơng diện cấu tạo 48

2.2.1 Từ đơn 50

2.2.2 Từ ghép 51

2.3 Xét về phơng diện phản ánh 54

2.3.1 Từ ngữ chỉ hoạt động 55

2.3.3 Từ ngữ chỉ đặc điểm 55

Tiểu kết 56

Chơng 3 Đặc trng văn hoá của ngời Thái 57

Tiểu dẫn 57

3.1 Một vài nét văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần 57

3.1.1 Văn hoá vật chất 57

3.1.2 Văn hoá tinh thần 61

3.1.3 Sự khác biệt giữa văn hoá của ngời Thái Nghệ An 65

3.2 Đặc trng văn hoá của ngời Thái ở Nghệ An 69

3.2.1 Trong đời sống hằng ngày 69

3.2.2 Trong hội hè, lễ, Tết 71

3.2.3 Trong lễ cới 72

3.2.4 Trong lễ tang ma 73

Tiểu kết 75

Kết luận 77

Tài liệu tham khảo 79

Phụ lục 83

Trang 4

Hä vµ tªn : Lª Anh TuÊn

Sinh ngµy : 08/05/1974

Quª qu¸n : Hng Th«ng, Hng Nguyªn, NghÖ An

Chç ë hiÖn nay : Khèi 6A, ThÞ TrÊn Anh S¬n, huyÖn Anh S¬n, NghÖ An

§¬n vÞ c«ng t¸c : Trêng THPT Anh S¬n 1

§iÖn tho¹i : 0947023838

Trang 5

Mở đầu

I Lý do chọn đề tài

Mỗi dân tộc trên đất nớc Việt Nam chúng ta đều có một bề dày lịch sử vănhoá lâu đời và riêng biệt Tất cả 54 dân tộc anh em đã tạo nên một dân tộcViệt Nam phong phú về màu sắc, đa dạng về ngôn ngữ và những nét đặc trngvăn hoá độc đáo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ơng Đảng tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đã chỉ ra nền văn hoá mới của dân tộc Việt

Nam nh sau: Nền văn hoá ấy là sự kết hợp hài hoà những tinh hoa văn hoá“Đặc tr

có phong cách riêng của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam” [48 ; 63] Nh vậy, việc tiếp cận và nghiên cứu một dân tộc nào đó trong

đại gia đình dân tộc Việt Nam có thể bắt nguồn từ nhiều khía cạnh khác nhau,trong đó ngôn ngữ và văn hoá là hai yếu tố rất quan trọng, bởi vì chúng lànhững phạm trù cơ bản của một dân tộc Ngôn ngữ và văn hoá tồn tại độc lập

và mang những nét đặc trng riêng nhng chúng lại có mỗi quan hệ chặt chẽ,

biện chứng lẫn nhau F.suasure đã từng nói Phong tục của một dân tộc có tác“Đặc tr

động đến ngôn ngữ và mặt khác trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [34 ; 47].

Trong 54 dân tộc anh em, dân tộc Thái chiếm một số lợng khá lớn và làdân tộc có số dân đông nhất so với các dân tộc thiểu số trên đất nớc Việt Nam.Riêng ở Nghệ An, ngời Thái chiếm gần 75% tổng số dân c của các dân tộcthiểu số và là một trong bốn tỉnh có số dân tộc Thái lớn nhất nớc Theo kếtquả điều tra dân số năm 2003, cả nớc có 1.328.705 ngời Thái thì ở Nghệ An

có 281.415 ngời (chiếm 21%), chỉ đứng sau tỉnh Sơn La, 482.985 ngời (chiếm36%) Con số về dân c ngời Thái trong nớc nói chung và ở Nghệ An nói riêngkhiến chúng ta phải quan tâm, nhất là việc tìm hiểu và nghiên cứu về dân tộcthiểu số này

Nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nớc ta đã và đang có nhiều chủ trơngquan tâm đến các dân tộc thiểu số trên nhiều phơng diện Trong đó việc tìmhiểu, nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá rất đợc chú trọng Nhà nghiên cứu Lê Sĩ

Giáo cho rằng: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đang mất đi hàng ngày tr“Đặc tr ớc mắt chúng ta, mà điều còn nguy hại hơn, đáng tiếc hơn, rất nhiều ngôn ngữ nay cha hề đợc nghiên cứu” [19 ; 88]

Ngời Thái có chữ viết từ lâu, là hai trong năm dân tộc thiểu số ở Nghệ An

có chữ viết Tuy nhiên trong xu thế hội nhập và phát triển của xã hội, ngônngữ của dân tộc thiểu số nói chung cũng nh tiếng Thái nói riêng đang đứng tr-

Trang 6

ớc những trách thức lớn Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ nhận định rằng: ở ViệtNam, vấn đề nổi bật hiện nay không phải là sự tranh dành lãnh thổ hay xungkhắc tôn giáo mà điều hết sức quan trọng với Việt Nam là sự phát triển đờisống văn hoá - xã hội của các dân tộc thiểu số Cho nên mặt ngôn ngữ cần đợcquan tâm.

ở Nghệ An, việc quan tâm đến đời sống văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu

số nói chung cũng nh dân tộc Thái nói riêng là một việc làm thờng xuyên Từnhiều năm nay, UBND Tỉnh Nghệ An đã có chủ trơng đầu t và phát triển cáclàng nghề, trong đó có nghề dệt của ngời Thái Các làng nghề dệt thổ cẩm củangời Thái ở các huyện Con Cuông, Tơng Dơng, Quỳ Hợp có quy mô khá lớn.Nghề dệt của ngời Thái đã có từ lâu nhng nét đặc trng về ngôn ngữ - văn hoátrong nghề này vẫn cha đợc tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ thể và có chiềusâu

Với những lí do đã nêu trên, ngời thực hiện mong đợc đóng góp những

hiểu biết của mình qua đề tài : Đặc trng ngôn ngữ - văn hoá của ngời Thái ở

Nghệ An qua nghề dệt.

II Đối tợng và mục đích nghiên cứu

1 Đối tợng nghiên cứu

Trên đất nớc Việt Nam, dân tộc Thái có khoảng hơn một triệu ngời baogồm nhiều ngành Trong mỗi ngành lại chia làm nhiều nhóm khác nhau Để rõhơn điều này, chúng tôi đã mô phỏng qua sơ đồ sau đây:

Tai – Kađai

Lakja Kam Thuỷ Bê Tai Cơ lao, La chí, Pu kéo

Mu Lao

Then, Mạc

Bắc Trung Tây Nam

Pu Giay Tày, Nùng Thái (Xiêm)

Giáy, Seac Choang Nam Lào, Lự

Thái Đen, Thái TrắngKam Tai

Trang 7

Quan sát sơ đồ trên ta thấy: Ngời Thái thuộc nhóm Tai Tây Nam, ngônngữ Tày - Thái, dòng Tai, ngữ hệ Tai - Kađai Các nhóm ngời Thái ở ViệtNam nh sau:

Thái Đen (Tày Đăm) c trú chủ yếu ở tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn và

các huyện Điện Biên, Tuần Giáo, tỉnh Lai Châu ở miền Tây Thanh Hoá và

Nghệ An có các nhóm Tày Thanh (Mãn Thanh), Tày Mời (Hàng Tổng) và Tày

Mờng

Thái Trắng (Tày Đon hay Tày Khao) c trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu và

các huyện Quynh Nhai, Bắc Yên, tỉnh Sơn La Ngoài ra còn có một số vùng

nh Văn Bàn, Dơng Thuỳ thuộc Hoàng Liên Sơn ở Sa Pa, Thanh Hoá, Nghệ

An cũng có một số nhóm Thái Trắng

Một số ngành khác có nhiều nhóm phức tạp hơn, c trú chủ yếu ở MộcChâu tỉnh Sơn La và các huyện miên núi phía Tây của hai tỉnh Thanh Hoá,Nghệ An Nhóm Thái Mộc Châu từ Lào sang chịu ảnh hởng về nhân chủng vàvăn hoá của cả hai ngành Thái Trắng và Thái Đen ở Nghệ An không gọi Thái

Đen, Thái Trắng nh ở Tây Bắc mà chia thành ba nhóm với ba tên gọi là: TàyMờng, Tày Thanh và Tày Mời

Nhóm Tày Mờng (tự nhận là Thái Trắng), còn gọi là Hàng Tổng, tên phiếm chỉ là Tày Dọ Tày Mờng theo nghĩa tiếng Thái nghĩa là ngời chủ ở trong m-

ờng

Nhóm Tày Thanh (tự nhận là Thái Đen), còn gọi là Man Thanh, không có

chủ mờng, tức không có nguồn gốc từ mờng

Nhóm Tày Mời (tự nhận là Thái Đen) là nhóm có số c dân ít hơn hai nhóm

trên

Bộ phận Tày Mờng và Tày Thanh là hai nhóm đông dân c nhất ở Nghệ An

và có cơ cấu thống nhất gồm nhiều nhóm nhỏ hợp thành Hai nhóm này cómặt ở Nghệ An vào thế kỷ XIV Nhóm đến đầu tiên lập nghiệp ở vùng MờngNọc (Quế Phong), sau lan rộng ra các vùng Châu Tiến (huyện Quỳ Châu) vàKhum Tinh (huyện Quỳ Hợp) Một số nhóm ở vùng Cửa Rào (huyện Tơng D-

ơng), trên sông Nậm Pao, gọi là Tày Pao Một số nhóm khác ở huyện Tơng

D-ơng, Con Cuông đến cùng thời gian đó hoặc muộn hơn

Mặc dù có nhiều ngành, nhiều nhóm, c trú ở nhiều địa bàn và có nhiều têngọi khác nhau nhng ngời Thái đều có những đặc điểm chung về hình thái kinh

tế, bản sắc văn hoá, tôn giáo, tín ngỡng, quan hệ gia đình, xã hội

Trang 8

Về hình thái kinh tế, khi đến Việt Nam ngời Thái đã biết làm ruộng nớc.

Đây chính là nghề nghiệp chính của họ Ngoài ra, vì sống gần rừng núi, sôngsuối nên các nghề săn bắn, hái lợm, đánh bắt cũng phát triển Nghề dệt may đ-

ợc coi là nghề thủ công, là nghề phụ, nhng nó lại làm nên một nét bản sắcriêng của ngời Thái Riêng ở Nghệ An, ngời Thái là dân tộc duy nhất có nghềdệt Có thể nói, phụ nữ Thái là những thợ dệt chăm chỉ, lành nghề Họ sảnxuất không chỉ đủ chăn, màn, quần áo cho gia đình mà còn đem bán đổi chocác dân tộc khác Ngời Thái nổi tiếng với những tấm thổ cẩm dệt rất tinh vi,với những mô-típ hoa văn hình chim, thú, cây cối, thậm chí họ còn dệt đợchình lãnh tụ nhiều màu sắc thật đẹp Theo điều tra, nghề dệt của ngời Thái ởNghệ An hiện nay còn đợc duy trì khá ổn định ở nhiều xã thuộc các huyệnCon Cuông, Tơng Dơng, Quỳ Hợp, Quế Phong

Trong rất nhiều mặt của đời sống, nhiều ngành nghề khác nhau của ngờiThái, luận văn chỉ tập trung vào một lĩnh vực trong một phạm vi nhỏ, đó là:

Đặc trng ngôn ngữ - văn hoá của ngời Thái ở Nghệ An qua nghề dệt.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung vào các vấn đề sau đây:

- Tổng hợp vốn từ ngữ biểu thị nghề dệt của ngời Thái ở Nghệ An

- Tìm hiểu những nét đặc trng văn hoá trong nghề dệt và những sản phẩm dệttrong mọi lĩnh vực đời sống của ngời Thái

- Đối chiếu, so sánh Thái- Việt, Thái Tây Bắc và Thái Nghệ An

III nguồn T liệu và phơng pháp nghiên cứu

1 Nguồn t liệu

Do đặc trng của đề tài nên việc đầu tiên là tìm hiểu, khảo sát vốn từ ngữbiểu thị nghề dệt và những nét văn hoá của ngời Thái thông qua sản phẩm củanghề dệt Địa bàn khảo sát chủ yếu ở những vùng hiện còn nghề dệt thuộc cáchuyện Con Cuông, Tơng Dơng và Quỳ Hợp

Trực tiếp vào các bản làng ngời Thái, các gia đình đã và đang làm nghề dệt

để tìm hiểu những nét văn hoá liên quan đến nghề dệt và sản phẩm của nghềdệt trong đời sống của ngời Thái Trực tiếp đến với các ngày lễ, Tết, đám cới,

lễ tang để ghi hình ảnh về trang phục ngời Thái

Dựa vào những hiểu biết của ngời thực hiện về ngôn ngữ và văn hoá củangời Thái

Cuốn từ điển Thái - Việt của Nxb KHXH, 2001

Trang 9

2 Phơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu vận dụng phơng pháp thống kê quaviệc điền dã ở các vùng đã nêu trên Từ những t liệu thu đợc, chúng tôi tiếnhành miêu tả, nhận xét, tổng hợp dựa trên từng nhóm, từng lĩnh vực nhỏ

IV Lịch sử vấn đề

Vấn đề ngôn ngữ - văn hoá của ngời Thái nói tiêng và các dân tộc thiểu sốnói chung từ lâu đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đối với ngôn ngữ vàvăn hoá ngời Thái đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của cáctác giả nớc ngoài lẫn trong nớc

Đối với các tác giả nớc ngoài, nhất là ở Châu Âu, rất nhiều nhà ngôn ngữ,nhà văn hoá đã có các công trình nghiên cứu ngôn ngữ - văn hoá thuộc nhómTày - Thái Đó là các tác giả: G.A Grierson, W.Schmidt, H.Mas Péro, G.HLuce, F.Savana, A.G Haudricourt, R.Shafer, P.Benediet, S.E jakhantov…Trong đó A.G Haucdricourt đã có nhiều công trình về lĩnh vực Đông Nam á

học Đáng chú ý là tác giả M.Abadie với cuốn Các chủng tộc ở th“Đặc tr ợng du Bắc

Kỳ, từ Phong Thổ đến Lạng Sơn”, Pari, 1924

Qua các công trình và bài viết của các tác giả trên, ta thấy các tác giả quantâm nhiều đến ngữ âm, lich sử xã hội, văn hoá của nhóm Tày-Thái A.GHaudricourt cho rằng từ hơn nửa thế kỷ nay, các ngôn ngữ Thái là một đối t-ợng chọn lọc để áp dụng ngôn ngữ học so sánh vào các ngôn ngữ đơn âm tiết

ở Viễn Đông Một số ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ có chữ viết, có một nền vănhọc quan trọng và có những từ điển đúng đắn

ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu, nghiên cứu về dân tộcThái ở nhiều khía cạnh nh ngôn ngữ, văn hoá, lịch sử, xã hội… Tiêu biểu có

các tác giả với các công trình sau: Cầm Trọng - Ng“Đặc tr ời Thái ở Tây Bắc”, 1979;

Cầm Trọng và Phan Hữu Dật - Văn hoá Thái Việt Nam“Đặc tr ”, 1995; Ngô Đức

Thịnh - Cầm Trọng - Luật tục Thái“Đặc tr ” ; Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn – Sơ“Đặc tr

lợc giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” và cuốn T “Đặc tr liệu

về lịch sử và xã hội dân tộc Thái”, 1997; Viện dân tộc học Việt Nam - Các“Đặc tr

dân tộc ít ngời ở Việt Nam ,” 1978

Qua các công trình trên, các tác giả đã cho chúng ta hiểu về phong tục, tậpquán, hình thái kinh tế, nguồn gốc cũng nh lịch sử phát triển của dân tộc Thái.Một số tác giả khác lại tìm hiểu, nghiên cứu về sự giao thoa, tiếp xúc giữa

Trang 10

ngôn ngữ Thái với các ngôn ngữ khác nh: Hoàng Văn Ma - Mối quan hệ“Đặc tr

giữa tiếng La Ha và tiếng Thái”; Lê Sỹ Giáo - Giao thoa văn hoá và việc xây“Đặc tr

dựng đời sống văn hoá hiện nay ở các vùng ngời Thái”; Trơng Sỹ Hùng,

Hoàng Kim Dung - Giao thoa văn hoá Thái “Đặc tr ”

Riêng ở Nghệ An cũng đã có không ít công trình và bài viết về các khíacạnh của dân tộc Thái trên địa bàn miền Tây của tỉnh Đó là Trần Trí Dõi - M

Ferlus - Giới thiệu về chữ Thái Lai Pao của ng“Đặc tr ời Thái Tơng Dơng Nghệ An” ;

Nguyễn Xuân Dung và Hồ Ngọc Thuyết - Vài nét về đặc điểm đời sống văn“Đặc tr

hoá dân tộc thiểu số ở Quỳ Châu Nghệ An”; Nguyễn Đình Lộc - Các dân“Đặc tr

tộc thiểu số ở Nghệ An , ” 1993; Vi Văn An - Về tên gọ và lịch sử c“Đặc tr trú của nhóm ngời Thái ở miền Tây Nghệ An”; Vi Văn Biên -“Đặc tr Văn hoá vật chất của ngời Thái ở Tnanh Hoá và Nghệ An”; Dơng Hồng Từ - Âm nhạc dân gian dân“Đặc tr

tộc Thái ở Nghệ An”; Sầm Nga Di - “Đặc tr Tục ngữ, ca dao, dân ca Thái ở Nghệ An” ; UBND huyện Con Cuông - Con Cuông huyện cửa ngõ của miền Tây xứ“Đặc tr

Nghệ”, 1993; UBND tỉnh Nghệ An cũng xuất bản cuốn Phát triển bền vững“Đặc tr

miền núi Nghệ An” 2002

Nh vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu về mọi mặt của dân tộc Thái đã có nhiềucông trình rất có giá trị Tuy nhiên trong lĩnh vực nghề dệt may của dân tộcThái thì cha có công trình nghiên cứu hay bài viết nào thật sự đầy đủ và cóchiều sâu Đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ, gợi mở sự tìm hiểu, nghiên cứu củanhiều ngời về nét đặc trng của ngôn ngữ - văn hoá trong nghề “Đặc trđộc quyền”này của ngời Thái

V Đóng góp của luận văn

Luận văn đã tổng hợp đợc vấn đề từ ngữ biểu thị trong nghề dệt của ngờiThái Đồng thời khái quát đựơc những nét đặc trng về văn hoá của ngời Tháiqua nghề dệt và sản phẩm của nghề dệt

Góp phần vào việc bảo tồn, phát triển ngôn ngữ và văn hoá của ngời Tháinói chung và nghề dệt của họ nói riêng

Tôn thêm niềm tự hào của ngời Thái về nghề dệt nghề truyền thống của

họ Qua đó làm tăng thêm sự hiểu biết của các dân tộc khác về nghề dệt thổcẩm của ngời Thái

Trang 11

Luận văn cũng gợi mở về việc tìm hiểu, nghiên cứu của mọi nhà nghiên cứu

đối với các nghề truyền thống của ngời Thái nói riêng và của các dân tộc khácnói chung

VI cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, nội dung chính của luận văngồm ba chơng:

Chơng I: Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chơng II: Nhận xét chung về các nhóm từ ngữ biểu thị nghề dệt của ngời Thái

ở Nghệ An

Chơng III: Đặc trng văn hoá của ngời Thái ở Nghệ An qua sản phẩm dệt

Chơng 1 : Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn liên

quan đến đề tài Tiểu dẫn

Đây là chơng tập trung vào các vấn đề có tính chất khái quát, liên quan

đến đề tài Về mặt lí thuyết có khái niệm trờng nghĩa, khái niệm từ nghề

nghiệp, khái niệm ngôn ngữ, khái niệm văn hoá và mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và văn hoá Các vấn đề thực tiễn liên quan đến dân tộc Thái có nghề dệt may

của ngời Thái, văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần và vài nét về ngời Thái ởNghệ An

Do khuôn khổ của một luận văn nên các khái niệm các vấn đề đợc trìnhbày một cách ngắn gọn, có liên quan trực tiếp đến nội dung chính của đề tài

1.1 Khái niệm trờng nghĩa và từ nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm tr “Đặc tr ờng nghĩa (Semantic fieds)

Theo GS Đỗ Hữu Châu: Tr“Đặc tr ờng nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng căn

cứ vào một nét đồng nhất nào đó về nghĩa ” [8 ; 35] Tác giả cũng nói rõ: Tr“Đặc tr ờng từ vựng là tập hợp các đơn vị từ vựng theo sự đồng nhất về ngữ nghĩa Nếu chia ý nghĩa của các đơn vị từ vựng thành hai loại: ý nghĩa biểu thị, quan

-hệ trực tiếp với chức năng gọi tên và ý niệm biểu đạt, quan -hệ trực tiếp với

Trang 12

chức năng biểu đạt khái niệm của chúng ta thì chúng ta có thể có hai trờng từ vựng: trờng ý niệm (trờng vật, trờng đề mục) và trờng ngữ nghĩa (trờng nghĩa vị)” [8 ; 35].

Tác giả Lê Hữu Tĩnh lại định nghĩa: Tr“Đặc tr ờng từ vựng là tập hợp các từ căn

cứ vào một nét đồng nhất nào đó về nghĩa Mỗi trờng nghĩa là một tiểu hệ thống lớn, là từ vựng của một ngôn ngữ ” [35 ; 226]

Cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Nh ý chủ biên) lại đa ra

định nghĩa nh sau:

1 Một mảng, một phần hiện thực khánh quan đợc chia tách theo kinhnghiệm của con ngời và có sự tơng xứng về mặt lí thuyết trong ngôn ngữ dớidạng một nhóm từ, một hệ thống từ vựng nào đó Trờng nghĩa thời gian, trờngnghĩa không gian, trờng nghĩa màu sắc

2 Toàn bộ từ ngữ tạo thành một dãy chủ đề và bao trùm một phạm vi ý nghĩanhất định Chẳng hạn trờng nghĩa thời gian qui tụ những từ nh: giây, phút, giờ,ngày đêm, tuần, tháng, năm

Ngay từ thế kỷ XIX, các nhà bác học đã chú đến khả năng tồn tại kiểu liênkết từ vựng khác nhau Sự biểu hiện nguyên cơ có tính chất lí thuyết về kháiniệm trờng đợc trình bày trong các công trình của J.Trer và G.I.P.Sen Các tácgiả này đã gọi “Đặc trtrờng ngữ nghĩa”

Cơ sở để tập hợp các từ vào một trờng nghĩa là sự tồn tại đặc trng ngữ nghĩachung để liên kết tất cả các đơn vị trong một trờng nghĩa Còn đặc trng ngữnghĩa riêng của từng từ trong một trờng là dấu hiệu khu biệt chúng với nhau.Chẳng hạn trong trờng nghĩa các động từ chuyển động thì đặc trng ngữ nghĩa

chung là sự chuyển động trong không gian“Đặc tr ”, còn các đặc trng ngữ nghĩa riêng

có giá trị khu biệt là tốc độ“Đặc tr ”, ph“Đặc tr ơng thức chuyển động , h ” “Đặc tr ớng chuyển

động , môi tr” “Đặc tr ờng chuyển động

Nh vậy chúng ta có thể hiểu rằng: Tr“Đặc tr ờng nghĩa là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về mặt ngữ nghĩa Với các trờng nghĩa chúng ta có thể phân

định một cách tổng quát quan hệ ngữ nghĩa từ vựng thành quan hệ ngữ nghĩa giữa các trờng nghĩa và ngữ nghĩa trong lòng mỗi trờng” [34 ; 322].

1.1.2 Khái niệm từ nghề nghiệp“Đặc tr ”

Theo GS Đỗ Hữu Châu: Từ nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng đ“Đặc tr

-ợc sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, nghề văn thơ ) [8 ; 234] Theo định nghĩa này thì từ nghề

Trang 13

nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề đó qui định.Hay nói cách khác, từ nghề nghiệp chỉ có ý nghĩa trong môi trờng của nó.

Tác giả Nguyễn Văn Tu cũng so sánh: những từ nghề nghiệp khác thuật“Đặc tr

ngữ ở chỗ đợc chuyên dụng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải

để viết Từ nghề nghiệp gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa ” [45 ;126]

Từ nghề nghiệp có tính chất lâm thời vì nó tồn tại phụ thuộc vào sự tồn tạicủa nghề sinh ra nó Nguồn gốc cơ bản của từ nghề nghiệp đợc lấy trong từtoàn dân và từ địa phơng

Từ nghề nghiệp có phạm vi hoạt động hẹp, ít phổ biến Tuy nhiên cũng cónhững từ nghề nghiệp truyền thống có phạm vi hoạt động rộng nh nghề trồng

lúa, nghề cá, Nguyễn Văn Tu khẳng định: Từ nghề nghiệp là các từ ngữ“Đặc tr

đặc trng cho ngôn ngữ của các nhóm ngời thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó ” [45 ; 389] So với từ địa phơng, tiếnglóng, thuật ngữ khoa học thì từ nghề nghiệp cũng có những đặc điểm chung đó

là phạm vi sử dụng bị hạn chế Tuy nhiên từ nghề nghiệp vẫn có sự khác biệt ởchỗ nó là tên gọi duy nhất của hiện tợng trong thực tế, không có hiện đồngnghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Có nghĩa là từ nghề nghiệp tồn tại song songvới từ toàn dân Chính vì thế mà từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ toàn dânkhi khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến trong xã hội Chẳng

hạn các từ : Thêu, dệt, khung cửi (nghề dệt may), quăng chài, thả lới (nghề cá), gieo mạ, gặt lúa (nghề trồng lúa)

Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ đợc sử dụngphổ biến nhằm biểu thị các tên gọi, sự vật, hiện tợng, công cụ sản xuất Quátrình sản xuất trong phạm vi của những ngời cùng làm một nghề nào đó trongxã hội Nói cánh khác, từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ, ngữ cố định củangời làm nghề nào đó trong xã hội dùng phục vụ cho hoạt động sản xuất,hành nghề của nghề đó

1.1.3 Đặc trng cơ bản của từ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp mang ý nghĩa biểu vật, tức là nó trùng với một sự vật, mộthiện tợng có thật trong một nghề cụ thể, đồng thời nó cũng mang ý nghĩa biểuniệm, là sự đồng nhất với các khái niệm về sự vật, hiện tợng đó (giống thuậtngữ khoa học)

Trang 14

Do gắn với hoạt động sản xuất hoặc nghề nghiệp cụ thể, cho nên từ nghềnghiệp có tính chất cụ thể, gợi hình ảnh cao Còn mức độ khái quát của các ýnghĩa biểu niệm của chúng thấp hơn thuật ngữ khoa học.

Từ nghề nghiệp có khả năng diễn đạt một cách chính xác, sinh động, ngắngọn về các hiện tợng, hoạt động, sản phẩm của những ngành nghề có liênquan đến các khía cạnh tơng ứng của xã hội

Từ nghề nghiệp có chung một đặc tính cơ bản đó là tính toàn dân bị hạnchế Cho nên từ nghề nghiệp không thể hiểu đợc hoặc không hiểu đúng đốivới ngời ngoài nghề

Lớp từ nghề nghiệp hầu hết chỉ tồn tại trong khẩu ngữ, là ngôn ngữ của

ng-ời làm cùng một nghề sử dụng để trao đổi với nhau bằng miệng Một số từ đợc

sử dụng với tính chất vui đùa trong quá trình tiếp xúc, lao động sản xuất

Từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học luôn xâm nhập lẫn nhau Một số từnghề nghiệp đợc thuật ngữ khoa học hoá trở thành thuật ngữ chuyên môn Ng-

ợc lại, có những thuật ngữ khoa học đi vào các từ nghề nghiệp, hiện đại hoácác từ nghề nghiệp

Nói tóm lại, từ vựng nghề nghiệp là một sự sáng tạo về ngôn ngữ của đại đa

số nhân dân lao động trong các ngành nghề khác nhau Chúng tồn tại nhnhững thuật ngữ khoa học thấp cấp Chúng là nguồn từ vựng rất phong phú để

bổ sung vào hệ thống thuật ngữ khoa học Chúng nằm trong sự thống nhất củavốn từ văn hoá và là nguồn dự trữ, bổ sung làm giàu thêm cho từ vựng dân tộc

ở đây, chúng tôi chỉ tập trung vào vấn đề chính của luận văn, đó là thống kê,tổng hợp, nhận xét, đánh giá vốn từ ngữ trong nghề dệt của ngời Thái ở NghệAn

1.2 Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ

1.2.1 Văn hoá

Từ văn hoá“Đặc tr ” vốn có rất nhiều nghĩa, vì thế đã có nhiều cách định nghĩa

khác nhau về khái niệm này GS Phan Ngọc đã có sự thống kê và nhận xét:

Cho đến nay đã có ngót 400 định nghĩa khác nhau về văn hoá, tất cả đều bị

“Đặc tr

ảnh hởng bởi tinh thần luận Các định nghĩa ấy rất sâu sắc, độc đáo và hấp dẫn Dân tộc nào cũng có văn hoá, vì bất cứ cái gì ta hình dung cũng có mặt văn hoá, mặc dù đố là cây cối, khí trời đến phong tục, cách tổ chc xã hội, các hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, các sản phẩm của hoạt động ấy, cho nên không tìm đợc định nghĩa thao tác luận cho văn hoá nếu dựa vào văn hoá học, kinh tế, chính trị Cũng có thể liệt kê hết các mặt ấy rất khác nhau Chỉ

Trang 15

có cách tìm ngay ở bản thân con ngời, căn cớ vào sự khu biệt giữa con ngời với các đồ vật khác ” [30 ; 14]

Đây là một nhận xét rất xác đáng đối với hiện tợng nhiều nghĩa của thuậtngữ văn hoá Để giải thích hiện tợng trên, GS Phạm Đức Dơng đã có câu trả

lời nh sau: Muốn tìm hiểu vì sao lại có tình trạng trên thì chúng ta phải trở“Đặc tr

về với cách hiểu khái niệm Chúng ta đều biết, khái niệm có hai phần: Nội hàm và ngoại diên đợc biểu đạt bởi định nghĩa Nội hàm là những hiểu biết về toàn thể thuộc tính bản chất đợc phản ánh trong khái niệm Do đó có thể nói nội hàm là khái niệm

Ngoại diên là toàn thể những cá thể có chứa những thuộc tính bản chất

đ-ợc phản ánh trong khái niệm Mối quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên theo tỉ

lệ nghịch: mở rộng ngoại diên thì dấu hiệu đặc trng trong nội hàm của khái niệm bị thu hẹp và ngợc lại, thu hẹp ngoại diên thì nội hàm đợc mở rộng Vì văn hoá liên quan đến mọi mặt của đời sống con ngời cho nên nó mang một ngoại diên rất mở rộng, nghĩa là bất cứ một cái gì ( một cá thể nào) do con ngời làm ra đều có chứa một thuộc tính văn hoá, đều đợc xã hội hoá và khi ngời ta căn cứ vào ngoại diên để khẳng định thì xẩy ra hiện tợng có quá nhiều định nghĩa Và nếu căn cứ mở rộng ngoại diên vô hạn thì định nghĩa này càng trở nên vô hạn đến vô nghĩa Vì vậy cần chấp nhận nội hàm của khái niệm văn hoá là dấu hiệu đặc trng thu hẹp đến mức chung nhất: văn hoá

là tất cả những gì con ngời sáng tạo ra (khu biệt với cái thiên nhiên) trong quá trình ứng xử với môi trờng tự nhiên và xã hội ” [16 ; 15]

Lời nhận xét, đánh giá của GS Phạm Đức Dơng vừa ngắn gọn, đầy đủ,chặt chẽ và chính xác Mặt khác định nghĩa này lại không mâu thuẫn với định

nghĩa của GS Trần Ngọc Thêm rằng : Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các“Đặc tr

giá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tơng tác giữa con ngời với môi trờng tự nhiên và xã hội ” [37 ; 24]

Nh vậy, khái niệm văn hoá“Đặc tr ” tuy đợc định nghĩa nhiều cách khác nhau

nh-ng phần lớn các nhà nh-nghiên cứu đều thốnh-ng nhất cho rằnh-ng: Văn hoá là nhữnh-nggiá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo ra

1.2.2 Ngôn ngữ

F.De.Saussure đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ (language) là gì? Đối với chúng“Đặc tr

tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langue), nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ, tuy là bộ phận cốt yếu Nó vừa là

Trang 16

sản phẩm xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này”

[34 ; 24]

Cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) lại cho rằng: Ngôn ngữ là hệ

thống ngữ âm, những từ và những qui tắc kết hợp chúng mà những ngời cùngtrong một cộng đồng dùng làm phơng tiện giao tiếp với nhau

GS Nguyễn Nhã Bản lại khẳng định: Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể,“Đặc tr

của xã hội Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp giữa ngời với ngời trong xã hội

và xã hội không thể tồn tại nếu thiếu ngôn ngữ, thiếu phơng tiện biểu đạt này Ngôn ngữ đợc hình thành tữ thời kì này đến thời kì khác, đợc tích luỹ, tàng trữ hàng ngàn năm chính là điều giúp xã hội phát triển Hơn thế nữa, trong xã hội ngày nay, chính ngôn ngữ là chiếc cầu nối đính, bắc qua các dân tộc, xã hội khác nhau trên thế giới Hay nói cách khác, ngôn ngữ vừa là tiền đề vừa là kết quả của sự phát triển xã hội ” [2 ;12]

Nh vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: Ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội

đợc các cá nhân vận dụng trong quá trình giao tiếp Nó là yếu tố quan trọngbậc nhất cho sự hình thành và phát triển xã hội loài ngời, là phơng tiện gắn kếtgiữa các cá nhân, giữa các dân tộc

1.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Khi nói về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, các nhà nghiên cứutrong nớc cũng nh trên thế giới đều cho rằng: ngôn ngữ là một thành tố cơ bản

và quan trọng của văn hoá, chi phối nhiều thành tố văn hoá khác, là phơng tiện

có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của văn hoá

Theo GS Phạm Đức Dơng Nếu văn hoá đ“Đặc tr ợc quan niệm là những giá trị

do con ngời sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và với bản thân mình thì đặc trng dân tộc đợc thể hiện trong văn hoá” [16 ; 1].

Nhà nghiên cứu E.Sapir cũng chỉ ra rằng: Trong ý nghĩa là từ vựng của“Đặc tr

một ngôn ngữ, phản ánh ít nhiều và trung thành với các nền văn hoá mà ngôn ngữ đó phục vụ, thì một điều hoàn toàn đúng là lịch sử của ngôn ngữ và lịch

sử của văn hoá chuyển động theo những đờng song song” [33 ; 270].

Sự liên hệ giữa ngôn ngữ và các khía cạnh khác của văn hoá gần gũi tớimức không còn một bộ phận nào thuộc văn hoá cụ thể của một cộng đồng lại

đợc nghiên cứu tách rời, độc lập với biểu tợng ngôn ngữ GS Nguyễn Nhã Bản

đã khẳng định rằng: Quan niệm của mỗi dân tộc về thế giới đ“Đặc tr ợc khúc xạ độc

đáo bằng bức tranh ngôn ngữ của mình Bức tranh ấy lại có sự ảnh hởng trở

Trang 17

lại đến sự tri giác đặc thù đối với hiện thực của những ngời thuộc cộng đồng văn hoá- ngôn ngữ tơng ứng ” [2 ; 194].

Nếu văn hoá đợc xem là một tổng thể các hệ thống tín hiệu do con ngờisáng tạo nên, thì ngôn ngữ lại là hệ thống tín hiệu tiêu biểu nhất hoàn chỉnhnhất và cần thiết nhất để hình thành xã hội loài ngời Ngôn ngữ vừa là công cụcủa t duy vừa là công cụ giao tiếp của xã hội Mỗi dân tộc, bằng công cụ t duycủa mình đã nhận thức thế giới khách quan và phân cắt thực tại theo tâm thứccủa mình Qua ngôn ngữ, ngời ta nhận diện đợc những nét đặc trng của vũ trụ,thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi dân tộc Với công cụ giao tiếp đó,loài ngời đã sản sinh, bảo quản và truyền đạt đợc tất cả các hệ thống tín hiệucủa mỗi dân tộc từ thế hệ này đến thế hệ

khác Ngôn ngữ dân tộc đã tạo nên một thế giới đa sắc màu, một bức tranhtoàn cảnh phong phú, đa dạng

Nh vậy, chúng ta thấy rằng, ngôn ngữ và văn hoá có mỗi quan hệ rất chặt

chẽ GS Nguyễn Nhã Bản cũng đã khẳng định: Ngôn ngữ và văn hoá có mối“Đặc tr

quan hệ khăng khít với nhau Quan hệ đó vô cùng chặt chẽ, đến nỗi ta không thể hiểu và đánh giá đúng đợc cái này nếu thiếu cái kia và ngợc lại” [2 ; 194].

Nói tóm lại, ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ khăng khít với nhau nhtay chân trên một cơ thể ngời Đặc biệt chúng có sự ảnh hởng biện chứng lẫnnhau: Ngôn ngữ giúp cho văn hoá ngày càng phát triển, ngôn ngữ đồng hànhcùng văn hoá sẽ làm cho xã hội phát triển

1.3 Văn hoá vật chất của ngời Thái

1.3.1 Bản làng, nhà cửa

- Bản làng

Ngời Thái thờng ở tập trung bên những khe suối nhỏ Tuy nhiên họ không

dựng nhà gần khe suối, vực thẳm hoặc vùng thấp trũng để tránh lũ lụt Bản

làng ngời Thái đợc làm trên đồi, gần rừng và thờng cấu trúc theo hớng mật“Đặc tr

tập”, tức là các ngôi nhà trong bản đều hớng ra đờng cái, cánh đồng hoặc khe

suối Trớc đây nhà cửa trong bản bố trí không theo hàng lối, nhng ngày naynhiều bản làng ở nhiều vùng đã đợc qui hoạch theo từng lô nh ở phố phờng.Mỗi bản có ranh giới riêng Ranh giới thờng là ngọn đồi, con suồi hoặc cây cổthụ Trong bản có nhiều dòng họ c trú Tính láng giềng mạnh hơn tính huyếtthống là điều dễ thấy trên các bản làng miền núi Các gia đình, họ hàng quần

tụ lại thành các đơn vị xã hội nhỏ, có tổ chức, gọi là bản“Đặc tr ” Tổ chức này, hiệnnay vẫn là chiếc nôi sản sinh ra nhiều nét văn hoá đặc trng của dân tộc Thái

Trang 18

Hiện nay, do quá trình giao lu văn hoá, thiết chế bản làng của ngời Thái đã

có nhiều thay đổi, trớc hết là về mặt vị trí, địa hình Nếu nh trớc đây, ngờiThái chỉ c trú ở những nơi gần nguồn nớc, gần núi đồi, thì nay ngời ta đã làmnhà ở nhiều địa hình khác nhau, miễn là nơi đó thuận lợi cho việc canh tácruộng đất, chăn nuôi Đặc biệt là họ có xu hớng làm nhà gần trung tâm các đôthị, gần chợ, thuận lợi đi lại Do thay đổi về vị trí, địa hình cho nên căn nhà

gỗ trớc đây ít nhiều cũng đã thay thế bởi những ngôi nhà xây nh nhà của ngời

Kinh

- Nhà cửa

Loại nhà truyền thống của ngời Thái là nhà sàn Để có một ngôi nhà sànkhang trang, ngời dân Thái phải có thời gian chuẩn bị nguyên vật liệu Có nhàchuẩn bị trớc đó ba đến bốn năm Khó nhất của việc làm nhà sàn là chọn đợc

bộ cột nhà ng ý Cột nhà sàn phải chọn loại gỗ chắc, nh lim, trai, táu, sến vàphải lấy những cây to, dài, thẳng để lấy phần lõi bên trong Ngôi nhà sàn ngờiThái ở Nghệ An thờng có bốn kiểu sau đây:

- Nhà có đà (Hơn khang) hay còn gọi là nhà kim may (hơn kim may) Đây là

kiểu nhà đơn giản nhất, cột chôn, dùng ngoãm tự nhiên, thắt chặt bằng dây

- Nhà quá giang cột chôn (hơn khứ) hay (hơn xâu phăng) Đây là kiểu nhà

có quá giang, không dùng ngoãm tự nhiên ( hoặc ít dùng) Quá giang đợc đục

lỗ để ráp vào đầu cột Kèo đợc lắp vào giữa quá giang và chốt bằng con xỏ

- Kiểu nhà hai cột kê có quá giang (hơn kê khứ) Đây là kiểu nhà có hai

hàng cột kê trên đá, còn lại là cột chôn Quá giang đợc tạo mộng để ráp vàocột, không sử dụng ngoãm Kiểu nhà này phổ biến ở các huyện miền núi Nghệ

An, Thanh Hoá vào những năm 1950, 1960

- Kiểu nhà kê hạ (hơn kê hạ) Đây là kiểu nhà mới du nhập vào dân tộc Thái.

Kiểu nhà này có bốn hàng cột đợc kê trên những tảng đá

Dù kiểu nào thì một ngôi nhà sàn thờng có ba gian trở lên Gian đầu tiên có

cầu thang, gọi là hỏng khơi “Đặc tr ” Đây là nơi để ngồi chơi, tiếp khách của đàn

ông Gian thứ hai gọi là hỏng hóng “Đặc tr ” là nơi đặt bàn thờ Gian này thờng rộnghơn các gian khác, phụ nữ ít khi ngồi chơi, đi lại hoặc nghỉ ngơi ở đây Nếunhà chỉ có ba gian thì gian này đặt chung với gian đầu tiên của ngôi nhà Giantiếp đó bố trí các phòng ngủ của vợ chồng chủ nhà và con cái Gian cuối gọi là

gian bếp (hoỏng tau) Phía sau gian bếp, rất nhiều nhà còn có một gian khác ở cuối, gọi là gian xép (hoỏng mé)

1.3.2 ẩm thực

Trang 19

Cũng nh nhiều dân tộc khác, cơ cấu bữa ăn của ngời Thái đầu tiên vẫn làchất tinh bột cộng với rau, cá, thịt Trớc đây, đồng bào Thái chủ yếu ăn gạonếp Ngời Thái ở Nghệ An, Thanh Hoá thích ăn xôi nếp Họ thờng ăn xôi vớicá nớng hoặc ăn với chẻo làm từ vừng, lạc ăn nh thế mới cảm thấy hết vị ngon

của xôi Tục ngữ Thái có câu Khẩu nứng cắp pa pỉnh“Đặc tr ” (Xôi nếp với cá nớng)

để nói về món ăn khoái khẩu của họ

Cũng đợc chế biến từ gạo nếp, ngời Thái còn có món đặc sản là cơm lam

(khảu lam) Để làm cơm lam, họ chọn loại nếp dẻo, thơm Nếp sau khi ngâm,

để khô nớc rồi bỏ vào ống nứa tơi, miệng uống đợc bịt bằng lá chuối tơi rồitiến hành đốt ống cơm trên lửa hoặc than hồng Đốt đến lúc ống nứa sém vàng

là cơm chín Trớc đây ngời Thái dùng cơm lam để ăn khi đi đờng xa, lên nơngrẫy Ngày nay, cơm lam là một món đặc sản trong các bữa tiệc, trong các nhàhàng sang trọng, kể cả nơi đô thị Ngoài ra, ngời Thái còn dùng gạo nếp làm

các loại bánh nh : bánh chng (khẩu tổm), bánh sừng bò (khẩu ven), bánh ít

(pảnh ít), bánh rán (pảnh hản) hoặc cháo (lổng)

Ngời Thái có lễ cúng cơm sau vụ gặt Lễ cúng có xôi, cá muối Cá muối làmón ăn có thờng xuyên trong bữa ăn của ngời Thái Tục ngữ Thái có câu:

Pay kin pa, mà kin lẩu

“Đặc tr ” (đi ăn cá về uống rợu) là thế Ngoài ra, cá còn còn

đ-ợc chế biến thành các món nh : Các nớng (pa pỉnh), cá lam (pa lam), lạp cá

(lạp pa), mọc cá (moọc pa), cá chua (pa xổm)

Ngoài các món đợc nhiều ngời biết đến, ngời Thái ở Nghệ An còn có món

“Đặc trđộc” từ cá, đó là món ruột cá vùi tro bếp Đây là món rất hợp khẩu vị của họ.Ruột cá, sau khi rửa sạch đợc đun sôi hoặc gói kín trong lá chuối, cho thêm

gia vị nh hành tăm, muối, hạt tiêu Ngon nhất là ruột cá mát (pa khình) Món

ăn này có vị đăng đắng, dùng để ăn với xôi rất ngon

Đối với các món ăn từ thịt, ngời Thái cũng có cách chế biến rất độc đáo

với các món nh: Thịt nớng (chỉn pỉnh), thịt luộc (chỉn tủm), thịt sấy (chỉn

giảng), thịt chua (chỉn xổm) Trong các món trên, thịt sấy và thịt chua là hai

món đặc sản hơn cả Khi săn đợc thú rừng lớn nh lợn, nai, hoẵng do khôngthể ăn hết hoặc ở trong rừng sâu, cha thể mang về ngay, cho nên ngời ta sấythịt hoặc làm thịt chua Đối với thịt sấy, ngời ta cắt thịt thành khúc, chừng 20

đến 30cm, dùng móc dây treo trên bếp lửa Cứ ba đến bốn kilôgam thịt tơi mớisấy đợc một kilôgam thịt khô Khi ăn, có thể ngâm thịt vào nớc ấm để thịtmềm rồi thái mỏng đem xào hoặc vùi cả thỏi thịt khô vào tro nóng khoảng m-

ời phút, đem ra xé mỏng Món này ăn rất thơm và béo Còn thịt chua cũng

Trang 20

dùng thịt thú rừng tơi, thái mỏng, trộn đều gia vị và nhồi chặt vào ống nứa, bịtmiệng ống, khoảng năm đến bảy ngày sau thì ăn đợc Cả hai món này thờngdùng để đãi khách, làm quà biếu hoặc bán đổi cho ngời miền xuôi.

Đối với các món ăn từ rau, củ, quả thì ngời Thái chủ yếu lấy từ trong rừng

nh măng nứa (nó hịa), măng tre (nó pháy), măng mây (nó vai), măng giang

(nó hẹ) Các loại rau nh : rau cải dại (phắc cạt ca), rau dền (phắc hôm), rau

tàu bay (phắc bóc khao), hoa chuối rừng (mác pi),

Ngày nay, trong ngày thờng, ngời Thái đã có cách ăn uống giống với ngờiKinh Tuy nhiên vào các dịp lễ, Tết, ma chay, cới xin họ vẫn có những món ăn

đặc trng của dân tộc mình

Về đồ uống, ngời Thái biết làm hai loại rợu : rợu trắng (lẩu xiêu) và rợu cần

(lẩu xá) Rợu trắng đợc làm từ gạo, sắn, ngô, men lá Rợu này nồng độ cao,

mùi thơm đặc biệt Họ có cách quảng cáo rất độc đáo cho loaị rợu này: sau khiuống, hà hơi, châm lửa mà vẫn thấy hiện tợng cháy bên ngoài! Còn rợu cần làloại rợu truyền thồng của ngời Thái Nguyên liệu gồm lúa hạt đã khô, ngô,sắn, ủ men trong các bình bằng sứ, khoảng mời đến hai mơi ngày thì dùng đ-

ợc Trớc khi uống, cho nớc lã vào bình, uống bằng cần nên gọi là rợu cần Đếnchơi với gia đình ngời Thái, gặp bữa cơm, nhất là ngày Tết, khách phải ngồi

ăn cơm, uống rợu với gia đình họ, nh thế mới thể hiện sự gần gũi, chân thành

đối với chủ nhà

1.3.3 Trang phục

- Trang phục của nữ

+ áo (xửa) Phụ nữ Thái thờng mặc hai kiểu áo, áo ngắn và áo dài

Về áo ngắn (xửa tin) có hai kiểu : áo chẽn (xửa khép), áo họ Lò (xửa Lò) áo

chẽn đợc may bằng vải bông nhuộm chàm Thân áo chỉ dài khoảng 30 đến 40

cm áo may thẳng, không có eo, không xẻ tà, ống tay hẹp, dài, chắp nối ởkhuỷu tay Đoạn ống tay phía dới thờng là vải tơ tằm, màu đỏ, xanh hoặc tím

Cổ áo hình tròn, ôm sát cổ ngời mặc, cúc áo bằng đồng, hình tròn Loại áo nàythờng đợc mặc vào các ngày lễ hoặc dùng để làm những kỉ vật trong nhữnggia đình khá giả

áo họ Lò do ngời họ Lò mang từ Tây Bắc vào Đây là loại áo cánh dài, xẻ

tà, cổ áo hình tròn hoặc hình trái tim, cúc áo bằng đồng hoặc bằng vải Hiệnnay áo này chỉ mặc trong lễ hội hoặc mặc bên trong vào mùa lạnh

Trang 21

Ngoài hai kiểu áo trên, họ còn có áo chui đầu không có ống tay.Thân áo

đ-ợc làm bằng hai mảnh vải hình chữ nhật Loại áo này thờng đđ-ợc mặc trong lễtang ma ở một số địa phơng

Về áo dài (xửa dào).

Trớc đây áo dài của phụ nữ Thái đợc may bằng vải thô tự dệt Đây là kiểu áo

có bốn thân, xẻ ngực, cổ tròn, tà xẻ rất dài Phụ nữ nhóm Tày Mờng thờngmặc kiểu áo này trong các ngày lễ Tết với nhiều màu sắc cặc sỡ

+ Váy (xỉn)

Trớc đây phụ nữ Thái ở Nghệ An thờng mặc váy hình ống đợc dệt bằng sợibông nhuộm chàm Tuy cùng mặc váy nhng giữa các nhóm ngời Thái có các

kiểu váy khác nhau Nhóm Tày Thanh thờng mặc hai loại là xỉn đán“Đặc tr ” và xỉn“Đặc tr

mục” Xỉn đán ít có hoa văn sặc sỡ nên thờng đợc ngời già mặc Còn xỉn mục

trang trí nhiều hoa văn nên đợc các cô gái trẻ a dùng Váy của nhóm Tày

M-ờng thM-ờng có hai lớp là váy trong (xỉn họi) và váy ngoài (xỉn mục) Hầu hết

váy của phụ nữ Tày Mờng là váy đen Riêng đối với tầng lớp quí tộc, thân váy

là màu đỏ và thêu hoa văn sặc sỡ

+ Dây lng (xài ẻnh hoặc xài hớt).

Dây lng có hai kiểu: Dây lng dải và dây lng ống Cách thắt hai loại nàycũng khác nhau Loại dây lng dải thắt một nút ở phía trớc bụng, còn hai đầudây kéo về phía sau, dắt vào hai bên sờn Đối với dây lng ống cũng thắt mộtnút ở phía trớc nhng hai đầu dây lại buông thõng, để lộ hai dải hoa văn ở phíatrớc Dây lng cũng nh váy, đều có nhiều màu sắc, hoa văn

+ Khăn đội đầu (khắn pốc hua).

Khăn đội đầu của phụ nữ ở Nghệ An thờng có màu đen chàm và trang tríhoa văn Khổ của khăn rộng khoảng 40cm, chiều dài khoảng 1,5 sải tay (sảitay là đơn vị đo chiều dài của ngời Thái, tơng đơng 1,5m), có viền và trang trí

hoa văn ở hai đầu Những gia đình giàu có gọi khăn đội đầu là khăn tải “Đặc tr ”Loại khăn này đợc trang trí rất công phu bằng vải tơ tằm

- Trang phục của nam giới

Trớc đây nam giới ngời Thái thờng mặc quần bằng vải mộc (xôống phái

tay), ống quần rộng, ngắn Đây là kiểu quần tự cắt, nhuộm chàm ở những gia

đình giàu có cũng mặc quần này nhng bằng vải tơ tằm, gọi là quần thồi (xống

thồi) Nhìn chung, trang phục của nam giới đơn giản hơn nhiều so với trang

phục của nữ Ngày nay, họ chủ yếu mặc quần Tây, áo sơ mi nh các trangphục của nam giới ngời Kinh

Trang 22

1.4 Nghề dệt của ngời Thái

Nghề dệt vốn là nghề độc quyền của ngời Thái Tuy là nghề thủ công

nh-ng ở Nghệ An, nh-ngời Thái trồnh-ng bônh-ng dệt vải, dệt thổ cẩm rất tinh vi, thànhthạo Họ có thể tạo ra những tấm thổ cẩm với nhiều hoa văn và màu sắc rất

đẹp Nhìn trên góc độ sản xuất kinh tế hàng hoá thì nghề dệt may của ngờiThái ở Nghệ An đã có bớc tiến hơn so với ngời Thái ở Tây Bắc nớc ta ở Nghệ

An, ngời Thái dệt vải không chỉ phục vụ cho nhu cầu của mình mà còn dùng

để trao đổi Sản phẩm làm ra đợc bán cho các dân tộc khác không có nghề dệtvải nh Thổ, Khơ-mú, Hmông, kể cả dân tộc Kinh và một số vùng của nớc bạnLào Tuy nhiên các sản phẩm này cha trở thành mặt hàng trao đổi thờngxuyên Vì thế nó cha đem lại nhiều giá trị về mặt kinh tế cho ngời Thái Để cómột sản phẩm thổ cẩm đẹp ngời Thái đã trải qua nhiều công đoạn rất phức tạp

đòi hỏi sự cần mẫn và khéo léo

Công việc đầu tiên là trồng bông (púc phái) Ngời Thái trồng bông vào

dịp tháng giêng và tháng hai âm lịch Rẫy bông thờng đợc trồng ở những đồithấp hoặc bãi đất hoang Họ không chọn rừng già hoặc rừng cây có nhiều tánlá xanh Họ thờng chọn nơi đất hơn cằn, có pha ít đá, tốt nhất là đất ở chân

núi đá vôi Tục ngữ Thái có câu : Đất đen trồng bông, chọn đ“Đặc tr ợc ngày lành tháng tốt, chồng đi trớc chọc lỗ, vợ đi sau trỉa hạt bông

Rẫy bông không rộng lắm, chừng 500 đến 1000m2, thuận lợi cho việcchăm bón, thu hoạch và chế biến Bông có hai loại, bông nhỏ và bông to

Bông nhỏ là loại bông có hạt nhỏ hay còn gọi là bông cỏ (tên khao học là

Gossypium) Loại này thân ngắn, chừng 60 đến 80 cm, dễ dàng thu hái, câylại chịu đợc ma gió, nắng hạn và sâu bệnh Khi bông chín, quả thờng gụcxuống, vỏ quả tạo thành một chiếc nón che ma cho sợi bông bên trong không

bị ớt Loại bông này có năng suất cao nên đợc ngời Thái chọn trồng

Bông to là loại cây có hạt to, cây cao chừng một đến một mét rỡi NgờiThái ít trồng loại bông này vì bông chín không đều, lại dễ thiệt hại bởi gió ma,sâu bệnh

Bông đợc thu hoạch vào dịp tháng sáu, tiết trời có nắng nhiều, thuận lợicho việc phơi khô Bông đợc hái đem về nhanh chóng sau khi chín để tránh

ma gió Các em gái từ mời tuổi đến các chị, các cụ già đều có thể hái bông.Ngời Thái không hái bông giữa tra nắng vì bông sẽ bị giòn, dễ vụn Khi hái,các động tác cũng nhẹ nhàng Không xáo trộn, không nén chặt khi cho vàobao bì hoặc bế đựng bông Sau khi thu hoạch, bông đợc tách ra khỏi quả rồi

Trang 23

đem phơi Ngày phơi nắng, đêm phơi sơng cho bông trắng, tơi xốp, sợi mềm

và dai Quy trình chế tác từ bông thành sợi rất công phu bởi các thao tác sau

đây:

- Thao tác đầu tiên là tách những hạt bông ra khỏi chùm bông (ít phái).

Bông để dệt vải thờng đợc chọn quả bông lứa đầu Loại bông này có sợi trắng,mịn Loại bông lứa sau kém chất lợng hơn thờng dùng để làm ruột chăn, gối,

đệm

Dụng cụ để tách hạt bông gồm một khung có hai thanh ngang gắn với haithanh đứng và hai con quay có bánh răng Hoạt động của dụng cụ này đơngiản nhng có hiệu quả, ngời già vẫn làm đợc

- Thao tác thứ hai là bật bông (công phái) Dụng cụ bật bông đơn giản hơn,

cán bật dài chừng một mét, bằng tre già, vát hơi thoi về hai đầu cán Dây bậtlàm bằng sợi gai, ở giữa nối một đoạn dây giang vót tròn và mịn Đoạn dâynày đợc lau chùi thờng xuyên bằng sáp ong nên luôn luôn mịn, trơn để bông

không thể bám vào Ngoài ra còn có một ống bật bông (cóong công) bằng nứa

dài chừng 0,6 mét Thao tác này cũng đơn giản, nhẹ nhàng

Bật bông là một tập tục hay thờng đợc làm vào những đêm trăng sáng Cáccô gái trong làng tập trung lại một nhà nào đó để bật bông Trong dịp này, cácchàng trai cũng tìm đến chuyện trò, thổi kèn, thổi sáo, hát khắp rất vui Tìnhyêu nam nữ ngời Thái cũng nẩy nở từ đó

- Thao tác thứ ba là cuộn bông (Lạ phái) Thao tác này đợc làm sau khi bật

bông xong, làm ngay trong đêm hôm đó Dụng cụ cuộn bông gồm một tấmván hình chữ nhật, dài chừng 20 đến 30cm Mặt trên của tấm ván đợc bàonhẵn, đánh bóng, làm chùi bằng sáp ong Cần cuộn bông bằng tre, nhỏ bằngchiếc đũa, vót thoi về một đầu và cũng đợc lau chùi bằng sáp ong Thao tácnày cũng đơn giản, đặt tấm ván mỏng cao ngang đầu gối, tay trái cầm cầncuộn bông, tay phải nhặt bông bỏ lên tấm ván, dùng bàn tay lăn cán bông vềphía trớc Bông đợc cuộn tròn thành từng thỏi để thực hiện thao tác tiếp theo

- Thao tác thứ t là kéo bông thành sợi (Păn phái).

Dụng cụ gồm một bộ sa kéo vải Thao tác này khó hơn, đòi hỏi sự chínhxác về kích thớc, khoảng cách giữa các sợi bông, nên không phải ai cũng làm

đợc Đây là khâu rất quan trọng trong việc chế tác từ quả bông thành nhữngsợi bông Nó quyết định đến việc dệt những tấm vải đẹp hay không đẹp

Dụng cụ sa kéo vải gồm cần sa, tay quay, trục cần sa, dây căng, thanhcuốn sợi Tất cả đợc lắp ghép rất khoa học, có độ chính xác cao Khi sử dụng

Trang 24

sa kéo sợi đòi hỏi sự nhẹ nhàng kể cả khi cuộn vào và gỡ ra để sợi bông không

bị đứt hoặc rối Do đó đòi hỏi ngời thực hiện phải có kinh nghiệm, lành nghề,thờng là ngời già mới làm đợc

- Thao tác thứ năm là cuộn sợi (Pia phái) Đây là thao tác sau khi kéo sợi

bông thành từng cuộn nhỏ Dụng cụ cuộn sợi đơn giản hơn, chỉ có một ốngnứa, dài chừng 60cm, mỗi đầu một thanh tre vót tròn Khi cuộn sợi, ngòi taquay sợi vào hai thanh tre thành từng cuộn sợi nh cuộn chỉ

- Thao tác thứ sáu là hồ sợi bông thành sợi vải (Xuốc phái) Dụng cụ gồm

một xoong lớn Nguyên liệu để ngâm là dùng gạo trắng giã thành bột hoà vớinớc lã, cho vào xoong Đây là khâu quan trọng nhất đòi hỏi sự thận trọng từkhâu đổ nớc, thời gian sôi, vớt bông ra Sau thao tác này, sợi bông đã thành sợivải

Một cách làm nữa, sau khi luộc mềm sợi vải, đem nhúng toàn bộ sợi đó

với cháo loãng để nguội Cháo này nấu bằng gạo khau mọn“Đặc tr ”, loại gạo đặcbiệt dẻo chỉ dùng để hồ sợi hoặc nấu cháo cho ngời ốm Cứ khoảng 0,5kilôgam gạo nấu thành cháo loãng thì hồ đợc một đến hai kilôgam sợi vải Saukhi hồ, sợi vải đợc đem phơi khô, ngời ta đập cho bột gạo rơi ra để các sợi vảikhông tết vào nhau Bột gạo dẻo, bám sâu làm cho sợi vải săn, chắc và mịn

- Thao tác thứ bảy là xe sợi vải thành ống chỉ (Phiên phái) Từng cuộn sợi

đợc đa vào guồng xe chỉ Dụng cụ gồm: Guồng vải (công quảng), sa cuốn chỉ

(Phiên phái) Thao tác đợc thực hiện đơn giản, sợi vải đợc kéo từ guồng vải

sang sa cuộn chỉ Tay phải quay cần cuộn chỉ, cuộn vào một con sót làm bằngống nứa Sợi vải đợc cuộn thành từng cuộn chỉ, to hay nhỏ là do ngời cuộn

- Thao tác thứ tám là kết sợi vải để dệt (khên húc) Trớc khi dệt vải, ngời dệt phải kết sợi vải thành từng cặp (lợp húc) Kết sợi vải là việc rất khó, không

phải ngời phụ nữ Thái nào cũng làm đợc vì nó đòi hỏi sự tính toán chính xácgiữa các sợi chỉ ở phía trên, phía dới, tránh sự chồng chéo hoặc thiếu hụt

- Thao tác cuối cùng là dệt vải (tăm húc) Tất cả các sợi vải sau khi đợc kết xong, ngời ta đem so vào phím dệt (phừm húc) Khung dệt đợc làm bằng gỗ

hoặc tre già Trớc khi dựng khung cửi, ngời Thái chọn ngày, xem giờ đề cầumong những điều may mắn

Cùng với việc trồng bông là trồng dâu và nuôi tằm để tạo ra sợi tơ, phục vụcho thêu các hoa văn trên sản phẩm dệt Dâu thờng đợc trồng ở những bãi đấtpha cát, tốt nhất là những bãi phù sa ở ven sông Đất tốt dâu sẽ có lá to vàxanh non Dâu thờng trồng bằng cành vào dịp cuối thu hoặc đầu xuân

Trang 25

Về việc nuôi tằm, tốt nhất là bắt đầu nuôi tằm vào mùa xuân, khi tiết trờimát mẻ Nếu lạnh quá hoặc nóng quá, tằm sẽ bị chết do khả năng chịu bệnh

rất kém Tục ngữ Thái có câu: Liệng mọn nhàm nao khừ ín xao hu nuốc“Đặc tr ”(nuôi tằm vào mùa đông chẳng khác gì yêu ngời con gái điếc tai) Sau khi tằm

nở từ trứng bớm (xáy bợ), ngời ta thái nhỏ lá dâu non cho tằm ăn trong vòng

năm đến sáu ngày Khi tằm chín, thân tằm ngả màu vàng, ngời ta chuyển tằmsang nong mới hoặc tấm phên nứa cho tằm nhả kén Muốn kéo lấy tơ, ngời ta

luộc kén trong nớc sôi (túm loóc mọn) Kén tằm thờng có hai loại màu vàng và

màu trắng, kén màu gì thì cho tơ màu đó Trong số kén đó, ngời ta chọn lấymột số kén tốt làm giống cho lứa mới

Trớc khi dệt vải, muốn có sản phẩm màu cho từng loại, ngời Thái phải phachế thành các loại màu để nhuộm Những sản phẩm nào để màu trắng thìkhông phải nhuộm Ngời phụ nữ Thái thờng tạo ra một số màu cơ bản nh : đỏ,xanh, vàng, nâu, đen, đen chàm, xanh chàm Màu chàm đợc coi là màu chủ

đạo của trang phục ngời Thái

Màu chàm đợc tạo ra từ lá của cây chàm, (tên khoa học là Indigofera).

Chàm là loại cây gieo hạt Ngời ta thờng gieo chàm vào dịp sau Tết và hái lávào tháng tám Sau khi hái lá chàm, ngời ta vò nát, ngâm nớc sau đó bỏ bã rồicho tro bếp vào nớc chàm với tỷ lệ vừa đủ Khuấy đều rồi để lắng nớc, gạn đổnớc trong ở phần trên, lấy nớc đen ở dới để nhuộm vải Nếu muốn có vải màuxanh chàm, chỉ nhuộm hai đến ba lần, còn muốn có màu đen chàm phảinhuộm nhiều lần, càng nhuộm nhiều lần vải càng đen Ngoài ra ngời ta còn

dùng lá cây hòm (co hom) và cây mục (co mục) để nhuộm màu đen Qui trình

nhuộm hai loại lá này cũng nh nhuộm bằng lá chàm Các loại lá trên có thểtrồng đợc trong vờn nhà hoặc trên nơng rẫy của ngời Thái

Màu đỏ (đanh) đợc ngời ta chế biến từ cây phang (co phang), ngời Kinh gọi là cây tô mộc Cây này có phần lõi của thân màu đỏ Ngời Thái lấy phần

lõi này chẻ nhỏ, đem đun lấy nớc nhuộm Sợi vải đợc nhuộm với nớc cây

phang sẽ có màu đỏ tơi (đanh hùng) Ngoài ra, mau đỏ còn dùng rễ cây sẹt

đun sôi lấy nớc để nhuộm vải Vải trớc khi nhuộm đỏ phải luộc qua với nớc lá

chua (lá me, lá sấu ), sẽ làm cho màu bền, không phai.

Màu vàng (lơng) lại đợc nhuộm từ nớc luộc của rễ cây pui (co pui) Còn màu xanh (xíu) lại dùng lá cây hom và củ nghệ Cả hai loại này đem đun sôi,

lấy nớc nhuộm vải Nếu nhuộm nhiều lần vải sẽ có màu đen

Trang 26

Để nhuộm màu đạt hiệu quả cao, ngời nhuộm cũng phải có bí quyết vàkinh nghiệm Trong một bản ngời Thái, thờng chỉ có một số ngời nhuộm đẹp.Tuy nhiên do việc làm thủ công nên việc nhuộm màu cha tạo ra nhiều màu sắcphong phú và đa dạng Một số màu khác, ngời Thái phải mua của ngời Kinhhoặc ngời Lào.

1.5 Vài nét về ngời Thái ở Nghệ An

1.5.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Tỉnh Nghệ An nằm ở phía bắc Trung bộ, từ 15 đến 20 vĩ độ Bắc và 103 đến

106 kinh Đông Diện tích tự nhiên chừng 27508 kilômét vuông, trong đó diệntích trung du trên 20.000 kilômét vuông Phía Bắc giáp tỉnh Ninh Bình, HoàBình, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp n ớcbạn Lào

Vùng núi phía Tây Nghệ An là nơi c trú của đồng bào các dân tộc thiểu số

nh Thái, Thổ, Muờng, Dao, Mông, Ơ Đu trong đó ngời Thái có trên 500.000ngời, chiếm gần một nửa số ngời Thái ở Việt Nam

ở Nghệ An, địa bàn có đông ngời Thái là các huyện: Quế phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông, Nghĩa Đàn Mỗi huyện nh

vậy trớc đây có nhiều đơn vị hành chính truyền thống, ngời Thái gọi là “Đặc

trm-ờng”, ớc tính có khoảng 80 mờng.

Sông suối ở miền Tây Nhệ An chảy trong vùng có địa hình phức tạp.Chạy theo hớng Tây Bắc - Đông Nam với các chi lu đầy đặc, tạo nên nhiềuthác ghềnh hiểm trở theo hớng núi Những thung lũng đợc hình thành do sựxâm thực của sông suối đã thu hút đợc các điểm quần c với nghề trồng lúa n-

ớc Hoạt động kinh tế của c dân vùng này chủ yếu tập trung theo các thunglũng sâu, dọc triền sông hoặc đầu nguồn các khe suối

Vùng dọc đờng quốc lộ 7A của tỉnh Nghệ An có sông Lam hay còn gọi làsông Cả, xa có tên gọi là sông Rum (màu Lam) hay sông Thanh Long, dài hơnhai trăm kilômét, đợc bắt nguồn từ ngã ba Cửa Rào (huyện Tơng Dơng), chảyqua các huyện Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lơng, Nam Đàn, Hng Nguyên rồi đổ

ra Bến Thuỷ (thành phố Vinh) Sông Lam đợc hợp bởi hai con sông nhỏ làNặm Môn và sông Nặm Nơn cùng nhiều dòng phụ lu khác Mùa ma thờng

đục, nớc dâng cao do ma ở thợng nguồn và từ phía Lào Trái lại, mùa khô nớcsông Lam trong xanh, mực nớc hạ thấp Sông Lam nổi tiếng có nhiều loai cá,tôm Đây là nguồn thực phẩm quan trọng đối với c dân dọc hai bên triền sôngnày

Trang 27

Vùng đờng 48B có sông Con chảy từ huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ trớc khi

đổ vào sông Lam tại địa phận huyện Anh Sơn

Sông Giăng chảy từ Đông Trờng Sơn, qua xã Môn Sơn (huyện Con Cuông)

đến bản Vều (huyện Anh Sơn) rồi đổ về xuôi Sông Giăng có giá trị thuỷ điện

lớn, lại nhiều tôm, cá Cá mát (pa khình) sông Giăng là món ăn nổi tiềng của

vùng Tây Nghệ An

Khí hậu ở vùng này rất đa dạng Bên cạnh đặc điểm chung là nóng ẩm, cáctiểu vùng ở vùng thấp và vùng cao có nhiệt độ trung bình khá chênh lệch.Vùng núi cao từ 800 mét trở lên đã bắt đầu xuất hiện khí hậu á nhiệt đới, thậmchí một vài nơi thuộc huyện Kỳ Sơn có cả khí hậu ôn đới Sự luân chuyểngiữa mùa ma và mùa khô tác động nhiều đến điều kiện tự nhiên của vùng núimiền Tây nghệ An Các huyện vùng cao, do ảnh hởng độ cao của một số ngọnnúi và các thung lũng giữa vùng núi làm cho khí hậu đa dạng với nhiều tiểuvùng Nhiều nơi nhiệt độ trung bình là 10oC, có lúc xuống thấp 0oC Vùnglòng chảo Mờng Lống (Kỳ Sơn) rộng trên 50ha có khí hậu giống Sa Pa, Tam

Đảo Vùng này sơng muối xuất hiện nhiều lần trong năm, ảnh hởng đến trồngtrọt và chăn nuôi gia súc Mùa ma ở đây kéo dài từ tháng sáu đến tháng mời.Lợng ma hàng năm từ 1500mm trở lên, có nơi tới 3000mm Lũ lụt đột ngột dữdội, gây xói mòn và rửa trôi mạnh Mùa khô lại càng khắc nghiệt, kéo dài từtháng mời một năm trớc đến tháng t năm sau, sông suối cạn, gió mùa đôngbắc tràn về, khí hậu lạnh giá

Do cấu trúc địa chất phức tạp nên nguồn khoáng sản ở đây rất phong phú

và đa dạng Các đờng đứt gãy của các con sông có nhiều mỏ quý nh: Mỏ sắt,

mỏ măng gan, mỏ than (Khe Bố huyện Tơng Dơng), mỏ thiếc (huyện QuỳHợp), mỏ vàng (dọc sông Nặm Mộ, Nặm Nơn huyện Tơng Dơng), mỏ đá Rubi(huyện Quỳ Châu),v.v

C dân ở miền núi Nghệ An dù có nguồn gốc khác nhau, song họ đều lànhững ngời đã khai phá và cải tạo vùng đất này Trải qua nhiều biến động củalịch sử, sự xáo động về thành phần c dân, đến nay ngời ta vẫn cha thể dựng lại

đợc bức tranh phân bố c dân một cách liên tục trong hàng nghìn năm trớc đâytại vùng đất này Nhng có một điều chắc chắn rằng, miền Tây Nghề An làvùng đất từng có con ngời sinh sống từ lâu đời Các lớp c dân ở đây đã tạonên một vùng văn hoá khó có thể trộn lẫn với các vùng đất khác Ngày nay,các tộc ngời thiểu số ở vùng núi Nghệ An tơng đối ổn định về địa bàn phân

bố Ngoài bộ phận khá lớn, khoảng trên 50% là ngời Kinh ở các thị trấn, nông

Trang 28

lâm trờng là khối đồng bào Thái, Mờng, Dao, Mông, Khơmú, Thổ, Ơ Đu.Trong đó, một bộ phận không nhỏ ngời Khơ-mú, ngời Mông vẫn còn sốngtrong tình trạng du canh du c.

Những yếu tố quan trọng về tự nhiên của vùng núi Nghệ An đã có ảnh ởng lớn đến phơng thức canh tác, các hoạt động kinh tế xã hội của con ngời ởvùng đất này Môi trờng sinh thái của khu vực này đang đứng trớc tình trạng

h-bị đe doạ Rừng ngày càng h-bị cạn kiệt do khai thác bừa bãi, làm nơng rẫy Domôi trờng t nhiên biến động, con ngời ở đây phải hết sức khó khăn để thíchnghi, hoà nhập và cải tạo tự nhiên Tuy nhiên, trong quá trình chung sống với

tự nhiên và sự hoà nhập giữa các c dân đã tạo nên những nét riêng biệt về vănhoá vật chất và văn hoá tinh thần ở vùng đất này

Đặc điểm của sự phân bố c dân ở miền núi Nghệ An chính là vùng c trúcủa các dân tộc thiểu số không phân biệt rõ địa giới hành chính Họ sống xen

kẽ, có một số vùng, dân c sống tơng đối biệt lập nhng không phổ biến Một sốvùng tập trung đông dân c ngời Thái nh Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, ConCuông, Tơng Dơng Đặc điểm dân c phân bố không đều: Vùng thấp mật độdân c cao, ngợc lại vùng cao mật độ dân c thấp

Trang 29

Vì sao lại có sự phân ngành nh vậy và bản chất của cách phân chia này làgì thì các cách giải thích cha có sự thống nhất ở Việt Nam cho đến nay đã cóbốn cách giải thích nh sau:

- Thứ nhất, một số quan điểm lấy yếu tố màu da làm căn cứ Cách giải thích

nh vậy hoàn toàn không chính xác Trớc hết, bằng cái nhìn trực quan, chúng tacũng có thể thấy màu da của hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng không có gìkhác biệt Về mặt khoa học, không có tài liệu nào chứng minh rằng ngời TháiTrắng có màu da trắng hơn ngời Thái Đen còn ngời Thái Đen có mau da đenhơn ngời Thái Trắng

- Một cách giải thích khác là ngời ta căn cứ vào sở thích của ngời phụ nữ.Phụ nữ Thái Trắng thích mặc áo màu trắng, phụ nữ Thái Đen thích mặc áomàu đen Nguyên nhân và cách giải thích nh vậy đúng hay không vẫn cha đợckhẳng định

- Tiếp đó, ngời ta căn cứ vào lãnh thổ c trú để phân chia thành hai nhómThái Trắng và Thái Đen Cách giải thích này cho rằng, các c dân Tạng - Miến(ngời La Hủ, Hà Nhì) trớc đây sống bên cạnh ngời Thái, ngời Hán, là ngời

bên Trắng Còn vùng đất của một nhóm dân c Tạng - Miến khác lại sống bên

Đen Nhng trong quá trình sinh sống, do có sự xáo trộn, rất nhiều thành viên

của phía bên Trắng, mà cụ thể là ngời Thái, đã tràn sang sinh sống ở phần đất của phía bên Đen (các c dân Tạng - Miến) Lúc đầu những ngời Thái thuộc

bên Trắng chỉ gọi những ngời La Hủ, Hà Nhì là bên Đen Về sau họ gọi luôn

cả những ngời đồng tộc của mình đang sống ở đây là ngời bên Đen Đến khi

thói quen này đợc xác lập trong cộng đồng ngời Thái thì xuất hiện sự phânchia thành hai bộ phận Thái Trắng và Thái Đen Tuy nhiên sự phân biệt nàykhông hoàn toàn chính xác, nh thực tế hiện nay Cách giải thích này đợc trình

bày khá cụ thể trong cuốn Ng“Đặc tr ời Thái ở Tây Bắc Việt Nam” của tác giả Cầm

Trọng

- Cuối cùng, sự phân chia thành hai ngành Thái Trắng và Thái Đen có mối

quan hệ với sự phân chia bộ lạc Thái cổ thành hai nửa (hai bào tộc - Phraties)

để tiến hành trao đổi hôn nhân với nhau Trờng hợp này giống với sự phânchia một bộ lạc thành hai nửa Trắng và Đen của ngời Cacadu, thổ dân củavùng Victoria của Australia trớc đây Cách giải thích này đợc trình bày trong

bài báo Về bản chất và ý nghĩa của tên gọi Thái Trắng, Thái Đen ở Việt“Đặc tr

Nam” của tác giả Lê Sĩ Giáo trên tạp chí Dân tộc học, số 3/1998.

Trang 30

Bốn cách giải thích với bốn quan điểm khác nhau cho thấy sự mơ hồ trong

cách gọi tên của hai nhóm Thái Đen và Thái Trắng.

ở Nghệ An, đặc điểm nổi bật về cách gọi tên của ngời Thái là gọi theo các

mờng, nơi họ sinh sống: Mờng Noọc (huyện Quế Phong), Mờng Quạ (huyện

Con Cuông), Mờng Xén (huyện Kỳ Sơn) Đây là cách gọi tên theo địa danh Mặc dù sống ở các mờng khác nhau nhng ngời Thái ở vùng núi Nghệ An tự

xếp mình vào nhóm ngời địa phơng (Local groups) Các tên gọi Tày Mờng,

Tày Thanh và Tày Mời ở Nghệ An còn là vấn đề phức tạp Điều này đã đợc

GS Đặng Nghiêm Vạn nói khá rõ trong bài B “Đặc tr ớc đầu tìm hiểu về lịch sử phân

bố dân c miền núi Nghệ An ,” tạp chí Dân tộc học, năm1974, số 2 Ba

tên gọi ngời Thái ở Nghệ An là Tày Mờng (còn gọi là Hàng Tổng), Tày Thanh (còn gọi là Man Thanh) và Tày Mời trở thành thói quen từ lâu nay Riêng

nhóm Hàng Tổng là cách gọi chỉ ngời dân gốc của địa phơng

1.5.4 Về kinh tế, văn hoá, giáo dục

Về kinh tế

Cấy lúa nớc là nghề chính của ngời Thái Ngời Thái, hay còn gọi là Tày (Tày Mờng, Tày Dọ và Tày Chiềng) Tày có nghĩa là ngời cày ruộng (Ngời Thái gọi ngời Kinh là buôn“Đặc tr ”, chỉ ngời làm ngời buôn bán, khác với ngời càyruộng) Từ lâu đời, ngời Thái đã thành thạo canh tác nông nghiệp lúa nớc,dùng sức kéo của trâu, bò để cày bừa, làm đất gieo mạ, cấy lúa

Đồng bào Thái cũng có nhiều kinh nghiệm về trồng trọt trên cạn Họ phátrẫy trồng ngô, khoai, sắn, đậu, vừng, lạc, bầu bí, cây bông, cây chàm, cây dâu.Bông, chàm và dâu là các loại cây đợc đồng bào Thái hết sức coi trọng, vì nóphục vụ cho nghề dệt may truyền thống của họ

Ngời Thái chăn nuôi trâu bò để cày kéo, để cúng tế, bán đổi và giết thịt,nuôi ngựa để thồ, làm phơng tiện đi lại Các loại gia cầm nh lợn, gà, chó, vịt,ngan là những con vật nuôi phổ biến trong từng gia đình ngời Thái Trớc đây,

ở nhiều nơi, đồng bào Thái nuôi tằm lấy sợi tơ làm chỉ thêu

Nghề dệt của ngời Thái vốn là nghề thủ công, nghề phụ nhng nó lại pháttriển đạt đến trình độ cao Ngời Thái từ lâu đã trồng bông, dệt vải, dệt thổ cẩmrất thành thạo, tinh vi Đây là nghề gắn liền với ngời phụ nữ Từ các cụ già đếnnhững thiếu nữ mời tám, đôi mơi đều là những ngời thợ khéo léo và hết sức tài

hoa Tục ngữ Thái có câu Nhinh hụ dệt phái, nhai hụ san hẻ, nhinh na“Đặc tr ” (Đàn

bà dệt vải, đàn ông đan chài, bắn nỏ), Trời sinh con gái phải biết dệt vải,“Đặc tr

trời sinh con trai phải đi cày, bừa, chớ có đánh nhau”.

Trang 31

Sản phẩm của nghề dệt gồm chăn, màn, đệm, gối, quần áo, túi đeo, khăn

piêu, dây lng Hầu hết các cô gái Thái là những thợ dệt rất khéo léo Ca dao

Thái đã ca ngợi đôi bàn tay của các cô gái dệt vải:

“Đặc tr Em xe sợi thành vóc hoa dâu

Em dệt cửi thành gấm vân chéo

Em dệt tơ thành đoá hoa vàng

Ngời các bản, các mờng muốn khóc

Đều ao ớc đợc em thêu khăn

- Về văn hoá, giáo dục

Tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tày - Thái, gần với các thứ tiếng Lào, Thái Lan

Ngời Thái có chữ viết từ thời cổ Chữ Thái cổ là một nhánh của chữ Phạn (chữ

cổ ấn Độ) Năm 1961, Nhà nớc chủ trơng xây dựng bộ chữ Thái La Tinh,

nh-ng việc sử dụnh-ng chữ còn rất hạn chế

Dân tộc Thái ở Nghệ An có nền văn học rất phong phú và đa dạng Về vănhọc dân gian có hàng trăm truyền thuyết, truyện cổ, ngoài ra còn có kho tàngtục ngữ, ca dao, dân ca Về văn học viết có hàng chục tác giả với hàng trăm

tác phẩm có giá trị Các làn điệu của nghệ thuật dân gian nh múa xoè, múa

lăm vông, nhảy sạp, đánh cồng chiêng, khua luống cũng rất phát triển.

ở miền núi Nghệ An, hầu hết các xã của các huyện có ngời Thái đều cócác cấp học mầm non, tiểu học và THCS ở trung tâm các huyện có một đếnhai trờng THPT Số học sinh ngời Thái chiếm tỉ lệ khá lớn và nhiều hơn so vớicác dân tộc thiểu số khác Số ngời Thái học các trờng chuyên nghiệp ngàycàng nhiều Ước tính có khoảng hơn 1500 ngời có trình độ đại học, trên 30ngời có trình độ sau đại học

Tiểu kết

Trên đây có thể coi là phần dẫn nhập“Đặc tr ” của đề tài Về các khái niệmchúng tôi chỉ mới sơ điểm, trích dẫn một số ý kiến của một số tác giả Về cácvấn đề thực tiễn liên quan đến dân tộc Thái cũng mới chỉ dừng lại ở nhữngkiến thức khái quát ban đầu, nhằm định hớng cho các phần đợc trình bày ởhai chơng còn lại của luận văn

Trang 33

lá dâu, cây dâu, trồng dâu, hái dâu còn những từ nh : hoa dâu, quả dâu

không thống kê vì những từ đó không phục vụ cho việc nuôi tằm Tơng tự ở

cây bông, những từ nh : lá bông, rễ bông, thân bông hoặc những từ nói về

việc chăm bón bông không đợc thống kê vì đó là những từ ngữ không cótính đặc trng liên quan đến nghề dệt

Hệ tống từ ngữ khảo sát đợc, chúng tôi tiến hành xét trên các phơngdiện: xét về nghĩa, xét về cấu tạo và về phản ánh Về việc phiên âm,chúng tôi chủ yếu dựa vào cách phát âm của nhóm Thái Hàng Tổng (TàyMờng)

2.1 Số liệu ban đầu của các nhóm từ ngữ

Qua tìm hiểu khảo sát thực tế, số lợng từ ngữ biểu thị nghề dệt của ngờiThái là 183 từ, trong đó:

Nhóm từ ngữ chỉ việc trồng dâu nuôi tằm là 16/183 từ (8,7%)

Nhóm từ ngữ chỉ việc trồng và chế biến bông thành sợi là 19/183 từ (10,38%).Nhóm từ ngữ chỉ dụng cụ dệt là 33/183 từ (18%)

Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động dệt là 10/183 từ (5,46%)

Nhóm từ ngữ chỉ sản phẩm dệt là 37/183 từ (20,2%)

Nhóm từ ngữ chỉ hệ thống hoa văn là 41/183 từ (22,4%)

Nhóm từ ngữ chỉ việc nhuộm sợi bông là 13/183 từ (7,1%)

Nhóm từ ngữ chỉ nguyên liệu nhuộm và màu sắc của sản phẩm là 24/183 từ(13,1%)

2.1.1 Nhóm từ ngữ chỉ việc trồng dâu, nuôi tằm

Đây là nhóm từ ngữ chỉ những từ ngữ cơ bản liên quan đến trồng dâu vànuôi tằm Tuy nhiên trong thực tế, công việc này ở miền núi Nghệ An gần nhkhông còn vì hiện nay ngời Thái chủ yếu sử dụng loại tơ bán trên thị trờng.Cho nên các từ ngữ biểu thị về công việc này đã không còn đợc sử dụng trongnghề dệt của ngời Thái

Trang 34

ủ kén tằmTrứng bớmTrứng nởLàm kénTơ tằm

Đa kén vào guồng đểkéo

Kéo kén tằmKéo tơ tằm lên khung

Từ trong kén ra để đẻtrứng

Dùng vải dệt để ủ

Ngời Thái có lời chúc đầu năm mới về việc trồng dâu, dệt vải của họ nh sau:

Lẻ co mon đấy lẻ huúc hăm đài“Đặc tr

Lẻ co phài đáy lẻ huúc hăm xào

Lệp mự xuôi, xao noọng xảng lài

Pái mự lém , xao hàm xảng phải”

(Một cây dâu cho ba nong tằm

Một cây bông cho chín sải vải

Ngón tay thon, tay em khéo dệt

Trắng nõn nà, tay chị khéo thêu)

2.1.2 Nhóm từ ngữ chỉ việc trồng bông và chế biến bông bông thành sợi

So với việc trồng dâu, nuôi tằm thì việc trồng bông hiện nay vẫn đợc ngờiThái thực hiện để làm ra sợi vải phục vụ cho việc dệt vải Đây là nhóm từ ngữchủ yếu là các hoạt động trồng bông và quá trình chế biến bông thành sợi.Nhóm từ này hầu hết là từ ghép phân nghĩa (ghép chính phụ) Yếu tố trung

tâm phái“Đặc tr ” (bông, vải) đợc kết hợp với các danh từ chỉ bộ phận của cây dâu

Trang 35

hoặc một động từ chỉ hoạt động chế biến bông thành sợi Trong giao tiếp của

những ngời làm cùng nghề dệt vải, các động từ có ở bảng sau (bảng 3) đợc sử

dụng độc lập nh một từ đơn Đây cũng là hiện tợng thờng thấy trong tiếngViệt

Hái bôngQuả bông lứa đầuQuả bông lứa sauQuả bông lứa cuốiPhơi bông

Cán (ép) quả bôngBật bông

Đánh tơi bôngLăn bôngKéo sợi bông

Xe sợi bôngCuộn sợi bôngKéo sợi dệtKéo sợi

Hồ sợi bôngKết sợi vải

Dùng để dệt vảiDùng để dệt gối, chăn Dùng để nhồi ruột nệm,nệm

Tách bỏ hạt bông

Lăn thành các cuộn nhỏ

2.1.3 Nhóm từ ngữ chỉ dụng cụ dệt vải

Đây là nhóm từ ngữ chỉ các bộ phận liên quan đến khung cửi mà ngời Thái

sử dụng để hỗ trợ về sức khoẻ và kĩ thuật khi dệt vải Có những bộ phận quen

Trang 36

thuộc với mọi ngời, nh khung cử (ăn kí), thoi đa sợi (phau) nhng cũng có

những bộ phận, những dụng cụ chỉ có ngời làm nghề dệt mới có thể gọi tên vàhình dung đợc Thậm chí một số ngời làm nghề dệt nhng cũng không biếtcách gọi tên một số dụng cụ, mà họ chỉ gọi chung chung theo thói quen khilàm việc Tổng số nhóm này là 33 từ tơng đơng với 33 bộ phận và dụng cụliên quan đến khung cửi

Thanh ngangChân khung cửiThanh nứa trênkhung cửi

Tấm ván ngồi dệtDây go

Các thanh nứa nhỏThoi dệt

Cây bàn đạp chânKhung luồn sợiKhung treKhung gỗ có guồng

Gồm 4 thanh, trên và dớiGồm 4 thanh ở hai đâu khungcửi

1 thanh ở cuối khung cửi

Khuôn dệt thân váyKhuôn dệt chân váyKhuôn dệt thân váy cỡ lớn

Để chia các sợi vải đều nhauCây nứa trể ngang trên khungcửi

Hai cây

Luồn cuộn, chia nhỏ cuộn sợi

Để kéo sợi lên khung cửi

Để cuộn sợi chỉ dệt

Trang 37

Con lănThoi đa sợiKhung để bộ lợc

Cây để treo dàn lợcPhím dệt

Cây quấn cảiCây lápQue nứa cái sợi

Để làm cho ống chỉ nhỏ quay

Để dệt chân váy Trớc và sau khi dệtSau khi dệt

Dùng để thêu

2.1.4 Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động dệt vải

Nếu tính hết các công việc nh chế biến bông, nhuộm màu, thì có rất nhiều

từ ngữ chỉ hoạt động Nhóm từ ngữ trong bảng sau (bảng 5) chỉ là những từ

ngữ miêu tả các hoạt động dệt và thêu sản phẩm Sở dĩ nhóm từ ngữ này đợcthống kê riêng vì đây là những hoạt động mang đặc thù của nghề dệt Đây cóthể xem là những từ “Đặc trđộc quyền” của nghề dệt này Số lợng rất ít, 10 từ chỉ

10 hoạt động dệt và thêu Điều đó đủ để nói rằng, công việc dệt may tuykhông nặng nhọc nhng nó đòi hỏi sự cần mẫn, chăm chỉ bởi những hoạt động

đợc lặp đi lặp lại trên khung cửi Nó phù hợp và chỉ có ngời phụ nữ mới làm

Dậm cần đạp chânLuồn thoi

Đập lợc

Để tách các sợi vải dới

trên-Làm cho sợi vải khít lại

Trang 38

Cài que để dệt theo khuôn.

Đây là thao tác khó nhất

(xứa) có nhiều kiểu nhất, tiếp đó là váy (xỉn) Nhìn một cách tổng thể, ta thấy,

nghề dệt của ngời Thái chủ yếu tạo ra các sản phẩm cho nữ giới và các sảnphẩm phục vụ cho lễ hội Sản phẩm riêng dành cho nam giới chiếm một số l-ợng rất ít

Khăn đội đầu

Khăn đội đầuKhăn đội đầu

Dùng trong ngày ờng

th-Dùng trong lễ hội //

áo LòXứa TàyXứa dào

áo

áo ngắn

áo chẽn

áo họ Lò

áo ngắn, tay dài

áo dài, áo the

áo ngắn, không cổMặc trong đám tangMặc trong lễ hộiMặc đi đền, chùa,

Trang 39

áo TháiThân áoCúc áo

Cổ áoống tay áo

Tà áoVải áo

cổ trái tim, nềntrắng, mặc lễ hội

VáyVáy ngời giàVáy con gáiVắy ngắnVáy đám tangThân váyChân váyCạp váy (Đầuváy)

Vải váy

Không có hoa văn

Có nhiều hoa vănVáy ngủ

Dây lng Trong ngày thờng

Trong lễ hội

QuầnQuần ngắnQuần dàiVải quầnống quầnCúc quầnLng quần

Làm bằng vải

2.1.6 Nhóm từ ngữ chỉ hệ thống hoa văn của sản phẩm

Trang 40

Cách gọi tên hệ thống hoa văn trên sản phẩm dệt của ngời Thái, chủ yếu dựa vàotên gọi của dân gian và cách gọi mang tính trực quan của tác giả Vi Văn Biên trong

cuốn Văn hoá vật chất của ng“Đặc tr ời Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An” Tuy nhiên so với

hệ thống hoa văn vô cùng phong phú và đa dạng trên sản phẩm dệt của ngời Thái thì

số lợng hoa văn thống kê ở bảng sau (bang 7) cha thể đầy đủ Về cơ bản có thể

phân chia thành các dạng hoa văn nh sau:

Tàng mụcNgợc húngXì chẻXam chẻ

Hoa văn đờng sọcdọc

Hoa văn dải ngang

Hoa văn hình sóngnớc

Hoa văn hình 4góc

Hoa văn hình tamgiác

Hoa văn hình đĩa

Hoa văn hình mặttrời

//

Hoa văn hình dànchiêng

Thêu ở chan váy của nhómThái Trắng

Trang trí trên thân váy củaphụ nữ quí tộc, nhóm TháiTrắng hoặc váy đám tangTrang trí trên thân váy củaphụ nữ nhóm Thái ĐenTrang trí trên gấu váy củaphụ nữ nhóm Thái Trắng.Trang trí gấu váy của phụnữ Tày Mờng

Trang trí trên những dải nhỏcủa váy phụ nữ nhóm Thái

ĐenTrang trí trên cáy phụ nữquí tộc

Trang trí trên váy phụ nữThái Trắng

(Nh hoa văn hình mặt trời)Trang trí trên váy phụ nữThái Đen

Ưa pao

Hoa văn hình lá

dừaHoa văn hình raudớn( rau dún)

Ngày đăng: 18/12/2013, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vi Văn An (2003), Góp thêm t liệu về lich sự c trú của các nhóm ngời Thái vùng đờng 7 Nghệ An, Nxb Văn hoá thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm t liệu về lich sự c trú của các nhóm ngời Tháivùng đờng 7 Nghệ An
Tác giả: Vi Văn An
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2003
2. Nguyễn Nhã Bản (2001), Cơ sở ngôn ngữ học, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Năm: 2001
3. Nguyễn Nhã Bản (2001), Bản sắc văn hoá ngời Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá ngời Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
4. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh (1996), Văn hoá ngời Việt qua vốn từ vựng chỉ nghề cá”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ngời Việt qua vốn từvựng chỉ nghề cá
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Chiến (992), Ngôn ngữ học đối chiến và đối chiến các ngôn ngữ Đông Nam á, ĐHSP Ngoại Ngữ, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiến và đối chiến các ngônngữ Đông Nam á
8. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập- tập 1, phần từ vựng ngữ nghĩa, Nxb GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập- tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
9. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nớc, Nxb KH & XH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nớc
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb KH & XH
Năm: 1989
10. M.Ab die (1924), Các chủng tộc ở thợng du Bắc Kỳ, từ Phong Thổ đến Sơn La , ” Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủng tộc ở thợng du Bắc Kỳ, từ Phong Thổ đếnSơn La
Tác giả: M.Ab die
Năm: 1924
11. Sầm Nga Di (1982), Tục ngữ, ca dao- dân ca Thái ở Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao- dân ca Thái ở Nghệ Tĩnh
Tác giả: Sầm Nga Di
Nhà XB: Nxb NghệTĩnh
Năm: 1982
13. Trần Trĩ Dõi- M.Ferlus (2004), Giới thiệu về chữ Thái Pao của ngời Thái Tơng Dơng, Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về chữ Thái Pao của ngời TháiTơng Dơng, Nghệ An
Tác giả: Trần Trĩ Dõi- M.Ferlus
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
14. Nguyễn Đăng Dung (2004), Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hoá Dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 2004
15. Nguyễn Xuân Dung và Hồ Ngọc Thuyết ( 2001), Vài nét về đặc điểm đời sồng văn hoá dân tộc Thái ở Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về đặc điểm đờisồng văn hoá dân tộc Thái ở Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
16. Phạm Đức Dơng (2000), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam á, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam á
Tác giả: Phạm Đức Dơng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2000
17. Mạc Đờng (1962), Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ, Nxb Sử học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: ác dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ
Tác giả: Mạc Đờng
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1962
18. Lê Sĩ Giáo (2001), Dân tộc đại cơng, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc đại cơng
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
19. Lê Sĩ Giáo (2000 – 2001), Đại cơng về dân tộc nói ngôn ngữ Thái- Tày ở Việt Nam , Văn Hoá lịch sử ngời Thái ở Việt Nam- Đề tài cấp Viện, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng về dân tộc nói ngôn ngữ Thái- Tày ởViệt Nam , Văn Hoá lịch sử ngời Thái ở Việt Nam-
20. Lê Sĩ Giáo (1995), Lần tìm cội nguồn lịch sử của Ngời Thái Thanh Hoá, Tạp chí Dân tộc học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lần tìm cội nguồn lịch sử của Ngời Thái Thanh Hoá
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Năm: 1995
21. Lê Sĩ Giáo (1988), Về bản chất và tên gọi Thái Trắng, Thái Đen ở Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất và tên gọi Thái Trắng, Thái Đen ở ViệtNam
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Năm: 1988
22. Lã Văn Lô (1973), Bớc đầu tìm hiểu các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu tìm hiểu các dân tộc thiểu số ở Việt Namtrong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc
Tác giả: Lã Văn Lô
Năm: 1973
23. Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn (1968), sơ lợc giới thiệu các nhóm dân tộc Tày -Nùng - Thái ở Việt Nam, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: sơ lợc giới thiệu các nhóm dân tộcTày -Nùng - Thái ở Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1968

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Khung cửi - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 1 Khung cửi (Trang 88)
Hình 3: Bộ lợc thêu - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 3 Bộ lợc thêu (Trang 89)
Hình 4: Cuộn chỉ màu - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 4 Cuộn chỉ màu (Trang 89)
Hình 5: Cuộn chỉ đen - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 5 Cuộn chỉ đen (Trang 90)
Hình 6: Cây láp - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 6 Cây láp (Trang 90)
Hình 7: Khung luồn sợi - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 7 Khung luồn sợi (Trang 91)
Hình 8: Lá khung - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 8 Lá khung (Trang 91)
Hình 9: Khung tre - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 9 Khung tre (Trang 92)
Hình 10: Que quấn sợi - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 10 Que quấn sợi (Trang 92)
Hình 12: Khăn đội đầu (cũ) - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 12 Khăn đội đầu (cũ) (Trang 93)
Hình 14: Khăn piêu (cũ) - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 14 Khăn piêu (cũ) (Trang 94)
Hình 16: Túi đeo (cũ) - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 16 Túi đeo (cũ) (Trang 95)
Hình 17: Túi đeo (mới) - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 17 Túi đeo (mới) (Trang 95)
Hình 18: áo nam (cũ) - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 18 áo nam (cũ) (Trang 96)
Hình 20: áo thầy Mo (cũ) - Đặc trưng ngôn ngữ   văn hoá của người thái ở nghệ an qua nghề dệt
Hình 20 áo thầy Mo (cũ) (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w